Chuyên đề 1: NHỮNG VÁN ĐÈ CHUNG VẺ HỆ THÓNG CHÍNH TRỊ Ỡ VIỆT NAMKhái niệm vê hệ thông chính trị.Các tô chức trong hệ thông chính trị ở Việt Nam.Bản chât của hệ thông chính trị ờ nước ta.Đặc điêm của hệ thông chinh trị ở nước ta hiện nay.Chuyên đề 2: NHỮNG VẨN ĐÈ cơ BẢN VỀ QUẢN LỶ HÀNH CHÍNH TRỊ NHÀ NƯỚCQuan niệm về quản lý hành chính Nhà nướcNguyên tẳc quản lý hành chính Nhà nước.Hình thức, công cụ và phương pháp quản lý hành chính Nhà nước.Chuyên đề 3: TÓ CHỨC Bộ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CỘNG HOA XẢ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMKhái quát về bộ máy hành chính Nhà nướcTổ chức bộ máy hành chính Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt NamChuyên đề 4: CÔNG VỤ, CỔNG CHỬCCông vụ và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ.Công chức.Chuyên đề 5: VĂN BẢN QUẢN LỶ HẰNH CHÍNH NHÀ NƯỚCKhái quát vê văn bản quản lý hành chính Nhà nước.Những yêu câu đôi với văn bản quản lý hành chính Nhà nước.Phương pháp soạn thảo một số loại hình văn bản quản lý hành chính Nhà nước ờ địa phươngChuyên đề 6: CAI CÁCH HÀNH CHỈNH NHẢ NƯỚC VÀ CẢI CÁCH CHE Độ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨCPhần 1. Cải cách hành chính Nhà nướcKhái niệm, vai trò và mục đích của cải cách hành chính Nhà nướcCải cách hành chính Nhà nước ở Viêt Nam.Cải cách hành chính của tình Thanh HoáPhần 2. Cải cách chế độ công vụ, công chứcMục tiêu đây manh cải cách chế độ công vụ, công chức của Chính phủQuan điêm.Nội dung đây mạnh cải cách chê độ công vụ, công chức của Chính phủ.
Trang 1PHỤ LỤC
A MÔN KIÊN THỨC CHUNG
I Chuyên đề 1: NHỮNG VÁN ĐÈ CHUNG VẺ HỆ THÓNG CHÍNH TRỊ
Các tô chức trong hệ thông chính trị ở Việt Nam 2 Bản chât của hệ thông chính trị ờ nước ta 7 Đặc điêm của hệ thông chinh trị ở nước ta hiện nay 8
II Chuyên đề 2: NHỮNG VẨN ĐÈ cơ BẢN VỀ QUẢN LỶ HÀNH
Quan niệm về quản lý hành chính Nhà nước 11 Nguyên tẳc quản lý hành chính Nhà nước 16 Hình thức, công cụ và phương pháp quản lý hành chính Nhà nước 20
III Chuyên đề 3: TÓ CHỨC Bộ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CỘNG
HOA XẢ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
26
Khái quát về bộ máy hành chính Nhà nước 26
Tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam 28
VI Chuyên đề 6: CAI CÁCH HÀNH CHỈNH NHẢ NƯỚC VÀ CẢI CÁCH
Khái niệm, vai trò và mục đích của cải cách hành chính Nhà nước 78 Cải cách hành chính Nhà nước ở Viêt Nam 79 , Cải cách hành chính của tình Thanh Hoá 81
Phần 2 Cải cách chế độ công vụ, công chức 89 Mục tiêu đây manh cải cách chế độ công vụ, công chức của Chính phủ 90
Nội dung đây mạnh cải cách chê độ công vụ, công chức của Chính phủ 91
Trang 3CHUYÊN ĐỀ 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THÓNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
I KHÁI NIỆM VÊ HỆ THÓNG CHÍNH TRỊ
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hệ thống chính trị, theo nghĩa chung nhất,
hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, nhà nước và các tỗ chức chính trị - xã hội được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội; củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền
Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự xuất hiện của giai cấp, nhà nước nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp, đảng phái cầm quyền, do đó nó mang bản chất, lý tưởng chính trị và phản ánh lợi ích của giai cấp cầm quyền Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục tiêu, chức năng trong việc thực hiện quyền lực chính trị
Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống chính trị” lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng trong văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (tháng 3/1989) thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản” Hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quàn lý, nhân dân làm chủ, đây không chỉ đơn giản là sự thay đổi tên gọi mà là một bước đôi mới quan trọng trong tư duy chính trị cùa Đảng ta Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là sự kế thừa và phát triển các thành tựu về tổ chức và hoạt động của hệ thống chuyên chính
vô sản trong các giai đoạn trước “đổi mới đồng thời phản ánh một hiện thực mới về chính trị và dân chù trong điều kiện đổi mới kinh tế - xã hội ờ nước ta hiện nay Hệ thống chính trị đó bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tố quốc, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nừ, Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và các lổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác
Ở chế độ ta, nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử và chính họ là chủ thể duy nhất, tối cao của quyền lực chính trị, do đó toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị phải xuất phát từ lợi ích và nauyện vọng chính đáng của nhân dân, sức mạnh của các tô chức trong hệ thống chính trị là ở sự găn bó mật thiết với nhân dân Đồng thời trong một chính thể dân chủ, việc thực hiện quyền lực chính trị đòi hỏi bảo đảm tính thong nhất của quyền lực đồng thời loại bỏ mọi nguy cơ độc quyền quyển lực từ bất kỳ một tô chức hay lực lượng chính trị nào Vì vậy, việc thực hiện quyền lực chính trị luôn cần đến sự phân công, phối hợp giữa các tổ chức trong việc thực hiện quyền quyết định đường lối chính trị, quyền thi hành đường lối chính trị và quyền kiểm tra, giám sát đối với việc quyết định đường lối chính trị và thực thi đường lối chính trị Điều này có ý nghĩa quan trọng bảo đảm cho quyền lực chính trị luôn phục vụ lợi ích và ý chí của nhân dân, ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền,
Trang 4tha hóa quyền lực làm phương hại đến quyền lực của nhân dân
II CÁC TÓ CHỨC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ờ VIỆT NAM
Các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị hiện nay ở nước ta bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tô quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân Mỗi tổ chức đều có vị trí, vai trò và phương thức hoạt động khác nhau với những chức năng, nhiệm vụ khác nhau dưới
sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền và sự quản lý cùa nhà nước nham thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân vì mục tiêu: “dân aiàu, nước mạnh, dân chủ, công bàng, văn minh”
thời là đội tiên phong cùa nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biêu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cùa cả dân tộc Đàng lãnh đạo hệ thống chính trị đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy Đảng lây chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tường, kim chi nam cho hành động Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân đê xây dựng Đảng, chịu sự giám sát cùa nhân dân, hoạt động trona khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đổi với hệ thống chính trị là điều kiện cần thiết và tất yếu để bảo đảm cho hệ thống chính trị giữ được bản chất giai cấp công nhân, bào đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân, vai trò lãnh đạo của Đảng thê hiện trên những nội dung chủ yếu sau:
Một là, Đảng đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, các định hướng
về chính sách và chủ trươne, lớn phát triển kinh tế - xã hội đê nhà nước thê chế hóa thành pháp luật, đồng thời Đảng là lực lượng lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đàng
Hai là, Đảng lành đạo hệ thống chính trị và xã hội chủ yếu thông qua nhà nước
và các đoàn thể quần chúng, đường lối, chủ trương, quan điểm cúa Đảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hóa bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng nhà nước và bộ máy cùa nhà nước, đồng thời kiểm tra việc nhà nước thực hiện các nghị quyết của Đảng
Ba là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới
thiệu những đảng viên ưu tú có đù năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các
cơ quan của hệ thống chính trị
Bốn là, Đảng lãnh đạo bằng công tác tuvên truyền thuyết phục, vận động, tổ
chức kiểm tra giám sát bang hành động gương mẫu của đảng viên Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong tổ chức cùa hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhât là naười đứng đầu Đảng thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, phâm chất đạo đức, năng lực cẩm quyển và hiệu quả lãnh đạo
Để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư
Trang 5tường và tổ chức, thưòng xuyên tự đổi mới, tự chình đốn, nâng cao trình độ, trí tuệ, giừ vừng truyền thống đoàn kết, thống nhất trong Đàng, tăng cường dân chủ và kỷ luật trong hoạt động của Đảng, thường xuyên tự phê bình và phê bình Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi hành động chia rẽ bè phái
Đảng phải phát huy vai trò chù động sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, khăc phục tệ quan liêu độc đoán, chuyên quyền, bao biện làm thay; mặt khác, Đảng không được buông lỏng sự lãnh đạo, mất cảnh giác trước những luận điệu, cơ hội, mị dân đòi Đảng phái trả quyên lực cho nhà nước và nhân dân Thực chất của những đòi hỏi đó chỉ nhằm chia rẽ Đảng với nhân dân, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và làm thay đổi chế độ; ở một vài nước xã hội chủ nghĩa trong những điều kiện lịch sử đã hình thành hệ thống chính trị đa đảng, đó là các đảng liên minh với Đảng cộng sản, thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng cộng sản chứ không phải là đảng đôi lập Kinh nghiệm lịch sử cho thây, thành lập đảng đôi lập là nguy cơ trực tiêp đê mât chính quyên vào tay các lực lượng thù địch với chủ nghĩa xã hội Các thê lực thù địch, phản động hiện nay cũng đang lợi dụng chiêu bài đa đảng, đa nguyên chính trị, dân chủ nhằm xóa bỏ các nước xã hội chù nghĩa bang “diễn biến hòa bình”
hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Mặt khác Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chịu sự lãnh đạo của giai câp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của giai cấp công nhân, thông qua đội tiên phong là Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân nhân chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoại động của đời sống xã hội Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng quy luật khách quan của thị trường Đảng lãnh đạo nhà nước thực hiện và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân Như vậy, Nhà nước xã hội chù nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị Chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong hệ thống chính trị, trong đời sống xã hội được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhà nước với Đảng và các tô chức chính trị - xã hội Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đáng thành Hiến pháp, pháp luật và chính sách làm công cụ để thực hiện quản
lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực cùa đời sống xã hội
Việc xác định đúng vị trí, vai trò và nhiệm vụ của nhà nước trong hệ thống
Trang 6chính trị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong quá trình đối mới hệ thống chính trị Khắc phục sự chồng chéo, lấn sân giữa các thành tố trong hệ thống chính trị, nhất
là trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong điều kiện phát triến kinh tế thịtrường định hướng xã hội chù nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quvền xã hội chủ nghĩa, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- Trong bộ máy nhà nước, Quốc hội ỉà cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan CỊuyển lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quôc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra, là cơ quan duy nhất có quvền lập hiên vả lập pháp, Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, dổi ngoại, nhiệm vụ phát triên kinh tế xà hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động cùa bộ máy Nhà nước về các quyền và nghĩa vụ cơ bàn của công dân Ọuôc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Với ý nghĩa đỏ Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp
- Thực hiện quyền hành pháp là bộ máy hành chính nhà nước từ trunR ương tới địa phương, đứng đầu là Chính phủ Theo quy định tại điều 94 Hiến pháp năm
2013, Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Ọuốc hội, Uỷ ban thường vụ Ọuốc hội, Chủ tịch nước Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của nhà nước
Bộ và cơ quan ngang Bộ là các cơ quan của Chính phù, thực hiện chức năng quản lv nhà nước đối với ngành, lTnh vực (hay nhóm ngành, lĩnh vực) trên phạm vi
cả nước và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vạrc được giao
Các cơ quan thuộc Chính phù do Chính phù thành lập theo từng nhiệm kỳ, thực hiện nhìrne nhiệm vụ nhất định do Chính phủ giao (có thể làm chức năng quản lv hành chính nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công cho Chính phủ)
Bộ máy chính quyền địa phương ờ nước ta hiện nay được tổ chức ba cấp (tinh, huyện, xã) với hai cơ quan chủ yếu là Hội đồriR nhân dân và ủy ban nhân dân
- Cơ quan tư pháp bao gồm Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp Đây là những cơ quan được lập ra trong hệ thong cơ quan quản lý nhà nước để bảo vệ pháp luật, đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, chính xác
Tòa án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của Nhà nước trước các vụ án thông qua hoạt động độc lập và chì tuân theo pháp luật Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự, không ai bị coi là có tội và phải chịu phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm minh, bảo đảm việc xét xử đúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tô chức thành hệ thống, tập trung thống nhất và thực hiện độc lập thẩm quyền cùa mình đối với các cơ quan khác của nhà nước Thực hiện các quyền khời tố, kiểm sát các hoạt động điêu tra, truy tố
Trang 7Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân, vì vậy cần tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa
trong hệ thống chinh trị
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội thành viên là một
bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sờ chính trị cùa chính quyền nhân dân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, phổi hợp
và thống nhất hành động giữa các thành viên
Các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội là nơi tập hợp quần chúng, phản ánh ý chí, nguyện vọng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân, vì vậy là một bộ phận không thể thiếu của một xã hội dân chủ Các tổ chức này ờ nước ta hiện nay là
bộ phận không tách rời của hệ thống chính trị và là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một trong những công cụ bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Những tổ chức này có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cùa nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chú và xây dựng xà hội lành mạnh; tham aia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tường và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cườne mối liên hệ giừa nhân dân với Đảng, Nhà nước, góp phẩn thực hiện và thúc đầy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
Các đoàn thể chính trị - xã hội rất đa dạng, có thể là các tổ chức chính trị - xã hội, tô chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
Trong sổ các tổ chức quần chúng ở nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức nòng cốt, giữ vai trò quan trọng
nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ờ nước ngoài Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận
Nhừng đoàn thề chính trị - xã hội khác có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta gồm:
của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và nhừng người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động
họp tầng lớp thanh niên, là đoàn thể cùa các thanh niên ưu tú, đội hậu bị của Đảng
Tổ chức Đoàn được thành lập trên phạm vi cả nước, có mặt ở hầu hết các cơ quan, đơn vị, được tổ chức theo hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở nhằm thu
Trang 8hút thể hệ trỏ vào những hoạt động xã hội bổ ích, lành mạnh, qua đó giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho thanh niên
bảo vệ quyền bình đăng, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ Hội có nhiệm
vụ đoàn kết, vận động, tổ chức, hướng dẫn phụ nừ thực hiện chủ trương, chính sách cùa Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, bảo đảm bình đẳng giới
có nhiệm vụ vận động giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; chăm lo bảo vệ các quyền và lợi ích của nông dân Việt Nam
đoàn kết, tổ chức, động viên các thể hệ cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ, bảo
vệ quvền lợi chính đáng và hợp pháp của cựu chiến binh, chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn bó tỉnh bạn chiến đấu
Bên cạnh những tổ chức trên đây, nhiều tổ chức xã hội khác cũng tham gia tích cực vào hoạt động trong hệ thống chính trị như Liên hiệp các hội khoa học kĩ thuật Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Chừ thập đỏ Việt Nam, Một sổ hội nghề nghiệp, hội của các nhà trí thức, các nhà khoa học, không chỉ đơn thuần mane tính chất đoàn thể xă hội mà các tổ chức này cũng đóng vai trò to lớn trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của đât nước Các tổ chức quần chúng khác nhau này tuỳ theo tính chất, tôn chì và mục đích
đâ được xác định, có nhiệm vụ vận động, giáo dục đoàn viên, hội viên châp hành luật pháp, chính sách; chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên; giúp đoàn viên, hội viên nâng cao trình độ về mọi mặt và xây dựng cuộc sống mới; tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Phương thức tổ chức và hoạt động cùa các tổ chức này tuy khác với tổ chức Đảng và các cơ quan nhà nước nhung đều gan chặt với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao phó Các tổ chức chính trị - xã hội là hình thức tổ chức động viên, triển khai nguồn lực con người cho các mục tiêu xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam do Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lí Trong hệ thống chính trị - xà hội Việt Nam, với tính chất chính trị và tính chất xã hội rộng lớn, các tổ chức chính trị - xã hội đóng vai trò là người tô chức, vận động đông đảo quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ đặt ra đối với cách mạng Việt Nam thông qua những hình thức phù hợp
Như vậy, có thể nhận thấy rõ rằng trong hệ thốnẹ chính trị Việt Nam, các tổ chức quần chúng đóng vai trò vừa là trung tâm đoàn kết, tập hợp đông đảo các lực lượng quần chúng nhân dân (tính chất xã hội), đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích
Trang 9hợp pháp, chính đáng của các thành viên vừa thực hiện vai trò nền tàng chính trị của chính quyền nhân dân, tổ chức động viên nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước
Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo
và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xâ hội
Dưới sự lãnh đạo cùa Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và cùa dân tộc Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quyền lực nhà nước và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình Do dỏ, nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chù trực tiếp, dân chủ đại diện
Bản chất của hệ thống chính trị nước ta được quv định bời các cơ sở nền tảng sau:
- Cơ sở chính trị của hệ thống chính trị nước ta là chế độ nhất nguyên chính trị với một Đảng duy nhất cẩm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xằ hội trên nền tảng dân chủ xã hội chủ nghĩa
Cơ sở chính trị của hệ thống chính trị nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chù nghĩa, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp Đồng thời, cơ sở kinh tế này tạo ra các xung lực để đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, nâng cao khả năng tác động tích cực vào quá trình phát triên kinh tế
- Cơ sở xã hội cùa hệ thống chính trị là dựa trên nền tảng liên minh giai cấp giữa công nhân, nông dân, tầng lớp tri thức và khối đại đoàn kết toàn dân tộc Với
cơ sở xã hội là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hệ thống chính trị nước ta không chỉ
là hình thức tô chức chính trị nham thực hiện quyền lực cùa nhân dân mà còn là hình thức tô chức đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lại của mọi tầng lớp nhân dân, là biểu tượng cùa đại đoàn kết dân tộc
- Cơ sở tư tưởng của hệ thống chính trị là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tường Hồ Chí Minh Các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là các căn cứ lý luận để xây dựng hệ thống chính trị với chế độ nhất nguyên chính trị và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Sự nhất quán về cơ sở chính trị, kinh tế, xã hội và tư tường là nhân tổ vừa bảo đảm tính năng động và khá năng thích ứng của hệ thống chính trị trước sự vận động
và phát triển của đất nước và thế giới
Hệ thống chính trị ở nước ta là một hệ thống các thiết chế và thể chế gắn liền với quyền lực chính trị cùa nhân dân và để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do nhân dân giao phó, ủy quyền, về thực chất, hệ thống chính trị không phải là một hệ thống tổ chức có quyền lực tự thân, quyền lực của hệ thống chính trị bắt nguồn
Trang 10từ quyền lực của nhân dân, phát sinh từ sự ủy quyền cúa nhân dân, thể hiện tư tường của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Trong chế độ do nhân dân ta làm chủ thể duy nhất và tối cao của quyền lực chính trị, nhân dân ủy quyền cho một hệ thống, các tổ chức bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân
Hệ thông chính trị ờ nước ta là một hình thức tô chức thực hành dân chủ, mồi một tổ chức trong hệ thống chính trị đều là những hình thức để thực hiện dân chù đại diện và dân chủ trực tiếp của nhân dân Các tô chức này được tổ chức và hoạt dộng trên cơ sờ nguyên tắc dân chủ và các mục tiêu dân chù Điều đó bẳt nguồn từ
bản chất của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản
chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Mỗi một tổ chức trong hệ thống chính trị vừa là một hình thức thực hành dân chủ, tổ chức các quá trình dân chù vừa là công cụ bảo đảm dân chủ trong xã hội, một trường học dân chủ để giáo dục ý thức dân chũ, nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân
IV ĐẶC ĐIỂM CÙA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ỏ NƯỚC TA HIỆN NAY
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau:
1) Tính nhất nguyên chính trị cùa hệ thống chỉnh trị
Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền mặc dù trong nhừng giai đoạn lịch sử nhất định, trong chế độ chính trị Việt Nam ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chù và Đảng Xã hội Tuy nhiên hai Đảng này được tồ chức và hoạt động như những đồng minh chiến lược cùa Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo vả vị trí duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Do vậy, về thực chất chế độ chính trị không tồn tại các đảng chính trị đối lập
Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Mồi tổ chức thành viên cùa hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập vừa đóng vai trò ỉà hình thức tổ chức quyền lực của nhân dân (Nhà nước), tổ chức tập hợp đoàn kết quần chúng, đại diện ý chí và nguyện vọng cùa quẩn chúng (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân) là tổ chức đóng vai trò là phương tiện để Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo chính trị cùa mình
Toàn bộ hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động trên nền tảng tư tường chù nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Điều đó quy định tính nhất nguyên tư tường, nhất nguyên ý thức hệ chính trị của toàn bộ hệ thống và của từng thành viên trong hệ thong chính trị
2) Tinh thống nhất của hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vai trò chức năng khác nhau nhưng lại quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau tạo thành một thể thống nhất Sự đa dạng, phong phú về tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị tạo điều kiện để phát huy và tạo
Trang 11ra sự cộng hường sức mạnh trong toàn bộ hệ thống để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của mồi tổ chức thảnh viên và của toàn bộ hệ thống
Nhân tố quyết định tính thống nhất của hệ thống chính trị nước ta là sự lành đạo thống nhất của một Đảng duy nhất cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam theo nguyên tắc tập trung dân chủ Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chù trong tổ chức và hoạt động là nhân tố cơ bản đám bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống chính trị cũng như cùa mồi tổ chức trong hệ thong chính trị Đồng thời, tính thống nhất của hệ thống chính trị còn thể hiện ờ mục tiêu chính trị là xây dựng xà hội chủ nghĩa Việt Nam với nội dung: dân giàu, nước mạnh, dân chù, công bằng, văn minh Hệ thống chính trị được tổ chức như một chỉnh thể thống nhất từ Trung ương đến địa phương và cấp cơ sở
Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều được các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong Điều lệ của từng tổ chức
3) Hệ thống chính trị gắn bó mật thiết với nhân dán, chịu sự giám sát cùa nhân dân
Hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thổng không chì gắn với chính trị, quyền lực chính trị mà còn gắn với xã hội Do vậy trong cấu trúc của hệ thống chính trị bao gồm các tô chức chính trị như Đảng, Nhà nước và các tổ chức vừa có tính chính trị vừa có tính xã hội như Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Hệ thống chính trị không đứng trên xã hội, tách ra khỏi xã hội như những lực lượng chính trị, áp bức xã hội trong các xã hội bóc lột mà là bộ phận của xã hội, gắn bó với xã hội Sự gan bó mật thiết giừa hệ thống chính trị với nhân dân được thể hiện ngay trong bản chất cùa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân do nhân dân, vì nhân dân; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân là hình thức tập hợp, tổ chức cùa chính các tầng lớp nhân dân
Sự gấn bó giừa hệ thống chính trị với nhân dân còn được xác định bởi ý nghĩa
hệ thống chính trị là trường học dân chủ cùa nhân dân; mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị là phương thức thực hiện quyền làm chù của nhân dân
4) Hệ thẳng chỉnh trị có sự kết hợp chặt chẽ giữa tính giai cấp và dân tộc
Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp gắn liền với cuộc đẩu tranh giải phóng dân tộc Giai cấp và dân tộc hòa đồng, các giai cấp, tầng lớp xã hội đoàn kết, hợp tác để cùng phát triển Tronp mọi giai đoạn xây dựng và phát triển cùa hệ thống chính trị, vấn đề dân tộc, quốc gia luôn là cơ sờ đoàn kết mọi lực lượng chính trị -
xã hội để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam Vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị là đoàn kết giai cấp, tập hợp lực lượng trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Trang 12Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội quy định hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện trung thành lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Độc lập dân tộc gan liền với chù nghĩa xă hội đã gắn kết vấn đề dân tộc
và vấn đề giai cấp Do vậy trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, sự phân biệt giữa dân tộc và giai cấp đều mang tính tương đối và không có ranh giới rõ ràng, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị Nhờ vậy hệ thống chính trị luôn đại biểu cho dân tộc là yếu tố đoàn kết dân tộc, gắn bó mật thiết với nhan dân và là
hệ thống của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
CHUYÊN ĐỀ 2
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
I QUAN NIỆM VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1 Các khái niệm
1.1 Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức,
từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hoá càng cao thì yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên
Thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định
Với quan niệm trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn là
cá nhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tấc nhất định
- Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
- Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội
- Mục tiêu quản lý: Là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định
do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cùng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp
Quản lý ra đời chính là nhàm đến hiệu quả lớn hơn, năng suất cao hơn trong công việc Thực chất cua quản lý con người trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu cùa tổ chức với hiệu quả cao nhất
Quản lý là một hoạt động rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố đó tác động đến nội dung, phương thức và công cụ để tiến hành quản lý Một số yếu tố cơ bản cần chú ý là: Yếu tố con người, yếu tố chính trị, yếu tố tổ
Trang 13chức, yếu tố quyền lực, yếu tố thông tin và yếu tố văn hoá
1.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quàn lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện cùa Nhà nước, là quản lý công việc cùa Nhà nước Nội hàm của quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế
độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế- xã hội của mồi một quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Ngày nay, quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của Chính phủ và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp
Trong hệ thống xã hội, tồn tại rất nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội vv Trong hoạt động quản lý của các chủ thể khác nhau đó thì quản lý nhà nước có những diểm khác biệt
Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực
hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp
Thứ hai, đối tượng quản lý của Nhà nước là toàn bộ dân cư và các tổ chức trong
phạm vi tác động quyền lực Nhà nước
Thứ ba, vì tính đa dạng về lợi ích và hoạt động của con người trong xã hội, quản
lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xă hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao nhẳm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân
Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật làm công
cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
do các cơ quan trong bộ máy Nhả nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duỵ trì sự ổn định và phát triển cùa xã hội Trong hoạt động quản lý nhà nước, vấn đề kết hợp các yếu tố của hoạt động quản lý là rất phức tạp, đòi hỏi các nhà quản lý phải có năng lực cao với sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ hiện đại
1.3 Khải niệm quản lý hành chính nhà mrớc
Trong quản lý nhà nước, quản lý hành chính là hoạt động đa dạng, trung tâm, chủ yếu, vì hành chính là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội Tuy nhiên, quản lý hành chính nhả nước có phạm vi hẹp hơn so với quản lý nhà nước Thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước tức là hoạt động chấp hành và điều hành Thứ hai, chủ thể quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan, cán bộ, công chức hành chính nhà nước trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở
Do đó, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện
Trang 14những chức năng và nhiệm vụ cùa Nhà nước, nhằm duy trì và phát triển cao các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thoả mãn các nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Định nghĩa trên cỏ 3 nội dung quan trọng:
- Sự hoạt động thực thi quyền hành pháp: Hành pháp là một trong 3 quyền của quyền lực nhà nước thống nhất
Chính phủ là cơ quan cao nhất thực hiện quyền hành pháp đối với toàn xã
hội
Nhưng Chính phủ thực hiện chức năng của minh phải thông qua hệ thống thể chế hành chính nhà nước Vì vậy, Chính phủ còn là cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao nhất cùa Nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước thực hiện quyển lực chính trị bằng quyền hành pháp trong hành động (hành chính nhà nước)
- Sự tác động có tổ chức và điều chỉnh: Tổ chức ở đây là tổ chức hành chính nhà nước, là sự thiết lập mối quan hệ con người, giữa cá thể với tập thể để thực hiện quản lý hành chính nhà nước một quá trình xã hội Trong quản lý hành chính nhà nước, chức năng tổ chức rất quan trọng, vì không có tổ chức thì không thể quản
lý được Nhà nước phải tổ chức cả triệu người và mỗi người đều có vị trí tích cực đối với xã hội, đóng góp phẩn của mình để tạo ra lợi ích cho xã hội vấn để cốt lõi
là sự quy định về mặt pháp lý thể hiện bằng các quyết định quản lý về nguyên tắc, tiêu chuẩn, biện pháp nhằm tạo sự phù hợp của các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
- Sự tác động bằng pháp luật và theo pháp luật Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chình, trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật Không được phép dựa vào quyền để làm trái pháp luật Mọi sự vi phạm pháp luật đều phải được xử lý
2 Tính chất cơ bản của quản lý hành chính nhà nưóc ở nước ta
Nhà nước là trung tâm của quyền lực chính trị, trụ cột của hệ thống chính trị Hành chính nhà nước là bộ phận trọng yếu cùa Nhà nước để thực hiện quyền lực nhà nước trong xã hội Do đó, hoạt động hành chính nhà nước của bộ máy hành chính nhà nước luôn hướng tới thực hiện mục tiêu chính trị
Ở nước ta, quản lý hành chính nhà nước thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, do đó xét về chính trị xã hội, nhân dân là chủ thể quản lý đất nước Nhà nước được nhân dân uỷ quyền thay mặt cho nhân dân thực hiện quàn lý toàn dân, toàn diện Chính vì thế mà hoạt động hành chính nhà nước phải chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân, phải đảm bào nhân dân làm chủ thực sự trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Tính chất này đòi hỏi quản lý hành chính nhà nước phải tạo điều kiện để thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào quản lý các quá trình xã hội với
Trang 15phương châm thực hiện quá trình dân chủ hoá: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Từ thực tiễn cách mạng ờ nước ta trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta
đã quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng và phát triển quyền làm chủ của nhân dân lao động
Trong quá trình phát triển của xã hội, quản lý luôn phải có căn cứ khoa học Quản lý là khoa học vi nó có tính quy luật, có các nguyên lý và mối quan hệ tương
hỗ với các khoa học khác Đồng thời, cùng với tính khoa học, quản lý là nghệ thuật
vì nó phụ thuộc vào tài nghệ, bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ, kinh nghiệm của người quản lý
Cùng với sự phát triển của Nhà nước và vai trò ngày càng tăng của Nhà nước trong quản lý xã hội, khoa học hành chính dần trở thành một ngành khoa học độc lập vào những năm đẩu thể kỷ 20
Quản lý hành chính Nhà nước là biểu hiện quan trọng và tập trung nhất của toàn
bộ hoạt động của Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế và đời sống xã hội Chính vì vậy, người cán bộ, công chức phải có kiến thức về nhũng quy luật khách quan của hoạt động quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng
Đối tượng của quản lý hành chính nhà nước là hoạt động của cư dân trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, tinh thẩn, tư tường Quản lý hành chính nhà nước không chỉ là tổ chức điều chỉnh từng lĩnh vực mà còn phải liên kết, phối hợp các lĩnh vực thành một thể thống nhất đế đảm bảo xã hội phát triển đồng bộ, cân đối, có hiệu quả, đáp ứng nhu cẩu của các thành viên trong xã hội Tuy nhiên, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội không có nghĩa là các cơ quan hành chính nhà nước điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động xã hội mà chỉ điều chỉnh các khía cạnh do luật định
3 Các đặc điểm cơ bản của quản lý hành chính nhà nước
Khi nói đến đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước là nói đến những nét đặc thù của quản lý hành chính nhà nước để phân biệt với các dạng quản lý xã hội của các chủ thể khác Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng quản lý hành chính nhà nước
là một dạng quản lý xã hội nói chung, nhưng nó là dạng quản lý xã hội đặc biệt Vì vậy, để đạt mục đích nghiên cứu, cũng như hoàn ihiện quản lý hành chính xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn, khi xem xét cần gắn với các đặc điểm chung của quản lý nhà nước, quản lý hành chính nhà nước và những đặc điểm riêng của quán lý hành chính nhà nước xã hội chủ nghĩa Với cách tiếp cận như trên, quản lý hành chính nhà nước xã hội chủ nghĩa có các đặc điểm cơ bản dưới đây:
- Quản lý hành chính nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức rất cao và tính mệnh lệnh đơn phương của Nhà nước
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước mang tính quyền lực nhà nước Tính quyền lực ấy là đặc điểm để phân biệt hoạt động quản lý nhà nước với các hoạt động quản lý khác Quyền lực hành chính nhà nước bắt nguồn từ quyền lực nhà
Trang 16nước
- Quàn lý hành chính nhà nước có mục tiêu chiến lược, có chương trình và
có kế hoạch để thực hiện mục tiêu
Trong quản lý, hoạt động đề ra mục tiêu được coi là chức năng đầu tiên và cơ bản Mục tiêu quản lý là căn cứ để các chủ thể quản lý đưa ra những tác động thích hợp với những hình thức và phương pháp phù hợp Mục tiêu của quản lý hành chính nhà nước là mục tiêu tổng hợp bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,
an ninh, quốc phòng, ngoại giao và các mục tiêu có tính chất lâu dài, có tính thứ bậc hành chính tạo thành một hệ thống mục tiêu từ Trung ương đến cơ sờ Đe đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra, hành chính nhà nước cần thiết lập hệ thống các chương trình, dự án và hệ thống kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngan hạn
- Quản lý hành chính nhà nước có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để
tổ chức lại nền sản xuất xã hội và cuộc sống con người trên địa bàn của mình theo
sự phân công, phân cấp, đúng thẩm quyền và theo nguyên tắc tập trung dân chủ
- Quản lý hành chính nhà nước có tính liên tục và tương đối ổn định trong tổ chức và hoạt động
Nền hành chính nhà nước có nghĩa vụ phục vụ nhân dân, lấy phục vụ công vụ
và nhân dân là công việc hằng ngày, thường xuyên cho nên quản lý hành chính nhà nước phải bảo đảm tính liên tục để thoả mãn nhu cầu hằng ngày của nhân dân, của
xã hội và phải ổn định để đảm bảo hoạt động không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống chính trị - xã hội nào Tính liên tục liên quan chặt chẽ tới công tác lưu trữ các văn bản, giấy tờ của cơ quan, tổ chức và nhân dân Tính ổn định ở đây là tương đối vì đời sống kinh tế xã hội luôn phát triển không ngừng, hành chính nhà nước phải luôn thích ứng với thực tế xã hội trong từng giai đoạn, với sự phát triển của thời đại
- Quản lý hành chính nhà nước có tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao Đây là nghiệp vụ cùa một Nhà nước và một nền hành chính khoa học, văn minh, hiện đại Ọuản lý hành chính nhà nước không chỉ được coi là một nghề mà còn được coi là một nghề tổng hợp, phức tạp, sáng tạo nhất trong các nghề Cán bộ, công chức hành chính nhà nước không chỉ có chuyên môn chuyên sâu, mà phải có kiến thức rộng trên nhiều lình vực
- Quản lý hành chính nhà nước có tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ, là một hệ thống thông suốt từ trên xuống dưới, cấp dưới phục tùng cấp trên, nhận chi thị và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên (khác với hệ thống dân cừ và hệ thống xét xử cùa các cơ quan tư pháp)
- Quản lý hành chính nhà nước xã hội chủ nghĩa không cỏ sự cách biệt tuyệt
đối về mặt xã hội giữa người quàn lý và người bị quản lý Bởi vì, thứ nhất, trong quản lý xã hội thì con người vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quản lý Mặt khác trong chủ nghĩa xã hội, nhân dân là chủ thể quản lý đất nước
- Quản lý hành chính nhà nước xã hội chù nghĩa là hoạt động không vì lợi nhuận Quản lý hành chính nhà nước không có mục đích tự thân, nó tồn tại là vì xã
Trang 17hội, nó có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công và lợi ích nhân dân Do đó, hoạt động quản lý hành chính nhà nước không theo đuổi lợi nhuận mà nhằm phục vụ lợi ích công Tuy nhiên, nó phải đạt hiệu quả xă hội trên cơ sở tiết kiệm chi phí
- Quản lý hành chính nhà nước XHCN mang tính nhân đạo Xuất phát từ bản chất Nhà nước dân chủ XHCN, tất cả các hoạt động của nền hành chính nhà nước đều có mục tiêu phục vụ con người, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và lấy đó làm xuất phát điểm của hệ thống luật, thể chế, quy tắc và thủ tục hành chính
II NGUYÊN TÁC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Nguyên tẳc quản lý hành chính nhà nước là tư tưởng chỉ đạo hành động, hành vi quản lý nhà nước của các cơ quan và cán bộ, công chức nhà nước
Nguyên tắc quản lý hành chính được hình thành trên cơ sở quy luật khách quan, qua kết quả nghiên cứu sâu sắc các điều kiện thực tế xã hội, dựa trên bản chất chính trị xã hội trong thời gian, không gian và hoàn cảnh cụ thể Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước thể hiện các quan điểm chính trị và các phương thức trong quá trình thực hiện quyền hành pháp bằng hoạt động chấp hành của các cơ quan hành chính nhà nước và nhừng người được Nhà nước uỷ quyền tham gia quản lý các công việc nhà nước, xã hội Bởi vậy, nguyên tắc quản lý hành chính luôn phát triển theo sự phát triển của các hiện tượng chính trị - xã hội và khả năng nhận thức của con người
Xuất phát từ bản chất chế độ chính trị, từ thực tiễn xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu có chọn lọc những thành tựu của hành chính học và kinh nghiệm của các nước khác, có thể rút ra được những nguyên tẳc quản lý hành chính ở nước ta như sau:
1 Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước dưói sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, kiểm tra, giám sát của nhân dân đối vói quản lý hành chính nhà nưóc
Lịch sử hình thành và phát triển của Nhà nước Việt Nam kiểu mới gắn liền với
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong hệ thống chính trị ở nước ta Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Trước hết, Đảng lãnh đạo quản lý hành chính nhà nước bằng các nghị quyết đề
ra đường lôi, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ cho quản lý nhà nước và căn cứ vào
đó để Nhà nước ban hành hệ thống các văn bản pháp luật nhằm thực hiện đường lối chính sách của Đảng Đảng định hướng hoàn thiện hệ thống các cơ quan quản lý về mặt cơ cấu tố chức cũng như các hình thức và phương pháp chung
Đảng lãnh đạo thông qua công tác tổ chức và cán bộ Đảng đào tạo, lựa chọn, giới thiệu cán bộ cho cơ quan quản lý nhà nước, lãnh đạo việc sắp xếp, phân bổ cán
Trang 18Sự lãnh đạo cùa Đảng - hạt nhân của hệ thống chính trị nước ta là cơ sở bảo đảm
sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và tố chức xã hội, lôi cuốn được đông đảo nhân dân tham gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước
Đảng lãnh đạo quản lý nhà nước nhung không làm thay các cơ quan nhà nước Chính vì vậy việc phân định chức năng lãnh đạo của cơ quan Đảng và chức năng quàn lý cùa các cơ quan nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng và cùng là điều kiện cơ bản để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước
Sự tham gia của nhân dân vào quyền lực chính trị là một trong nhừng * jc trưng của chế độ dân chủ, quyền tham gia vào hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước cùa nhân dân được quy định tại Điều 28 Hiến pháp 2013: “Công dân có quyền tham gia quàn lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quàn lý nhà nước và xã hội, công khai, minh bạch trong việc tiêp nhận, phàn hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”
Nhân dân có quyền tham gia vào quản Iý nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, tham gia giải quvết những vấn đề lớn và hệ trọng của địa phương hoặc đơn vị Ngoài việc tham gia biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý, những hình thức tham gia trực tiếp khác của nhân dân vào quản lý nhà nước là: Thảo luận góp
ý kiến vào quá trình xây dựng những đạo luật hoặc các quyết định quan trọng khác cùa Nhà nước hoặc của địa phương; kiểm tra các cơ quan quàn lý nhà nước; thực hiện quyền khiếu nại, tổ cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước Các hình thức tham gia gián tiếp của nhân dân vào quản lý nhà nước, kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan này thông qua hoạt động của các đại biểu do mình bầu ra
Để đảm bảo sự tham gia quản lý hành chính nhà nước của nhân dân có hiệu quả, cần phải thể chế hoá các quyền đó một cách cụ thể, phát huy hơn nữa vai trò của các đại biểu nhân dân và nâng cao hiệu quả sự tham gia, kiểm tra giám sát của các đoàn thể nhân dân vào quản lý nhà nước
2 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ quy định trước hết là sự lành đạo tập trung đối với những vấn đề cơ bản chính yếu nhất, bản chất nhất Sự tập trung đó đảm bảo cho cơ quan cấp dưới, địa phương và cơ sở khả năng thực hiện quyết định cùa Trung ương căn cứ vào các điều kiện thực tế của mình Bên cạnh đó phải bảo đàm tính sáng tạo, quyền chủ động của địa phương và cơ sở cấp Trung ương giữ quyền thống nhất quản lý những vấn đề cơ bản, đồng thời thực hiện phân cấp quản lý, giao quyền hạn trách nhiệm cho các địa phương, các ngành trong tổ chức quản lý điều hành để thực hiện các văn bản của cấp trên Điều 8 Hiến pháp 2013, quy định tập trung dân chủ
là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước
Tập trung dân chủ được biểu hiện trong cơ chế vận hành của bộ máy Đó là quan hệ trực thuộc, chịu trách nhiệm và báo cáo của các cơ quan quàn lý trước cơ quan dân cứ; phân định chức năng, thẩm quyền giừa các cơ quan quản lý các câp;
Trang 19hệ thống “hai chiều trực thuộc” cùa một số cơ quan quản lý bảo đám kết hợp tốt sự lành đạo tập trung theo ngành với quyền quản lý tổng thể của địa phương, kết hợp lợi ích toàn quốc với lợi ích cùa địa phương
Tổ chức và hoạt động quản lý hành chính nhà nước, là một thể thống nhất Tập trung dân chủ không phải là cơ quan cấp trên “làm thay”, “lấn sân” vào thẩm quyền của cơ quan cấp dưới, đồng thời cùng phủ nhận việc cơ quan cấp dưới ỉ lại, đùn đẩy cho cấp trên Trong thực tiền quản lý hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang khắc phục bệnh tập trung quan liêu, đồng thời chổng biểu hiện tự do, tuỳ tiện, phân tán cục bộ địa phương, vô kỷ luật, kỷ cương
3 Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước bằng pháp luật và tăng cưòng pháp chế
Ọuản lý nhà nước bằng pháp luật và tăng cường pháp chế là nguyên tẳc hiến định Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước phải dựa trên
cơ sở pháp luật Điều đó có nghĩa là hệ thống hành chính nhà nước phải chấp hành luật và các quyết định của Ọuốc hội trong chức năng thực hiện quyền hành pháp; khi ban hành quyết định quản lý hành chính phải phù hợp với nội dung và mục đích của luật Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Nếu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có những sai phạm trong hoạt động quản lý gây thiệt hại tới lợi ích hợp pháp của người công dân thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường cho công dân
Để thực hiện nguyên tắc này, cần làm tốt các nội dung cơ bản sau:
- Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật;
- Tổ chức thực hiện tốt pháp luật đã ban hành;
- Xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật;
- Tăng cường giáo dục ý thức pháp luật cho toàn dân
4 Nguyên tắc kết họp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ
Quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ là hai mặt không tách rời nhau mà phải được kết hợp chặt chẽ với nhau, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế Các đơn vị kinh
tế thuộc bất cứ thành phần kinh tế nào, nằm trên địa bàn quản lý nào đều thuộc một ngành kinh tế - kỳ thuật nhất định và chịu sự quản lý của ngành (bộ) Mặt khác, các đơn vị kinh tế thuộc các ngành kinh tế - kỹ thuật khác nhau đều được phân bố trên những địa bàn nhất định, chúng có quan hệ mật thiết với nhau về kinh tể và gắn bó với nhau trên các mặt xã hội, tạo nên một cơ cấu kinh tế - xã hội và chịu sự quản lý của chính quyền địa phương Đây lả sự thống nhất giữa hai mặt: cơ cấu kinh tế ngành với cơ cấu kinh tế lãnh thổ trong một cơ cấu kinh tế chung
Các hoạt động quản lý theo ngành cùa cơ quan nhà nước nhằm đề ra các chủ trương, chính sách phát triển toàn ngành, tạo môi trường thuận lợi cho các đơn vị kinh tế phát huy tính chủ động, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh Cần nhấn mạnh rằng quản lý theo ngành ở đây là quản lý về mặt nhà nước: Nhà nước đề ra chủ trương chính sách, xây dựng chiến lược, sử dụng các đòn bẩy còn quản lý sản xuất kinh doanh là quyền chủ động của đơn vị sản xuất kinh doanh Nội dung quản lý theo lãnh thổ nhằm tổ chức sự điều hoà phối hợp các hoạt
Trang 20động của các ngành, các thành phần kinh tế và tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng trên phạm vi cả nước cũng như trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ với mục tiêu bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân về mọi mặt
5 Nguyên tắc phân định hoạt động quản Ịý hành chính nhà nước với hoạt đông sản xuất - kinh doanh của các chủ thể kinh tế của nhà nước và hoạt
động Sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp
Nhà nước ta có khả năng, nhiệm vụ tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân; quản lý các thành phần kinh tế nhưng không phải là người trực tiếp kinh doanh và quản lý kinh doanh Nhà nước tôn trọng tính độc lập tự chủ của các đom vị kinh doanh Trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước hiện nay, trên
cơ sở đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Tạo môi trường và điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Định hướng và hỗ trợ phát triển thông qua kế hoạch và các chính sách kinh
tế
- Hoạch định và thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo sự thống nhất giừa phát triển kinh tế và phát triển xã hội
- Quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên, tài sản quốc gia
- Tổ chức nền kinh tế và điều chỉnh bàng các công cụ và biện pháp vĩ mô
- Tổ chức và giám sát hoạt động tuân thủ pháp luật của các đơn vị kinh tế Nhà nước thực hiện các chức năng trên thông qua một hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước; thông qua tổ chức kinh tế của Nhà nước; thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, có năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội
Các tổ chức kinh doanh trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh bình đẳng trước pháp luật; có quyền tự chủ về tài chính và thực hiện hạch toán kinh tế; có nhiệm vụ phát huy năng lực kinh doanh có hiệu quả đạt mục tiêu thu lợi nhuận cao trong khuôn khổ pháp lý và chịu sự quản lý bằng pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước
Bộ máy hành chính nhà nước không thực hiện chức năng kinh doanh và không can thiệp vào hoạt động sản xuất - kinh doanh đối với những vấn đề mà theo luật thuộc quyền tự chủ của các đơn vị sản xuất - kinh doanh nói chung và các chủ thể sản xuất kinh doanh do Nhà nước thành lập Trao quyền tự chủ cho các đơn vị kinh
tế nói chung và các đơn vị kinh tế do nhà nước thành lập và tăng cường hoạt động quản lý nhà nước, tạo hành lang pháp lý có hiệu lực để quản lý các hoạt động sàn xuất kinh doanh của mọi chủ thể kinh tế, không phân biệt do Nhà nước lập hay của các thành phần kinh tế khác
Bên cạnh đó cũng cần phân định rõ những hoạt động sự nghiệp cùa các tô chức
sự nghiệp của Nhà nước Các tổ chức này không hoạt động quản lý điều hành các quan hệ xã hội mà nó do Nhà nước lập ra để thực hiện các dịch vụ công, liên quan đến những nhu cầu thiết yếu của công dân, tổ chức Việc phân định này nhằm giúp
Trang 21cho hành chính nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất để cung ứng các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cho xã hội
6 Nguyên tắc công khai
Tổ chức hoạt động hành chính cùa nhà nước ta là nhằm phục vụ lợi ích quốc gia
và lợi ích hợp pháp của công dân nên cần phải công khai hoá, thực hiện đúng chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Phải quv định các hoạt động cần công khai cho dân biết, tạo điều kiện thu hút đông đảo quẩn chúng nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động hành chính nhà nước
III HÌNH THỨC, CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1 Hình thức quản lý hành chính
Hình thức hoạt động quản lý hành chính nhà nước được hiểu là sự biểu hiện về hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của tổ chức
Quản lý hành chính nhà nước có nhiều hình thức hoạt động Việc lựa chọn hình thức hoạt động cẩn phải được tiến hành trên cơ sở khoa học sau:
- Sự phù hợp cùa hình thức quản lý với chức năng quản lý
- Sự phù hợp của hình thức quản lý với nội dung và tính chất của những nhiệm vụ quản ỉý cần giải quyết
- Sự phù hợp của hình thức quản lý với những đặc điểm của đổi tượng quản
Do đó, ta có thể phân hình thức quản lý hành chính nhà nước thành:
- Những hình thức pháp lý được pháp luật quy định cụ thể về nội dung, trình tự, thủ tục
- Những hình thức không pháp lý chì được pháp luật quy định khuôn khổ chung để tiến hành lựa chọn phương thức, cách thức quản lý
1.1 Hình thức pháp lý
Hoạt động ban hành văn bản quản lý hành chính nhà nước là hình thức quản lý quan trọng được phân loại như sau:
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Ban hành văn bàn quy phạm pháp luật là hình thức pháp lý quan trọng nhất trong hoạt động của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan hành chính nhà nước quy định những quy tắc xử sự chung trong lĩnh vực quản lý Nhà nước; những
Trang 22nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ cụ thể của các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước; xác định rõ thẩm quyền và thủ tục tiến hành hoạt động của đối tượng quản lý
Ban hành văn bản áp dụng pháp luật
Ban hành văn bản áp dụng pháp luật là hình thức hoạt động chủ yếu của các cơ quan hành chính nhà nước Nội dung của nó là áp dụng một hay nhiều quy phạm pháp luật vào một trường hợp cụ thể, trong những điều kiện cụ thể Việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật hành chính cụ thể
Thông qua việc ban hành các văn bản áp dụng pháp luật, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước tác động một cách tích cực và trực tiếp đến mọi hoạt động của các cơ quan cấp dưới, các cơ quan, tổ chức trực thuộc, các tổ chức phi nhà nước và công dân tham gia vào quan hệ quản lý hành chính nhà nước
Các hoạt động mang tính chất pháp lý khác
Đây là hình thức pháp lý quan trọng của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Hình thức hoạt động này được tiến hành khi phát sinh những điều kiện tương ứng được định trước trong quy phạm pháp luật nhưng không cần ban hành văn bản
áp dụng pháp luật
Đó là những hoạt động như:
- ÁP dụng những biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm pháp luật như kiểm tra bằng lái xe, kiểm tra việc đăng ký tạm trú, tạm vắng
- Đăng ký những sự kiện nhất định như đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn,
đăng ký phương tiện giao thông
- Lập và cấp một sổ giấy tờ nhất định như lập biên bản về vi phạm hành chính
- Hoạt động công chứng: Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ quy định của pháp luật nhàm bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của công dân và của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tể, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chá xã hội chủ nghĩa
1.2 Hình thức không pháp lý
Đó là hình thức hoạt động thuộc phạm vi chức năng, thẩm quyền, pháp luật cho chủ thể có thẩnĩ quyền được lựa chọn việc thực hiện để bảo đảm tính chủ động, hiệu quả của hoạt động
Ví dụ: Hình thức hội nghị được tiến hành ở các cơ quan nhà nước Đối với các
cơ quan thẩm quyền chung, lãnh đạo tập thể thì hình thức hội nghị là hình thức pháp lý, vì luật quy định rõ về định kỳ và giá trị pháp lý của nghị quyết hội nghị (kỳ họp, phiên họp) Nhưng hội nghị ở cơ quan quản lý thẩm quyển riêng, theo chế
độ thủ trường thì đó là hình thức không pháp lý vì nó không ban hành quyết định
có tính quyền lực
2 Công cụ quản lý hành chính nhà nước
Để thực hiện chức năng thẩm quyền, các cơ quan hành chính sử dụng công cụ chủ yếu: công sở, công sản, công quyền - quyết định quan lý hành chính
Trang 23- Công sở: là trụ sở cơ quan, là nơi làm việc của cơ quan, là nơi cán bộ lành đạo, công chức và nhân viên thực thi công cụ, ban hành các quyết định hành chính
và tổ chức thực hiện các quyết định, là nơi giao tiếp đối nội, đối ngoại
- Công-sản: là vốn (kinh phí) và các điều kiện, phương tiện để hoạt động
- Quyết định quản lý hành chính: Là sự biểu hiện ý chí của Nhà nước Là kết quả thực hiện quvền hành pháp mana tính mệnh lệnh đơn phương của quyền lực nhà nước
3 Phưong pháp quản lý hành chính
3.1 Các yêu cầu đối với phương pháp quản lý hành chinh nhà nước
Phương pháp quản lý hành chính nhà nước là các cách thức điều hành để đảm bảo việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền cùa các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các chức vụ quản lý hành chính nhà nước
Các phương pháp quản lý hành chính nhà nước phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Phương pháp quản lý hành chính nhà nước phải có khả năng đảm bảo tác động quản lý lên lĩnh vực chù yếu cùa quản lý hành chính nhà nước, có tính đến đặc điêm của mỗi lĩnh vực và sự phát triển chung của xã hội, điều đó có nghĩa là phương pháp quản lý là phương pháp chung, nếu không đảm bảo tác động lên tất cả các lĩnh vực quản lý thì cũng phải đảm bảo tác động lên những lĩnh vực chủ yếu mà vẫn phù hợp với đặc điểm của từng lĩnh vực
- Các phương pháp quản lý phải đa dạng và thích hợp để tác động lên những đối tượng khác nhau, bời vì cách thức tác động lên cá nhân không giống cách thức tác động lên tập thể lao động; cách thức tác động trực tiếp không giống cách thức tác động lên đối tượng gián tiếp, cách thức tác động lên đối tượng lệ thuộc về mặt
tỗ chức cũng không giống cách thức tác động lên những đối tượng không lệ thuộc
- Các phương pháp phải mềm dẻo, linh hoạt, nghĩa là có khả năng đảm bảo tác động quản lý lên các đổi tượng quản lý, phù hợp với đặc điểm và thực trạng cùa đối tượng ờ những thời điểm nhất định, trong những hoàn cảnh và điêu kiện nhất định
- Các phương pháp phải có tính sáng tạo nghĩa là chúng phải thường xuyên
được đổi mới và hoàn thiện trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm lịch sử, sử dụng những gì hợp lý ở giai đoạn đã qua, nhừng gì có thể áp dụng trong giai đoạn mới và loại bỏ những gì không thể phục vụ việc giải quyết nhiệm vụ quản lý trong hiện tại cùng như trong tương lai
- Các phương pháp quản lý phải hoàn toàn phù hợp với pháp luật, với cơ chế hiện hành cùa Nhà nước
3.2 Các phương pháp quản lý hành chính nhà nước
Trang 24Các cơ quan hành chính nhà nước, trong tổ chức hoạt động cùa mình đều sử dụng rất nhiều phương pháp quản lý
Các phương pháp có thể phân thành 02 nhóm:
a) Nhóm thứ nhất gồm nhừng phương pháp quản lý chung được quản lý
hành chính nhà nước vận dụng, cụ thế là:
Các cơ quan hành chính nhà nước dùng phương pháp này để xây dựng chiến lược phát trien kinh tế - xã hội, lập quy hoạch tổng thể và chuyên ngành; dự báo xu thế phát triển; đặt chương trình mục tiêu và xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngăn hạn
Sử dụng phương pháp này để tính toán các chì tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện
và kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, các biện pháp cân đối
Đây là phương pháp rất quan trọng ờ cả tầm vĩ mô của Nhà nước và vi mô của
cơ sờ
Phương pháp này được các cơ quan quàn lý hành chính nhà nước sử dụng để tiến hành điều tra khảo sát, phân bố, sừ dụng các phương pháp tính toán như: số bình quân gia quyền, chỉ số, tương quan tuyển tính, tương quan hồi quy để phân tích tình hình và nguyên nhân của hiện tượng quản lý, làm căn cứ khoa học cho việc ra quyết định quản lý
Sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, tổng hợp và chỉnh lý để tính toán tốc
độ phát triển các chỉ tiêu quan trọng
Phương pháp tâm lý - xã hội nhằm tác động vào tâm tư, tình cảm cùa người lao động, tạo cho họ không khí hồ hởi, yêu thích công việc, gắn bó với tập thể lao động, hăng say làm việc, giải quyết cho họ nhừng vướng mắc trong công tác, động viên, giúp đờ họ vượt qua khó khăn về cuộc sống
Do vậy, tác động tâm lý - xã hội là phương pháp quản lý rất quan trọng
b) Nhóm thứ hai gồm 4 phương pháp chủ yếu của khoa học quản lý, cụ thể
là:
Trang 25Đây là phương pháp tác động về tư tưởng và tinh thần đối với con người để
họ giác ngộ lý tường, ý thức chính trị và pháp luật, nhận biết được việc làm nào là tốt, là vinh, ià thiện việc làm nào là xấu, là nhục, là ác vv
Ý thức đúng thì hành động tốt, trên cơ sở đó sẽ có trách nhiệm, có kỷ luật, có lương tâm, không vi phạm pháp luật, hăng hái lao động, đem hết sức mình ra cống hiến
Giáo dục chính trị, tư tưởng không phải là hô hào bàng những khẩu hiệu chính trị, động viên lòng nhiệt tình, hăng hái chung bằng tuyên truyền tình cảm như nhiều người quan niệm và nhiều nơi vẫn làm Đó là những công việc cụ thể, có kế hoạch thực hiện rõ ràng cho từng giai đoạn phát triển nhất định, đảm bảo trang bị cho neười lao động đủ kiến thức, đủ năng lực, đủ lòng nhịêt tình đảm đương được công việc do yêu cẩu thực tiễn
Giáo dục chính trị, tư tưởng không chỉ đối với đối tượng quản lý mà cả đối với chủ thể quản lý Nội dung giáo dục phải thiết thực, sâu sắc gắn chặt với sản xuất, công tác và quản lý với phương pháp hình thức linh hoạt, có chất lượng phù hợp với đối tượng
Phương pháp này là biện pháp đưa con người vào khuôn khổ kỷ luật, kỷ cương
Để thực hiện biện pháp này có nhiều việc phải làm, nhưng quan trọng nhất là phải
có quy chế, quy trình, nội quy hoạt động cho cơ quan, bộ phận, cá nhân và phải cương quyết thực hiện Phải nghiêm túc kiểm tra và xử lý kết quả đã kiểm tra một cách dân chủ, công bằng Làm tốt thì thưởng, làm, không tốt thì xử phạt
Làm tốt được biện pháp này thì trách nhiệm và kỷ luật sẽ được giữ vững và tăng lên, hiệu quả công việc sẽ cao, đoàn kêt nội bộ được bảo đảm; ngược lại thì tư tưởng sẽ không lành mạnh, đoàn kết nội bộ không yên, kỷ luật kỷ cương lỏng lẻo, hiệu quả công việc thấp
Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua việc sừ dụng những đòn bấy kinh tế, tác động đến lợi ích của con người
Khởi điểm của phương pháp này chính là sự quản lý bằng lợi ích và thông qua lợi ích để làm cho các khách thể quản lý suy nghĩ đến lợi ích của mình, tự giác thực hiện bổn phận và trách nhiệm của mình một cách tốt nhất, mà không phải đôn đốc, nhắc nhở nhiều về mặt hành chính mệnh lệnh của chủ thế quản lý
Tuy nhiên, phải biết kết hợp một cách đúng đan giữa 3 lợi ích: lợi ích của người lao động, lợi ích tập thể và lợi ích của Nhà nước Trong 3 lợi ích này, lợi ích của người lao động là động lực trực tiếp, lợi ích của Nhà nước là tối cao
Phương pháp hành chính là phương pháp quản lý cách ra mệnh lệnh hành chính dứt khoát, bẳt buộc đối tượng quản lý Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp lên đối tượng bằng cách quy định đơn phương nhiệm vụ và phương
án hành động của đối tượng quản lý
Trang 26Phương pháp hành chính thể hiện tính chất quyền lực của hoạt động quản lý Cơ
sở của nó là nguyên tắc tập trung, dân chủ mà cụ thể là sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên và tính chất bắt buộc thi hành những mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên đối với cấp dưới Phương pháp hành chính cần thiết để đảm bảo cho hoạt động quản lý được tiến hành có hiệu quả và đảm bảo kỷ luật nhà nước
Phương pháp hành chính được thực hiện qua các nội dung:
+ Quy định những quy tắc xử sự chung trong quản lý hành chính nhà nước + Quy định quyền hạn và nghĩa vụ của các cơ quan dưới quyền, giao nhiệm vụ cho các cơ quan đó
+ Thoả mãn đơn phương yêu cầu hợp pháp của công dân
+ Kiểm tra việc chấp hành pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới + Áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết
Trong 4 phương pháp này, theo quan niệm chung hiện nay thì phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức là hàng đầu, phải làm thường xuyên, liên tục và nghiêm túc Biện pháp tổ chức là hết sức quan trọng, có tính khẩn cấp Phương pháp kinh tế là biện pháp cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý nhà nước Phương pháp hành chính là rất cần thiết, nhưng phải được sử dụng một cách đúng đắn
CHUYÊN ĐỀ 3
TÓ CHỨC Bõ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
I KHÁI QUÁT VỀ BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm bộ máy hành chính nhà nưóc
Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nehĩa Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ Trung ương xuống địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược và các chức năng của nhà nước vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Căn cứ vào trật tự hình thành cùng như tính chất, vị trí, chức năng cùa các cơ quan nhà nước, bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chù nghĩa Việt Nam gồm bốn hệ thống cơ quan:
- Hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước (hay còn gọi là các cơ quan đại diện);
- Hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (hay còn gọi là bộ máy hành chính nhà nước);
- Hệ thống các cơ quan xét xử;
- Hệ thống các cơ quan kiểm sát;
Ngoài bốn hệ thống các cơ quan nhà nước nói trên, trong tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có Chù tịch nước - Nguyên thù quốc gia (người đứng đầu nhà nước), có chức năng thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại
Trong đó, bộ máy hành chính nhà nước được thiết lập để thực thi quyền hành
Trang 27pháp (quyền tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước)
Như vậy, bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, bao gồm hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập, tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật để thực hiện quyển lực nhà nước,
có chức năng quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
2 Đặc điếm của bộ máy hành chính nhà nước
Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước
Do vậy, bộ máy hành chính nhà nước cùng mang đầy đủ các đặc điểm chung cùa
bộ máy nhà nước, đó là:
Một là, bộ máy hành chính nhà nước hoạt động mang tính quyền lực nhà nước,
được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ Tính quyền lực nhà nước thể hiện ở chỗ: bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước; bộ máy hành chính nhà nước nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan
hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý
Hai là, mỗi cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước đều hoạt động dựa trên
những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền nhất định và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu, có tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định
Ba là, về mặt thẩm quyền thì các cơ quan hành chính nhà nước được quyền đơn
phương ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn bản đó có hiệu lực bắt buộc đối với các đối tượng có liên quan; cơ quan hành chính nhà nước có quyền lực áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các đôi tượng chịu sự tác động, quản lý của cơ quan hành chính nhà nước
Ngoài những đặc điểm chung nói trên, bộ máy hành chính nhà nước còn có những đặc điểm riêng như sau:
Một là, bộ máy hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà
nước, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, trong khi đó các cơ quan nhà nước khác chỉ tham gia vào hoạt động quản lý trong phạm vi, lĩnh vực nhất định Ví dụ: Quốc hội có chức năng chủ yếu trong hoạt động lập pháp; Tòa án có chức năng xét xử; Viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát Chỉ bộ máy hành chính nhà nước mới có quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực: Quản lý nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về văn hóa, quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội, quản lý xã hội,
Hai là, bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống cơ quan chấp hành, điều hành
của cơ quan quyền lực nhà nước Thẩm quyền của bộ máy hành chính nhà nước chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành, điều hành Hoạt động chấp hành - điều hành hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước Điều đó có nghĩa là cơ quan hành chính nhà nước chỉ tiến hành các hoạt động để chấp hành Hiến pháp, luật,
Trang 28pháp lệnh, nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước trong phạm vi hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào cơ quan quyền lực nhà nước, chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực nhà nước cấp tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan đó Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền thành lập ra các cơ quan chuyện môn để giúp cho cơ quan hành chính nhà nước hoàn thành nhiệm vu
Ba là, bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống cơ quan có mối liên hệ chặt chẽ,
thống nhất Bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống cơ quan được thành lập
từ trung ương đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau
về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước Hầu hết các cơ quan hành chính nhà nước đều có hệ thống các đơn vị cơ sở trực thuộc Các đơn vị, cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội
Bốn là, hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước mang tính thường xuyên,
liên tục và tương đối ổn định, là cầu nối đưa đường lối, chính sách, pháp luật vào cuộc sống Tất cả các cơ quan hành chính nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ trực thuộc trên - dưới, trực thuộc ngang - dọc, quan hệ chéo tạo thành một hệ thốne thống nhất mà trung tâm chỉ đạo là Chính phủ
Năm là, bộ máy hành chính nhà nước có chức năng quản lý nhà nước dưới hai
hình thức là ban hành các văn bản quy phạm và văn bản cá biệt trên cơ sở Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên nhằm chấp hành, thực hiện các văn bản đó Mặt khác trực tiếp chỉ đạo, điều hành, kiểm tra hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước dưới quyền và các đơn
vị cơ sở trực thuộc của mình
Tóm lại, bộ máy hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành cùa bộ máy nhà nước, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành và tham gia chủ yếu vào hoạt động quản lý nhà nước, có cơ cấu tổ chức và phạm vi theo luật định
Trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước được sử dụng quyền lập quy và quyền hành chính theo quy định của pháp luật
- Quyền lập quy là quyền ban hành các văn bản pháp quy (còn gọi là văn bản dưới luật) như ban hành Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ trường, v.v để cụ thể hóa luật, thực hiện luật nhằm điều chỉnh nhũng quan hệ kinh tế - xà hội thuộc phạm vi quyền hành pháp Dưới góc độ pháp luật, có thể xem đây là sự ủy quyền của cơ quan lập pháp cho cơ quan hành pháp để điều hành các hoạt động cụ thể của quyền lực nhà nước
- Quyền hành chính là quyền tổ chức ra bộ máy cai quản, sẳp xếp nhân sự, điều hành công việc quốc gia, sử dụng nguồn tài chính và công sản để thực hiện những chính sách của đất nước Đó là quyền tổ chức, điều hành các hoạt động kinh
Trang 29tế - xã hội, đưa pháp luật vào đời sống nhằm giừ gìn trật tự an ninh xã hội, phục vụ lợi ích của công dân, đảm bảo dân sinh, giải quyết các vấn đề xã hội và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính và công sản để phát triển đất nước một cách có hiệu quả Với tư cách là cơ quan hành chính cao nhất, Chính phủ nắm quyền thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng,
an ninh và đối ngoại cùa nhà nước; quản lý hệ thống bộ máy hành chính nhà nước
từ trung ương đến cơ sở trong khuôn khổ hệ thống chính trị hiện hành
II TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XẢ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1 Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương
1.1 Chính phủ
Ở Việt Nam hiện nay, theo Điều 94 Hiến pháp 2013, Chính phủ là: "cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực thi quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội"
Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu ra theo đề nghị của Chủ tịch nước tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội Thủ tướng đề nghị danh sách các Bộ trưởng
và các thành viên khác của Chính phủ để Quốc hội phê chuẩn Quy định pháp lý này vừa xác định vai trò và trách nhiệm của tập thể Chính phủ trước Quốc hội, vừa xác định vai trò cá nhân của Thủ tướng là người lãnh đạo toàn bộ công việc của Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Quốc hội Mặt khác cũng xác định vai trò và trách nhiệm của các bộ trưởng trong tập thể Chính phủ và vai trò cá nhân bộ trưởng
về lĩnh vực mình phụ trách
Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chính phủ là một thiết chế chính trị - hành chính nhà nước, nắm quvền hành pháp, với chức năng: thống nhất việc quản
lý thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh
và đối ngoại của Nhà nước; lập quy để thực hiện các luật do quyền lập pháp định ra; quản lý công việc hàng ngày của Nhà nước; tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và quản lý nhân sự của bộ máy đó; chức năng tham gia quá trình lập pháp
a Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ được ghi trong Hiến pháp và Luật Tô chức Chính phù, gồm:
- Lãnh đạo công tác của các bộ, các cơ quan ngang bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống bộ máy hành chính nhà nước thống nhất từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định; đào tạo bồi dường, sẳp xếp và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị - xâ hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân
và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân
Trang 30- Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và ủy ban thường vụ Quốc hội
- Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triên nền kinh tế quốc dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, các dịch vụ công; quản lý và đảm bảo sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; thực hiện kế hoạch phát triên kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước, chính sách tài chính; bảo vệ môi trường
- Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước
- Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra nhà nước, chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền trong bộ máy nhà nước, giải quyết khiếu nại, tổ cáo của công dân
- Thống nhất quản lý công tác đối ngoại, đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp do Chủ tịch nước ký với người đứng đầu Nhà nước khác; đàm phán, ký, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; bảo vệ lợi ích cùa nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Viêt Nam
Trong lĩnh vực tổ chức hệ thống hành chính nhà nước, Chính phủ có nhiệm vụ
và quyền hạn cụ thể như sau:
- Trình Quốc hội quyết định cơ cấu tổ chức của Chính phủ, thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ, thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
- Tổ chức và chỉ đạo hoạt động của hệ thống bộ máy hành chính nhà nước thống nhất từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước thông suốt trong hệ thống hành chính nhà nước, cơ quan hành chính cấp dưới phải phục tùng
sự lãnh đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cơ quan hành chính cấp trên
- Quyết định và chỉ đạo thực hiện phân công, phân cấp quản lý ngành và lĩnh vực trong hệ thống hành chính nhà nước
- Chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính nhà nước, xây dựng nền hành chính
Trang 31dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
- Quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thuộc Chính phủ, quy
định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ; quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân và hướng dẫn về tổ chức một số cơ quan chuyên môn để Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phù hợp với đặc điểm riêng cùa địa phương; quy định mức biên chế hành chính, sự nghiệp thuộc ủy ban nhân dân
- Thống nhất quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở; xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập trong sạch, có trình độ, năng lực, trung thành với Nhà nước xã hội chủ nghĩa, tận tụy phục vụ nhân dân; quyêt định và chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế độ về đào tạo, tuyển dụng sử dụng, tiền lương, khen thường, kỷ luật, nghỉ hưu và các chế độ khác đối với cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; quy định và chỉ đạo thực hiện chính sách cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
b Cơ cấu tổ chức của Chỉnh phủ
Cơ cấu tổ chức của Chính phủ do Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ quy định Tùy thuộc vào từng giai đoạn cụ thể, cơ cấu tổ chức của Chính phủ có những yếu tố cấu thành khác nhau
Chính phủ gồm có:
- Thủ tướng Chính phủ;
- Các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Số Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và Thủ tướng cơ quan ngang bộ do Quôc hội quyết định
Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiễm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước
Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiễm, cách chức và từ chức đối với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, chấp thuận việc từ chức đối với Phó Thủ tướng, Bộ trường, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ
c Hình thức hoạt động của Chính phủ
Hoạt động của Chính phủ được tiến hành theo ba hình thức:
- Các phiên họp của Chính phủ (hoạt động của tập thể Chính phủ) Luật tổ chức Chính phủ quy định cụ thể về cách thức tiến hành các kỳ họp hàng tháng của Chính phủ
Hoạt động và quyết định mang tính tập thể của Chính phủ trên những lĩnh vực
cụ thể được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ Điều này nhằm tăng cường tính trách nhiệm của tập thể Chính phủ trước các vấn đề quan trọng của đất nước
Trang 32Luật Tổ chức Chính phủ quy định rõ các công việc sau đây phải do tập thể Chính phủ thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số:
+ Chương trình hoạt động hàng năm của Chính phủ;
+ Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và cả nhiệm kỳ, các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trình Quốc hội và ủy ban thường vụ Quốc hội; các nghị quyết, nghị định của Chính phủ;
+ Dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, năm năm, hàng năm, các công trình quan trọng; dự toán ngân sách nhà nước, dự kiến phân bổ ngân sách trung ương và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương; tổng quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm trình Quổc hội; + Đề án về chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo trình Quốc hội;
+ Các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính, tiền tệ, các vấn
đề quan trọng về quốc phòng an ninh, đối ngoại;
+ Các đề án trình Quốc hội về việc thành lập, sáp nhập, giải thể bộ, cơ quan ngang bộ; việc thành lập mới, nhập chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, việc thành lập hoặc giải thể các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;
+ Quyết định việc thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thuộc Chính phủ;
+ Các báo cáo cùa Chính phủ trước Ọuốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước
- Sự chi đạo, điều hành của Thù tướng và các Phó Thủ tướng là những người giúp Thủ tướng phụ trách một hoặc một số lĩnh vực theo sự phân công của Thủ tướng Khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt Thủ tướng lãnh đạo công tác của Chính phủ
- Hoạt động của các Bộ trưởng với tư cách là thành viên tham gia vào công việc chung cùa Chính phủ và với tư cách là người đứng đẩu một một Bộ hay cơ quan ngang Bộ
1.2 Bộ và cơ quan ngang Bộ
Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan cùa Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý hành chính nhà nước đối với các loại dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực Như vậy Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương, có chức năng quản lý hành chính nhà nước về một ngành, đa ngành hoặc lĩnh vực công tác trên phạm vi toàn quốc
Các Bộ và cơ quan ngang Bộ (sau đây gọi chung là Bộ) có thê chia thành 2 nhóm: Bộ quản lý hành chính nhà nước đối với ngành hoặc đa ngành và Bộ quản lý hành chính nhà nước đối với lĩnh vực Trong đó:
Bộ quản lý ngành: Là cơ quan hành chính nhà nước trung ương có trách nhiệm
quản lý nhừng ngành kinh tế - kỳ thuật, văn hoá, xà hội, cũng có thể các ngành tập hợp lại thành một nhóm liên ngành Đó là những Bộ có trách nhiệm chì đạo toàn diện các cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước và sự nghiệp; thực hiện chức năng quán lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực cụ thể do Bộ phụ trách
Trang 33Bộ quản ỉỷ lĩnh vực: Là cơ quan hành chính nhà nước trung ương, có trách
nhiệm quản lý theo từng lĩnh vực lớn như: Kế hoạch đầu tư, tài chính, ngân hàng, khoa học, công nghệ, lao động, nội vụ, ngoại giao
Hiện nay, về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ được quy định tại Nghị định 36/2012/NĐ-CP ngày 18/4/2012 của Chính phủ
2 Bộ máy hành chính ở địa phương
Theo điểu 114 Hiến pháp năm 2013: “ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao”
Uỷ ban nhân dân - Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có hai tư cách:
hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân và báo cáo công việc trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và ủy ban nhân dân cấp trên Hội đồng nhân dân có quyền bầu, bãi miễn các thành viên của ủy ban nhân dân, giám sát các hoạt động và bãi bỏ những quyết định không phù hợp của ủy ban nhân dân cùng cấp ủy ban nhân dân chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân và đôn đốc của Thường trực Hội đồng nhân dân
trách nhiệm không chỉ chấp hành những nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp mà còn chấp hành các quyết định của các cơ quan hành chính cấp trên, thi hành luật thống nhất trên cả nước, thực hiện chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội trên phạm vi lãnh thổ địa phương, ủy ban nhân dân các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất
a Nhiệm vụ, quyển hạn của Uy ban nhân dân
Nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban nhân dân từng cấp được quy định tại Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003 Ở mỗi cấp, ủy ban nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng khái quát lại có thể có những loại nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Quản lý nhà nước ở địa phương trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ và môi trường, thể dục, thể thao, báo chí, phát thanh, truyền hình và các lĩnh vực xã hội khác, quản lý nhà nước về đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, quản lý việc thực hiện tiêu chuẩn đo lường chất lượng sản phẩm hàng hóa
- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp trong cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
Trang 34nhân dân và công dân ở địa phương
- Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực vũ trang và xây dựng quốc phòng toàn dân; thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, nhiệm vụ động viên, chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương, quản
lý hộ khẩu, hộ tịch ở địa phương, quản lý việc cư trú, đi lại của người ngoài ở địa phương
- Phòng chống thiên tai, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, bảo vệ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; chống tham nhũng, chống buôn lậu, làm hàng giả
và các tệ nạn xã hội khác
- Quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động tiền lương, đào tạo đội ngũ viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập và cán bộ,công chức cấp
xã, bảo hiểm xã hội theo sự phân cấp của Chính phủ
- Tổ chức và chỉ đạo công tác thi hành án ờ địa phương theo quy định của pháp luật
- Tổ chức, thực hiện việc thu, chi ngân sách của địa phương theo quy định của pháp luật; phối hợp với các cơ quan hữu quan để bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các loại thuế và các khoản thu khác ở địa phương
Ủy ban nhân dân thực hiện việc quản lý địa giới đơn vị hành chính, xây dựng, đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính ờ địa phương đưa ra Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua để trình cấp trên xét
Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và ủy ban nhân dân cấp trên, ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và Chính phủ
b Cơ cẩu của ủy ban nhân dân
Ủy ban nhân dân gồm:
- Chủ tịch ủy ban nhân dân;
- Các Phó chù tịch ủy ban nhân dân;
- Các ủy viên ủy ban
Kết quả bầu các thành viên của ủy ban nhân dân phải được Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của Uy ban nhân dân cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn
Cơ cấu tổ chức của ủy ban nhân dân, số thành viên Ủy ban nhân dân do Chính phủ quy định trên cơ sở quy mô dân số, điều kiện phát triển kinh tê - xã hội
c Hoạt động của Ủy ban nhân dân
Ủy ban nhân dân là một thiết chế tập thể, nhưng Chủ tịch ủy ban nhân dân lãnh đạo, điều hành hoạt động của ủy ban nhân dân
Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, Uy ban nhân dân phải thảo luận tập thể và ra quyết định theo đa số
Chủ tịch ủy ban nhân dân có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của các cơ quan thuộc ủy ban nhân dân và các văn bản sai trái của
Trang 35ủy ban nhân dân cấp dưới; đình chỉ việc thi hành nghị quyết sai trái các cơ quan thuộc ủy ban nhân dân và các văn bản sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới, đồng thời đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bò những nghị quyết đó
Chủ tịch ủy ban nhân dân là người lãnh đạo và điều hành công việc của ủy ban nhân dân; chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyển hạn của mình; cùng tập thể ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của ủy ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên Chủ tịch phân công công tác cho Phó chủ tịch và các thành viên khác của Uy ban nhân dân
Ủy ban nhân dân làm việc theo chế độ tập thể, trong đó mỗi thành viên Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm cá nhân về phần công việc trước Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân và cùng với các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của ủy ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân, Chủ tịch ủy ban nhân dân là người đứng đầu, lãnh đạo công việc của ủy ban nhân dân, chỉ đạo các thành viên khác thực hiện công việc được phân công, ủy ban nhân dân thảo luận tập thể và quyết định thực hiện công việc được phân công, ủy ban nhân dân thảo luận tập thể
và quyết định theo đa số những việc quan trọng như chương trình làm việc, kế hoạch và ngân sách; các biện pháp thực hiện nghị quyết cùa Hội đồng nhân dân về kinh tế, xã hội; thông qua báo cáo của ủy ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân,
đề án thành lập mới, sát nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn; vạch và điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính ở địa phương
d) Các cơ quan chuyên môn (sở, cơ quan ngang sở) thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các
lĩnh vực và nhằm bảo đảm hoạt động thống nhất quản lý ngành
Hiện nay, theo quỵ định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cụ thể như sau:
* về nguyên tắc tổ chức
- Bảo đảm thực hiện đầy đù chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của ùy ban nhân dân cấp tỉnh và sự thống nhất, thông suốt, quản lý ngành, lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở
- Tinh gọn, hợp lý, hiệu lực, hiệu quả, tổ chức sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; không nhất thiết ở Trung ương có Bộ, cơ quan ngang Bộ thì cấp tỉnh có tổ chức tương ứng
- Phù hợp với điều kiện tự nhiên, dân số, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và yêu cầu cải cách hành chính nhà nước
- Không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn với các tổ chức thuộc
Bộ, cơ quan ngang Bộ đặt tại địa phương
Trang 36phân công hoặc ủy quyền của ủy ban nhân dân cấp tinh, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tình
* về nhiệm vụ, quyền hạn của sở (theo quy định tại điều 4 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chỉnh phủ))
1 Trình ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
a) Dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao;
b) Dự thảo văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của sở;
c) Dự thảo văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, chức danh đổi với Trưởng, Phó các đơn vị thuộc sở; Trưởng, Phó trưởng phòng chuyên môn thuộc
ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung
là ủy ban nhân dân cấp huyện) trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý
2 Trình Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
a) Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các tổ chức, đơn vị của sở theo quy định cùa pháp luật;
b) Dự thảo quyết định, chỉ thị cá biệt thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh
3 Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục, theo dõi thi hành pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao
4 Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về giám định, đăng ký, cấp giấy phép, văn bằng, chứng chỉ thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của ủy ban nhân dân cấp tỉnh
5 Giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội và các tổ chức phi chính phù thuộc các lĩnh vực quản lý của cơ quan chuyên môn theo quy định của pháp luật
6 Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
7 Thực hiện hợp tác quốc tế về ngành, lĩnh vực quản lý và theo phân công hoặc ủy quyền của ủy ban nhân dân cấp tỉnh
8 Hướng dẫn chuyền môn, nghiệp vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý đối với cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện và chức danh chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp xã
9 Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ
10 Kiểm tra, thanh tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách
Trang 37đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của ủy ban nhân dân cấp tỉnh
11 Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của văn phòng, phòng chuyên môn nghiệp vụ, chi cục và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc sở, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của sở theo hướng dẫn chung của Bộ quản
lý ngành, lĩnh vực và theo quy định cùa ủy ban nhân dân cấp tỉnh
12 Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công
chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; thực hiện chế độ tiền lương và chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức, viên chức và lao động thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của ủy ban nhân dân cấp tỉnh
13 Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính được giao theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền cùa ủy ban nhân dân cấp tình
14 Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Bộ, cơ quan ngang Bộ
15 Thực hiện nhiệm vụ khác do ủy ban nhân dân, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao và theo quy định của pháp luật
* về cơ cẩu tổ chức của sở
Cơ cấu tổ chức cùa sở thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, gồm có:
- Thanh tra
- Phòng chuyên môn, nghiệp vụ
- Chi cục
- Đơn vị sự nghiệp công lập
Không nhất thiết các sở đều có đầy đủ các tổ chức theo quy định trên
* về tổ chức các sở thuộc UBND cấp tỉnh (theo quy định tại Nghị định 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chinh phủ), cụ thể:
“ Điều 8 Các sờ được tổ chức thống nhất ở các địa phương
1 Sở Nội vụ:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Tổ chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính; vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cải cách hành chính, cải cách chế độ công
vụ, công chức; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, công chức cấp xã; đào tạo, bồi dường cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, công chức cấp xã; những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; tổ chức hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo;
Trang 38công tác thanh niên; thi đua - khen thưởng
2 Sở Tư pháp:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tinh quản lý nhà nước về: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật; pháp chế; công chứng, chứng thực; nuôi con nuôi; trọng tài thương mại; hộ tịch; quốc tịch; lý lịch tư pháp; bồi thường nhà nước; luật sư, tư vấn pháp luật; trợ giúp pháp lý; giám định tư pháp; hòa giải cơ sở; bán đấu giá tài sản; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật
3 Sở Kế hoạch và Đầu tư:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Tổng hợp quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức thực hiện và đề xuất về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh; đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài ở địa phương; quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn viện trợ phi chính phủ; đấu thầu; đăng ký kinh doanh; tổng hợp về doanh nghiệp, kinh tế tập thể, hợp tác xã, kinh tế tư nhân
4 Sở Tài chính:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Tài chính; ngân sách nhà nước; thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước; tài sản nhà nước; các quỹ tài chính nhà nước; đầu tư tài chính; tài chính doanh nghiệp; kế toán; kiểm toán độc lập; giá và các hoạt động dịch vụ tài chính tại địa phương theo quy định của pháp luật
5 Sở Công Thương:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Cơ khí; luyện kim; điện; năng lượng mới; năng lượng tái tạo; dầu khí; hóa chất; vật liệu nổ công nghiệp; công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản; công nghiệp tiêu dùng; công nghiệp thực phẩm; công nghiệp chế biến khác; lưu thông hàng hóa trên địa bàn; xuất khấu, nhập khấu; quản lý thị trường; xúc tiến thương mại; thương mại điện tử; dịch vụ thương mại; quản lý cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hội nhập kinh tế; thương mại quốc tế; quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn; quản lý an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật
6 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy sản; thủy lợi và phát triển nông thôn; phòng, chống thiên tai; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản, muối theo quy định của pháp luật
7 Sở Giao thông vận tải:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt đô thị; vận tải; an toàn giao thông; quản lý, khai thác, duy tu, bảo trì hạ tang giao thông đô thị gồm: cầu đường bộ, cầu vượt, hè phố, đường phố, dải phân cách, hệ thống biển báo hiệu đường bộ, đèn tín hiệu điều
Trang 39khiển giao thông, hầm dành cho người đi bộ, hầm cơ giới đường bộ, cầu dành cho người đi bộ, bến xe, bãi đỗ xe
8 Sở Xây dựng:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tình quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng và kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao; quản lý chất thải rắn thông thường tại đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị; công viên, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sỹ; kết cấu hạ tầng giao thông đô thị, không bao gồm việc quản lý khai thác, sử dụng, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đô thị; quản
lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỳ thuật đô thị); nhà ở; công sở; thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng
Đối với thành phổ Hà Nội và thành phổ Hồ Chí Minh, chức năng tham mưu về quy hoạch xây dựng và kiến trúc do Sở Quy hoạch - Kiến trúc thực hiện
9 Sở Tài nguyên và Môi trường:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo (đối với các tỉnh có biển, đảo)
10 Sở Thông tin và Truyền thông:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Báo chí; xuất bản; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin; điện tử; phát thanh và truyền hình; thông tin đối ngoại; bản tin thông tấn; thông tin cơ sở; hạ tầng thông tin truyền thông; quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phấm và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin
11 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quân lý nhà nước về: Lao động; việc làm; dạy nghề; tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp); an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội
12 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Văn hóa; gia đình; thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo (không bao gồm nội dung quảng cáo quy định tại Khoản 10 Điều này); việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật
13 Sở Khoa học và Công nghệ:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Hoạt động khoa học và công nghệ; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; sở hữu trí tuệ; ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ; an toàn bức xạ và
Trang 40hạt nhân
14 Sở Giáo dục và Đào tạo:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Chương trình, nội dung giáo dục và đào tạo; nhà giáo và công chức, viên chức quản lý giáo dục;
cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ
15 Sở Y tế:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thân; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình
16 Thanh tra tỉnh:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tinh quản lý nhà nước về: Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tổ cáo và phòng, chống tham nhũng
17 Văn phòng ủy ban nhân dân:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tinh về: Chương trình, kế hoạch công tác;
tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của ủy ban nhân dân, Chù tịch Uy ban nhân dân cấp tỉnh; đầu mối cổng thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chì đạo điều hành cùa ủy ban nhân dân, Chủ tịch
ủy ban nhân dân cấp tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động chung của ủy ban nhân dân cấp tỉnh; giúp Chủ tịch ủy ban nhân dân và các Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư
- lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng
Điều 9 Các sở đặc thù được tổ chức ở một số địa phương
1 Sở Ngoại vụ:
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Công tác ngoại
vụ và công tác biên giới lãnh thổ quốc gia (đối với những tỉnh có đường biên giới)
Sở Ngoại vụ được thành lập khi đáp ứng các tiêu chí sau:
a) Có đường biên giới trên bộ và có cửa khẩu quốc tế hoặc quốc gia; b) Đối với những tỉnh không có đường biên giới, nhưng phải có đủ các điều kiện sau:
- Có các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế
mở, Khu kinh tế cửa khẩu được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập;
- Có khu du lịch quốc gia hoặc di sản văn hóa được UNESCO công nhận Những tỉnh không đủ tiêu chí thành lập Sở Ngoại vụ thì được thành lập Phòng Ngoại vụ thuộc Văn phòng ủy ban nhân dân cấp tinh Phòng Ngoại vụ chịu sự chi đạo trực tiếp của ủy ban nhân dân cấp tỉnh Văn phòng ủy ban nhân dân cấp tỉnh bảo đảm cơ sở vật chất và hành chính quản trị cho hoạt động của Phòng Ngoại vụ