Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài “Rèn luyện cho học sinh trung học phổ thông sử dụng biện pháp tu từ so sánh để tăng cường tính biểu cảm trong bài làm văn nghị lu
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BỘ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 601410
HÀ NỘI – 2012
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 31.2.2 Thực tiễn về việc dạy nghị luận văn học của giáo viên 47
1.2.3 Việc học nghị luận văn học của học sinh trung học phổ thông
Chương 2: MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN CHO HỌC
SINH SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH TRONG BÀI
2.1.1 Phải đảm bảo cho học sinh biết sử dụng biện pháp tu từ so sánh
2.1.2 Phải đảm bảo cho học sinh biết sử dụng biện pháp tu từ so sánh
đúng lúc, đúng chỗ trong bài văn nghị luận văn học 57 2.1.3 Phải đảm bảo tôn trọng cái riêng của học sinh trong so sánh 58
Trang 46
2.1.4 Phải đảm bảo rèn luyện theo trình tự đi từ “kỹ thuật” đến “nghệ
thuật”, từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó 60 2.1.5 Phải rèn luyện đảm bảo tính “vừa sức” vừa đảm bảo tính
2.2 Bài tập rèn luyện sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong bài làm
2.2.1 Nhóm bài tập nhận biết và phân tích giá trị của biện pháp
2.2.2 Nhóm bài tập tạo lập biện pháp tu từ so sánh trong bài làm văn
2.2.3 Nhóm bài tập chữa lỗi sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong
Trang 53
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Cấu tạo đầy đủ của một biện pháp tu từ so sánh 21
Trang 64
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1 Phân loại bài tập rèn luyện sử dụng biện pháp tu từ so sánh 65
Trang 77
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Một trong những vấn đề cơ bản trong định hướng đổi mới của nền giáo
dục nước ta hiện này là đổi mới phương pháp dạy học sao cho vừa trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức vững chắc, hiện đại lại vừa trang bị được
cả những kỹ năng cần thiết để các em vận dụng sáng tạo vào thực tiễn một cách thuần thục nhất Trong nhà trường phổ thông, mỗi môn học đều có một
vị trí riêng biệt nhằm cung cấp tri thức và rèn luyện những kỹ năng nhất định cho học sinh Môn Ngữ văn nói chung, phần Làm văn cũng không nằm ngoài mục tiêu đó
1.2 Làm văn đóng góp rất lớn trong việc giáo dục, giáo dưỡng, phát triển
hoàn thiện năng lực, nhân cách cũng như trau dồi thêm về năng lực tư duy ngôn ngữ cho học sinh Làm văn giúp các em, một mặt bộc lộ được năng khiếu, khả năng tưởng tượng, khả năng vận dụng kiến thức văn học và những hiểu biết về đời sống xã hội vào tạo lập văn bản, mặt khác còn tạo cho học sinh cơ hội giúp các em chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh tri thức và say
mê hơn với học văn và làm văn
1.3 Trong nhà trường phổ thông, văn nghị luận giúp học sinh vận dụng tổng
hợp các tri thức văn học, tri thức đời sống, rèn luyện kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ và đặc biệt giúp đắc lực vào việc phát triển tư duy khoa học, tư duy
lí luận ở họ Văn nghị luận luôn đòi hỏi người viết những yêu cầu cao là phải đảm bảo vừa chinh phục bạn đọc bằng lí trí, lại vừa phải chiếm lĩnh được trái tim họ bằng tình cảm
Bài văn nghị luận văn học nhờ việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh sẽ càng tăng thêm tính thuyết phục, tính biểu cảm, và chiếm được tình cảm của bạn đọc nhiều hơn Có thể nói, rèn luyện học sinh trung học phổ thông sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong bài làm văn nghị luận văn học chính là rèn
Trang 8từ so sánh, giàu hình ảnh được kết hợp sử dụng khéo léo trong bài văn sẽ tạo nên giá trị biểu cảm rất lớn, làm cho bài văn sinh động hơn, hấp dẫn hơn, thuyết phục hơn
Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài “Rèn luyện
cho học sinh trung học phổ thông sử dụng biện pháp tu từ so sánh để tăng cường tính biểu cảm trong bài làm văn nghị luận văn học” với mong muốn
góp phần khắc phục những thiếu sót nói trên
Nghiên cứu đề tài luận văn này, chúng tôi bàn đến vấn đề làm thế nào
để học sinh nắm vững nội dung lí thuyết về “sử dụng biện pháp tu từ so
sánh”, có thể tiến hành vận dụng biện pháp tu từ so sánh một cách độc lập,
hơn nữa có thể kết hợp được với các thao tác lập luận khác trong bài văn nói chung và bài làm văn nghị luận văn học nói riêng, làm chủ được các kỹ năng, viết được những bài văn nghị luận văn học chặt chẽ, hoàn chỉnh, giàu sức thuyết phục, tăng cường tính biểu cảm
1.4 Với mong muốn thông qua quá trình luyện tập, những bài văn của học
sinh sẽ ngày càng ít đi những lỗi không đáng có về sử dụng biện pháp tu từ so
sánh, chúng tôi mạnh dạn đề xuất những bài luyện tập ứng dụng “sử dụng
biện pháp tu từ so sánh” cụ thể phù hợp với đặc thù phần Làm văn trong bộ
môn Ngữ văn (vừa có tính chất tổng hợp, vừa có tính chất thực hành) Hy vọng rằng với hướng đi mới, dù chỉ ở mức độ thực nghiệm, cũng có thể góp phần ít nhiều vào việc nâng cao chất lượng dạy và học làm văn ở nhà trường
trung học phổ thông hiện nay
Trang 99
2 Lịch sử vấn đề
Trong phần này chúng tôi sẽ khái quát một số công trình nghiên cứu, những bài viết, những luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, những sách giáo khoa v.v có liên
quan đến đề tài luận văn: “Rèn luyện cho học sinh trung học phổ thông sử
dụng biện pháp tu từ so sánh để tăng cường tính biểu cảm trong bài văn nghị luận văn học” từ đó hệ thống hóa những vấn đề đã được nghiên cứu, được
giải quyết, những vấn đề được đề cập nhưng chưa được giải quyết thấu đáo, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, theo những khía cạnh sau:
+ Thế nào là biện pháp tu từ so sánh?
Có thể nói đã có nhiều công trình bàn đến vấn đề này như: Phong cách
học và các phong cách chức năng tiếng Việt của tác giả Hữu Đạt [3,
tr.399-408], Giáo trình phong cách học tiếng Việt của tác giả Nguyễn Thái Hòa [5,
tr 104-111] và một số công trình mà chúng tôi phân tích kỹ hơn sau đây
Trước hết, chúng tôi mở đầu việc khái quát lịch sử vấn đề bằng cách đề
cập đến công trình Giáo trình Việt ngữ tập III (phần Tu từ học) của tác giả
Đinh Trọng Lạc [8] Công trình này là một trong ba cuốn giáo trình đầu tiên
về ngôn ngữ được chính thức sử dụng ở trường Đại học Sư phạm những năm
60 thế kỷ XX Ngoài những vấn đề lý luận về ngôn ngữ nói chung, công trình này là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên đã trình bày rất kỹ lưỡng, sâu sắc về biện pháp tu từ so sánh Tác giả công trình này đã dành nhiều trang để bàn về khái niệm, cấu trúc, chức năng và một số giá trị của biện pháp tu từ so sánh trong cách diễn đạt Có thể nói rằng, đây là một công trình khoa học nghiêm túc, có giá trị, đóng vai trò làm cơ sở lý luận về tu từ học nói chung, về biện pháp tu từ so sánh nói riêng cho những công trình nghiên cứu khoa học khác sau này đi sâu, nâng cao sự hiểu biết về biện pháp
tu từ, trong đó có biện pháp tu từ so sánh
Sau công trình nói trên của tác giả Đinh Trọng Lạc, năm 1982, cuốn
sách Phong cách học tiếng Việt của các tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù
Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa [2] được xuất bản Biện pháp tu từ so sánh được
Trang 1010
phân tích tương đối kỹ trong phần “Các phương thức ngữ nghĩa được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng” của cuốn sách Các tác giả cuốn sách đã trình bày khá sâu sắc, rõ ràng về các vấn đề lý luận: khái niệm so sánh nghệ thuật (so sánh hình ảnh, tu từ so sánh ), hình thức so sánh nghệ thuật, giá trị của so sánh nghệ thuật Những quan điểm lý luận về biện pháp tu từ so sánh của các
tác giả cuốn Phong cách học tiếng Việt nói trên, nhìn chung có những nét
tương đồng với những quan điểm của tác giả Đinh Trọng Lạc đã được nêu
trong công trình Giáo trình Việt ngữ tập III (phần Tu từ học) Đồng thời chúng ta có thể nhận thấy những đóng góp mới của công trình Phong cách
học tiếng Việt so với công trình Giáo trình Việt ngữ tập III Sự khác biệt,
đóng góp mới của công trình này chính là ở chỗ các tác giả công trình đã chỉ
ra tính phong phú, đa dạng của các hình thức tu từ so sánh, và nguyên nhân của tính phong phú, đa dạng đó Các tác giả Phong cách học tiếng Việt đã viết
về điều này như sau: “So sánh mang đặc trưng của phong cách thời đại,
phong cách dân tộc, phong cách tác giả Tìm hiểu sự khác nhau giữa cách so sánh trong văn học cổ điển với văn học hiện đại, giữa cách so sánh trong ca dao với thơ ca bác học, giữa cách so sánh của nhà thơ này với nhà thơ khác
là một điều thú vị Có người ưa dùng cách so sánh mang tính trí tuệ, có người
ưa so sánh mộc mạc, chân chất, chính xác và pha mầu hài hước như văn chương dân gian Sự khác nhau này do nội dung, thể tài, khuynh hướng sáng tác, tâm lý dân tộc, thời đại…quy định” Từ những nhận định đó các tác giả
đã đưa ra một dự báo về một hướng nghiên cứu trong tiếng Việt văn học sẽ
được hình thành: nghiên cứu tu từ so sánh: “…trong việc nghiên cứu tiếng
Việt văn học, so sánh cũng như nhiều phương thức tạo hình gợi cảm khác còn đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề phải giải quyết” Cho đến nay, dự báo này
đã trở thành hiện thực Tu từ so sánh hiện nay đã là một trong những vấn đề được đề cập nhiều trong việc nghiên cứu tiếng Việt văn học
Đến năm 1983, cuốn sách Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
của tác giả Cù Đình Tú [24] được xuất bản Trong cuốn sách này, tác giả đã
Trang 1111
đưa ra khái niệm tu từ so sánh, nhìn chung không khác nhiều với những quan điểm của các tác giả trong những công trình nghiên cứu ngữ văn khác Từ khái niệm này, tác giả đã phân tích sâu hơn sự khác biệt giữa so sánh tu từ với
nhiêu, bấy nhiêu…- so sánh tương đồng Về nội dung so sánh, tác giả căn cứ
vào sự xuất hiện hay không xuất hiện, trực tiếp hay gián tiếp những yếu tố
giống nhau giữa hai vế so sánh (A và B) để phân loại thành so sánh nổi và so
sánh chìm
Với những nội dung nói trên, công trình Phong cách học và đặc điểm
tu từ tiếng Việt của tác giả Cù Đình Tú được coi là một đóng góp có ý nghĩa
vào việc nghiên cứu biện pháp tu từ so sánh trong tiếng Việt
Cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt của tác giả Đinh
Trọng Lạc [7] và cuốn Sổ tay tiếng Việt phổ thông trung học của đồng tác giả Đinh Trọng Lạc và Lê Xuân Thại [9] là những cuốn sách được biên soạn dưới dạng từ điển tra cứu về ngôn ngữ nói chung và tu từ học nói riêng
Các tác giả của hai cuốn sách nói trên đã giới thiệu một cách chi tiết các biện pháp tu từ tiếng Việt như: biện pháp tu từ từ vựng (hòa hợp, tương phản, quy định, tu từ từ vựng âm); biện pháp tu từ ngữ nghĩa (so sánh, đồng nghĩa kép, thế đồng nghĩa, phản ngữ, nghịch ngữ, tiệm tiến, tiệm thoái, lộng ngữ, nói lái); biện pháp tu từ ngữ âm - văn tự (điệp phụ âm đầu điệp vần, điệp thanh, tượng thanh, hài âm, tạo nhịp điệu, tạo âm hưởng, chữ hoa tu từ, chữ cái tu từ, chữ in tu từ, chấm tu từ, phẩy tu từ, chấm lửng tu từ, gạch nối tu từ) Ngoài ra, các tác giả còn phân biệt hai khái niệm ngôn ngữ học dễ bị nhầm lẫn với nhau: phương tiện tu từ và biện pháp tu từ Theo các tác giả,
“phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản
Trang 1212
(ý nghĩa sự vật – lô gich) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ”, còn “biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ, không kể là trung hòa hay tu từ (còn được gọi là diễn cảm) trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ” Chính nhờ sự
phân biệt rõ ràng này việc nghiên cứu, giảng dạy vấn đề tu từ nói chung và tu
từ so sánh nói riêng được thuận lợi hơn
Chương IV của cuốn sách Phong cách học tiếng Việt của tác giả Đinh Trọng Lạc (chủ biên) và Nguyễn Thái Hòa [10, tr.160-222]: Các phương tiện
tu từ và các biện pháp tu từ tiếng Việt được dành riêng cho vấn đề những
phương tiện và các biện pháp tu từ tiếng Việt
Trong chương này, ngoài việc tiếp tục phân biệt rạch ròi phương tiện tu
từ và biện pháp tu từ, các tác giả đã miêu tả những phương tiện tu từ cơ bản cũng như những biện pháp tu từ cơ bản của tiếng Việt bằng những dẫn chứng lấy trong tư liệu ngôn ngữ mới, đa dạng ở tất cả các cấp độ một cách nhất quán, kể cả cấp độ văn bản
Về các phương tiện tu từ ngữ nghĩa các tác giả đã chia các phương tiện
tu từ ngữ nghĩa thành ba tiểu nhóm (mỗi nhóm có một phương thức tiêu biểu): - nhóm tu từ so sánh; - nhóm tu từ ẩn dụ; - nhóm tu từ hoán dụ
Khi phân tích nhóm tu từ so sánh (liên quan vấn đề nghiên cứu của luận
văn này), các tác giả đã đưa ra định nghĩa: “So sánh là phương thức diễn đạt
tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm
mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe…”
Các tác giả của công trình nghiên cứu này cũng đưa ra những tiêu chí
để phân biệt tu từ so sánh với so sánh logic: “So sánh tu từ học khác với so
sánh logic ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính dị loại (không cùng loại) của sự vật”
Đáng chú ý là, các tác giả đưa ra một nhận định sâu sắc về hiện tượng
khúc xạ của ngôn ngữ trong tu từ so sánh, và hiệu quả biểu cảm của hiện
Trang 1313
tượng khúc xạ này : “…mọi so sánh (trong ngôn ngữ) đều khập khiễng Đó
chính là hiện tượng khúc xạ của ngôn ngữ Trong những so sánh tu từ, hiện tượng khúc xạ còn tăng lên nhiều lần vì còn mang sắc thái chủ quan của người so sánh Khi ta nói: “Người đẹp như hoa” thì hoa là chuẩn để so sánh, đem người so sánh với hoa đã là việc khác thường, nhưng Lý Bạch ca ngợi Dương Quý Phi đến mức: “Ở đây hoa cũng đẹp như người” hay Tố Hữu viết:
“Đêm qua trăng sáng Cổ Ngư/ Trăng in mặt ngọc, trăng như mặt người” thì chính sự thái quá của cảm xúc đã nâng hình tượng vượt hẳn lên mức độ của
sự so sánh thông thường” [10, tr.189-190]
Các tác giả còn chỉ ra 4 yếu tố của hình thức đầy đủ nhất của biện pháp
tu từ so sánh, đó là: 1 Cái so sánh; 2 Cơ sở so sánh; 3 Từ so sánh; 4 Cái được so sánh Sau đó chỉ ra những kiểu biến thể của tu từ so sánh (đảo trật tự
so sánh; bớt cơ sở (thuộc tính so sánh); bớt từ so sánh; thêm “bao nhiêu”,
“bấy nhiêu”; dùng “là” làm từ so sánh) Theo các tác giả, cứ mỗi kiểu biến thể như vậy sẽ tạo ra một kiểu tu từ so sánh và như vậy ta có những nhóm tu từ so sánh khác nhau [10, tr.191]
Trong Từ điển thuật ngữ văn học do các tác giả Lê Bá Hán (chủ biên),
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi biên soạn, nhà xuất bản Đại học Quốc gia xuất bản năm 1999, các tác giả đã đưa ra định nghĩa (tu từ) so sánh trong văn
học: “So sánh còn gọi là tỉ dụ Là phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một
cách hình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm thuộc tính của hiện tượng kia Chính vì thế, so sánh thường có hai
vế Vế đầu là hiện tượng cần được biểu đạt một cách hình tượng Vế sau là hiện tượng dùng để so sánh Hai vế này thường được nối liền với nhau bởi từ
“như” hoặc bằng các từ so sánh khác: bằng, hơn, kém Ví dụ: Thân em như mảnh lụa đào… ” [4]
Ngoài những tài liệu mang tính lí luận như trên, chúng tôi còn được tiếp cận với một số công trình nghiên cứu khác, một số luận văn, khóa luận có
Trang 1414
quan hệ nhất định với đề tài luận văn hoặc có liên quan tới vấn đề so sánh mà các bạn học viên cao học hoặc các bạn sinh viên đã thực hiện tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Chúng tôi xin điểm lại một số công
trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề này Chẳng hạn như: bài viết Từ so sánh
đến … so sánh của Lê Xuân Mậu [15, tr.9-15], Bản chất của ẩn dụ của
Nguyễn Đức Tồn [22, tr.6-8], Bàn thêm về phép so sánh tu từ của Bùi Trọng
Ngoãn v.v và các luận văn mà chúng tôi nêu sau đây:
Luận văn Tìm hiểu cấu trúc so sánh tu từ trong kí của Nguyễn Tuân sau
cách mạng tháng Tám – Đỗ Thị Nhung, chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ, Hà
Nội, 2000 đã cố gắng làm sáng rõ thêm một vài vấn đề về khái niệm tu từ so sánh Luận văn cũng đã trình bày cơ sở để phân biệt so sánh lôgich và tu từ so sánh Theo tác giả, so sánh lô gich và tu từ so sánh được phân biệt với nhau ở đối tượng và mục đích so sánh So sánh lô gich là so sánh trong đó cái được
so sánh và cái so sánh là cùng loại và mục đích là nhằm xác lập giá trị tương đương giữa đối tượng này với đối tượng khác Trong khi đó thì tu từ so sánh
là so sánh trong đó cái được so sánh và cái so sánh là khác loại và mục đích của so sánh là đưa ra một cách tri giác mới mẻ về đối tượng
Bài Bàn thêm về phép so sánh tu từ - Bùi Trọng Ngoãn, Đại học Sư
phạm, Đại học Đà Nẵng – là bài viết tìm hiểu sâu về cấu trúc so sánh từ góc
độ lí luận ngôn ngữ Tác giả đã trình bày một số vấn đề lớn xung quanh cấu
trúc so sánh: xác định cách gọi tên “từ ngữ biểu đạt quan hệ so sánh” và liệt
kê 20 đơn vị biểu đạt quan hệ so sánh; chỉ ra cơ sở so sánh là thuộc tính của cái dùng để so sánh và xây dựng các tiêu chí phân biệt so sánh nổi với so sánh
chìm; phân tích một số mô hình so sánh “B bao nhiêu A bấy nhiêu” và “A
bao nhiêu B bấy nhiêu”
+ Vai trò, tác dụng biện pháp tu từ so sánh trong một bài văn, một tác phẩm văn học, nghệ thuật…
Về vấn đề vai trò, tác dụng biện pháp tu từ so sánh, chúng tôi xin đưa
ra một số bài viết liên quan đến chủ đề luận văn của chúng tôi như sau:
Trang 1515
Bài Vài điều lí thú về phép so sánh – TS Nguyễn Thế Truyền [23,
tr.17-20] Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra một số nhận xét rất quan trọng khi đi sâu vào tìm hiểu biện pháp tu từ so sánh Tác giả cho rằng, trong so sánh, đối tượng được đem ra so sánh có giá trị quan trọng về nhận thức và biểu cảm, đặc biệt là về biểu cảm; biện pháp so sánh ít nhiều để lại dấu ấn phong cách tác giả; hình ảnh so sánh vừa là phương tiện, vừa là vật chuẩn để làm rõ đối tượng vì vậy việc chọn hình ảnh nào sẽ liên quan đến quan niệm thẩm mĩ của tác giả, của trào lưu văn học hoặc thời đại; sự quy chiếu trong so sánh là một cách thức nhà văn dùng để khắc họa bối cảnh, môi trường sống của nhân vật Những nhận định ấy của tác giả vừa là sự kế thừa thành tựu của các tác giả đi trước, vừa là sự mở rộng, đi sâu vào những vấn đề đã được nêu lên… Có thể nói, bài viết này đã giúp chúng tôi rất nhiều khi tìm hiểu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong bài làm văn nghị luận của học sinh
Bài Giá trị của biện pháp tu từ so sánh trong ca khúc về tình yêu của
Trịnh Công Sơn của tác giả Minh Nguyên Tuy bài viết bàn về âm nhạc
nhưng điểm nhấn của tác giả lại là lời ca trong ca khúc, một vấn đề thuộc lĩnh
vực ngôn ngữ Trong bài viết, tác giả đã xem xét: đặc điểm hình thái – cấu
trúc của biện pháp tu từ so sánh trong các nhạc khúc viết về tình yêu của Trịnh Công Sơn; đặc điểm ngữ nghĩa của biện pháp so sánh trong các
ca khúc của Trịnh Công Sơn; nét đặc sắc trong biện pháp so sánh của Trịnh Công Sơn nhìn từ góc độ văn hóa Mặc dù đây là bài viết về biện pháp so
sánh trong ca khúc của một tác giả, nhưng bài viết đã giúp chúng tôi có cách nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về giá trị của biện pháp tu từ so sánh từ một góc nhìn khác – góc nhìn giao thoa giữa ngôn ngữ và âm nhạc
Bài Học tập Bác Hồ sử dụng so sánh trong công tác tuyên truyền –
Nguyễn Trung Triều, Trường Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang – là bài viết đi sâu tìm hiểu biện pháp tu từ so sánh như một trong những nét tạo nên phong cách tác giả Trong bài viết này, người viết đã dẫn ra và phân tích một số câu nói có sử dụng biện pháp so sánh của Bác Hồ để làm sáng rõ một nhận định
Trang 1616
đã được nêu ra trong nhiều công trình nghiên cứu về tu từ học trước đó:
“Trong khoa học, nghệ thuật cũng như trong đời sống hàng ngày, phép so
sánh, nhất là so sánh hình ảnh luôn được sử dụng một cách phổ biến, góp phần khẳng định chân lý hoặc làm sáng tỏ hơn, sinh động hơn điều muốn nói” Từ cơ sở nhận định như trên, tác giả đi sâu vào tìm hiểu, phân tích, bình
giá cách Bác Hồ sử dụng biện pháp tu từ so sánh và đi đến kết luận: “Khi nói,
khi viết Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến mục đích, đối tượng, đó là nói, viết cho ai? Tức là quan tâm đến đối tượng hướng tới để tuyên truyền Người cho rằng, do hậu quả chính sách “ngu dân” của chế độ thực dân nên trình độ dân trí của dân ta nói chung là thấp, nhận thức chính trị của dân ta chưa sâu Bởi vậy, ngôn ngữ Người dùng rất giản dị, hình ảnh sử dụng để so sánh rất gần gũi, gắn với đời thường Vì thế, những bài viết, bài nói của Người luôn ngắn gọn, cô đọng và dễ hiểu Đây là điều chúng ta phải học tập và noi theo” Đây
là bài viết nghiên cứu về nét phong cách riêng của cá nhân trong sử dụng biện pháp tu từ so sánh, góp phần khẳng định giá trị của biện pháp tu từ so sánh trong việc tạo nên phong cách nhà văn
Bài Phép so sánh trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Bloger
Đinh Hà Triều, giáo viên trường trung học phổ thông Xuân Diệu là bài viết về nét riêng, nét độc đáo của Nguyễn Tuân trong việc sử dụng phép so sánh
Trong bài viết này, khi ca ngợi tài năng của Nguyễn Tuân, trong đó có tài năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, tác giả đã nhấn mạnh rằng, muốn là một so sánh tu từ cần phải hội đủ các yếu tố: tính hình tượng, tính biểu cảm
và tính dị loại: “Một trong những phương diện của sự tài hoa uyên bác ở nhà
văn được thể hiện qua phép so sánh Một lối so sánh dựa trên sự lịch lãm, trên khả năng liên tưởng cực mạnh Nó vượt qua những giới hạn thông thường đem lại hứng thú lớn cho người đọc giúp họ mở rộng kiến văn, trải nghiệm cảm xúc, và có ý thức hơn về sự khổ công hào hiệp của lao động sáng tạo trong nghệ thuật ngôn từ Thưởng thức, tiếp nhận “Người lái đò sông Đà” thiết tưởng không thể không bái phục năng lực so sánh bậc thầy của tác
Trang 1717
giả Tôi chắc rằng ở bài tùy bút này những câu văn có khả năng làm tổ trong tâm trí người đọc là những câu văn so sánh Những câu văn kết tụ một tấm lòng thơm thảo, một tài năng quý hiếm của một con người suốt đời cần mẫn
đi tìm cái đẹp trong cuộc sống để viết nên những áng văn đẹp góp phần làm phong phú, giàu có thêm hương hoa tinh thần cho một dân tộc đã có bề dày văn hiến mấy nghìn năm”
Các tác giả cuốn sách Muốn viết được bài văn hay khi bàn về những
biện pháp để có được bài văn hay đã chỉ ra vai trò quan trọng của biện pháp tu
từ so sánh: “Biện pháp cơ bản nhất để tạo nên bài viết có hình ảnh là người
viết dùng phép so sánh, liên hệ, đối chiếu Ở đây những tư tưởng trừu tượng, khái quát, khô khan được minh họa, diễn đạt bằng cách so sánh với hàng loạt hình ảnh cụ thể sinh động tạo nên khoái cảm cho người đọc không kém gì văn sáng tác….So sánh bao giờ cũng có sức gợi cảm, gợi trí tưởng tượng phong phú trong lòng người đọc” [14, tr.104].
Trong công trình Phong cách học tiếng Việt của hai tác giả Đinh Trọng
Lạc (chủ biên) và Nguyễn Thái Hòa [10], vai trò, tác dụng biện pháp tu từ so
sánh đã được chỉ ra một cách rõ ràng Các tác giả viết: “So sánh là một dạng
thức phổ biến trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, bởi vì không có cách gì làm cho người nghe hiểu nhanh điều mình nói bằng một sự so sánh cụ thể…”;
“Trong văn chương, so sánh là phương thức tạo hình, phương thức gợi cảm
Nói đến văn chương là nói đến so sánh…” [10,tr.191,192]
Các tác giả trong công trình Phong cách học tiếng Việt cũng đề cập đến
việc sử dụng thành ngữ với tính cách là một phương tiện tu từ so sánh trong
cuộc sống hàng ngày cũng như trong văn học: “Theo cách hiểu truyền thống,
thành ngữ là những cụm từ cố định có kết cấu lớn hơn từ nhưng mang chức năng của từ, có hình ảnh và giàu màu sắc biểu cảm Ví dụ: mèo mả gà đồng/áo rách, quần xơ/ ruộng sâu trâu nái/ cạn nước cạn cái/ ông chẳng bà chuộc/ đầu cua tai nheo/ hồn xiêu phách lạc/ đầu bạc răng long v.v……Thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của dân gian Đó
Trang 1818
là cách nói ví von, so sánh rất hay, rất có hình ảnh, rất thấm thía… Dân gian
sử dụng thành ngữ không phải chỉ với cái vốn sẵn có mà luôn luôn thay đổi
và sáng tạo theo một mô hình nào đó Chẳng hạn: gầy như mắm, gày như có hương, gầy như mèo hen, gầy như quỷ đói, gày như ma đói, từ chỗ dùng gầy trơ xương gần đây lại có gầy như bộ xương phòng thí nghiệm, hoặc theo một ghi chép của nhà văn Tô Hoài thì từ thành ngữ gần đất xa trời, gần nhà xa ngõ, lại có gần mũi xa mồm (trường hợp có thức ăn ngửi rất gần mà không được ăn)…
Trong ngôn ngữ nghệ thuật thành ngữ được dùng khá phổ biến ở những ngòi bút bậc thầy như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố v.v
Trong ngôn ngữ chính luận, thành ngữ là phương tiện sắc bén để diễn đạt xúc tích, mà không nhạt nhẽo khô khan…
Dùng thành ngữ có thể biến những khái niệm trừu tượng, khô khan thành những hình ảnh xác thực, dễ hiểu, dễ nhớ… ” [10, tr.177-178]
+ Vấn đề rèn luyện cho học sinh sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong một bài văn nói chung, bài văn nghị luận văn học nói riêng
Năm 1993 nhà xuất bản Giáo dục đã cho ra đời cuốn Thực hành phong
cách học tiếng Việt của các tác giả Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái
Hòa [11] Đúng như tên gọi, cuốn sách này đã tập trung bàn về vấn đề thực hành rèn luyện năng lực đưa lí thuyết vào thực tiễn, vận dụng lí luận vào thực hành Liên quan đến chủ đề của luận văn, chúng tôi lưu ý đến phần thực hành
“Các phương tiện tu từ và các biện pháp tu từ của tiếng Việt” Trong phần
này, các tác giả đã dành một số lượng bài tập đáng kể cho biện pháp tu từ so sánh, trong đó có một số dạng bài tập rèn luyện so sánh, kiểu như: nhận xét mối quan hệ giữa cái so sánh và cái được so sánh, chỉ ra tác dụng cụ thể của biện pháp so sánh trong câu văn câu thơ về mặt nhận thức và thẩm mĩ Vấn
đề rèn luyện cho học sinh những kỹ năng sử dụng tiếng Việt cũng được các tác giả Lê A, Bùi Minh Toán, Nguyễn Quang Ninh, Trần Mạnh Hưởng,
Trang 1919
Nguyễn Thành Thi… đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của mình [1], [6], [12], [20] Đó là những gợi ý định hướng cho chúng tôi trong việc đưa ra những biện pháp rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng so sánh làm tăng tính biểu cảm của bài làm văn nghị luận văn học
Trong cuốn sách Muốn viết được bài văn hay do giáo sư Nguyễn Đăng
Mạnh chủ biên đã dẫn ra ở phần trên, ngoài việc bàn đến vai trò của văn nghị luận nói chung đặc biệt là văn nghị luận văn học nói riêng, các tác giả còn chỉ
ra những biện pháp cần thực hiện để có một bài văn hay và đúng trong khuôn khổ nhà trường Đồng thời, các tác giả đã chỉ ra những “bí quyết” để có được một bài văn hay vì từ một bài văn đúng đến một bài văn hay có một khoảng cách không nhỏ, người viết phải chọn chữ không chỉ đúng mà còn phải trúng, không thể chọn chữ nào khác ngoài chữ đã chọn, không những đúng mà còn phải độc đáo, mới mẻ Các tác giả cũng thừa nhận rằng, đối với trình độ học sinh, để đạt được trình độ viết hay như yêu cầu trên thì cực khó Nhưng khi các em đã cảm và hiểu được một bài văn, bài thơ thì khi làm văn các em hoàn toàn có thể có được những ý mới lạ, độc đáo nhiều khi chỉ nhờ cảm quan hồn nhiên, trung thực của mình
Phần II cuốn sách, các tác giả nêu ra “những công việc cụ thể để xây dựng một bài văn hay” Đó là chuẩn bị chất liệu, lập ý, dựng khung (đề cương) bài văn, từ đề cương chuyển thành văn bản hoàn chỉnh Để chuyển từ
đề cương đến văn bản hoàn chỉnh, cần phải có mở bài hay, kết bài hay, diễn ý
và hành văn hay Muốn diễn ý và hành văn hay cần có giọng văn và thay đổi giọng văn để thể hiện thái độ tình cảm của người viết đối với vấn đề mà mình viết về nó Đồng thời, phải biết cách dùng từ độc đáo, viết câu linh hoạt, viết câu có hình ảnh Các tác giả đã chỉ ra biện pháp cơ bản nhất để tạo nên bài viết có hình ảnh là người viết dùng biện pháp so sánh, liên hệ, đối chiếu….Có
thể nói cuốn sách Muốn viết được bài văn hay nói trên đã cung cấp cho chúng
tôi những cơ sở lý luận cũng như thực tế để rèn luyện cho học sinh những
Trang 2020
biện pháp viết được một bài văn hay, trong đó có sử dụng biện pháp tu từ so sánh
Luận văn cao học chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Ngữ
văn của Lí Thị Sơn K17 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng biện
pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4,
không đi sâu vào vấn đề lí thuyết về tu từ so sánh mà trình bày một số dạng bài tập rèn luyện cho học sinh lớp 4 cách sử dụng hai biện pháp so sánh và nhân hóa để nâng cao tính sinh động của văn miêu tả, loại văn mà các em học sinh lớp 4 được học nhiều nhất ở tiểu học Đóng góp chủ yếu của luận văn này là ở chỗ: hệ thống hóa được một số vấn đề liên quan đến việc rèn kỹ năng
sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4; khảo sát thực trạng việc sử dụng biện pháp tu từ này trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4; xây dựng được một số loại bài tập trong việc rèn luyện kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4 Có lẽ đây là một trong những tài liệu phần nào đó có sự gần gũi nhất định với đề tài
mà chúng tôi triển khai nếu nhìn từ góc độ tìm hiểu biện pháp tu từ so sánh và việc ứng dụng nó vào đọc hiểu và tạo lập văn bản
Trong một loạt các khóa luận tốt nghiệp của sinh viên khoa Ngữ văn
Đại học Sư phạm Hà Nội vấn đề rèn luyện cho học sinh sử dụng biện pháp tu
từ so sánh trong một bài văn nói chung, bài văn nghị luận văn học nói riêng
đã được nêu ra một cách cụ thể Trần Thị Bích Lê trong chương II của khóa
luận: Biện pháp tu từ so sánh và phương pháp dạy nhằm nâng cao hiệu quả
thẩm mỹ của hình ảnh so sánh cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông (của
sinh viên Ngữ văn K.48 Trần Thị Bích Lê, giảng viên hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Quang Ninh, bảo vệ năm 2002) đã nêu một cách cụ thể nội dung và phương pháp dạy học biện pháp tu từ so sánh và phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả thẩm mỹ của các hình ảnh so sánh cho học sinh lớp 10 trung học phổ
thông Trong khóa luận Phương hướng tổ chức dạy học so sánh tu từ, ẩn dụ
tu từ theo tinh thần kết hợp dạy – học tiếng với dạy học văn và làm văn
Trang 2121
(người hướng dẫn TS Nguyễn Tiến Mâu, bảo vệ năm 2004), Nguyễn Thị Kiều Vân đã nêu lên mục đích yêu cầu của tiết học bài “Ẩn dụ tu từ, so sánh
tu từ” về kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng nhận diện, phân tích lĩnh hội các tu từ
so sánh, tu từ ẩn dụ trong các văn bản văn chương được học trong chương trình, góp phần hiểu sâu sắc, phong phú hơn về tác phẩm văn chương đó và vận dụng sự hiểu biết về các biện pháp tu từ “so sánh”, “ẩn dụ” để viết đoạn văn, bài văn thẩm bình về chúng trong tác phẩm văn chương, sử dụng “tu từ
ẩn dụ”, “tu từ so sánh” để diễn đạt trong tập làm văn
Chương II của khóa luận: Biện pháp tu từ so sánh và việc vận dụng
biện pháp tu từ so sánh vào làm văn của Nguyễn Kiều Hạnh, do PGS TS
Nguyễn Quang Ninh hướng dẫn, đã bàn rất kỹ vấn đề rèn luyện cho học sinh vận dụng biện pháp tu từ so sánh vào làm văn
Tác giả nhấn mạnh, thực chất của việc vận dụng biện pháp tu từ so sánh vào từng loại văn nói riêng (miêu tả, tự sự, nghị luận …) và quá trình làm văn nói chung là tạo ra những câu văn có tu từ so sánh Công việc này đòi hỏi ở học sinh không chỉ năng lực tư duy hình tượng liên tưởng cao mà còn cần có
kỹ năng biết sử dụng và tạo lập tu từ so sánh Giáo viên cần hướng học sinh hình thành thói quen thường trực, cũng như ý thức sáng tạo hình ảnh so sánh với mục đích xây dựng ngôn ngữ nghệ thuật giàu tính hình tượng và biểu cảm Đồng thời cũng cần lưu ý học sinh không nên quá lạm dụng biện pháp tu
từ so sánh, sử dụng một cách quá dày đặc làm cho văn bản trở nên khiên
cưỡng, rắc rối, cầu kỳ, rỗng tuyếch
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề có liên quan đến lí luận về biện pháp tu từ so sánh và việc vận dụng biện pháp tu từ này vào bài văn nghị luận văn học nhằm tăng cường tính biểu cảm cho bài văn là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong
đề tài luận văn: Rèn luyện cho học sinh trung học phổ thông sử dụng biện
Trang 2222
pháp tu từ so sánh để tăng cường tính biểu cảm trong bài làm văn nghị luận văn học
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngay trong tên gọi của đề tài luận văn chúng tôi đã có sự giới hạn
phạm vi nghiên cứu: Rèn luyện cho học sinh trung học phổ thông sử dụng
biện pháp tu từ so sánh để tăng cường tính biểu cảm trong bài làm văn nghị luận văn học Sở dĩ đề tài nghiên cứu của chúng tôi không chọn vào một khối
lớp cụ thể nào mà mở rộng ra toàn bậc học vì ở bất kỳ một khối lớp nào khi
sử dụng tốt biện pháp tu từ so sánh trong bài làm văn nghị luận văn học cũng đều thu được hiệu quả tốt
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Một mặt hệ thống hóa lại những vấn đề lí luận về so sánh nói chung, biện pháp tu từ so sánh nói riêng để trên cơ sở đó tìm hiểu sâu và kỹ hơn về hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh đối với bài làm văn nghị luận văn học
của học sinh trung học phổ thông
Mặt khác, tìm hiểu cơ chế tạo ra biện pháp tu từ so sánh để từ đó định
ra một hướng triển khai tốt nhất trong việc rèn luyện cho học sinh trung học phổ thông sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong bài làm văn nghị luận văn học nhằm tăng cường được tính biểu cảm cho bài văn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trước tiên, chúng tôi tìm hiểu và nắm vững những vấn đề lí luận cũng như hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong văn bản, đặc biệt là tác dụng của việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh đối với việc làm một bài văn nghị luận văn học, từ đó tạo cơ sở rèn luyện cho học sinh trung học phổ thông sử dụng tốt biện pháp tu từ này trong hành văn của mình
Sau đó, chúng tôi đi vào thực tế để tiến hành khảo sát việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong bài nghị luận nói chung và bài làm văn nghị luận văn học nói riêng của học sinh trung học phổ thông để có được những thông tin
Trang 2323
ban đầu về việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh để từ đó có hướng rèn luyện
cụ thể cho học sinh sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong bài làm văn nghị luận văn học
Cuối cùng, chúng tôi tiến hành thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính khả thi của quy trình rèn luyện cho học sinh như đã đặt ra Kết quả thực nghiệm sẽ
là thước đo khá chính xác và thuyết phục cho những gì chúng tôi mong muốn trong lí do lựa chọn đề tài làm luận văn của mình
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng đề tài: Rèn luyện cho học sinh
trung học phổ thông sử dụng biện pháp tu từ so sánh để tăng cường tính biểu cảm trong bài làm văn nghị luận văn học, chúng tôi đã vận dụng một số
phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp phân tích ngôn ngữ giúp chúng tôi nghiên cứu tài liệu
trong quá trình thực hiện đề tài Phương pháp này không chỉ giúp tiếp nhận, lĩnh hội các vấn đề lí luận về biện pháp tu từ so sánh mà còn giúp chúng tôi trình bày kết quả nghiên cứu mà luận văn đạt được
5.2 Phương pháp thống kê
Chúng tôi dùng phương pháp này để xử lí các số liệu thu thập được
trong quá trình điều tra thực nghiệm
5.3 Phương pháp điều tra khảo sát
Chúng tôi dùng phương pháp này để điều tra tình hình thực tế học tập
và rèn luyện cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong bài làm văn nghị luận văn học ở trường trung học phổ thông Từ tình hình thực tế này chúng tôi sẽ đưa ra những biện pháp khả thi nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học Làm văn ở nhà trường trung học phổ thông
5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thông qua quá trình thực nghiệm giảng dạy, đánh giá nhận thức của học sinh từ đó đưa ra những đề xuất về việc giảng dạy cho học sinh sử dụng biện
Trang 2424
pháp tu từ so sánh và việc rèn luyện kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh
để tăng cường tính biểu cảm trong bài văn nghị luận văn học cho học sinh,
đồng thời khẳng định mức độ thành công của đề tài
6 Cấu trúc của Luận văn
Cấu trúc Luận văn của chúng tôi được trình bày như sau:
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Cấu trúc của Luận văn
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Một số dạng bài tập rèn luyện cho học sinh sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong bài làm văn nghị luận văn học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 25trước, trong cuốn “Tu từ học”, tác giả Aristote (384 – 322 TCN) đã đề cập đến
biện pháp tu từ so sánh Sau đó, một triết gia vĩ đại người Đức tên là Hégel
(1770 - 1831), trong cuốn “Mỹ học” cũng đã dày công nghiên cứu và bàn
luận về biện pháp tu từ này Những công trình đầu tiên ấy đã trở thành nguồn gốc, cơ sở lý luận cho những công trình nghiên cứu về biện pháp tu từ sau này Chúng tôi xin hệ thống hóa lại một số nội dung quan trọng của lý luận về biện pháp tu từ so sánh đóng vai trò là cơ sở lí luận cho đề tài luận văn của mình
1.1.1.1 Khái niệm tu từ
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt do tác giả Văn Tân làm chủ biên, in lần thứ hai, xuất bản năm 1977 đã cho rằng: tu từ là: “sửa sang câu văn cho hay,
cho đẹp” [21, tr.816].
Theo http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn thì “phép tu từ là biện
pháp làm cho câu văn, từ ngữ trở nên bóng bảy, dùng hình ảnh để người đọc
dễ hiểu không nhàm chán, không chỉ khi viết văn mà trong đời sống hàng ngày chúng ta cũng thường dùng biện pháp tu từ để giao tiếp tốt hơn.”;
“Trong phép tu từ thì có tu từ so sánh ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, nói quá, nói
giảm, nói tránh, điệp ngữ, chơi chữ Tu từ là sửa sang cho câu văn hay và đẹp hơn.”; “Tu từ là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, đẹp, biểu cảm, hấp dẫn”
Tùy theo các phương tiện ngôn ngữ được kết hợp mà biện pháp tu từ được chia ra: tu từ ngữ âm, tu từ từ vựng ngữ nghĩa, tu từ cú pháp, tu từ văn bản
Trang 2626
1.1.1.2 Khái niệm so sánh
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt do tác giả Văn Tân làm chủ biên xuất bản năm 1977, so sánh là “xem xét để tìm ra những điểm giống, tương tự hoặc
khác biệt về mặt số lượng, kích thước, phẩm chất…” [ 21, tr.681]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả: Lê Bá Hán (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, 1999 : So
sánh còn gọi là tỉ dụ Là phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng kia [4]
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng của tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2001, so sánh là: xem xét cái này với
cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau, hoặc hơn kém [25, tr.668 – 669]
Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông hiện nay thì
việc giải thích thuật ngữ “so sánh” về cơ bản cũng giống như các cuốn từ
điển chúng tôi vừa nêu Chẳng hạn, trong cuốn sách giáo viên Ngữ văn lớp 6,
do GS Nguyễn Khắc Phi làm tổng chủ biên cũng cho rằng: “so sánh là đem sự
vật này đối chiếu với sự vật khác để tìm ra sự tương đồng hoặc đối lập giữa chúng Do vậy, so sánh có giá trị đối với quá trình nhận thức, đem cái chưa biết đối chiếu với cái đã biết mà nhận thức, hình dung được cái chưa biết”
Hay trong cuốn sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, bộ sách do GS Phan Trọng
Luận làm chủ biên, thì các tác giả cũng có quan niệm về so sánh như sau:
“Trong thế giới khách quan, nhiều sự vật hiện tượng có những điểm chung và liên quan đến nhau, nhưng vẫn có những nét riêng Bởi vậy, trong quá trình nhận thức, người ta thường so sánh để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng để có những nhận xét, đánh giá chính xác về chúng” Bên cạnh đó, so sánh còn “giúp người ta hình dung ra sự vật một cách dễ dàng hơn bằng việc lấy một sự vật làm tiêu chí rồi từ đó so với vật khác”[13]
Trang 2727
Theo Hoàng Kim Ngọc, “so sánh hình ảnh là sự đối chiếu hai sự vật (về tính chất, trạng thái, sự việc) A và B cùng có một dấu hiệu chung nào đấy giống nhau A là sự vật chưa biết, nhờ qua B mà người đọc biết A hoặc hiểu thêm A So sánh hình ảnh là một sự so sánh không đồng loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là có một nét tương đồng nào đấy giữa hai đối tượng” [16, tr.84]
Tất cả những khái niệm về so sánh được nêu ra ở trên đều không khác nhau về nội dung là mấy, nhưng theo chúng tôi thì khái niệm thích hợp với nội dung đề tài luận văn của mình là khái niệm về so sánh của tác giả Lê Bá
Hán: “Là phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên
cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng kia”
1.1.1.3 Cấu tạo và phân loại so sánh
+ Cấu tạo của so sánh
So sánh được cấu tạo bao gồm 4 yếu tố sau: 1 đối tượng được so sánh (vế A) – 2 phương diện so sánh – 3 từ so sánh – 4 đối tượng dùng để so
sánh (vế B)
Chúng ta có thể hình dung cấu tạo đầy đủ của một biện pháp so sánh thông qua mô hình sau:
Bảng 1.1 Cấu tạo đầy đủ của một biện pháp so sánh
Đối tượng được
Trang 2828
Một ví dụ khác: Cổ tay em trắng như ngà/ Đôi mắt em liếc như là dao
cau/ Miệng cười như thể hoa ngâu/ Cái khăn đội đầu như thể hoa sen (Ca
dao)
Trong nhiều trường hợp, vế chuẩn so sánh được nêu cụ thể, đủ rõ, để người đọc nhận ra, vì đó là vế được dùng để bộc lộ thái độ, tình cảm, hoặc cách nhìn nhận, cách đánh giá của người nói, người viết Song cũng không ít các trường hợp, để đảm bảo tính ngắn gọn hoặc để người đọc, người nghe buộc phải suy ngẫm, tưởng tượng, vế chuẩn so sánh sẽ không đầy đủ buộc người người đọc phải suy luận mới hiểu được
Trong thực tế, mô hình cấu tạo đầy đủ bốn yếu tố nêu ở trên có thể biến đổi ít nhiều Chúng ta có thể gặp một phép so sánh không đầy đủ như sau:
Trường hợp vắng yếu tố 2 – phương diện so sánh Ví dụ: Tình anh như
nước dâng cao/ Tình em như dải lụa đào tẩm hương (Ca dao)
So sánh này được các nhà nghiên cứu gọi là so sánh chìm và chính vì
sự vắng mặt phương diện so sánh như vậy sẽ càng khiến người đọc có nhưng liên tưởng phong phú Nó kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn để có thể xác định được những nét giống nhau giữa hai đối tượng ở hai vế
và từ đó mà nhận ra đặc điểm của đối tượng miêu tả Trong ví dụ nêu trên thì
phương diện so sánh có thể được người đọc nhận thức là: Tình anh mãnh liệt như nước dâng cao trong mùa bão lũ Tình em dịu dàng, êm ái như dải lụa
đào ngát hương
Trường hợp vắng yếu tố 3 – từ so sánh Ví dụ: “Thày, vầng mây bạc,
núi cao biển rộng Con, cánh nhạn chiều, chân trời sải cánh, dõi theo thày, hiển hiện đường mây”
Trường hợp vắng mặt cả yếu tố 2 - phương diện so sánh và yếu tố 3 -
từ so sánh Ví dụ: Gái thương chồng đương đông buổi chợ/ Trai thương vợ nắng quái chiều hôm (Ca dao)
Qua những ví dụ trên, chúng ta thấy trong cấu tạo của so sánh có thể khuyết đi một số yếu tố nào đó mà người đọc, người nghe vẫn có thể hiểu và
Trang 2929
nhận ra được là bởi dựa vào sự đối chiếu với cấu trúc chung – đầy đủ biện pháp so sánh mẫu Việc lược bớt đi một yếu tố nào đó trong cấu trúc chung của biện pháp tu từ so sánh mà người đọc, người nghe vẫn hiểu và nhận diện được khiến cho việc nói và viết có sử dụng biện pháp tu từ này càng trở nên linh hoạt Lời nói, câu văn, vừa ngắn gọn, trôi chảy và trở nên mềm mại, sinh động, truyền cảm Câu thơ, bài thơ, vừa đảm bảo được sự quy định nghiêm ngặt về niêm luật mà vừa thêm giàu nhạc điệu, giàu sức thuyết phục Đặc biệt, với bài văn nghị luận văn học nếu học sinh biết phát huy được tối đa biện pháp tu từ này trong hành văn của mình sẽ tăng thêm tính sinh động và biểu cảm rất nhiều
+ Phân loại so sánh
Biện pháp tu từ so sánh có thể chia thành các loại khác nhau, dựa trên những căn cứ cụ thể sau:
- Căn cứ vào từ ngữ chỉ quan hệ so sánh:
* So sánh ngang bằng – đây là biện pháp so sánh thường sử dụng các
từ so sánh: như, tựa như, giống như, tương tự như, tựa hồ như, như là, giống
như là, y như, hệt như, chẳng khác, ,
* So sánh hơn kém – đây là biện pháp so sánh có sử dụng các từ so
sánh: hơn, thua, kém, còn hơn là, còn kém, hơn hẳn, không bằng, chẳng bằng
Trang 3030
Với sự phân loại trình bày ở trên, chúng ta có thể đi sâu tìm hiểu bản
chất, chức năng và cách thức tổ chức từ nhiều góc độ khác nhau của biện pháp nghệ thuật này nhằm rút ra được những quy luật hoạt động của nó, giúp cho người nói, người viết sử dụng biện pháp tu từ so sánh một cách có hiệu
quả hơn trong hoạt động giao tiếp thường ngày
1.1.1.4 Cách hiểu về “so sánh” trong nhà trường phổ thông
Trong nhà trường phổ thông hiện nay, khi được hỏi về “so sánh” thì giáo viên và học sinh đều hiểu so sánh là đem cái này đối chiếu với cái khác, đem đối tượng này đối chiếu với đối tượng kia để tìm ra nét tương đồng hoặc
sự khác biệt giữa chúng Nhưng trên thực tế, khái niệm “so sánh” vẫn được giáo viên và học sinh hiểu theo hai cách hoàn toàn khác nhau
Một là, so sánh là một trong những biện pháp tu từ, hoặc phép tu từ dùng để trình bày vấn đề :“trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác
loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới
mẻ về đối tượng” hoặc “so sánh là hình thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai đối tượng có nét tương đồng nào
đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những xúc cảm thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe” Chức năng chính của tu từ so sánh là chức năng
nhận thức thẩm mĩ Theo cách hiểu này thì biện pháp tu từ so sánh thuộc hệ
thống các thuật ngữ khác của tu từ học như: biện pháp ẩn dụ, biện pháp hoán
dụ, biện pháp nhân hóa,…
Hai là, so sánh là một thao tác dùng để nhận thức hiện thực khách quan, nhận thức thế giới và so sánh cũng chính là một thao tác nghị luận
“trong đó kết luận về sự giống nhau của các dấu hiệu được rút ra trên cơ sở giống nhau của các dấu hiệu khác nhau của cùng đối tượng” Căn cứ theo
cách hiểu này thì so sánh thuộc hệ thống các thuật ngữ khác của lô gich học
như: phân tích – tổng hợp, diễn dịch – quy nạp, giải thích – chứng minh –
bình luận, loại suy, … So sánh là thao tác đối chiếu nhằm tìm ra cái chung và
Trang 3131
cái khác biệt giữa các đối tượng, các vấn đề… So sánh còn giúp ta nhấn mạnh nét đặc sắc, độc đáo trong ý kiến của mình về một vấn đề nào đó để tăng thêm sức hấp dẫn, sức thuyết phục,
“So sánh”, dẫu hiểu theo cách nào thì cũng là một trong những vấn đề quan trọng đối với việc làm văn ở trường phổ thông nói chung Nếu “so sánh” được sử dụng như một thao tác nghị luận thì bài làm văn của học sinh sẽ trở nên mạch lạc, chặt chẽ, hệ thống và giàu sức thuyết phục Còn nếu “so sánh” được sử dụng như một biện pháp tu từ để trình bày vấn đề trong làm văn thì bài viết ấy sẽ càng trở nên sinh động, hấp dẫn và tăng cường tính biểu cảm
Liên quan đến đề tài luận văn của chúng tôi, thì chúng tôi nghiêng về cách hiểu thứ nhất như đã nói ở trên
Như chúng ta đều biết tu từ so sánh là một biện pháp tu từ trong đó
người ta đối chiếu (so sánh) hai đối tượng khác loại, không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả hình ảnh
một lối tri giác mới mẻ về đối tượng Đây là biện pháp so sánh không lấy việc
đối chiếu với sự vật khác để tìm ra sự vật tương đồng hoặc đối lập giữa chúng
làm chính mà quan trọng là hướng đến việc tạo ra được những xúc cảm thẩm
mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe Biện pháp tu từ so sánh tạo
điều kiện cho sự liên tưởng rộng rãi, kích thích sự làm việc trí tuệ và tình cảm của người đọc, người nghe, dễ dàng tạo nên những rung cảm thẩm mĩ
Mục đích của biện pháp tu từ so sánh là sự thể hiện cái nhìn mới, độc
đáo nhằm tạo ra sự nhận thức không phải bằng lí trí mà là sự nhận thức bằng hình ảnh so sánh Một biện pháp tu từ so sánh hay không chỉ là một so sánh
có tính phát hiện – phát hiện những gì người khác chưa nhận ra, phát hiện ra những gì người khác không nhìn thấy, mà chủ yếu là đem lại hứng thú cho người đọc, giúp họ có thêm cách nhận thức mới, gieo vào lòng họ những cảm xúc mới mẻ, bay bổng
Trang 3232
Ví dụ: Trong bài thơ “Tình ca ban mai” Chế Lan Viên đã sử dụng một loạt tu từ so sánh làm tăng tính biểu cảm khi ca ngợi tình yêu, hạnh phúc lứa đôi:
“Em đi như chiều đi/ Gọi chim vườn bay hết/ Em về tựa mai về/ Rừng
non xanh lộc biếc/ Em ở trời mưa ở/ Nắng sáng màu xanh che/ Tình em như sao khuya/ Rải hạt vàng chi chít/ … ”
Nguyễn Tuân đã cống hiến cho bạn đọc những so sánh kỳ thú tuyệt vời
khi ông viết: “Màu vỏ lòng trai ngọc thật là kiều diễm như nửa vòng cung cầu
vồng bắc lên từ một thế giới đáy biển vẫn hoài bão ánh trời” Rồi có khi chỉ
một màu xanh của biển Cô Tô mà ông viết gần hai trang giấy tìm ra hàng
chục so sánh: "Nước bể Cô Tô sao chiều nay nó xanh quá quắt đến như vậy?
Ai dám bảo rằng mình đã thuộc tên của hết thảy loài cá trên khắp biển lớn biển con? Ai đã ghi chép cho hết những hình trang trí trên mình cá? Cái màu xanh luôn luôn biến đổi của nước bể chiều nay trên biển Cô Tô như là thử thách cái vốn từ vị của mỗi đứa tôi đang nổi gió trong lòng Biển xanh như gì nhỉ? Xanh như lá chuối non? Xanh như lá chuối già? Xanh như mùa thu ngả cốm làng Vòng? Nước biển Cô Tô đang đổi từ vẻ xanh này sang vẻ xanh khác Nó xanh như cái mầu áo Kim Trọng trong tết Thanh Minh? Đúng một phần thôi Bởi vì con sóng vừa dội lên kia đã gia giảm thêm một chút gì, đã pha biển sang màu khác Thế thì nước biển xanh như cái vạt áo nước mắt của ông quan Tư Mã nghe đàn tì bà trên con sóng Giang Châu thì có đúng không? Chưa được ư? Thế thì nó xanh như một màu áo cưới, được không? Hay là nói thế này: nước biển chiều nay xanh như một trang sử của loài người, lúc con người phải viết vào thân tre? Nghe hơi trừu tượng phải không? Mà kìa, nhìn cho kỹ mà xem, nước biển đang xanh cái màu xanh dầu xăng của những người thiếu quê hương Cũng không phải là sợ lai căng, nghe như nó vẫn chưa trúng vẫn chưa được phải không? Sóng cứ kế tiếp cái xanh muôn vẻ mới, và nắng chiều luôn luôn thay màu cho sóng Mà chữ thì không tài nào tuôn ra kịp với nhịp sóng Đua với sóng, chỉ có mà thua thôi Chao ôi
Trang 3333
nước biển Cô Tô chiều nay xanh cái màu xanh của Ngọc Bích, hoặc là chao
ôi nó xanh như một niềm hy vọng trên cửa bể Nghe nó lại càng chung chung, chưa sướng gì, nhưng thôi, hãy tạm khoanh lại đó đã" “Như lá chuối non”
“như lá chuối già”, như “mùa thu ngả cốm làng Vòng” như “màu áo Kim Trọng”, như “vạt áo nước mắt của ông quan Tư Mã nghe đàn tì bà trên con sóng Giang Châu” v.v và cuối cùng ông đành chịu Tìm được một sự so sánh đâu có phải dễ dàng vì đó là tâm hồn là tài năng nghệ thuật Bằng tu từ so sánh, nhà văn đã đem tới cho bạn đọc những xúc cảm mới lạ, giúp họ cảm nhận và liên tưởng theo nhiều chiều hướng thú vị
1.1.2 Nghị luận
1.1.2.1 Khái niệm nghị luận
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do tác giả Văn Tân làm chủ biên, in lần hai, xuất bản năm 1977, cho rằng: nghị luận là “ bàn bạc cho ra phải trái”
[21, tr.546]
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê làm chủ biên thì, nghị
luận là bàn và đánh giá cho thật rõ về một vấn đề nào đó
Các tác giả của cuốn sách Một số vấn đề lí luận trong sách Làm văn 12,
Cải cách giáo dục Trường Đại học Sư phạm 1, xuất bản năm 1992 [18] đã
trích dẫn lời của Lưu Hiệp trong “Văn tâm điêu long”, thể hiện những hiểu
biết hết sức sâu sắc về khái niệm, bản chất của nghị luận với quan niệm văn –
sử - triết bất phân, khi cho rằng: “Nghị luận làm thành một thể là cốt để phân
biệt rõ đúng sai, phải trái Phải tìm hiểu tận cùng cái hữu hình cụ thể, truy cứu đến tận nơi cái vô hình trừu tượng, chỗ nắm chắc phải đánh cho thông, chỗ thâm sâu phải tìm bằng được Nghị luận là cái giỏ để bắt trăm điều nghĩ suy, là thước đo cân nhắc vạn sự Vì thế cho nên nghĩa lí của nghị luận phải không được mâu thuẫn, lời lẽ kị vụn vặt mọi kẽ hở đều được bịt kín, lời phù hợp mà ý chặt chẽ, kẻ địch không tìm được chỗ lợi dụng, đó là điều cốt yếu của nghị luận”
Trang 3434
Theo:
http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-pho-thong/68961-hieu-biet-ve-van-nghi-luan.html, thì “văn nghị luận là loại văn chương nghị luận
thuyết lí, bởi vậy còn gọi là văn thuyết lý, văn luận lý, văn luận thuyết, văn biện luận… nó lấy nghị luận làm cách thức biểu đạt chủ yêu, thông qua các phương thức logic như khái niệm, phán đoán, suy luận để trực tiếp bày tỏ nhận thức của con người đối với toàn bộ thế giới Những cách thức biểu đạt của các thể loại văn chương gồm có: tự thuật (tự sự), miêu tả, nghị luận, thuyết minh và trữ tình.”
Nói một cách ngắn gọn khái quát, nghị luận là bàn bạc cho ra phải trái, đánh giá cho thật rõ đúng sai một vấn đề nào đó
1.1.2.2 Bản chất của nghị luận
+ Nghị luận là hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng tư duy lô gich
Sự đối lập giữa văn nghị luận và văn nghệ thuật không phải là hoàn toàn tuyệt đối Trong văn nghị luận, các tác giả vẫn có thể sử dụng yếu tố hình tượng để tăng cường cho sức thuyết phục mạnh mẽ Nhưng hình ảnh trong văn nghị luận chỉ đóng vai trò phụ
Nghị luận là hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng tư duy lô gich, sự phản ánh hiện thực trong văn nghị luận phải khách quan, trung thực, đúng với sự tồn tại và phát triển của đối tượng; cách trình bày vấn đề phải phù hợp với các quy luật của nhận thức, của tư duy Trong văn bản nghị luận, các nội dung không được mâu thuẫn với nhau, không được bài trừ nhau mà phải tuân thủ, nhất quán theo một quan điểm, thái độ, chính kiến Thông qua nghị luận, nghĩa là thông qua việc suy luận bằng lí trí, mà chúng ta ngày một nhận thức đầy đủ hơn, chính xác hơn về thế giới xung quanh ta và về chính bản thân con
người
+ Nghị luận là hoạt động nhận thức về các hiện tượng xã hội
Trong cuộc sống, chúng ta có thể nêu ra các vấn đề về khoa học tự nhiên, tranh luận về khoa học tự nhiên nhưng không thể nghị luận về các hiện tượng thuần túy khoa học tự nhiên Chúng ta chỉ có thể bắt đầu nghị luận
Trang 3535
được về một hiện tượng nào đó khi đã xác định được đó là một hiện tượng xã hội Bất kì một hiện tượng xã hội nào cũng có một ý nghĩa nhất định, dù đó là
ý nghĩa cá biệt hay ý nghĩa khái quát Nhưng chỉ khi một hiện tượng nào đó
có ý nghĩa xã hội lớn lao, tác động mạnh đến đời sống của con người mới đáng để cho chúng ta nghị luận Nếu một hành động nào đó, một việc làm nào
đó chỉ gắn liền với một cá nhân cụ thể, một con người cụ thể thì ý nghĩa xã hội của nó cũng chẳng có gì đáng bàn luận Vì vậy để phát hiện ra được một hiện tượng có ý nghĩa xã hội hay không, có đến mức độ nào thì cần phải xem xét hiện tượng đó trên một cơ sở quan niệm nhất định Với những góc nhìn, với những quan niệm, chính kiến khác nhau về một vấn đề xã hội, một hiện tượng xã hội thì chính các vấn đề, các hiện tượng ấy có thể sẽ mang những ý nghĩa xã hội khác nhau
Ví dụ: Trong bài thơ Hội Tây, từ cảnh hội hè Nguyễn Khuyến đã nêu
lên một bi hài kịch xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp, vui
và nhục quyện lẫn với nhau, càng vui bao nhiêu thì nỗi nhục càng nặng nề,
cay đắng bấy nhiêu: “Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo/ Bao nhiêu cờ kéo với
đèn treo/ Bà quan tênh hếch xem bơi trải/ Thằng bé lom khom nghé hát chèo/ Cậy sức cây đu nhiều chị bám/ Tham tiền cột mỡ lắm anh leo/ Khen ai khéo
vẽ trò vui thế/ Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu”
Trong bài Hòn đá, từ một hòn đá nặng, tác giả Hồ Chí Minh đã liên
tưởng đến nhiệm vụ cách mạng, mà muốn hoàn thành được nhiệm vụ đó phải
có sự đoàn kết, đồng tâm nhất trí của cả dân tộc Ý nghĩa xã hội mà tác giả đặt
ra khi suy ngẫm về việc giải quyết những công việc khó khăn đòi hỏi phải có
sự góp sức của nhiều người, liên tưởng từ việc nhấc hòn đá nặng đến nhiệm
vụ cách mạng đánh đuổi giặc xâm lược Sự so sánh này có tính biểu cảm, làm cho người đọc hình dung ngay được những khó khăn, nặng nề của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược đòi hỏi phải có sự đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm,
nhất trí, hiệp lực của toàn dân tộc mới có thể hoàn thành: “Hòn đá to hòn đá
nặng/ Chỉ một người nhấc không đặng…./ Hòn đá to hòn đá nặng/ Nhiều
Trang 3636
người nhấc, nhấc lên đặng/ Biết đồng sức, biết đồng lòng/ Việc gì khó làm cũng xong/ Đánh Nhật, Pháp giành tự do/ Là việc khó, là việc to/ Nếu chúng
ta biết đồng lòng/ Thì việc đó quyết thành công”
Từ những ví dụ trên chúng ta thấy, việc nghị luận không thể bắt đầu từ việc góp nhặt tư liệu mà cần phải bắt đầu bằng việc nhận thức và xác định ý nghĩa xã hội của hiện tượng ấy Sự nhận thức sâu sắc, đầy đủ, triệt để là cơ sở
để nhận ra ý nghĩa xã hội của một hiện tượng Sự suy nghĩ hời hợt, nông cạn
sẽ không thể phát hiện ra được điều đó Tầm vóc của những ý nghĩa xã hội càng lớn thì vấn đề càng đáng nghị luận
+ Nghị luận là hoạt động đối thoại và đánh giá
Bất kì một văn bản nào viết ra cũng đều nhằm để giao tiếp, tuy mục đích giao tiếp có thể rất khác nhau: tranh luận, phê phán, đồng tình, ủng hộ Cũng giống như mọi văn bản khác được tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, văn bản nghị luận cũng có chung đặc điểm là tính đối thoại Và vì thế việc nghị luận trong văn bản nghị luận chính là hoạt động đối thoại ấy
Văn bản nghị luận được viết ra để thực hiện việc trao đổi, bàn bạc, tranh luận của tác giả với người khác hoặc những người khác Bản chất của hoạt động giao tiếp là đối thoại và đánh giá, bình giá Điều này càng được thể hiện đậm nét hơn, rõ ràng hơn trong văn bản nghị luận Nghị luận xã hội thực chất là tạo lập một văn bản trình bày ý kiến của tác giả về các hiện tượng có ý nghĩa xã hội hoặc phát biểu chính kiến, quan điểm của mình về ý kiến của người khác đối với các hiện tượng xã hội ấy Vì vậy có thể thấy rằng đối thoại
là cái lõi của văn nghị luận Ở đây có sự va chạm giữa hai quan điểm, hai chính kiến về cùng một hiện tượng; có sự va chạm về các nhận định, các phán đoán về các hiện tượng xã hội Việc nhận thức và đánh giá về các hiện tượng
đó tùy thuộc vào trình độ của chủ thể, vào việc cắt nghĩa của tác giả, vào việc biến động của hệ thống giá trị xã hội ở từng thời điểm bàn luận
Nhìn chung để việc đánh giá trong bài văn nghị luận mang tính thuyết phục, tác giả cần phải:
Trang 3737
- Xác định đúng đặc trưng của đối tượng vì sự đánh giá chỉ mang tính khách quan, thuyết phục khi mà đối tượng hiện ra đúng với phẩm chất mà nó vốn có Không được cố tình gắn thêm hoặc lược bớt đặc tính của đối tượng
- Thái độ đánh giá phải phù hợp với ý nghĩa, giá trị của đối tượng Không được đánh giá tùy tiện, bất chấp thực tế khách quan Thực tế khách
quan, sự thật khách quan cần phải được đảm bảo, phải được tôn trọng
1.1.2.3 Các yếu tố của bài văn nghị luận
+ Yếu tố thứ nhất: ý kiến
Yếu tố tạo nên nội dung bài văn nghị luận là các ý kiến Văn nghị luận
là văn của tư duy lô gic cho nên các yếu tố tạo nên nội dung của nó thường
được gọi là các ý (hay ý kiến) Đó là những ý kiến của tác giả về vấn đề này,
vấn đề kia hoặc là về chính các ý kiến của những người khác về ngay vấn đề đang được đề cập tới Văn nghị luận có dùng các yếu tố của văn miêu tả, văn
tự sự, thậm chí còn dùng cả các yếu tố tình cảm, nhưng chủ yếu nội dung của nghị luận là các ý kiến
Nội dung cụ thể của ý trong từng bài văn nghị luận rất đa dạng và có những vị trí, chức năng khác nhau Tùy vị trí, chức năng ấy và mối quan hệ
giữa các ý trong toàn bộ bài văn mà chúng ta có thể phân ra thành: luận đề,
luận điểm và luận cứ Luận đề là ý kiến lớn bao trùm toàn bộ bài văn, đòi hỏi
học sinh phải làm sáng rõ Trong nhà trường, luận đề thường được cho trước
trong đề bài làm văn, dù đề bài đó thuộc loại đề mở hay đề khép Còn luận
điểm là những ý trực tiếp tạo thành luận đề, chúng độc lập tương đối với nhau
và cùng hướng về luận đề Độc lập tương đối được hiểu là trong một bài văn, luận điểm này không trùng luận điểm kia, không bao hàm luận điểm kia Còn
luận cứ là bậc ý nhỏ thuộc về từng luận điểm Sự phân biệt như vậy chỉ mang
tính tương đối, phụ thuộc vào từng bài cụ thể Có thể trong bài này ý này là luận điểm, nhưng ở bài khác, trong mối quan hệ với các ý khác thì ý ấy có thể lại chỉ là luận cứ mà thôi
+ Yếu tố thứ hai: lập luận
Trang 3838
Bên cạnh ý kiến, việc tạo nên nội dung bài văn nghị luận, cần phải tính
đến một yếu tố khác nữa, đó là lập luận (hay còn gọi luận chứng)
Nội dung bài văn nghị luận không phải là sự liệt kê tùy tiện các ý Có luận điểm, luận cứ rồi cần phải biết tổ chức, trình bày chúng theo những mối quan hệ nhất định, sao cho các luận cứ làm nổi bật luận điểm, và đến lượt mình, các luận điểm lại phải phối hợp với nhau để làm rõ luận đề của bài văn
Đó chính là việc lập luận Cái đẹp, cái hay của bài văn nghị luận chính là lí lẽ,
là sự thuyết phục
Một bài văn nghị luận có lí lẽ, hay nói cách khác là có luận điểm mới
mẻ, sắc sảo là quan trọng nhưng để bài văn có sức thuyết phục thì việc chỉ có luận điểm là chưa đủ Bên cạnh luận điểm, mà người nói, người viết còn biết sắp xếp, biết dắt dẫn, biết xâu chuỗi các luận điểm ấy thành một thể thống nhất chặt chẽ, nghĩa là biết lập luận thì bài văn nghị luận mới có sức thuyết phục Trong bài văn nghị luận, luận điểm là nội dung còn lập luận là cách trình bày, cách diễn đạt về nội dung ấy
Việc lập luận trong văn nghị luận thường được thực hiện bằng một số thao tác như: phân tích – tổng hợp, quy nạp – diễn dịch Các thao tác này, một
mặt là những thao tác của lôgich, của tư duy nhằm tìm ra chân lí, tìm ra các ý kiến, mặt khác là các thao tác trình bày các ý trong bài văn nghị luận Ta cần
chú ý rằng, một bài văn có thể trình bày các ý theo cách quy nạp, mặc dù các
ý đó được tìm ra theo thao tác diễn dịch Ngược lại, ta cũng có thể trình bày theo lối diễn dịch những điều được tìm ra theo thao tác quy nạp
Bên cạnh các thao tác trên, trong văn nghị luận chúng ta còn sử dụng
các thao tác khác như: giải thích, chứng minh, bình luận … Đây là những
thao tác nghị luận nhưng không thuộc các thao tác tư duy lôgic để tìm ra chân
lí như những thao tác diễn dịch hay quy nạp Các thao tác giải thích, chứng
minh, bình luận thuộc cách thức bàn luận của văn nghị luận Bởi vì, nghị luận
là nhằm thuyết phục người nghe, người đọc về nhận thức lí tính nên phải giải thích để họ hiểu ý kiến của mình, chứng minh để cho họ thấy ý kiến của mình
Trang 3939
là đúng, rồi lại phải bình luận cho họ thấy hết mọi giá trị có thể có trong ý kiến của mình
Bài văn (hay bài làm văn) mà học sinh tạo ra trong nhà trường phổ
thông là một sản phẩm của hoạt động ngôn ngữ dưới dạng lời viết hay lời miệng Chính vì vậy mà bài văn của học sinh là một văn bản và phải mang đầy đủ những đặc điểm của một văn bản: trọn vẹn về nội dung (tính mạch lạc)
và hoàn chỉnh về hình thức (tính liên kết) Điều này có nghĩa là, bài văn của học sinh không phải là sự lắp ghép máy móc, rời rạc các từ ngữ, câu văn, đoạn văn mà là sự tổ chức chúng như thế nào đó cho liên kết, cho mạch lạc để đảm bảo tạo ra được một chủ đề thống nhất, thực hiện được mục đích và phù hợp với một phương thức biểu đạt nhất định
Tuy vậy, so với văn bản thông thường thì bài văn do học sinh tạo ra trong nhà trường có một số đặc điểm khác biệt nhất định:
- Bài văn của học sinh buộc phải viết theo yêu cầu của đề bài (hạn chế tính tự do trong việc lựa chọn nội dung viết) Dù đề bài có thuộc dạng đề mở, học sinh có thể tự do lựa chọn vấn đề để nói hoặc viết thì ngay ở những đề này học sinh cũng không được phép tùy tiện
- Bài văn phải viết theo đúng cách thức mang tính “trường quy”, phù hợp với những nội dung lí thuyết học sinh được học
- Dung lượng bài văn không thể quá ngắn hoặc quá dài vì thời lượng viết được quy định một cách chặt chẽ
- Phải đáp ứng đúng được những yêu cầu mà đề bài yêu cầu Học sinh không thể viết một cách tùy tiện, hoàn toàn theo ý định của riêng mình
- Tâm lí của người viết còn bị sức ép về “điểm số”, về học lực nên cũng tạo thành một “lực cản” nhất định trong khi viết
1.1.2.4 Các kiểu dạng đề bài văn nghị luận thường gặp trong trường phổ thông trung học
Trang 40Nghị luận về một vấn đề đạo đức – nhân sinh
Khi tìm hiểu khái niệm nghị luận văn học, chúng tôi có tham khảo một
số tài liệu có liên quan, tuy nhiên chúng tôi xin chọn cách trình bày như trong
cuốn sách Văn nghị luận văn học trung học phổ thông, Tạ Đức Hiền làm chủ biên: Văn nghị luận văn học là những bài bàn về các vấn đề văn chương –
nghệ thuật như phân tích, cảm thụ một tác phẩm thơ văn, bình luận về một vấn đề lí luận văn học, một nhận định văn học sử, giới thiệu một tác giả hoặc một tác phẩm văn chương, vv…