1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006

76 734 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phong là một bệnh nhiễm khuẩn mạn tính do trực khuẩn Mycobacterium leprae (còn gọi trực khuẩn Hansen) gây nên. Là một bệnh lây, nhưng bệnh lây ít và rất khó lây. Bệnh phong ít gây tử vong, nhưng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời người bệnh sẽ bị tàn tật. Sự khiếp sợ đối với bệnh phong bắt nguồn từ những tàn tật, những dị hình của bệnh nhân như: bộ mặt sù sì quái dị, bàn tay, bàn chân cò rụt, co quắp. Đó cũng là nguồn gốc của những nhận thức sai lầm về bệnh phong, ảnh hưởng nặng nề đến đời sống tinh thần của người bệnh. Vì thế phát hiện, điều trị sớm, phòng ngừa tàn tật chiếm ưu tiên cao trong công tác quản lý bệnh phong. Hiện nay, trên thế giới, ở các nước phát triển bệnh phong không còn là vấn đề của y tế công cộng. Nhưng các nước đang và kém phát triển (các nước thuộc Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, Châu Á trong đó có Việt Nam) bệnh phong vẫn là mối quan tâm của cộng đồng [48], đặc biệt là vấn đề tàn tật. Năm 1982, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa đa hóa trị liệu (ĐHTL) vào điều trị cho bệnh nhân phong thay thế trị liệu bằng DDS đơn thuần. Sau hơn 20 năm áp dụng ĐHTL, nhiều nước trên thế giới đã hoàn thành chương trình “Loại trừ bệnh phong” theo tiêu chuẩn của WHO [22], [45]. Việt Nam là một nước có tỉ lệ bệnh phong tương đối cao, nhưng với nhiều nổ lực trong công tác phòng chống bệnh phong, Việt Nam đã tiến hành thành công chương trình “Loại trừ bệnh phong” vào năm 2000. Tỉ lệ lưu hành bệnh phong trên phạm vi toàn quốc đã giảm từ 6,78/10.000 (1983) xuống 0,23/10.000 (2000) và 0,1/10.000 (2006) [14], [15]. Tỉ lệ tàn tật của bệnh nhân phong ở Việt Nam còn rất cao so với thế giới, số bệnh nhân bị tàn tật phân bố ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Theo ước tính của Viện Da Liễu Quốc gia, cả nước có khoảng 18.000BN phong bị tàn tật. Vấn đề phòng chống tàn tật và phục hồi chức năng cho bệnh nhân phong bị tàn tật, còn là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, nhằm giúp người bệnh trở lại sinh hoạt, lao động bình thường trong cộng đồng xã hội. Cho đến nay, trên thế giới và nhiều tỉnh thành ở nước ta đã có một số nghiên cứu, thống kê báo cáo về tình hình tàn tật của bệnh nhân phong. Tỉnh Gia Lai công tác phòng chống bệnh phong trong những năm qua đã đạt được kết quả tương đối tốt, đặc biệt là công tác khám phát hiện bệnh nhân phong mới, ĐHTL và giáo dục y tế. Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có hơn 600BN phong tàn tật cần được chăm sóc. Số bệnh nhân tàn tật tập trung chủ yếu vào các huyện có tỉ lệ lưu hành (TLLH) bệnh phong cao của tỉnh mà trong đó 2 huyện AyunPa và Chư Sê là huyện trọng điểm tập trung bệnh nhân phong tàn tật cần được chăm sóc. Tuy nhiên thực trạng tàn tật, các loại hình tàn tật trên bệnh nhân phong ở Gia Lai vẫn chưa có thống kê, nghiên cứu một cách hệ thống. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp phòng ngừa, điều trị phục hồi nhằm đưa người bệnh tái hòa nhập với cộng đồng vẫn còn những thách thức phải đối mặt. Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh Gia Lai năm 2006” Với mục tiêu: 1. Xác định tình hình tàn tật và các loại hình tàn tật trên bệnh nhân phong tại 02 huyện AyunPa, Chư Sê tỉnh Gia Lai năm 2006. 2. Đề xuất các biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tàn tật.

Trang 1

T¹I MéT Sè HUYÖN TØNH GIA LAI N¡M 2006

luËn v¨n th¹c SÜ y häc

Hµ NéI - 2007

Trang 2

- 1 -

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh phong là một bệnh nhiễm khuẩn mạn tính do trực khuẩn

Mycobacterium leprae (còn gọi trực khuẩn Hansen) gây nên Là một bệnh

lây, nhưng bệnh lây ít và rất khó lây Bệnh phong ít gây tử vong, nhưng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời người bệnh sẽ bị tàn tật Sự khiếp

sợ đối với bệnh phong bắt nguồn từ những tàn tật, những dị hình của bệnh nhân như: bộ mặt sù sì quái dị, bàn tay, bàn chân cò rụt, co quắp Đó cũng là nguồn gốc của những nhận thức sai lầm về bệnh phong, ảnh hưởng nặng nề đến đời sống tinh thần của người bệnh Vì thế phát hiện, điều trị sớm, phòng ngừa tàn tật chiếm ưu tiên cao trong công tác quản lý bệnh phong

Hiện nay, trên thế giới, ở các nước phát triển bệnh phong không còn là vấn đề của y tế công cộng Nhưng các nước đang và kém phát triển (các nước thuộc Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, Châu Á trong đó có Việt Nam) bệnh phong vẫn là mối quan tâm của cộng đồng [48], đặc biệt là vấn đề tàn tật

Năm 1982, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa đa hóa trị liệu (ĐHTL) vào điều trị cho bệnh nhân phong thay thế trị liệu bằng DDS đơn thuần Sau hơn 20 năm áp dụng ĐHTL, nhiều nước trên thế giới đã hoàn thành chương trình “Loại trừ bệnh phong” theo tiêu chuẩn của WHO [22], [45] Việt Nam là một nước có tỉ lệ bệnh phong tương đối cao, nhưng với nhiều nổ lực trong công tác phòng chống bệnh phong, Việt Nam đã tiến hành thành công chương trình “Loại trừ bệnh phong” vào năm 2000 Tỉ lệ lưu hành bệnh phong trên phạm vi toàn quốc đã giảm từ 6,78/10.000 (1983) xuống 0,23/10.000 (2000)

và 0,1/10.000 (2006) [14], [15]

Tỉ lệ tàn tật của bệnh nhân phong ở Việt Nam còn rất cao so với thế giới,

số bệnh nhân bị tàn tật phân bố ở khắp các tỉnh thành trong cả nước Theo ước tính của Viện Da Liễu Quốc gia, cả nước có khoảng 18.000BN phong bị tàn tật Vấn đề phòng chống tàn tật và phục hồi chức năng cho bệnh nhân phong

Trang 3

“Khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh Gia Lai năm 2006”

Với mục tiêu:

1 Xác định tình hình tàn tật và các loại hình tàn tật trên bệnh nhân

phong tại 02 huyện AyunPa, Chư Sê tỉnh Gia Lai năm 2006

2 Đề xuất các biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tàn tật

Trang 4

- 3 -

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN

1.1 Căn nguyên và cách lây truyền bệnh phong

1.1.1 Căn nguyên gây bệnh

Bệnh phong gây ra do một loại trực khuẩn có tên là Mycobacterium

leprae, do nhà bác học người Na Uy tìm ra năm 1873 có đặc điểm [2], [3],

Bệnh nhân phong, đặc biệt là những bệnh nhân thuộc nhóm nhiều vi

khuẩn (MB) chưa được điều trị

1.1.3 Cách lây truyền

Trực tiếp từ người bệnh sang người lành

- Đường bài xuất: bệnh nhân phong bài xuất vi khuẩn chủ yếu qua niêm mạc mũi họng và qua các thương tổn loét, nứt ở da những bệnh nhân có nhiều vi khuẩn (các thể BB, BL, LL) [41]

- Đường xâm nhập của trực khuẩn: trực khuẩn phong vào cơ thể chủ yếu qua

da và niêm mạc bị xây sát, lở loét Ngoài ra có thể qua đường niêm mạc mũi họng (đường hô hấp) [8]

1.1.4 Một số đặc điểm liên quan tới dịch tễ bệnh phong

- Giới: các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bệnh ở nam cao hơn nữ [22]

- Tuổi: tuổi càng trẻ càng dễ mắc bệnh

- Mức độ tiếp xúc với nguồn lây nhiễm tăng làm tăng nguy cơ mắc bệnh [67]

Trang 5

1.2 Phân loại bệnh phong

1.2.1 Phân loại theo Hội nghị chống phong quốc tế 1953 ở Madrit

Bệnh phong được chia thành các thể sau [2], [8], [22]:

- Phong bất định (I: Indeterminate): thương tổn là các dát thay đổi màu sắc, mất cảm giác nhẹ hoặc vừa

- Phong thể củ (T: Tuberculoid): thương tổn là các củ, mảng củ mất cảm giác,

số lượng ít, khu trú, viêm dây thần kinh

- Phong thể trung gian (B: Borderline): thể phong này vừa mang tính chất của thể củ vừa mang tính chất của thể u

- Phong thể u (L: Lepromatous): thương tổn da là các u phong, mảng thâm nhiễm, lan tỏa toàn thân, đối xứng, viêm dây thần kinh

1.2.2 Phân loại theo Ridley và Jopling năm 1962

Đây là cách phân loại dựa vào đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với trực khuẩn phong, gồm các thể sau [2], [8], [22], [27], [69]:

- Phong thể bất định - I: thương tổn cơ bản (TTCB) ở da là dát

- Phong thể củ - TT: thương tổn cơ bản ở da là mảng củ

- Phong thể trung gian củ - BT: TTCB ở da là mảng củ không điển hình

- Phong thể trung gian thực sự - BB: thương tổn cơ bản ở da là mảng cộp

- Phong thể trung gian u - BL: TTCB ở da là mảng cộp, u chưa đối xứng

- Phong thể u - LL: TTCB ở da là u, cục, mảng cộp, số lượng nhiều, đối xứng

1.2.3 Phân nhóm bệnh phong của WHO - 1982

Để áp dụng điều trị bệnh phong trên thực địa, WHO chia bệnh phong thành hai nhóm sau [8], [22], [62]:

Trang 6

- 5 -

- Nhóm ít vi trùng - PB: bao gồm các bệnh nhân có từ 1 - 5 thương tổn da,

không hoặc chỉ có 1 dây thần kinh bị tổn thương, không tìm thấy trực khuẩn

phong ở các thương tổn (BI=0) Nhóm này bao gồm các thể I, TT và một ít

thể BT theo phân loại của Ridley và Jopling

- Nhóm nhiều vi trùng - MB: bao gồm các bệnh nhân có trên 5 thương tổn da,

có trên 1 dây thần kinh bị tổn thương, tìm thấy trực khuẩn phong tại thương

tổn (BI+) Nhóm này bao gồm các thể BB, BL, LL và một ít thể BT theo phân

loại của Ridley và Jopling

Tổn thương Di lệch, chấn Bỏng và sang Rối loạn

Thứ phát (loại thương, vết thương chấn khác dinh dưỡng

thương tổn do

bệnh nhân

không được Nhiễm trùng

giáo dục y tế)

Cụt rụt ngón tay, ngón chân, bàn tay,

bàn chân, loét giác mạc, giảm thị lực, mù lòa

Hình 1.1 Sơ đồ dẫn đến tàn tật ở bệnh nhân phong của Kelly Ellen Davis [55]

Trang 7

 Khô da, dinh dưỡng kém do tổn thương thần kinh thực vật

 Mất cảm giác: do tổn thương thần kinh cảm giác

 Yếu cơ, liệt, teo cơ: do tổn thương thần kinh vận động

 Mất cảm giác giác mạc, mắt thỏ: do tổn thương thần kinh số V và số VII + Tàn tật thứ phát:

Là loại hình tàn tật do bản thân bệnh nhân và tác động của ngoại cảnh gây ra trên cơ sở mất chức năng thần kinh Các tàn tật này vô cùng nghiêm trọng, song nếu bệnh nhân được giáo dục y tế, có ý thức, sẽ ngăn chặn được Các tàn tật này bao gồm:

 Độ 0: không mất cảm giác, không có tàn tật

 Độ I: mất cảm giác bàn tay, bàn chân, không có tàn tật nhìn thấy

 Độ II: có tàn tật nhìn thấy được (cò ngón, rụt ngón, teo cơ, loét, cụt ) + Mắt:

 Độ 0: không tổn thương, thị lực không bị ảnh hưởng

 Độ I: có tổn thương nhưng thị lực ảnh hưởng không nghiêm trọng (có thể đếm được ngón tay ở khoảng cách 6 mét)

Trang 8

- 7 -

 Độ II: thị lực bị ảnh hưởng nghiêm trọng, không đếm được ngón tay ở khoảng cách 6 mét, có mắt hở mi hay thường gọi “mắt thỏ”, đục giác mạc, viêm mống mắt thể mi

1.3.2.2 Các loại hình tàn tật

Các loại hình tàn tật ở bệnh nhân phong xảy ra chủ yếu ở 3 vùng của cơ thể: vùng mặt (tập trung ở mắt, mũi), chi trên (tập trung ở bàn tay) và chi dưới (tập trung ở cẳng, bàn chân) [25], [26], [47]

1.3.3 Viêm dây thần kinh trong bệnh phong và những hậu quả của nó

1.3.3.1 Viêm dây thần kinh trong bệnh phong

Viêm dây thần kinh đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiến triển của bệnh phong Diễn biến của nó có thể rầm rộ, cấp tính hoặc có thể âm

Trang 9

- 8 -

thầm Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, nó sẽ gây tàn tật và để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho người bệnh

Khi trực khuẩn Hansen xâm nhập vào các dây thần kinh ngoại biên, nó

sẽ gây tổn thương, hủy hoại toàn bộ hay từng phần của dây thần kinh, tuy nhiên tuỳ theo từng giai đoạn mà nó có tổn thương khác nhau [8], [42], [43]

- Giai đoạn 1: giai đoạn viêm

Đây là giai đoạn sớm, biểu hiện bằng các triệu chứng:

+ Dây thần kinh to hơn bình thường

+ Nhạy cảm (sờ vào cảm thấy đau)

+ Có thể đau liên tục (không sờ nắn cũng đau)

Giai đoạn này thường chưa có biểu hiện mất chức năng (không có liệt, không khô da, không mất cảm giác)

- Giai đoạn 2 : dây thần kinh bị tổn thương

Ở giai đoạn này các cấu trúc dây thần kinh bị tổn thương nên các chức năng của nó bị ảnh hưởng, cụ thể:

+ Vùng da do dây thần kinh chi phối bị khô và mất cảm giác

+ Yếu hoặc liệt các cơ do dây thần kinh chi phối

Đây là giai đoạn liệt thần kinh không hoàn toàn hoặc hoàn toàn song thời gian chưa quá 6 - 9 tháng Giai đoạn này nếu được điều trị kịp thời, các chức năng có thể hồi phục, tránh được các hậu quả

- Giai đoạn 3: dây thần kinh bị hủy hoại

Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình viêm dây thần kinh Các triệu chứng gồm có:

+ Liệt thần kinh hoàn toàn

+ Các chức năng thần kinh không thể hồi phục mặc dù được điều trị

Các dây thần kinh ngoại biên hay bị tổn thương trong bệnh phong là dây thần kinh: trụ, giữa, quay, mác chung, chày sau, dây VII, dây V

Trang 10

- 9 -

1.3.3.2 Hậu quả của viêm dây thần kinh

Khi dây thần kinh bị tổn thương ở một vị trí nào đó, đường dây liên lạc này bị cắt đứt sẽ gây nên các hậu quả [42], [52]:

- Rối loạn cảm giác hoặc mất cảm giác

- Khô da, dinh dưỡng kém

- Yếu cơ hoặc liệt cơ, biến dạng khớp

- Mắt hở mi, mất cảm giác giác mạc

Hình 1.2 Các dây thần kinh hay viêm trong bệnh phong [43]

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tàn tật trong bệnh phong

1.4.1 Các cơn phản ứng phong

Trong quá trình tiến triển của bệnh phong, có thể xuất hiện các đợt cấp tính, rầm rộ với nhiều biểu hiện và triệu chứng khác nhau Đó là các cơn phản ứng phong Nếu không được xử trí kịp thời và đúng sẽ gây những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là gây nên những tàn tật cho bệnh nhân [25], [43]

Trang 11

- 10 -

Có 2 loại phản ứng phong [2], [3], [22], [25]:

Phản ứng phong loại 1 còn gọi là phản ứng đảo ngược (Reversal reaction

- RR) hoặc phản ứng lên cấp Phản ứng phong loại 2 còn gọi là phản ứng hồng ban nút do phong (Erytheme Nodosum Leprosum - ENL)

- Phản ứng loại 1

Phản ứng đảo ngược thường xuất hiện trong quá trình điều trị, tuy nhiên

có thể gặp trước hay sau khi điều trị RR có thể xuất hiện ở các bệnh nhân thuộc cả 2 nhóm PB và MB Cơ chế xuất hiện RR là do gia tăng sức đề kháng của cơ thể (miễn dịch trung gian tế bào - CMI)

- Phản ứng loại 2

Phản ứng hồng ban nút chỉ xuất hiện ở bệnh nhân phong nhóm MB ENL thường gặp trong năm đầu khi điều trị Tuy nhiên, nó cũng có thể xuất hiện trước hoặc sau khi điều trị Cơ chế xuất hiện ENL là do lắng đọng phức hợp miễn dịch tại da, mạch máu và các cơ quan (kháng nguyên là vi khuẩn phong bị thoái hóa, kháng thể là các Globulin miễn dịch)

1.4.2 Tình trạng bệnh ảnh hưởng đến tàn tật trong bệnh phong

1.4.2.1 Thời gian mắc bệnh và phát hiện bệnh

Bệnh được phát hiện càng sớm thì tỉ lệ xảy ra tàn tật càng thấp, điều này phụ thuộc vào công tác tuyên truyền giáo dục y tế cho bệnh nhân, trình độ văn hóa, nhận thức của bệnh nhân phong đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp thu một số kiến thức cơ bản về bệnh phong Nó ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của họ về bệnh phong, dẫn đến họ thường đến cơ sở y tế muộn và sẽ bị tàn tật Tuy nhiên, nhờ tiến bộ của y học và các hoạt động của chương trình phòng chống bệnh phong, nhận thức của cộng đồng đã được cải thiện rất nhiều về tình trạng mặc cảm với người mắc bệnh phong [9], [38]

1.4.2.2 Theo thể bệnh

Bệnh nhân thuộc nhóm nhiều vi khuẩn (MB) nguy cơ xảy ra tàn tật cao hơn bệnh nhân nhóm ít vi khuẩn (PB)

Trang 12

- 11 -

1.4.2.3 Tuổi, giới và nghề nghiệp

Tuổi càng cao tỉ lệ xảy ra tàn tật càng nhiều, nam giới bị tàn tật nhiều hơn nữ giới, những người làm nghề nặng nhọc, các nghề lao động chân tay càng dễ xảy ra tàn tật [38]

1.4.3 Các hoạt động phòng chống bệnh phong ảnh hưởng đến tàn tật trong bệnh phong

1.4.3.1 Công tác khám phát hiện

Chúng ta nên áp dụng các phương pháp khám phát hiện bệnh nhân phong mới cho phù hợp như ở tỉnh Gia Lai có thể thay phương pháp 5 bước cải tiến bằng thực hiện các dự án hành động đặc biệt, phương pháp khám sàng lọc qua hình ảnh, khám người tiếp xúc, nhằm đạt hiệu quả cao là “phát hiện bệnh sớm” Nhằm giảm thiểu tối đa tàn tật xảy ra trước điều trị [9]

1.4.3.2 Công tác giáo dục y tế tuyên truyền về bệnh phong

Đi đôi với các hình thức khám phát hiện, chúng ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục y tế toàn dân bằng nhiều hình thức như: truyền thanh, truyền hình, các loại hình truyền thông khác như pano - tờ rơi - áp phích và thông tin qua cộng đồng, để nâng cao tầm nhận thức của cộng đồng về bệnh phong Giúp họ tự tìm đến thầy thuốc khi có dấu hiệu nghi ngờ về bệnh [38]

Tăng cường công tác tập huấn kiến thức cơ bản về bệnh phong cho cán

bộ y tế cơ sở, giúp họ phát hiện được những trường hợp bệnh nghi ngờ,

chuyển lên tuyến trên chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời tránh xảy ra tàn tật

1.4.3.3 Sự tham gia của chính quyền, đoàn thể

Ảnh hưởng của các cấp chính quyền đến công tác phòng chống phong là rất lớn, các cấp chính quyền có quan tâm giúp đỡ đến các hoạt động của chương trình thì công tác phòng chống phong mới đạt được hiệu quả Các quan tâm chính của chính quyền đoàn thể là tạo điều kiện cho ngành y tế thực hiện tốt công tác khám phát hiện bệnh nhân phong mới để đưa vào quản lý và

Trang 13

1.5.1 Tình hình bệnh phong, tàn tật trong bệnh phong trên thế giới

- Bệnh phong xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới, phần lớn ở các nước Châu Á [59], Nam Mỹ và Châu Phi Trong thập niên 90, toàn thế giới phát hiện được khoảng 800.000BN phong mới mỗi năm [4] Với hiệu quả của việc áp dụng ĐHTL cho bệnh nhân phong từ năm 1985 - 2005 có 14 triệu bệnh nhân phong đã được điều trị khỏi Nhiều nước trên thế giới đã hoàn thành chương trình loại trừ bệnh phong theo tiêu chuẩn của WHO [6], [18] là: tỉ lệ lưu hành < 1/10.000 dân, chỉ còn 22 nước có tỉ lệ lưu hành (TLLH) cao hơn 1/10.000 dân [14], [21] Tính đến cuối năm 2006 chỉ còn 6 nước có tỉ lệ bệnh phong lưu hành và tỉ lệ phát hiện (TLPH) còn cao chưa đạt mục tiêu loại trừ bệnh phong như: Tanzania, Madagasca, Nepal, Mozambique, Congo, Brazil [22], [58], [68]

Bảng 1.1 Phân bố bệnh phong trên thế giới năm 2006 (WHO - 2007)

Châu lục/Vùng

Bệnh nhân điều trị

Tỉ lệ lưu hành

Bệnh nhân mới

Tỉ lệ phát hiện

Trang 14

Bệnh nhân mới

Tỉ lệ phát hiện

- Tình hình tàn tật bệnh phong trên thế giới:

Trên thế giới, ước tính hiện nay có khoảng 2 - 3 triệu bệnh nhân phong sau khi được điều trị khỏi còn để lại di chứng tàn tật nặng (theo hiệp hội chống phong quốc tế/ILEP) Uỷ ban chuyên về bệnh phong của WHO đánh giá, có khỏang 25% bệnh nhân phong bị tàn tật Từ năm 1973, Hội nghị quốc

tế phòng chống bệnh phong lần thứ 10 đã nhấn mạnh đến việc ngăn ngừa không để lại di chứng xuất hiện Ngoài sử dụng thuốc đặc trị, cần phải chú trọng đúng mức đến vật lý trị liệu, thể dục liệu pháp… để phòng chống tàn tật Hầu hết số bệnh nhân bị tàn tật nặng tập trung chủ yếu vào các nước nghèo, chậm phát triển như Ấn Độ, Nepal v.v…Đây là vấn đề y tế, kinh tế, xã hội lớn cho Quốc gia cũng như cộng đồng, gia đình họ [50], [56], [57]

Một số nước có tỉ lệ tàn tật trên bệnh nhân phong mới phát hiện còn cao như: Somalia (34,1%), China (23,0%), Burundi (22,2%), Thailand (14,3%), Paraquay (10,9%) [68]

1.5.2 Tình hình bệnh phong, tàn tật trong bệnh phong ở Việt Nam

- Chưa có tài liệu nào nói về lịch sử bệnh phong ở Việt Nam Bệnh có từ lâu đời và là một trong những vấn đề xã hội trầm trọng Trước những năm 50 và

Trang 15

- 14 -

dưới thời Pháp thuộc người bệnh không được chữa trị, người bệnh phong bị tập trung vào các trại phong ở những nơi xa xôi hẻo lánh Chưa có số liệu nào

về tỉ lệ bệnh phong trong thời gian này

Sau khi Việt Nam giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương phòng chống bệnh phong trong nhân dân Năm 1975, ước tính tỉ lệ bệnh phong ở vùng đồng bằng là 3 - 4/1.000, miền núi và cao nguyên có nơi lên đến 55/1.000 Tổng số bệnh nhân phong lúc đó khoảng 120.000 - 140.000 người Trước năm 1980 TLLH bệnh phong trên 5/10.000 Việt Nam cũng đã áp dụng

có hiệu quả thuốc DDS vào điều trị cho bệnh nhân phong và sau đó là áp dụng ĐHTL từ năm 1982 Hàng vạn bệnh nhân phong đã được chữa khỏi [5], [25] TLLH bệnh phong đã giảm một cách rõ rệt, từ 6,78/10.000 (1983) xuống 0,23/10.000 (2000) và 0,1/10.000 (2006), TLPH cũng giảm từ 3,44/100.000 (1995) xuống 1,94/100.000 (2000) và 0,79/100.000 (2006) [14], [15]

Tính đến cuối năm 2006 có 64/64 tỉnh/thành đã đạt được tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong của WHO (TLLH < 1/10.000 dân), 31/64 tỉnh/thành đã đạt được 4 tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong của Việt Nam Vẫn còn một số tỉnh có TLLH và TLPH còn cao như: Kon Tum, Gia Lai, Ninh Thuận, Tây Ninh [15]

- Tình hình tàn tật trên bệnh phong ở Việt Nam: tỉ lệ tàn tật trên bệnh nhân phong

ở Việt Nam vẫn còn cao so với các nước trên thế giới cũng như trong khu vực nhưng đã giảm nhiều so với trước năm 1990 [24] Theo số liệu của Viện Da liễu Quốc gia, hiện nay có khoảng 18.000BN phong bị tàn tật (khoảng 3.772 người tại các khu điều trị, 2.000 người sống tại các làng phong, số còn lại sống tại cộng đồng) [13], [14] Tỉ lệ tàn tật trong các bệnh nhân sống tại các khu điều trị phong

là 91,36%, còn ở các làng phong Tây Nguyên tỉ lệ này là 90 - 95% Tỉ lệ tàn tật của bệnh nhân phong đang sống tại cộng đồng thấp hơn, khoảng 63,97% [44] Trung bình hàng năm phát hiện được 1000 - 1500BN phong mới, khoảng 17% bệnh nhân bị tàn tật độ II [16], tỉ lệ tàn tật độ II trong bệnh nhân phong mới cũng giảm từ 30,07% (1995) xuống 20,92% (2000) và 17,27% (2006) [14], [15]

Trang 16

- 15 -

1.5.3 Tình hình bệnh phong, tàn tật trong bệnh phong ở Gia Lai

- Vài nét khái quát về tỉnh Gia Lai [40]:

Gia Lai là một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của Tây Nguyên có diện tích

tự nhiên 15495.7 km2

Toàn tỉnh có 14 huyện - Thị xã, 1 thành phố; 205 xã/phường/thị trấn,

1818 làng Dân số 1.123.770 người, mật độ dân cư năm 2006 - 78 người/km2

phân bố không đều Có 34 dân tộc anh em đến đây sinh sống từ 51 tỉnh thành trong cả nước Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ 43,3%, trong đó dân tộc Jarai và Bahnar chiếm khoảng 30% [28]

Bệnh phong phân bố rải rác hầu hết ở các huyện, thành phố nhưng tập trung nhiều ở một số huyện như: Chư Sê, Mang Yang, AyunPa, IaGrai, Đức

Cơ, IaPa, Kôngchrò Còn nhiều ổ phong lưu hành ở các huyện trên [31]

- Tình hình bệnh phong ở Gia Lai: theo số liệu báo cáo của Trung tâm PCBXH Gia Lai cho thấy, đến năm 2006 tỉnh Gia Lai có khoảng 1.900BN phong đã được điều trị khỏi Trước năm 1992, bệnh nhân phong ở Gia Lai chỉ được điều trị bằng DDS Từ năm 1993, Gia Lai đã áp dụng ĐHTL dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Viện Da liễu Quốc gia Từ năm 1995, Gia Lai đã đẩy mạnh công tác phòng chống bệnh phong, chủ yếu là công tác khám phát hiện bệnh nhân phong mới, giáo dục y tế về bệnh phong trong cộng đồng, nhằm giảm TLLH, TLPH

Cụ thể thông qua các hình thức khám da toàn dân theo 5 bước cải tiến, khám lồng ghép, khám tiếp xúc phát hiện và điều trị sớm cho bệnh nhân phong bằng ĐHTL, tuyên truyền giáo dục kiến thức cơ bản về bệnh phong trong nhân dân giúp mọi người có nhận thức đúng đắn, khoa học về bệnh phong, làm cho người mắc bệnh phong tự đến các cơ sở y tế khám mà không dấu bệnh như trước, phòng chống tàn tật cho bệnh nhân phong [31] Tỉ lệ bệnh phong cũng giảm nhanh TLLH giảm từ 6,46/10.000 dân (1995) xuống còn 0,6/10.000 dân (2000) và chỉ còn 0,26/10.000 dân (2006) TLPH từ 29,97/100.000 dân (1995) xuống còn 7,3/100.000 dân (2000) và chỉ còn 3,9/100.000 dân (2006)

Trang 17

- 16 -

Tỉ lệ phát hiện 1 / 100.000

Năm

Biểu đồ 1.1 Tỉ lệ phát hiện bệnh phong Gia Lai 1995 - 2006

Tỉ lệ lưu hành 1 / 10.000

Năm

Biểu đồ 1.2 Tỉ lệ lưu hành bệnh phong Gia Lai 1995 - 2006

3,9 6,5 8,7 5,5

7,4 5,8 7,3

10,6 8

8,4 16,9 30

0,58 0,58 0,6 0,87 0,91 1,99 3,65 6,46

Trang 18

Biểu đồ 1.3 Tỉ lệ tàn tật bệnh phong Gia Lai 1995 - 2006

Biểu đồ 1.3 cho thấy tỉ lệ tàn tật trong bệnh nhân phong mới ở Gia Lai cũng giảm dần qua các năm, năm 1995 (68,2%) đến năm 2006 (12,5%) Chứng tỏ công tác tuyên truyền giáo dục y tế về bệnh phong trong cộng đồng

ở Gia Lai đã có hiệu quả giúp cho công tác phát hiện sớm và điều trị kịp thời

đã giảm thiểu tối đa xảy ra tàn tật

Bảng 1.3 Tình hình bệnh nhân phong tàn tật quản lý tại cộng đồng tỉnh Gia Lai năm 2006 [40]

33,9 33,3 36,6 38,3 31,6 40,3 45,9 50,4 68,2

Trang 19

- 18 -

- Tình hình bệnh phong ở huyện nghiên cứu

Bảng 1.4 Tình hình bệnh phong tại 2 huyện nghiên cứu - 2006 [40]

BN săn sóc tàn tật

Tổng

số TLPH

TT độII %

Đây là 2 trong các huyện trọng điểm về bệnh phong của tỉnh Gia Lai

1.6 Phòng ngừa tàn tật và phục hồi chức năng cho bệnh nhân phong

Phòng ngừa tàn tật và phục hồi chức năng phải được coi là một bộ phận của công tác phòng chống bệnh phong Cần phục hồi cho tất cả bệnh nhân phong, cả những người ở giai đoạn đầu của bệnh, không hoặc ít mất chức năng thần kinh và cả những người đã bị dị hình, mất chức năng thần kinh nghiêm trọng, để họ có thể phòng ngừa tàn tật không bị nặng thêm và có thái

độ thông cảm, hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống [46], [49], [54]

1.6.1 Phòng ngừa tàn tật

Điều quan trọng nhất trong phòng ngừa tàn tật là đề phòng tổn thương chức năng thần kinh và nhiễm trùng thứ phát

Các giải pháp dự phòng bao gồm [25], [60], [63]:

- Chẩn đoán và điều trị sớm các dây thần kinh bị tổn thương

- Điều trị đúng phác đồ quy định, giám sát chặt chẽ bệnh nhân mắc các thể phong lưỡng dạng

- Phát hiện và điều trị kịp thời những cơn phản ứng phong có nguy cơ gây tổn hại các dây thần kinh ngoại biên

- Tuyên truyền giáo dục sức khoẻ giúp bệnh nhân phong biết phát hiện sớm các dấu hiệu nguy hiểm của viêm dây thần kinh ngoại biên và viêm mống mắt thể mi

Trang 20

- Phục hồi chức năng bằng vật lý trị liệu:

+ Có biểu hiện mắt thỏ hoặc liệt mặt nhưng cơ vòng mi chưa bị liệt hoàn toàn

- Phục hồi chức năng bằng phẫu thuật:

Các chỉ định chung điều trị phục hồi bằng phẫu thuật

+ Trừ phẫu thuật giải áp thần kinh, phẫu thuật cho bệnh nhân phong chỉ áp dụng với bệnh nhân đã bất hoạt lâm sàng, hoặc ít nhất đã hoàn thành đa hóa trị liệu

+ Tàn tật đã xảy ra  1 năm và không phục hồi được sau vật lý trị liệu

+ Hợp tác tốt, trí tuệ bình thường

+ Không có bệnh toàn thân trầm trọng: suy tim, cao huyết áp, suy thận, viêm gan, đái đường, lao hoặc nếu có phải điều trị đạt đến giới hạn an toàn

+ Không có ổ nhiễm khuẩn khu vực phẫu thuật

+ Tuổi từ 15 - 60 (ưu tiên tuổi trẻ)

Các phương pháp phẫu thuật có thể gồm phẫu thuật chức năng và thẩm mỹ:

* Vùng mặt

- Chứng hở mi: có hai phương pháp thường dùng cho tật hở mi

+ Khâu sụn mi hoặc đóng một phần khe hở mi: phẫu thuật này có thể làm ở bên, ở giữa hoặc cả hai Khâu sụn mi là phẫu thuật đơn giản nhất và công hiệu

Trang 21

- 20 -

nhất Làm thủ thuật này bằng cách lấy đi một mảng da, kết mạc ở bờ mi đối nhau ở túi cùng kết mạc bên và 1/3 sụn mi dưới Các diện mới cắt được khâu vào nhau để làm hẹp khe mi Khâu sụn mi giữa phải hạn chế ở vùng giữa Làm tạo hình chữ Z cho kết quả tốt nhất

+ Chuyển cơ thái dương: một mảnh cơ thái dương được quặt lại từ đầu xương

gò má tới mắt và được cố định vào dây chằng mi giữa

+ Khâu sụn mi bên: da hình tam giác, 1/3 bên của sụn mi và chỗ nối niêm mạc - da bên dưới lông mi của 1/3 bên của mi trên được lấy đo ACD bị cắt ở dưới - A khâu vào B

+ Khâu sụn mi giữa: hai mảng hình chữ V (F và G) được nâng lên, da và niêm mạc được lấy đi, các mảng được đặt vào giữa và khâu lại Phương pháp này gọi là tạo hình chữ Z

- Chứng xẹp mũi: phẫu thuật thường dùng

+ Ghép sụn hoặc xương đơn giản

+ Đặt biểu mô sau mũi

- Rụng lông mày: được khôi phục bằng phương pháp

+ Mảng da đầu bên động mạch thái dương: đây là phương pháp của Paul Brand, một mảng ghép tự do với toàn bộ chiều dày của da có tóc sẽ tiếp tục mọc tóc ở chỗ da được ghép sang

+ Mảng vạt da đầu chuyển vị không có cuống động mạch

Trang 22

- 21 -

+ Với bàn tay cò cứng thì cần thiết đến lý liệu pháp trước phẫu thuật Dùng gân gấp nông của ngón tay giữa hoặc ngón nhẫn Gân được chẻ ra thành 4 cái đuôi, đem gài vào các chẽ mu

- Đối với liệt thần kinh giữa: có hậu quả là mất đối úp của ngón cái thì đem quặt gân gấp nông của ngón nhẫn vào ngón cái Phương pháp này khôi phục lại sự đối úp

- Tổn hại nghiêm trọng cho cả 3 dây thần kinh trụ, giữa và quay hiếm xảy ra

Cổ tay rủ có thể khắc phục bằng 3 loại chuyển

+ Chuyển gân quay sấp tròn và dài vào gân ngắn và dài duỗi xương cổ tay quay + Chuyển gân gấp xuống cổ tay quay vào gân chung duỗi ngón

+ Chuyển gân gan tay vào gân dài gấp ngón cái

* Bàn chân

- Đối với bàn chân rủ: đây là tàn tật thông thường nhất của bàn chân cần đến phẫu thuật tái tạo Phương pháp tiêu chuẩn là chuyển gân của cơ chày sau tới chỗ bám của mu bàn chân

- Phá hủy xương cổ chân: việc điều trị sẽ ít kết quả nếu không theo một thủ thuật thận trọng Khớp được cố định trong thạch cao đi được Thạch cao được bỏ đi để đi thử một cách thận trọng Việc đi bộ tăng dần lên, có băng đàn hồi đỡ và những thời gian nghỉ ngơi, cho đến khi các dấu hiệu viêm nhiễm không quay trở lại

- Ngón chân cò rụt: đối với ngón cái thì gỡ cơ dài duỗi ngón cái khỏi đốt đầu xa

và buộc nó vào đầu xương bàn chân thứ nhất và làm cứng khớp các khớp giữa đốt Đối với các ngón chân khác thì gân gấp dài được chuyển tới các chẽ duỗi

- Cắt cụt: khi không còn cách nào để tạo vòm khỏe về cơ học, như sau sự hủy hoại toàn bộ xương gót hoặc ngón chân thì chỉ còn cách cắt cụt Cắt cụt cũng được chỉ định khi có thêm nhiễm khuẩn nặng Mỏm cụt càng dài càng tốt để cho mỏm được phủ tốt bằng một lớp của cơ hoặc mô da dưới Cắt cụt thường làm ở 1/3 dưới hoặc giữa của cẳng chân Chỉ cắt cao hơn khi có viêm tủy xương cẳng chân lan rộng

Trang 23

- 22 -

1.6.2.2 Phục hồi tâm lý xã hội

- Điều trị ngoại trú cho bệnh nhân phong [51]

- Tuyên truyền giáo dục sức khỏe về bệnh phong

- Chăm sóc bệnh nhân phong tại các cơ sở y tế chung

- Tái hòa nhập người bệnh phong với cộng đồng [65]

1.6.2.3 Phục hồi nghề nghiệp

Phục hồi nghề nghiệp cho bệnh nhân phong cần phải gắn chặt với phục

hồi cơ thể và phục hồi tâm lý xã hội [52], [53]

- Quan tâm đến việc tạo ra một cuộc sống tốt đẹp về cả thể chất, tinh thần lẫn kinh tế - xã hội cho bệnh nhân phong

- Tạo điều kiện để bệnh nhân phong có thể tham gia một cách tích cực và chủ động vào việc cải thiện cuộc sống cho chính họ

- Các hoạt động phục hồi phải mang tính chất hướng cộng đồng để có hiệu quả bền vững lâu dài

- Không nên tạo ra sự khác biệt về giới trong phục hồi toàn diện cho bệnh nhân phong

- Cần có sự quan tâm hơn đến những nhóm người yếu thế, cần chăm sóc nhiều hơn như trẻ em và người già

- Các biện pháp phục hồi nghề nghiệp cho bệnh nhân phong cần phải thay đổi tùy theo hoàn cảnh, thái độ của họ, cơ hội lao động của người không bị tàn tật

và người tàn tật

Trang 24

- 23 -

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi gồm 293BN phong đang quản lý (có 179BN tàn tật) và những hồ sơ, bệnh án của bệnh nhân tại 02 huyện: AyunPa, Chư Sê tỉnh Gia Lai năm 2006

- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:

Bệnh nhân phong tàn tật trong diện đang quản lý

- Tiêu chuẩn loại trừ khỏi nghiên cứu những bệnh nhân sau

+ Bệnh nhân phong tàn tật không do bệnh phong (chấn thương, dị tật bẩm sinh…) + Bệnh nhân từ chối hợp tác, hoặc chuyển đi nơi khác

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Huyện AyunPa, Chư Sê tỉnh Gia Lai

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 03 năm 2007 đến hết tháng 07 năm 2007

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Theo phương pháp mô tả cắt ngang [20]

2.2.2 Nội dung nghiên cứu và các bước tiến hành

2.2.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Xác định tình hình tàn tật và các loại hình tàn tật trên bệnh nhân phong

- Đề xuất các biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tàn tật

1.2.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu

- Tra cứu hồ sơ bệnh án, sổ quản lý bệnh nhân phong

- Khám trực tiếp bệnh nhân, ghi nhận thông tin vào phiếu điều tra tàn tật (phụ lục 1)

Trang 25

- 24 -

2.2.3 Xác định tình hình tàn tật

Độ tàn tật: độ 0, độ I, độ II ở tay, chân và mắt (theo phân độ của WHO)

và phân bố tàn tật theo nhóm tuổi, giới, dân tộc, nhóm bệnh, thời điểm, vị trí xảy ra tàn tật

2.2.4 Xác định các loại hình tàn tật theo chức năng sinh lý và vận động

- Mặt

+ Rụng lông mày

+ Mắt không nhắm được

+ Không đếm được các ngón tay khi đứng cách xa 6 mét

+ Mù mắt (không nhìn thấy hoặc chỉ phân biệt sáng tối)

 Teo khẩu độ ngón cái < 350

 Liệt dạng đối ngón cái

 Teo mặt lưng ô mô cái (teo trái chanh)

Trang 26

 Bệnh nhân còn tự gấp được bàn chân

 Có sự hỗ trợ của thầy thuốc bệnh nhân mới gấp được bàn chân + Loét lỗ đáo

 Số lượng lỗ đáo

 Vị trí (gan chân trước, gót sau, bờ ngoài, vị trí khác)

 Không viêm xương

 Có viêm xương

+ Bàn chân lật

+ Cụt quá khớp cổ chân

Trang 27

1 TK trụ đơn thuần  Dấu hiệu sớm: lực cơ dạng, khép ngón 5, 4 giảm

 Dấu hiệu muộn: cò ngón 5, 4 có thể có thêm cò ngón 3, 2 giảm hoặc mất chức năng gấp, khép ngón 1 (bàn tay vuốt trụ)

2 TK giữa đơn thuần  Dấu hiệu sớm: lực cơ dạng, đối ngón 1 giảm

 Dấu hiệu muộn:

 Dấu hiệu sớm: lực cơ gấp bàn tay giảm

 Dấu hiệu muộn:

- Bàn tay ngửa

- Các ngón tay cò

5 TK trụ + giữa + quay  Dấu hiệu sớm: lực cơ duỗi bàn tay giảm

 Dấu hiệu muộn:

 Dấu hiệu sớm: lực cơ dạng, khép ngón chân giảm

 Dấu hiệu muộn:

- Cò ngón chân

- Mất cảm giác gan bàn chân

Trang 28

- 27 -

7 TK hông kheo ngoài

hay TK mác chung (ở vị trí vùng kheo)

 Dấu hiệu sớm: lực cơ gấp, dạng ngoài bàn chân giảm

 Dấu hiệu muộn: bàn chân rủ và vẹo vào trong (chân cất cần và vẹo trong)

8 TK chày trước  Dấu hiệu sớm: lực cơ gấp bàn chân giảm

 Dấu hiệu muộn: bàn chân rủ đơn thuần

9 TK chày sau + TK

hông kheo ngoài

 Dấu hiệu sớm: lực cơ dạng, khép ngón chân giảm

do liệt các cơ liên cốt gan bàn chân và mu bàn chân, gấp bàn chân giảm

 Dấu hiệu muộn:

- Cò ngón chân do liệt các cơ giun

- Mất cảm giác gan bàn chân

- Bàn chân rủ (chân cất cần)

Mắt

(nhánh cơ vòng mi)

 Dấu hiệu sớm: lực cơ khép mi giảm

 Dấu hiệu muộn: mắt không nhắm được kín

11 TK V (nhánh mắt)  Mất cảm giác giác mạc

2.2.6 Xác định tỉ lệ tàn tật có khả năng điều trị phục hồi bằng vật lý trị liệu

và phẫu thuật

2.2.6.1 Tiêu chuẩn đánh giá khả năng phục hồi

Dựa vào các tiêu chuẩn, chỉ định điều trị bằng vật lý trị liệu và phẫu thuật, đánh giá khả năng phục hồi chức năng cho bệnh nhân phong (tiêu chuẩn đánh giá khả năng phục hồi của Viện Da liễu Việt Nam)

- Khả năng phục hồi bằng vật lý trị liệu

+ Mất cảm giác bàn tay, bàn chân chưa có biểu hiện cò cứng, cụt rụt ngón + Ngón tay cò mềm chưa quá 6 tháng

+ Chân cất cần chưa quá 6 tháng hoặc cất cần nhưng bệnh nhân còn tự gấp được bàn chân

+ Có biểu hiện mắt thỏ hoặc liệt mặt nhưng cơ vòng mi chưa bị liệt hoàn toàn

Trang 29

* Tàn tật đã xảy ra  1 năm và không phục hồi được sau vật lý trị liệu

* Hợp tác tốt, trí tuệ bình thường

* Không có bệnh toàn thân trầm trọng: suy tim, cao huyết áp, suy thận, viêm gan, đái đường, lao hoặc nếu có phải điều trị đạt đến giới hạn an toàn

* Không có ổ nhiễm khuẩn khu vực phẫu thuật

* Tuổi từ 15 - 60 (ưu tiên tuổi trẻ)

+ Chỉ định cụ thể

* Phẫu thuật bàn tay

 Cò 4 ngón dài: cò mềm, chưa có rụt cụt, không có viêm xương, không có sẹo co kéo trên ngón hoặc vết nứt da mặt gấp khớp

 Liệt đối chiếu ngón cái: các khớp và đốt xương ngón cái bình thường, da vùng mô cái không có sẹo co kéo

 Cò cứng các ngón: do co rút da, do co ngắn gân, do cứng khớp thì vá da, nối kéo dài gân, xuyên đinh cố định

 Bàn tay rủ, liệt duỗi các ngón: tầm hoạt động thụ động khớp cổ tay bình thường, các ngón rụt chưa quá 1/3, chưa xơ cứng, vận động nhóm cơ cẳng tay trước bình thường

 Bàn tay ngửa: tầm hoạt động thụ động khớp cổ tay bình thường, các ngón chưa rụt quá 1/3, chưa xơ cứng, nhóm cơ cẳng tay sau bình thường

 Teo đét mặt lưng ô mô cái: không có sẹo xơ chai co kéo vùng khẩu cái, co ngắn da thì phẫu thuật thẩm mỹ (độn trái chanh), độn vá da

Trang 30

- 29 -

* Phẫu thuật bàn chân

 Chân cất cần: bệnh nhân còn tự gấp được bàn chân hoặc có sự trợ giúp của thầy thuốc, chưa cứng khớp cổ chân, chưa lệch hình bàn chân

 Cò ngón chân: các ngón cò mềm, khớp bàn đốt không tổn thương, các đốt ngón không viêm xương

2.2.6.2 Xác định tỉ lệ tàn tật có khả năng điều trị phục hồi

- Khả năng điều trị phục hồi những tổn thương ở bàn tay

Trang 31

- 30 -

2.3 Xử lý số liệu

- Nhập số liệu thu được trên chương trình EPI - INFO 2003

- Sử dụng các test thống kê thích hợp để phân tích số liệu thu được

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu

- Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang về tàn tật trong bệnh phong, giúp các nhà quản lý chương trình và các thầy thuốc thực hiện chương trình phòng chống tàn tật làm cơ sở để hoạch định kế hoạch phù hợp trong phòng ngừa, điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân phong bị tàn tật Nhằm sớm đưa người

bệnh tái hòa nhập vào cộng đồng

- Nghiên cứu này không gây ra bất kỳ một tác động có hại nào đối với người bệnh và cộng đồng Các thông tin thu thập chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu

Trang 33

- 32 -

Bảng 3.2 Phân bố tàn tật theo nhóm tuổi (n=293)

Tuổi

Tổng số bệnh nhân

Biểu đồ 3.2 Phân bố tàn tật theo nhóm tuổi

Bảng 3.2 cho thấy số bệnh nhân phong bị tàn tật ở độ tuổi 15 - 60 tuổi chiếm tỉ

lệ 73,5%, trên 60 tuổi (49,6%) Sự khác biệt có ý nghĩa thông kê với p < 0,05

Trang 34

- 33 -

Bảng 3.3 Phân bố tàn tật theo giới tính (n=293)

Giới tính

Tổng số bệnh nhân

Biểu đồ 3.3 Phân bố tàn tật theo giới tính

Kết quả bảng 3.3 cho thấy số bệnh nhân nam bị tàn tật chiếm tỉ lệ 72,7%, cao hơn bệnh nhân nữ (48,2%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Trang 35

- 34 -

Bảng 3.4 Phân bố tàn tật theo dân tộc (n=293)

Dân tộc

Tổng số bệnh nhân

Biểu đồ 3.4 Phân bố tàn tật theo dân tộc

Bảng 3.4 cho thấy tàn tật ở bệnh nhân là người dân tộc thiểu số Jarai chiếm tỉ

lệ 66,5% cao hơn so với tỉ lệ tàn tật bệnh nhân người dân tộc kinh (50%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Trang 36

- 35 -

Bảng 3.5 Phân bố tàn tật theo nhóm bệnh (n=293)

Nhóm bệnh

Tổng số bệnh nhân

Bảng 3.6 Phân bố tàn tật theo thời điểm trước, trong và sau điều trị (n=293)

Thời điểm

Tàn tật độ I Tàn tật độ II

Tổng số bệnh nhân tàn tật

Số lượng % Số lượng % Số lượng %

Trang 37

Biểu đồ 3.5 Phân bố tàn tật theo vị trí

Bảng 3.5 cho thấy tỉ lệ tàn tật ở vùng tay, chân cao hơn so với vùng mặt (tay: 88,3%, chân: 72,6%, mặt: 6,7%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Trang 38

Biểu đồ 3.6 Phân bố vị trí tàn tật theo nhóm bệnh

Bảng 3.6 cho thấy vị trí tàn tật ở bệnh nhân nhóm MB cao hơn so với nhóm PB (mặt: 7,9%; tay: 92,7% so với 64,3%; chân: 77,5% so với 46,4%) Sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

7,9

92,7

77,5 70,9

Ngày đăng: 14/01/2015, 18:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ dẫn đến tàn tật ở bệnh nhân phong của Kelly Ellen Davis [55] - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Hình 1.1. Sơ đồ dẫn đến tàn tật ở bệnh nhân phong của Kelly Ellen Davis [55] (Trang 6)
Hình 1.2. Các dây thần kinh hay viêm trong bệnh phong [43] - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Hình 1.2. Các dây thần kinh hay viêm trong bệnh phong [43] (Trang 10)
Bảng 1.4. Tình hình bệnh phong tại 2 huyện nghiên cứu - 2006 [40] - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 1.4. Tình hình bệnh phong tại 2 huyện nghiên cứu - 2006 [40] (Trang 19)
Bảng 3.1. Tỉ lệ bệnh nhân phong tàn tật (n=293) - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.1. Tỉ lệ bệnh nhân phong tàn tật (n=293) (Trang 32)
Bảng 3.2 cho thấy số bệnh nhân phong bị tàn tật ở độ tuổi 15 - 60 tuổi chiếm tỉ - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.2 cho thấy số bệnh nhân phong bị tàn tật ở độ tuổi 15 - 60 tuổi chiếm tỉ (Trang 33)
Bảng 3.5. Phân bố tàn tật theo nhóm bệnh (n=293) - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.5. Phân bố tàn tật theo nhóm bệnh (n=293) (Trang 36)
Bảng 3.11. Phân bố mức độ tổn thương ở ngón tay cái (n=158) - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.11. Phân bố mức độ tổn thương ở ngón tay cái (n=158) (Trang 41)
Bảng 3.14. Phân bố tàn tật ở bàn chân theo nhóm bệnh (n=130) - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.14. Phân bố tàn tật ở bàn chân theo nhóm bệnh (n=130) (Trang 43)
Bảng 3.16. Phân bố vị trí lỗ đáo trên gan bàn chân (n=73) - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.16. Phân bố vị trí lỗ đáo trên gan bàn chân (n=73) (Trang 44)
Bảng 3.17. Phân bố lỗ đáo có viêm xương và không viêm xương (n=73) - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.17. Phân bố lỗ đáo có viêm xương và không viêm xương (n=73) (Trang 45)
Bảng 3.18. Phân bố tổn thương ở vùng mặt (n=12) - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.18. Phân bố tổn thương ở vùng mặt (n=12) (Trang 46)
Bảng 3.20. Phân bố tổn thương thần kinh ở bàn tay (n=158) - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.20. Phân bố tổn thương thần kinh ở bàn tay (n=158) (Trang 48)
Bảng 3.21. Phân bố tổn thương thần kinh ở bàn chân (n=130) - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.21. Phân bố tổn thương thần kinh ở bàn chân (n=130) (Trang 49)
Bảng 3.24. Khả năng phục hồi những tổn thương ở bàn chân - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 3.24. Khả năng phục hồi những tổn thương ở bàn chân (Trang 51)
Bảng 4.2. So sánh với các tác giả khác về vị trí lóet lỗ đáo - khảo sát tình hình tàn tật và đề xuất biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tại một số huyện tỉnh gia lai năm 2006
Bảng 4.2. So sánh với các tác giả khác về vị trí lóet lỗ đáo (Trang 61)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w