Ảnh hưởng của nồng độ tảo sống đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian .... Theo báo cáo mới nhất của Sở KHCN & MT TP.HCM 22/10/2002 trung bình mỗi ngày sông Đồng Nai và Sài Gòn phải h
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cám ơn Khoa Công Nghệ Hóa Học, trường Đại Học Bách
Khoa TpHCM đã tạo điều kiện tốt cho em thực hiện tốt luận văn tốt nghiệp này
Em xin chân thành cám ơn Cô Hoàng Mỹ Dung đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Em xin chân thành cám ơn quý Thầy Cô trong Khoa đã tận tình giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức quý báu trong những năm học vừa qua
Con xin nói lên lòng biết ơn sâu sắc đối với Cha Mẹ, Anh Chị đã chăm sóc nuôi dạy con nên người
Xin chân thành cám ơn các anh chị và bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ và động viên em trong thời gian học tập và nghiên cứu
Mặc dù em đã cố gắng hoàn thành luận văn trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự cảm
thông và tận tình chỉ bảo của quý Thầy Cô và các bạn
Trang 2
MỞ ĐẦU
Trong một vài thập kỷ gần đây , cùng với sự phát triển nhanh chóng của đất nước , nghành công nghiệp Việt Nam đã có những tiến bộ không ngừng cả về số lượng các nhà máy cùng chủng loại các sản phẩm và chất lượng cũng ngày càng được cải thiện Nghành công nghiệp phát triển đã đem lại cho người dân những hàng hóa rẻ hơn mà chất lượng không thua kém so với hàng ngoại nhập là bao nhiêu Ngoài ra, ngành công nghiệp cũng đóng một vai trò đáng kể trong nền kinh tế quốc dân Bên cạnh những mặt tích cực như trên thì song song tồn tại những mặt tiêu cực Một trong những mặt tiêu cực
đó là các loại chất thải do các nghành công nghiệp thải ra ngày càng nhiều làm ảnh
hưởng đến môi trường sống và sức khoẻ của người dân
Số lượng ngày càng tăng của kim loại nặng trong môi trường là nguyên nhân gây nhiễm độc đối với đất, không khí và nước Việc loại trừ các thành phần chứa kim loại nặng độc ra khỏi các nguồn nước, đặc biệt là nước thải công nghiệp là mục tiêu môi trường quan trọng bậc nhất phải giải quyết hiện nay
Nhiều giải pháp được đưa ra nhằm loại bỏ kim loại nặng trong nước thải trước khi thải ra môi trường Bên cạnh các phương pháp hóa - lý với những ưu thế không thể phủ nhận được người ta đã bắt đầu nghiên cứu sử dụng các biện pháp sinh học vì nhiều loài sinh vật có khả năng hấp thu kim loại nặng Xử lý kim loại nặng dựa trên hiện tượng hấp thu sinh học (biosorption) có thể là một giải pháp công nghệ của tương lai Trong số các sinh vật có khả năng đóng vai trò là chất hấp thu sinh học (biosorbent) thì các loài tảo được đặc biệt chú ý Rất nhiều trong số đó là các loài tảo có kích thước hiển vi hay còn gọi là vi tảo (microalgae)
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN v
1 Ô nhiễm môi trường nước 1
1.1 Khái niệm ô nhiễm nước 1
1.2 Nguồn gốc, các tác nhân gây ô nhiễm nước 1
2 Tình trạng ô nhiễm kim loại nặng 4
2.1 Tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới 4
2.2 Tình trạng ô nhiễm kim loại nặng ở nước ta 5
3 Hậu quả ô nhiễm kim loại nặng 7
3.1 Ảnh hưởng tới môi trường 7
3.2 Ảnh hưởng tới con người 7
4 Các biện pháp xử lí 8
4.1 Xử lý nước thải chứa kim loại nặng bằng phương pháp hóa lý 8
4.2 Xử lý nước thải chứa kim loại nặng bằng phương pháp sinh học 9
5 Tình hình nghiên cứu sử dụng vi tảo để xử lý kim loại nặng ở Việt Nam và trên thế giới 11
CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
1 Nguyên liệu và hóa chất 14
1.1 Nguyên liệu 14
1.2 Hóa chất 14
2 Môi trường nuôi cấy 14
3 Phương pháp thí nghiệm 14
3.1 Phương pháp nuôi cấy 15
3.2 Phương pháp thu nhận sinh khối 15
Trang 43.3 Phương pháp khảo sát khả năng hấp thu Cu 2+ của sinh khối tảo sống và
tảo chết 17
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ 19
1 Ảnh hưởng của nồng độ Cu 2+ 19
1.1 Sinh khối tảo sống: 19
1.2 Sinh khối tảo khô: 23
2 Ảnh hưởng của nồng độ tảo N.oculata 27
2.1 Sinh khối tảo sống: 27
2.2 Sinh khối tảo khô 34
3 So sánh sinh khối tảo khô và tảo sống 40
4 Ứng dụng trong xử lí nước thải 44
CHƯƠNG IV –BÀN LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
CHƯƠNG V- KẾT LUẬN 48
Trang 5DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Các loại nước thải chủ yếu 6 Bảng 1.2 Nồng độ tối đa cho phép của một số kim loại nặng trong các loại nước theo tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường 8 Bảng 1.3 Tiêu chuẩn bộ y tế về giới hạn hàm lượng kim loại nặng trong nước ăn uống 12 Bảng 1.4 pH thích hợp cho việc kết tủa các kim loại 14 Bảng 1.5 Một số loài thực vật có khả năng tích lũy kim loại nặng cao 15 Bảng 3.1 Lượng Cu 2+ hấp thụ mg/mL tảo sống đạt cao nhất ở các nồng độ tảo khác nhau 28 Bảng 3.2 Lượng Cu 2+ hấp phụ g/g tảo khô đạt cao nhất ở các nồng độ tảo khác nhau 33
Trang 6DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Nạn nhân bị nhiễm độc thuỷ ngân Minamata 9
Hình 2.1 Cách đếm tế bào trong buồng đếm 21
Hình 2.2 Chuẩn độ Cu 2+ bằng phương pháp EDTA 23
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối tảo sống 25
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối tảo 26
Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối tảo sống 27
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối tảo sống 28
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối khô 29
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối khô 30
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối khô 31
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối tảo 32
Hình 3.9 Ảnh hưởng của nồng độ tảo sống đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian 34
Hình 3.10 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian 35
Hình 3.11 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian 36
Hình 3.12 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian 37
Hình 3.13 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian 38
Hình 3.14 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian 39
Hình 3.15 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian 40
Hình 3.16 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp phụ Cu 2+ theo thời gian 41
Trang 7Hình 3.16 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp phụ Cu 2+ theo thời gian
42
Hình 3.17 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp phụ Cu 2+ theo thời gian 43
Hình 3.18 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp phụ Cu 2+ theo thời gian 44
Hình 3.19 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp phụ Cu 2+ theo thời gian (Nồng độ Cu 2+ là 160 mg/L) 45
Hình 3.20 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp phụ Cu 2+ theo thời gian (Nồng độ Cu 2+ là 320 mg/L) 46
Hình 3.21 Khả năng hấp thụ Cu 2+ của sinh khối khô và tảo sống 47
Hình 3.22 Khả năng hấp thụ Cu 2+ của sinh khối khô và tảo sống 48
Hình 3.23 Khả năng hấp thụ Cu 2+ của sinh khối khô và tảo sống 49
Hình 3.24 Khả năng hấp thụ Cu 2+ của sinh khối khô và tảo sống 50
Hình 3.25 Hiệu suất hấp thụ Cu 2+ trong nước thải 51
Trang 8CHƯƠNG I : TỔNG QUAN
1 Ô nhiễm môi trường nước
1.1 Khái niệm ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc
độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất
Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm
1.2 Nguồn gốc, các tác nhân gây ô nhiễm nước
1.2.1 Nguồn gốc
Nước bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được Kết quả làm cho hàm lượng ôxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực
1.2.1.1 Ô nhiễm tự nhiên:
Là do mưa,tuyết tan, lũ lụt,gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng
Cây cối, sinh vật chết đi , chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ
Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn
Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác, và cuốn theo các loại hoá chất trước đây đã được cất giữ
Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc hại ở các khu phế thải Công nhân thu dọn lân cận các công trường kỹ nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất
Trang 9Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt, ) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu
1.2.1.2 Ô nhiễm nhân tạo Bảng 1.1 Các loại nước thải chủ yếu
Các loại nước thải Nguồn phát sinh Đặc điểm
Nước thải sinh hoạt
Hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học…
Chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn
và vi trùng…
Nước thải đô thị
nước thải vệ sinh, nước thải
cơ sở thương mại, công nghiệp nhỏ
Tùy thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể: chất hữu cơ, kim loại nặng…
Nước thải y tế Nước thải bệnh viện
Phế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng
hẹp ấy như một hệ thống WC
Trang 10Theo báo cáo mới nhất của Sở KHCN & MT TP.HCM (22/10/2002) trung bình mỗi ngày sông Đồng Nai và Sài Gòn phải hứng chịu trên 852.000 m3
lượng ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt với hàm lượng DO thấp (DO là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho
sự hô hấp của các sinh vật nước) và COD (COD - Chemical Oxygen Demand - nhu cầu
oxy hóa học là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học trong nước bao gồm
cả vô cơ và hữu cơ) quá cao
Còn tại các khu đô thị, trung bình mỗi ngày thải ra 20.000 tấn chất thải rắn nhưng chỉ thu gom và đưa ra các bãi rác được trên 60% tổng lượng chất thải nên đã gây ô nhiễm nguồn nước
Hiện nay trong tổng số 134 khu công nghiệp, khu chế xuất đã đi vào hoạt động ở nước ta mới chỉ có 1/3 khu công nghiệp, chế xuất có hệ thống xử lý nước thải Nhiều nhà máy vẫn dùng công nghệ cũ, có khu công nghiệp thải ra 500.000 m3 nước thải mỗi ngày chưa qua xử lý
Hàm lượng nước thải của các ngành công nghiệp này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư
Theo kết quả phân tích của cơ quan chức năng, loại nước thải y tế gây ô nhiễm nặng
về mặt hữu cơ và vi sinh Hàm lượng vi sinh cao gấp 100 - 1.000 lần tiêu chuẩn cho phép, với nhiều loại vi khuẩn như Salmonella, tụ cầu, liên cầu, virus đường tiêu hoá, bại liệt, các loại ký sinh trùng, amip, nấm Hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp 2-3 lần tiêu chuẩn cho phép
1.2.2 Các tác nhân gây ô nhiễm nước:
Một trong những tác nhân gây ô nhiễm nước đang được quan tâm nhiều nhất hiện nay là các kim loại nặng
Trang 11Bảng 1.2 Nồng độ tối đa cho phép của một số kim loại nặng trong các loại
nước theo tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường
( Nguồn: Bài báo cáo khoa học: Ô nhiễm nước và hậu quả của nó)
2 Tình trạng ô nhiễm kim loại nặng
Kim loại nặng là khái niệm để chỉ các kim loại có nguyên tử lượng cao và thường
có độc tính đối với sự sống Kim loại nặng thường liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trường Nguồn gốc phát thải của kim loại nặng có thể là tự nhiên (như asen-As), hoặc từ hoạt động của con người, chủ yếu là từ công nghiệp (các chất thải công nghiệp) và từ nông nghiệp, hàng hải (các chế phẩm phục vụ nông nghiệp, hàng hải )
2.1 Tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới
Itai itai: Itai-itai là kết quả của việc ngộ độc cadmium lâu dài do các sản phẩm phụ
của quá trình khai thác mỏ được thải xuống ở thượng nguồn sông Jinzu
Vào 1953-1960, một nhà máy hóa chất ở Nhật đã thải chất thải thủy ngân vào vịnh Minamata gây ra hậu quả nặng nề
Chứng bệnh Minamata là một dạng ngộ độc thủy ngân Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ương và hệ nội tiết và ảnh hưởng tới miệng, các cơ quai hàm và răng Sự phơi nhiễm kéo dài gây ra các tổn thương não và gây tử vong Nó có thể gây ra các rủi ro hay khuyết tật đối với các thai nhi
Trang 12Năm 1972 ở Irac có tới 450 nông dân đã chết sau khi ăn loại lúa mạch đã nhiễm độc thuỷ ngân do thuốc trừ sâu
Hình 1.1 Nạn nhân bị nhiễm độc thuỷ ngân Minamata
( Nguồn: Bài báo cáo khoa học: Ô nhiễm nước và hậu quả của nó)
2.2 Tình trạng ô nhiễm kim loại nặng ở nước ta
Nước ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và đương nhiên là kéo theo đô thị hoá Theo kinh nghiêm của nhiều nước, tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia tăng nhanh chóng Nếu tốc độ tăng trưởng GDP trong vòng 10 năm tới tăng bình quân khoảng 7%/năm, trong đó GDP công nghiệp khoảng 8-9%/năm, mức đô thị hoá từ 23% năm lên 33% năm 2000, thì đến năm 2010 lượng ô nhiễm do công nghiệp có thể tăng lên gấp 2,4 lần so với bây giờ, lượng ô nhiễm do nông nghiệp và sinh hoạt cũng có thể gấp đôi mức hiện nay
Trong quá trình phát triển, nhất là trong thập kỷ vừa qua, các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, đã gặp phải nhiều vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng, do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra Tại thành phố Hồ Chí Minh có 25 khu công nghiệp tập trung hoạt động với tổng số 611 nhà máy trên diện tích 2298 ha đất Theo kết quả tính toán, hoạt động của các khu công nghiệp này cùng với 195 cơ sở trọng điểm bên ngoài khu công nghiệp, thì mỗi ngày thải vào hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai tổng cộng 1.740.000 m3 nước thải công nghiệp, trong đó có khoảng 671 tấn cặn lơ lửng, 1.130 tấn BOD5 (làm giảm nhu cầu ôxy sinh hoá), 1789 tấn COD (làm giảm nhu cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho
Trang 13và kim loại nặng Lượng chất thải này gây ô nhiễm cho môi trường nước của các con sông vốn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho một nội địa bàn dân cư rộng lớn, làm ảnh hưởng đến các vi sinh vật và hệ sinh thái vốn là tác nhân thực hiện quá trình phân huỷ và làm sạch các dòng sông
Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, v.v thường không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hoá của các thể sinh vật và thường tích luỹ trong
cơ thể chúng Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại với sinh vật Hiện tượng nước bị ô nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và khu vực khai thác khoáng sản Ô nhiễm kim loại nặng biểu hiện ở nồng
độ cao của các kim loại nặng trong nước Trong một số trường hợp, xuất hiện hiện tượng chết hàng loạt cá và thuỷ sinh vật
Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trường nước nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu Các nguồn chính thải ra các kim loại nặng này là từ các nhà máy cơ khí, nhà máy luyện kim, nhà máy mạ và các nhà máy hóa chất Tác động của kim loại nặng tới môi trường sống là rất lớn, tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam việc xử lý các nguồn nước thải chứa kim loại nặng từ các nhà máy vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức Bởi các nhà máy
ở Việt Nam thường là có quy mô sản xuất vừa và nhỏ do vậy khả năng đầu tư vào các hệ thống xử lý nước thải là hạn chế Hầu hết các nhà máy chưa có hệ thống xử lý hoặc hệ thống xử lý quá sơ sài do vậy nồng độ kim loại nặng của các nhà máy thải ra môi trường thường là các hệ thống sông, hồ đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép Theo đánh giá của một số các công trình nghiên cứu hầu hết các sông, hồ ở hai thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, và một số thành phố có các khu công nghiệp lớn như Bình Dương nồng độ kim loại nặng của các sông ở các khu vực này đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 3 đến 4 lần Có thể kể đến các sông ở Hà Nội như sông Tô lịch, sông Nhuệ (nơi có nhiều nhà máy công nghiệp), ở thành phố Hồ Chí Minh là sông Sài Gòn và kênh Nhiêu Lộc, kênh Sài Gòn
Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác động tiêu cực tới môi trường sống của sinh vật và con người Kim loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn thâm nhập và cơ thể người
Trang 14Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước ngầm, vào đất và các thành phần môi trường liên quan khác Để hạn chế ô nhiễm nước, cần phải tăng cường biện pháp xử lý nước thải công nghiệp, quản lý tốt vật nuôi trong môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm như nuôi cá, trồng rau bằng nguồn nước thải
3 Hậu quả ô nhiễm kim loại nặng
3.1 Ảnh hưởng tới môi trường
Tác động của kim loại nặng tới môi trường nước có thể theo các hướng sau:
Độc hại đối với cá và các sinh vật thủy sinh khác
Tác động xấu tới chất lượng hệ thống cống rãnh
Ảnh hưởng xấu tới quá trình xử lý sinh học
Làm ô nhiễm nước mặt và nước ngầm
3.2 Ảnh hưởng tới con người
3.2.1 Sức khỏe con người
Các kim loại nặng có trong nước là cần thiết cho sinh vật và con người vì chúng là những nguyên tố vi lượng mà sinh vật cần tuy nhiên với hàm lượng cao nó lại là nguyên nhân gây độc cho con người, gây ra nhiều bệnh hiểm nghèo như ung thư, đột biến Đặc biệt đau lòng hơn là nó là nguyên nhân gây nên những làng ung thư
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn bộ y tế về giới hạn hàm lượng kim loại nặng trong nước
ăn uống
( Nguồn : Tiêu chuẩn vệ sinh ăn uống Ban hành kèm theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ
Y tế số 1329/ 2002/BYT/QÐ ngày 18 / 4 /2002 )
Trang 15Một số chất tẩy rửa gia dụng có chứa các tác nhân tạo phức mạnh (như EDTA, NTA) khi thải ra cũng góp phần làm tăng khả năng phát tán của kim loại nặng
Các kim loại nặng có mặt trong nước, đất qua nhiều giai đoạn khác nhau trước sau cũng đi vào chuỗi thức ăn của con người Chẳng hạn các vi sinh vật có thể chuyển thuỷ ngân (Hg) thành hợp chất metyl thủy ngân (CH3)2Hg, sau đó qua động vật phù du, tôm, cá mà thuỷ ngân đi vào thức ăn của con người Sự kiện ngộ độc hàng loạt ở Vịnh Manimata (Nhật Bản) năm 1953 là một minh chứng rất rõ về quá trình nhiễm thủy ngân
từ công nghiệp vào thức ăn của con người
Khi đã nhiễm vào cơ thể, kim loại nặng (ví dụ thuỷ ngân) có thể tích tụ lại trong các
mô Đồng thời với quá trình đó cơ thể lại đào thải dần kim loại nặng Nhưng các nghiên cứu cho thấy tốc độ tích tụ kim loại nặng thường nhanh hơn tốc độ đào thải rất nhiều Thời gian để đào thải được một nửa lượng kim loại nặng khỏi cơ thể được xác định bằng khái niệm chu kỳ bán thải sinh học (biologocal half - life), tức là qua thời gian đó nồng
độ kim loại nặng chỉ còn một nửa so với trước đó, ví dụ với thuỷ ngân chu kỳ này vào khoảng 80 ngày, với cadimi là hơn 10 năm Điều này cho thấy cadimi tồn tại rất lâu trong
cơ thể nếu bị nhiễm phải
Tóm lại cơ chế nhiễm độc của các kim loại nặng rất đa dạng và phức tạp và hiện nay vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu cả về lĩnh vực bệnh học và điều trị
4 Các biện pháp xử lí
4.1 Xử lý nước thải chứa kim loại nặng bằng phương pháp hóa lý
Bằng con đường xử lý hóa học người ta có thể loại trừ kim loại nặng ra khỏi nước thải Với các nguồn nước thải công nghiệp có nồng độ kim loại nặng cao và pH cực đoan thì việc xử lý chúng bằng các phương pháp hóa lý là rất ưu thế
Trang 16Bảng 1.4 pH thích hợp cho việc kết tủa các kim loại ( Nguồn : www.ctu.edu.vn)
Phương pháp trao đổi ion
Phương pháp keo tụ
Phương pháp hấp phụ bằng than hoạt tính
Kỹ thuật màng
Phương pháp điện hóa
4.2 Xử lý nước thải chứa kim loại nặng bằng phương pháp sinh học
Cơ sở của phương pháp này là hiện tượng nhiều loài sinh vật (thực vật thủy sinh, tảo, nấm, vi khuẩn ) có khả năng giữ lại trên bề mặt hoặc thu nhận vào bên trong các tế bào của cơ thể chúng các kim loại nặng tồn tại trong đất và nước (hiện tượng hấp thu sinh học-biosorption)
4.2.1 Sử dụng thực vật:
Bảng 1.5 Một số loài thực vật có khả năng tích lũy kim loại nặng cao
(Barcelo J., and Poschenrieder C 2003)
Trang 174.2.2 Sử dụng các vật liệu sinh học
Bọt biển hút kim loại
Vật liệu này là một gel khí - một dạng xốp rắn làm từ một loại gel mà ở đó hầu hết thành phần lỏng đã được thay thế bằng khí
Các gel khí chứa những hợp chất nặng, có sunfua hoặc selen thay cho ôxy
4.2.3 Sử dụng vi tảo
Những ƣu thế:
Người ta đã phát hiện rằng nhiều loại sinh khối có thể hấp thu (sorption) kim loại nặng trong nước, trong số đó có sinh khối vi tảo Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng sinh khối sống và chết của các loại vi tảo để hấp thu kim loại nặng có những ưu thế đặc biệt:
Nhiều loại vi tảo có khả năng thu nhận kim loại nặng ở mức độ cao, nồng
độ kim loại nặng tích lũy bên trong các cấu trúc tế bào của chúng có thể cao gấp hàng
nghìn lần nồng độ trong tự nhiên
Diện tích bề mặt riêng của sinh khối vi tảo vô cùng lớn làm cho chúng rất
hiệu quả trong việc loại trừ và tái thu hồi kim loại nặng trong nước thải
Sự hấp thu sinh học các ion kim loại nhờ tảo tốt hơn so với sự kết tủa hóa học ở khả năng thích nghi với sự thay đổi pH và nồng độ kim loại nặng; tốt hơn phương pháp trao đổi ion và thẩm thấu ngược ở khả năng nhạy cảm với sự hiện diện của chất rắn
lơ lửng, các chất hữu cơ, và sự hiện diện của các kim loại khác
Có khả năng xử lý với một thể tích lớn nước thải với tốc độ nhanh
Có tính chọn lọc cao nên nồng độ kim loại nặng còn lại sau xử lý sinh học
có thể chỉ còn thấp hơn 1ppm trong nhiều trường hợp
Hệ thống xử lý sinh học không cần các thiết bị hóa chất đắt tiền, dễ vận hành, phù hợp với các điều kiện hóa lý khác nhau nên giá thành thấp (chỉ bằng khoảng
1/10 giá thành của phương pháp trao đổi ion)
Trong hoạt động quang hợp của mình, vi tảo còn thu nhận một lượng lớn khí CO2, các muối dinh dưỡng, có tác dụng làm giảm hiệu ứng nhà kính, ngăn ngừa và khắc phục tình trạng phì dưỡng (eutrophication) của môi trường nước
Trang 18Chính vì thế vi tảo có thể là một lựa chọn đơn giản và hiệu quả để loại trừ kim loại nặng
trong nước thải công nghiệp
Những thách thức
Thách thức lớn nhất đối với việc sử dụng vi tảo để loại trừ kim loại nặng trong nước thải là khả năng hấp thu kim loại nặng của các loài tảo khác nhau là rất khác nhau Trong số hàng ngàn loài vi tảo đã được phân loại thì mới chỉ có rất ít loài được nghiên cứu về khả năng thu nhận kim loại nặng của chúng Việc tìm kiếm, chọn lọc những chủng, loài tảo có khả năng hấp thu mạnh mẽ kim loại nặng là một nhiệm vụ to lớn của các nhà nghiên cứu hiện nay Trạng thái của sinh khối tảo, cách thức tiền xử lý sinh khối trước khi đem hấp thu kim loại nặng cũng có những ảnh hưởng quan trọng tới năng lực hấp thu Vì lý do thương mại, các chủng tảo có khả nãng hấp thu kim loại nặng
cao và phương pháp tiền xử lý sinh khối thường không được công bố
Do kích thức nhỏ nên việc thu hồi sinh khối vi tảo từ môi trường xử lý là khá khó khăn Hiện đây vẫn là một công đoạn tốn kém nhất Giải pháp cho vấn đề này có thể là sử dụng các tế bào vi tảo được cố định trong các chất mang như: silicagel, polyacrylamide, polyvinyl, polyurethane, agar, alginat, carrageenan, chitosan Rất nhiều
nghiên cứu hiện đang triển khai theo hướng này
Các nguồn nước thải có chứa kim loại nặng trong nhiều trường hợp còn chứa nhiều thành phần hóa học khác có độc tính cao với các sinh vật sống vì vậy cần phải tiến hành xử lý sơ bộ trước khi đưa tảo vào để xử lý kim loại nặng Có thể nói rằng vi tảo chỉ thực hiện một số công đoạn trong quá trình xử lý nước thải, chủ yếu là tham gia vào
giai đoạn xử lý cấp II và cấp III (Nguồn : Xử lý ô nhiễm một số kim loại nặng trong nước
thải công nghiệp bằng phương pháp sinh học Đặng Đình Kim.)
5 Tình hình nghiên cứu sử dụng vi tảo để xử lý kim loại nặng ở Việt Nam và trên thế giới
Ở Việt Nam hiện nay, quy mô và mức độ ô nhiễm kim loại nặng trong nước thải công nghiệp đang gia tăng với tốc độ đáng lo ngại Việc áp dụng các biệp pháp hóa - lý như đã nêu thường có giá thành cao, khiến nhiều hoạt động công nghiệp vẫn tiếp tục thải nước thải chứa kim loại nặng vào môi trường
Trang 19Các điều tra cho thấy các nhà máy ô tô, sản xuất pin và ắc qui, nhà máy thuộc da, các xí nghiệp mạ thải nước thải chứa các kim loại nặng nguy hiểm như Ni, Cr, Fe, Hg,
Cu, Pb Vì vậy nghiên cứu sử dụng vi tảo để loại trừ kim loại nặng trong nước thải công nghiệp ở nước ta là một hướng công nghệ đáng được quan tâm Tuy nhiên đây là một lĩnh vực còn rất mới mẻ ở Việt Nam
Trên thế giới, vấn đề xử lí kim loại nặng bằng vi tảo đã được ngiên cứu từ khá lâu
Tuy nhiên, trong số hàng ngàn loài tảo khác nhau thì 2 loài: Chlorella pyrenoidosa và Spirulina platensis là được nghiên cứu nhiều nhất và hiệu quả xử lí cũng khá cao Người
ta đã phát hiện ra khả năng hấp thụ kim loại nặng của các loài tảo thuộc chi Chlorella, Stichococcus, Anabaena, Aphanocapsa, Nostoc Khả năng hấp thụ kim loại nặng của
một số loài vi tảo là vô cùng lớn
Ngày nay, việc sử dụng tảo để hấp thụ kim loại nặng đang là 1 hướng đi có triển
vọng trong tương lai Theo nghiên cứu của Garnham và cộng sự, 1992 thì tảo Chlorella
sinh trưởng tốt trong các nguồn nước thải đã được nghiên cứu trong giải COD dao động
từ 200-700 mg/L Trong các nghiên cứu khác (A.Grimm và cộng sự, 2008) của tảo
Chlorella phát triển tốt nhất trong nước thải sinh hoạt với giải COD từ 200-400 mg/L,
sinh khối đạt 400-1000mg tảo khô/sau 5-6 ngày.Tảo Chlorella thể hiện khả năng phân hủy COD và BOD rất cao đối với nước thải sinh hoạt trong điều kiện nuôi trong các bể ở
điều kiện phòng thí nghiệm COD giảm 84%, BOD giảm 90% Tảo Chlorella có khả
năng loại bỏ N-NH4+, PO43-của nước thải sinh hoạt rất cao Giá trị các chỉ số này trong nước sau xử lý đạt TCVN 5942-1995 về nước mặt trong những thí nghiệm trong phòng thí nghiệm N-NH4+ giảm 99% ,PO43- giảm 98%
Năm 2002, C-J Tien đã nghiên cứu khả năng hấp thụ kim loại nặng của sinh hối tảo
sống Chlorella vulgaris Kết quả thu được như sau: hiệu suất hấp thụ Cu2+ tối đa đạt được là 80% (nồng độ Cu2+ là 0.4 mg/L) Hiệu suất hấp thụ Pb2+ đạt tối đa là 87% (nồng
độ Pb2+ là 200 mg/L) Tuy nhiên hiệu suất hấp thụ Cd2+ thấp, chỉ đạt tối đa là 23% tại nồng độ Cd2+ là 2 mg/L
Trang 20Năm 2004, Solicio và cộng sự đã thí nghiệm khả năng hấp thụ Cu2+ trên sinh khối
tảo sống và sinh khối tảo khô Spirulina platensis, kết quả là hiệu suất hấp thụ Cu2+ tối đa lên đến 95% trong thời gian từ 4 đến 6h
Năm 2005, theo nghiên cứu của Abu Al-Rub và cộng sự, tảo Chlorella có khả năng
hấp thụ Cu và Zn trong môi trường nước thải tổng hợp Hiệu quả loại bỏ Cu đạt 94-95% sau 20 ngày và hiệu quả loại bỏ Zn đạt 97% sau 16 ngày
Thử nghiệm cố định tế bào tảo Chlorella pyrenoidosa và Spirulina platensis trên
các chất mang khác, xây dựng được phương pháp cố định tế bào vi tảo (Chlorella và Spirulina) trên các chất mang khác nhau như polyurethane, agar và carageenan Tế bào tảo sau khi cố định vẫn có khả năng hoạt động sống bình thường trong một thời gian dài
Sự hấp thụ kim loại nặng phụ thuộc trạng thái của tảo: khi đói dinh dưỡng có khả năng
hấp thụ cao hơn ( Stark, P.C., Rayson, G.D., 2000.)
Vi tảo thực sự có khả năng hấp thụ cao đối với các ion kim loại nặng, sử dụng chúng để xử lý nước thải ô nhiễm kim loại nặng có những ưu thế đặc biệt Tuy nhiên, việc tìm kiếm, chọn lọc những chủng, loài tảo có khả năng hấp thu mạnh mẽ kim loại
nặng là một nhiệm vụ to lớn của các nhà nghiên cứu hiện nay Đối tượng Nanochloropsis oculata là đối tượng còn khá mới mẻ trong vấn đề xử lí kim loại nặng Do đó, mục tiêu
của luận văn này là khảo sát khả năng hấp thụ Cu2+ của vi tảo Nanochloropsis Oculata
Nhiệm vụ của đề tài luận văn bao gồm:
- Khảo sát khả năng hấp thụ Cu2+ tại các nồng độ khác nhau, ứng với các nồng
độ tảo khác nhau của sinh khối tảo sống và sinh khối khô
- So sánh khả năng hấp thụ của tảo sống và tảo chết
- Thử nghiệm: sử dụng tảo N.oculata để hấp thụ Cu2+ trong nước thải
Trang 21CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nguyên liệu và hóa chất
1.1 Nguyên liệu
Giống: tảo Nanochloropsis oculata do bộ môn công nghệ sinh học trường Bách
Khoa TP.HCM cung cấp, được bảo quản ở nhiệt độ 4oC
1.2 Hóa chất
Các hóa chất được sử dụng trong nghiên cứu này có độ tinh khiết cao Danh mục các hóa chất tham khảo ở phần phụ lục
2 Môi trường nuôi cấy
Môi trường : cũng giống như nhiều loài tảo khác, N.oculata cần nhiều chất cho sự
sinh trưởng như: Cacbon, Nitơ, Photpho,…Nhưng quan trọng hơn cả phải kể đến 2 nguyên tố Nitơ và Photpho Hai nguyên tố này được hấp thu chủ yếu dưới dạng NH4+ và
PO43- Thành phần môi trường được chú thích ở phần phụ lục
Máy móc và thiết bị nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, các thiết bị, máy móc đã được sử dụng có độ chính xác cao tại phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học bao gồm: kính hiển vi, cân kỹ thuật 2 số
và 4 số , máy đo pH, tủ sấy, nồi khử trùng, máy ly tâm, máy đồng hóa v.v…
3 Phương pháp thí nghiệm
Trang 22Sơ đồ thí nghiệm:
3.1 Phương pháp nuôi cấy
Tùy lượng sinh khối tảo sử dụng mà phải nuôi qua nhiều cấp Mỗi cấp nhân sinh khối tăng 10-15 lần
Nuôi cấy cấp 1: Hút 20ml ( khoảng 10% thể tích môi trường) từ ống giống cấy vào
200 ml môi trường dinh dưỡng trong bình nước biển 400 ml, tiến hành ở điều kiện
vô trùng (tủ hút với đèn cực tím); nút bông và bao kín lại bằng giấy báo, để ở nhiệt độ phòng và chiếu sáng liên tục trong 3 ngày
Nuôi cấy cấp 2 để thu sinh khối: chuẩn bị 8 bình nước biển chứa 200ml môi trường KUN Hút 20ml từ bình nuôi cấy cấp 1 vào lần lượt 8 bình trên Nuôi ở nhiệt độ phòng và chiếu sáng trong 7-10 ngày Thu sinh khối
3.2 Phương pháp thu nhận sinh khối
Đối với sinh khối tảo sống:
thu Cu2+ đối với tảo chết
Sinh khối tảo sống Sinh khối tảo khô
Khảo sát khả năng hấp thu Cu2+ đối với tảo sống
Trang 23Thu sinh khối tảo N.oculata bằng phương pháp ly tâm lạnh 4oC Chú ý: do tảo N.oculata phát triển dưới đáy bình nên để tiết kiệm lượng dịch tảo cần ly tâm thì trước đó cần gạn bớt phần nước trong bên trên Sau đó dich còn lại đem ly tâm 5000rpm trong 10 phút Bỏ phần dịch trong thu phần bã, đem hòa tan trong nước cất Sau đó, đếm số lượng
tế bào Đếm 3 lần, lấy giá trị trung bình
Đếm số lượng tế bào bằng buồng đếm hồng cầu Mật độ vi sinh vật đơn bào có kích thước lớn như tảo có thể xác định trực tiếp bằng buồng đếm trên kính hiển vi
Buồng đếm hồng cầu thường là một phiến kính dày 2-3 mm có một vùng đĩa đếm nằm giữa phiến kính và được bao quanh bởi một rãnh Đĩa đếm thấp hơn bề mặt của phiến kính khoảng 1/10 mm, có hình tròn vì thế khi được phủ lên bằng một lá kính thì độ sâu của đĩa đếm sẽ đồng đều nhau Vùng đĩa đếm có diện tích 1 mm2 và được chia thành
16 ô vuông lớn có diện tích mỗi ô là 1/16 mm2 và 256 ô vuông nhỏ hơn, mỗi ô có diện tích 1/256 mm2
Khi thực hiện quan sát và đếm vi sinh vật, cho thêm vài giọt formalin vào trong mẫu, trộn đều Pha loãng mẫu cần đếm sao cho trong mỗi ô nhỏ của buồng đếm có khoảng 5-10 tế bào vi sinh vật Để đạt được độ pha loãng như vậy cần phải ước lượng số lượng vi sinh trong mẫu, đồng thời phải thử vài lần trong quá trình pha loãng Đặt một giọt mẫu được pha loãng vào vùng đếm trên buồng đếm ở khu vực buồng đếm Chỉnh thị trường sao cho thị trường chứa trọn một ô lớn (4 x 4 = 16 ô nhỏ) Đếm số tế bào hiện diện trong một ô lớn Sau đó, chỉnh thị trường tìm ô lớn khác Đếm số tế bào của ít nhất 5
Trong đó: N – số lượng tế bào trong 1 ml mẫu
a- Số tế bào trong 5 ô vuông lớn b- Số ô vuông nhỏ trong 5 ô vuông lớn
Trang 24n- là độ pha loãng mẫu
Hình 2.1 Cách đếm tế bào trong buồng đếm
Đối với sinh khối khô:
Đối với sinh khối khô cũng làm tương tự như trên Dịch nuôi cấy cấp 2 đem ly tâm
5000 rpm trong 10 phút Sau khi ly tâm, dịch nuôi cấy được tách thành 2 phần: phần dịch trong và phần bã Phần dịch trong bị gạn bỏ chỉ thu phần bã, sau đó đem sấy ở 50-60oC trong 12h Lượng tảo khô thu được có khối lượng 0.4g toàn bộ lượng tảo khô thu được đem hòa tan trong 1L nước cất thu được dung dịch tảo có nồng độ 0.4g/l
Từ dung dịch tảo ở trên đem đếm số lượng tế bào bằng buồng đếm hồng cầu Xác định số tế bào tảo khô/mL
Số lượng tế bào trong sinh khối tảo sống và khô phải bằng nhau Do đó, dung dịch sinh khối tảo khô hoặc tảo sống cần pha loãng theo tỉ lệ cần thiết
3.3 Phương pháp khảo sát khả năng hấp thụ Cu 2+ của sinh khối tảo sống
Trang 255ml sinh khối tảo khô ( ướt) và 10mL dung dịch Cu2+ có nồng độ Cu2+ tương ứng là:
40, 80, 160, 320mg/L Sau 10 phút, hỗn hợp được đem ly tâm 5000rpm, 5 phút Phần dịch trong được tách riêng ra để xác định hàm lượng Cu2+ chưa được hấp thụ bằng phương pháp EDTA Làm tương tự sau các khoảng thời gian 20’, 30’, 40’, 50’, 1h, 2h, 3h, 4h Lặp lại các thí nghiệm 2 lần, lấy giá trị trung bình
Cân pha dung dịch chuẩn EDTA 0.01M: cân 1.8612g EDTA trong nước cất, cho vào bình định mức 500 ml Bảo quản bình thủy tinh màu nâu
EDTA (axit etylen điamintetraaxetic, H4Y) là thuốc thử được ứng dụng rộng rãi trong phương pháp chuẩn độ tạo phức Phương pháp chuẩn độ sử dụng EDTA làm thuốc thử được gọi là phương pháp chuẩn độ complexon Người ta thường dùng EDTA dưới dạng muối đinatri Na2H2Y, thường gọi là complexon III (nhưng vẫn quen quy ước là EDTA) EDTA tạo phức bền với các cation kim loại và trong hầu hết các trường hợp phản ứng tạo phức xảy ra theo tỉ lệ 1:1
Trang 26CHƯƠNG III: KẾT QUẢ
1 Ảnh hưởng của nồng độ Cu 2+
1.1 Sinh khối tảo sống:
Hiệu suất hấp thụ Cu 2+ tăng dần theo thời gian và đạt tối ưu tại 60 phút Khả năng hấp thụ cao nhất đạt tại nồng độ Cu 2+ 80mg/L
Ảnh hưởng của nồng độ Cu2+
đến hiệu suất hấp thụ Cu2+ của sinh khối tảo sống được nghiên cứu trong điều kiện: nồng độ Cu2+ khảo sát 40 mg/L, 60 mg/L, 80 mg/L, 100 mg/L, 160 mg/L, 320 mg/L, nhiệt độ phòng Thời gian thay đổi từ 10, 20, 30, 40, 50, 60,
120, 180, 240 phút Kết quả thu được thể hiện ở các hình 3.1, 3.2, 3.3, 3.4
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối tảo sống
Hình 3.1 cho thấy, hiệu suất hấp thụ Cu2+ tăng dần khi tăng thời gian và đạt tối ưu ở thời điểm 60 phút Sau đó càng tăng thời gian thì hiệu suất càng giảm Hiệu suất hấp thụ
Cu2+ tối đa của sinh khối tảo sống khi nồng độ Cu2+ là 80 mg/L và đạt 57.33% ở 60 phút
Nồng độ sinh khối tảo sống : 0.2 g/L
Trang 27Hiệu suất hấp thụ thấp nhất tại nồng độ Cu2+ là 40 mg/L Tại thời điểm 60 phút là điểm tối ưu được chọn để hấp thụ lượng Cu2+ nồng độ 80 mg/L đối với sinh khối tảo sống
100 mg/l
160 mg/l
320 mg/l
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối tảo sống
Hình 3.2 cho thấy, hiệu suất hấp thụ Cu2+ tăng dần khi tăng thời gian và đạt tối ưu tại 60 phút Sau đó càng tăng thời gian thì hiệu suất càng giảm Hiệu suất hấp thụ Cu2+tối đa của sinh khối tảo sống khi nồng độ Cu2+ là 80 mg/L và đạt 60% ở 60 phút Hiệu
Nồng độ sinh khối tảo sống : 0.4 g/L
Trang 28suất hấp thụ thấp nhất tại nồng độ Cu2+ là 40 mg/L Tại thời điểm 60 phút là điểm tối ưu được chọn để hấp thụ lượng Cu2+
nồng độ 80 mg/L đối với sinh khối tảo sống
Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối tảo sống
Hình 3.3 cho thấy, hiệu suất hấp thụ Cu2+ tăng dần khi tăng thời gian và đạt tối ưu ở thời điểm 60 phút Sau đó thời gian càng tăng thì hiệu suất càng giảm Hiệu suất hấp thụ
Cu2+ tối đa của sinh khối tảo sống khi nồng độ Cu2+ là 80 mg/L và đạt 60.91% ở 60 phút
Nồng độ sinh khối tảo sống : 0.6 g/L
Trang 29Hiệu suất hấp thụ thấp nhất tại nồng độ Cu2+ là 40 mg/L Tại thời điểm 60 phút là điểm tối ưu được chọn để hấp thụ lượng Cu2+ nồng độ 80 mg/L đối với sinh khối tảo sống
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối tảo sống
Hình 3.4 cho thấy, hiệu suất hấp thụ Cu2+ tăng dần khi tăng thời gian và đạt tối ưu
ở thời điểm 60 phút Sau đó càng tăng thời gian thì hiệu suất càng giảm Hiệu suất hấp thụ Cu2+ tối đa khi nồng độ Cu2+ là 80 mg/L và đạt 68% ở 60 phút Hiệu suất hấp thụ thấp nhất tại nồng độ Cu2+ là 40 mg/L Vì vậy, thời gian 60 phút được chọn làm điểm tối ưu
để xử lí nước có chứa nồng độ Cu2+
là 80 mg/L
[tảo] (g/L) [Cu2+] (mg/L) Thời gian (phút) Hiệu suất (%) Lượng Cu2+
hấp thụ mg/mL tảo sống
Trang 30Lượng Cu2+ hấp thụ đạt tối đa 0.11mg/ mL tảo sống tại thời gian 60 phút, nồng độ
Cu2+ 80 mg/L, nồng độ tảo 0.8 g/L
1.2 Sinh khối tảo khô:
Hiệu suất hấp phụ Cu 2+ tăng dần khi tăng thời gian và đạt tối ưu tại 40 phút Khả năng hấp phụ cao nhất đạt tại nồng độ Cu 2+ mg/L
Ảnh hưởng của nồng độ Cu2+ đến hiệu suất hấp phụ Cu2+ của sinh khối khô được nghiên cứu trong điều kiện: nồng độ Cu2+ khảo sát 20 mg/L, 40 mg/L, 60 mg/L, 80 mg/L,
160 mg/L, 320 mg/L, nhiệt độ phòng Thời gian thay đổi từ 10, 20, 30, 40, 50, 60, 120,
180, 240 phút Kết quả thu được thể hiện ở các hình 3.5, 3.6, 3.7, 3.8
Hình 3.5 cho thấy, hiệu suất hấp phụ Cu2+ tăng dần khi tăng thời gian và đạt tối ưu
ở thời điểm 40 phút Sau đó càng tăng thời gian thì hiệu suất càng giảm Hiệu suất hấp
Nồng độ sinh khối tảo khô : 0.2 g/L
Trang 31phụ Cu2+ tối đa khi nồng độ Cu2+ là 40 mg/L và đạt 15.41% ở 40 phút Hiệu suất hấp phụ thấp nhất tại nồng độ Cu2+ là 20 mg/L Tại thời điểm 40 phút là điểm tối ưu được chọn để hấp phụ lượng Cu2+ nồng độ 40 mg/L đối với sinh khối tảo khô
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối khô
Hình 3.6 cho thấy, hiệu suất hấp phụ Cu2+ tăng dần khi tăng thời gian và đạt tối ưu
ở thời điểm 40 phút Sau đó càng tăng thời gian thì hiệu suất càng giảm Hiệu suất hấp phụ Cu2+ tối đa khi nồng độ Cu2+ là 40 mg/L và đạt 20.92% ở 40 phút Hiệu suất hấp phụ
Nồng độ sinh khối tảo khô: 0.4 g/L
Trang 32thấp nhất tại nồng độ Cu2+ là 20 mg/L Tại thời điểm 40 phút là điểm tối ưu được chọn để
hấp phụ lượng Cu2+ nồng độ 40 mg/L đối với sinh khối tảo khô
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối khô
Hình 3.7 cho thấy, hiệu suất hấp phụ Cu2+ tăng dần khi tăng thời gian và đạt tối ưu ở
thời điểm 40 phút Sau đó càng tăng thời gian thì hiệu suất càng giảm Hiệu suất hấp phụ
Cu2+ tối đa khi nồng độ Cu2+ là 40 mg/L và đạt 20% ở 40 phút Hiệu suất hấp phụ thấp
Nồng độ sinh khối tảo khô : 0.6 g/L
Trang 33nhất tại nồng độ Cu2+ là 20 mg/L Tại thời điểm 40 phút là điểm tối ưu được chọn để hấp
phụ lượng Cu2+ nồng độ 40 mg/L đối với sinh khối tảo khô
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn hiệu suất theo thời gian của sinh khối tảo khô
Hình 3.8 cho thấy, hiệu suất hấp phụ Cu2+ tăng dần khi tăng thời gian và đạt tối ưu
ở thời điểm 40 phút Sau đó thời gian càng tăng thì hiệu suất càng giảm Hiệu suất hấp
Nồng độ sinh khối tảo khô : 0.8 g/L
Trang 34thấp nhất tại nồng độ Cu2+ là 20 mg/L Tại thời điểm 40 phút là điểm tối ưu được chọn để
hấp phụ lượng Cu2+ nồng độ 40 mg/L đối với sinh khối tảo khô
[tảo] (g/L) [Cu2+] (mg/L) Thời gian
(phút) Hiệu suất (%)
Lượng Cu2+ hấp phụ g/g tảo khô
Quá trình hấp thụ chủ yếu trong khoảng 1h đầu tiên ( đối với sinh khối tảo sống) và
trong khoảng 40 phút đầu tiên ( đối với sinh khối khô) Khi nồng độ Cu2+ ban đầu thay
đổi từ 40 đến 80 mg/l, hiệu suất hấp thụ tỉ lệ thuận với nồng độ Với nồng độ Cu2+
ban
đầu 80 mg/l khả năng hấp thụ cao nhất đối với sinh khối tảo sống với nồng độ Cu2+
ban
đầu 40 ml/l khả năng hấp phụ cao nhất đối với sinh khối khô
2 Ảnh hưởng của nồng độ tảo N.oculata
2.1 Sinh khối tảo sống:
Hiệu suất hấp thụ Cu 2+ tỷ lệ thuận với nồng độ tảo và đạt cực đại tại 0.8g/L
Ảnh hưởng của nồng độ tảo N.oculata đến hiệu suất hấp thụ Cu2+ của vi tảo
N.oculata được nghiên cứu trong điều kiện: nồng độ tảo sống: 0.2 g/L, 0.4 g/L, 0.6 g/L,
Trang 35và 0.8 g/L ,thời gian khảo sát là 10, 20, 30, 40, 50, 60, 120, 180, 240 phút Nồng độ Cu2+
Hình 3.9 Ảnh hưởng của nồng độ tảo sống đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian
Nồng độ Cu2+ : 40 mg/L
Trang 36Hình 3.9 cho thấy, sinh khối tảo sống ở nồng độ 0.8 g/L thì hiệu suất hấp thụ Cu2+
đạt cao nhất và đạt 46.67% tại 60 phút (cao gấp 1.6 lần so với sinh khối tảo sống nồng độ 0.6 g/L, cao gấp 1.8 lần so với nồng độ 0.4 g/L và gấp 2 lần so với nồng độ 0.2 g/L)
Hình 3.10 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian
Nồng độ Cu2+ : 60 mg/L
Trang 37Hình 3.10 cho thấy, sinh khối tảo sống ở nồng độ 0.8 g/L thì hiệu suất hấp thụ
Cu2+ đạt cao nhất và đạt 68% tại 60 phút (cao gấp 1.25 lần so với sinh khối tảo sống nồng
độ 0.6 g/L, cao gấp 1.32 lần so với nồng độ 0.4 g/L và gấp 1.42 lần so với nồng độ 0.2
Hình 3.11 Ảnh hưởng của nồng độ tảo đến khả năng hấp thụ Cu 2+ theo thời gian
Nồng độ Cu2+ : 80 mg/L là nồng độ tối ưu