279 Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng phát triển Bắc Ninh
Trang 1MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam được Chính phủ giao nhiệm
vụ quản lý cho vay vốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam không vì mục tiêu lợi nhuậnnhưng bảo đảm sử dụng vốn an toàn, hiệu quả và góp phần thúc đẩy kinh tếđất nước Trong những năm tới, hệ thống Ngân hàng Phát triển từng bước xâydựng và phát triển trở thành tổ chức tài chính có uy tín trong và ngoài nướcvới phương châm hoạt động là phát triển bền vững hiệu quả và hội nhập Đểđạt được mục tiêu này, một trong những khâu quan trọng cần được quan tâm
là thẩm định tài chính dự án Thẩm định tài chính dự án có chất lượng tốt sẽgóp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của Ngân hàng
Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh là đơn vị trực thuộc Ngânhàng Phát triển Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ tín dụng đầu tư và tín dụngxuất khẩu của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Trong những năm quaChi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh đã thực hiện thẩm định cho vay các
dự án trên địa bàn tỉnh, nhiều dự án phát huy hiệu quả góp phần thúc đẩy pháttriển kinh tế địa phương Tuy nhiên trong quá trình thẩm định cho vay nhữngnăm qua cho thấy chất lượng thẩm định tài chính dự án còn thấp so với mụctiêu, còn bộc lộ những bất cập, gây ảnh hưởng xấu đến kết quả đầu tư
Trong thời gian tới, để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển công nghiệp,nhu cầu cho vay theo dự án là rất lớn, nếu không nâng cao chất lượng thẩmđịnh tài chính dự án thì nguy cơ tổn thất của Ngân hàng sẽ không nhỏ Nhằm
góp phần đáp ứng đòi hỏi bức súc của thực tiễn, tôi chọn đề tài “ Nâng cao
chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng phát triển Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ
Trang 23 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu chất lượng thẩm định tài chính dự
án của Ngân hàng Phát triển
- Phạm vi nghiên cứu: chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạtđộng cho vay dài hạn của chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh, thời gian
từ năm 2003 đến năm 2007
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trongquá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng phương pháp so sánh, phươngpháp phân tích, tổng hợp và nghiên cứu tình huống
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính
dự án trong hoạt động cho vay của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh
Trang 36 Nội dung kết cấu của đề tài gồm 3 chương
Chương1: Cơ sở lý luận về chất lượng thẩm định tài chính dự án tronghoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triển
Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạtđộng cho vay của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự ántrong hoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng Phát triển
1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng Phát triển
Các định chế tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạonguồn lực cho sự phát triển trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốcgia Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, Chính phủ nhiều quốc gia trênthế giới đã thành lập những định chế tài chính của Nhà nước nhằm tập trungnguồn lực về vốn phục vụ cho mục tiêu phát triên kinh tế - xã hội mà bản thânkhu vực tài chính tư nhân không đáp ứng đuợc, các tổ chức này được hìnhthành với các tên gọi khác nhau ở các quốc gia khác nhau nhưng tựu chung lại
là các tổ chức tài trợ phát triển (DFI)
Lịch sử phát triển kinh tế của một số nước trên thế giới và trong khuvực Đông nam Á đã cho thấy mô hình các tổ chức tài trợ phát triển của chínhphủ rất có hiệu quả trong việc phát triển kinh tế quốc gia, ngày càng đượcnhiều nước áp dụng Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nước lâm vàotình trạng nền kinh tế kiệt quệ (điển hình là Nhật Bản) và họ phải bắt tay xâydựng và khôi phục vực lại nền kinh tế trong điều kiện các nguồn lực đều hạnchế Nhiệm vụ quan trọng đặt ra ở các quốc gia này là xây dựng cơ sở hạ tầngtạo nền tảng cho sự phát triển công nghiệp, các ngành kinh tế mới và khuyếnkhích xuất khẩu để thu ngoại tệ Chính phủ các nước này đã thành lập đượccác định chế tài chính Nhà nước nhằm thu hút và tập trung nguồn lực để đầu
tư cho các chương trình mục tiêu kinh tế trọng điểm quốc gia Điển hình làNhật Bản thành lập Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (JDB), ở Châu Âu thànhlập Ngân hàng đầu tư châu Âu (EIB), ở Đức thành lập Ngân hàng tái thiết
Trang 5Đức (KFW), ở Hàn Quốc thành lập Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB).Các Ngân hàng này đã thực sự phát huy hiệu quả trong việc hỗ trợ nền kinh tếcác nước thoát khỏi khó khăn và phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởngcao trong nhiều năm Mô hình này thể hiện được vai trò tích cực của nó đốivới sự phát triển của quốc gia và cũng đã được nhiều nuớc áp dụng, nhất làcác nước đang phát triển
Trong những thập niên cuối của thế kỷ 20, Chính phủ các nước Đôngnam Á đã hỗ trợ phát triển các thị trường tài chính bằng cách hoàn thiện cácđịnh chế tài chính Nhà nước nhằm thực thi chính sách phát triển kinh tế quốcgia và cung cấp tín dụng cho các lĩnh vực mà tài chính tư nhân không đủ sức
để thực hiện, một loạt các Ngân hàng Phát triển đã thành lập để thực thinhiệm vụ này Điển hình là Ngân hàng Phát triển Singapore (DBS), Ngânhàng Phát triển Malaixia (BPMP), Ngân hàng Phát triển Philippine (DBP),Ngân hàng Phát triển Indonexia (BAPINDO), Việt Nam đã thành lập Ngânhàng Phát triển Việt nam (VDB) năm 2006 Hiện nay có nhiều nước trên thếgiới đã thành lập các tổ chức tài chính theo mô hình hoạt động của Ngân hàngPhát triển
Từ việc xem xét quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Pháttriển của các quốc gia trên thế giới, có thể đưa ra khái niệm về Ngân hàngPhát triển như sau:
“Ngân hàng Phát triển là tổ chức tài chính Nhà nước thực hiện nhiệm
vụ hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thông qua thực thi các chính sáchtài chính tín dụng của Chính phủ.”
Từ khái niệm về Ngân hàng Phát triển, cho thấy:
- Ngân hàng Phát triển là tổ chức tài chính của Nhà nước và do Nhànước thành lập
Trang 6- Nhiệm vụ của Ngân hàng Phát triển là hỗ trợ thúc đẩy sự phát triểncủa nền kinh tế quốc gia theo mục tiêu đã định.
- Hoạt động của Ngân hàng Phát triển trên cơ sở các chính sách về tàichính tín dụng của Chính phủ quy định
1.1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng Phát triển
Cũng là Ngân hàng, nhưng mô hình tổ chức hoạt động của Ngân hàngPhát triển có nhiều khác biệt so với mô hình tổ chức hoạt động của các Ngânhàng thương mại, thể hiện qua những đặc điểm sau:
- Ngân hàng Phát triển do Chính phủ thành lập và thuộc sở hữu củaChính phủ hoặc Chính phủ giữ tỷ lệ vốn lớn, trong khi các Ngân hàngThương mại không có vốn của Nhà nước tham gia (các Ngân hàng cổ phần)hoặc tham gia không nhiều; hình thức sở hữu của các ngân hàng này phổ biến
là sở hữu tư bản tư nhân hoặc vốn cổ phần
- Ngân hàng Phát triển có quan hệ mật thiết với Chính phủ và hoạtđộng theo cơ chế điều hành riêng của Chính phủ và các Bộ, Ngành có liênquan (cơ quan quản lý Ngân sách Nhà nước, các Bộ chuyên ngành, cơ quanxây dựng kế hoạch phát triển kinh tế đất nước) Các Ngân hàng thương mạihoạt động theo mô hình của một doanh nghiệp trong nền kinh tế
- Khác với các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Phát triển hoạt độngkhông vì mục đích lợi nhuận mà mục tiêu chính là tài trợ hỗ trợ phát triểnKinh tế - xã hội theo chương trình mục tiêu của Chính phủ trong từng thời kỳ.Trong khi các Ngân hàng thương mại hoạt động với mục tiêu chính là lợinhuận
- Từ những đặc điểm về mục tiêu hoạt động và hình thức sở hữu củaNgân hàng Phát triển do Chính phủ chi phối, dẫn đến hoạt động của Ngânhàng Phát triển mang tính chất tuân thủ và chịu sự chi phối nhiều bởi cơ chế
Trang 7chinh sách của Chính phủ, tính tự quyết và linh hoạt trong điều hành thựchiện không được chủ động bằng các Ngân hàng thương mại.
- Hoạt động của Ngân hàng Phát triển chủ yếu tập trung vào cung cấptín dụng trung dài hạn, trong khi các ngân hàng thương mại tỷ lệ tín dụngngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn Xuất phát từ mục tiêu hoạt động của Ngân hàngPhát triển là hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, do vậy các hoạtđộng đầu tư của Ngân hàng Phát triển thường dành những dự án lớn, có thờigian dài và tính rủi ro cao mà các Ngân hàng thương mại không đủ vốn đầu tưhoặc không muốn đầu tư
1.1.1.3 Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Phát triển
Với chức năng là tổ chức tài chính của Chính phủ, Ngân hàng Phát cácnước đều hoạt động theo đuổi mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hộithông qua các hoạt động nghiệp vụ về tài chính tín dụng Qua tham khảo môhình hoạt động của một số nước trên thế giới và khu vực thì tuỳ theo chínhsách phát triển kinh tế của mỗi nước từng thời kỳ mà hoạt động của Ngânhàng Phát triển có những đặc điểm riêng và không nhất nhất tuân thủ theomột mô hình nhất định nào đó Tuy nhiên Ngân hàng Phát triển các nước tậptrung vào một số hoạt động chủ yếu sau:
- Tiếp nhận vốn từ Ngân sách Nhà nước, huy động vốn từ nền kinh tếchủ yếu thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ và huy động vốn từ các tổchức kinh tế để thực hiện hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
- Cho vay dài hạn đầu tư trực tiếp các dự án theo chương trình mục tiêucủa Chính phủ với mức lãi suất thấp, thời gian vay vốn thường kéo dài và có
ưu tiên về tài sản bảo đảm
- Cho vay hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu và hỗ trợ xuất khẩu (cho vay
hỗ trợ xuất khẩu) Trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế, các nước đều tậptrung phát huy tiềm năng và thế mạnh của mình đẩy mạnh sản xuất hàng xuất
Trang 8khẩu sang các nước khác để thu ngoại tệ cho quốc gia mình Chính phủ cácnước có nhiều biện pháp hỗ trợ để thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu, trong đócho vay hỗ trợ xuất khẩu là một trong những biện pháp được nhiều nước ápdụng và họ đã thành công.
- Một số hình thức hỗ trợ gián tiếp cho các tổ chức kinh tế thông quacác nghiệp vụ: bảo lãnh vay vốn tín dụng đầu tư, bảo hiểm tín dụng, tín dụngngười mua, cho thuê tài chính, hỗ trợ sau đầu tư cho các dự án và các hoạtđộng được ưu tiên khuyến khích của Chính phủ, nhằm đẩy mạnh phát triểnkinh tế xã hội theo mục tiêu chiến lược của quốc gia
- Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng như hiệnnay, để bảo đảm công bằng trong sân chơi Quốc tế hình thức hỗ trợ trực tiếp(cho vay đầu tư với những ưu đãi riêng) có xu hướng dần bị thu hẹp và cácQuốc gia quan tâm đến các hình thức hỗ trợ gián tiếp
1.1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triển
Hoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triển bao gồm: cho vay ngắnhạn xuất khẩu hàng hoá, sản xuất hàng xuất khẩu và cho vay đầu tư các dự án.Hình thức cho vay dự án dài hạn được áp dụng nhiều ở một số nước
Cho vay đầu tư là cho nhà đầu tư vay vốn để thực hiện dự án
- Hoạt động cho vay đầu tư được thực hiện từ khâu thẩm định để quyếtđịnh cho vay đến khi thu hồi hết nợ vay theo trình tự các bước gồm:
+ Tiếp nhận hồ sơ và thẩm định: Ngân hàng tiếp nhận hồ sơ dự án và
hồ sơ chủ đầu tư tiến hành thẩm định theo các nội dung quy định Kết quả củaquá trình thẩm định là các nhận xét đánh giá về dự án đầu tư và chủ đầu tư,các kiến nghị đề xuất về việc tài trợ dự án thông qua báo cáo thẩm định
+ Quyết định cho vay: trên cơ sở kết quả thẩm định và tham khảo ýkiến khác, người có thẩm quyền ra quyết định và các điều kiện cho chủ đầu tưvay vốn tài trợ dự án (đối với trường hợp đồng ý cho vay)
Trang 9+ Giải ngân và giám sát cho vay: sau khi quyết định cho vay, bộ phậnquản lý tín dụng tiến hành làm hồ sơ theo quy định và giải ngân cho vay đầu
tư dự án, theo dõi tình hình hoạt động của dự án khi vận hành sản xuất và đônđốc thu nợ
+ Xử lý nợ và thanh lý hợp đồng: trường hợp dự án không trả được nợ,Ngân hàng áp dụng các biện pháp xử lý nợ theo quy định để thu hồi nợ vay.Kết thúc quá trình cho vay (khi Người vay trả hết nợ hoặc khoản nợ xấu đãđược xử lý) ngân hàng thực hiện thanh lý hợp đồng tín dụng với người vay
- Ngân hàng Phát triển tiếp nhận và huy động vốn cho vay gồm: vốn từNgân sách Nhà nước, vốn huy động của các tổ chức kinh tế, chính trị, pháthành trái phiếu và các nguồn huy động hợp pháp khác
- Lãi suất cho vay do Nhà nước quy định tuỳ theo đối tượng ưu tiênkhuyến khích của Chính phủ đối với từng ngành nghề, lĩnh vực trong giaiđoạn phát triển nhất định Thông thường lãi suất cho vay đầu tư được ưu đãi(thấp hơn) lãi suất thị trường; lãi suất cho vay có thể cố định trong suốt thờigian vay vốn hoặc cũng có thể thả nổi tuỳ thuộc vào ngành nghề đầu tư vànăng lực quản lý của nhà đầu tư
- Mức vốn cho vay, vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước thường chiếm tỷ
lệ cao trong tổng số vốn đầu tư tài sản cố định dự án (ở Việt Nam tỷ lệ này là70%), ngoài ra nhà đầu tư phải huy động nguồn vốn tự có của mình và cácnguồn vốn hợp pháp khác để đầu tư dự án
- Thời gian cho vay được xác định trên cơ sở tiến độ thực hiện và khảnăng sinh lợi của dự án Thời gian cho vay tính từ khi chủ đầu tư ký nhậnmón vay đầu tiên đến khi trả hết nợ vay, bao gồm thời gian ân hạn và thờigian trả nợ Do đặc điểm của tín dụng đầu tư là thường cho vay dự án có mứcsinh lời thấp, thời gian cho vay thường kéo dài, có dự án lên tới 10 năm hoặchơn nữa
Trang 10- Thu hồi nợ vay: vốn cho vay được thu hồi vào nhiều kỳ trong thờigian vay vốn, mức vốn trả nợ được xác định trên cơ sở cân đối nguồn trả nợcủa dự án từng giai đoạn; trường hợp dự án gặp khó khăn và không trả được
nợ, tuỳ theo mức độ và nguyên nhân có những biện pháp xử lý phù hợp
- Bảo đảm tiền vay: đối với cho vay đầu tư, việc bảo đảm tiền vay được
ưu tiên hơn so với cho vay thương mại, nhằm tạo điều kiện cho dự án triểnkhai thuận lợi để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ.Giá trị bảo đảm tiền vay trong cho vay đầu tư có thể thấp hơn so với số vốnvay hoặc được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay
Cho vay đầu tư của Ngân hàng Phát triển có những đặc điểm khác vớicho vay của các ngân hàng thương mại, thể hiện qua một số điểm sau:
- Chủ thể cho vay đầu tư là Ngân hàng Phát triển, còn trong quan hệ tíndụng của các tổ chức tín dụng khác thì chủ thể cho vay là các thành phần kinh
tế khác (NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, Công ty tài chính )
- Đối tượng cho vay đầu tư của NHPT tập trung vào đầu tư cơ sở hạtầng kinh tế - xã hội, các lĩnh vực an sinh xã hội, phát triển các vùng kinh tếtrọng điểm trong của quốc gia Đối tượng vay vốn của các NHTM không hạnchế về khách hàng vay vốn và lĩnh vực ngành nghề sản xuất kinh doanh
- Ngân hàng Phát triển hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà mụctiêu chính là hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội hướng tới sự phát triển kinh tếbền vững Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng thương mại là tối đa hoá lợinhuận, các lợi ích xã hội thường ít được quan tâm
- Hoạt động cho vay đầu tư của Ngân hàng Phát triển tương đối độclập, không mang tính cạnh tranh với hoạt động cho vay của các Ngân hàngthương mại Bởi lẽ Ngân hàng Phát triển có chức năng nhiệm vụ riêng biệt doChính phủ quy định, từ việc huy động nguồn vốn đến chính sách cho vay đềuđược sự tài trợ và chi phối từ Chính phủ
Trang 11Mặc dù có những đặc điểm rất khác biệt giữa hoạt động cho vay củaNgân hàng Phát triển và hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại,song hoạt động cho vay của bất kỳ ngân hàng nào cũng nhằm hướng tới mụctiêu hiệu quả và an toàn Các Ngân hàng đều hướng tới giảm thiểu rủi ro vànâng cao chất lượng tín dụng, một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tớichất lượng tín dụng của một ngân hàng là chất lượng thẩm định tài chính dự
án Bởi vậy khi quyết định cho vay, chất lượng thẩm định dự án trong hoạtđộng cho vay có vai trò cực kỳ quan trọng và được quan tâm đặc biệt
1.2 CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1.2.1 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triển.
1.2.1.1 Khái niệm và sự cần thiết thẩm định tài chính dự án trong hoạtđộng cho vay của Ngân hàng Phát triển
Có nhiều khái niệm, định nghĩa về dự án tuỳ thuộc vào mục tiêu hoặccách tiếp cận của người nghiên cứu Đứng trên giác độ nghiên cứu về tàichính dự án, tác giả đồng ý với khái niệm về dự án: “Dự án là tổng thể cáchoạt động dự kiến với các nguồn lực và chi phí cần thiết, được bố trí theo lịchchặt chẽ với các thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cảitạo những đối tượng nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xãhội nhất định.” (16- tr 73)
Tuy có nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau về dự án, song về cơ bảnmột dự án bao giờ cũng bao gồm các nội dung sau:
- Mục tiêu đầu tư của dự án: phản ánh những kết quả và lợi ích mà dự
án mang lại cho nhà đầu tư và cho xã hội
Trang 12- Các hoạt động của dự án: bao gồm các giải pháp về tổ chức, kinh tế,
kỹ thuật để thực hiện dự án theo mục tiêu đã đề ra
- Các nguồn vốn đầu tư cho dự án
- Phân loại dự án theo người khởi xướng: dự án cá nhân, dự án tập thể,
dự án quốc gia hay dự án liên quốc gia
- Phân theo ngành kinh tế - xã hội: dự án thương mại, dự án xây dựng
cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội
- Xét theo thời gian hoạt động: dự án ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
- Phân theo quy mô vốn đầu tư: được chia thành dự án nhóm A, nhóm
B, nhóm C và nhóm đặc biệt
Thẩm định tài chính dự án:
Để đưa ra quyết định cho vay đúng đắn, thì thẩm định tài chính dự án làkhâu không thể thiếu và thẩm định tài chính dự án là khâu quan trong nhấttrong thẩm định cho vay dự án
“Thẩm định tài chính dự án là rà soát và đánh giá một cách khoa họccác khía cạnh tài chính của dự án nhằm xác định tính khả thi về tài chính của
dự án”
Thẩm định tài chính dự án cần phải đạt được những yêu cầu
- Thẩm định tài chính dự án, người thẩm định phải xém xét đánh giácác chỉ tiêu tài chính dự án (tổng mức đầu tư, doanh thu, chi phí, xác địnhdòng tiền, chỉ số đánh giá hiệu quả tài chính và phân tích rủi ro dự án) mộtcách kỹ lưỡng trong mối quan hệ logic giữa các chỉ tiêu tài chính của dự án
Trang 13- Thẩm định tài chính dự án không phải là một nội dung thẩm định độclập mà có liên quan mật thiết đến các nội dung khác của dự án như: thị trườngtiêu thụ sản phẩm để xác định doanh thu và chi phí hoạt động, hoặc giải phápxây dựng và lựa chọn thiết bị công nghệ để dự toán vốn tư dự án.
- Kết quả thẩm định tài chính dự án đưa ra những đánh giá về tài chínhcủa dự án, được thể hiện thông qua số liệu và chỉ số phân tích rõ ràng giúpngười ta có thể nhận biết dễ dàng về khả năng mức độ sinh lời của dự án, giúpcho nhà đầu tư có thông tin để phân tích và quyết định đầu tư dự án
- Thẩm định tài chính dự án phải tuân thủ theo nguyên tắc khách quan
và khoa học Các chỉ tiêu tính toán, các kết luận đưa ra của báo cáo thẩm địnhtài chính đều phải dựa trên những cơ sở về lý luận và thực tiễn và phải mangtính logic và khoa học, kết quả thẩm định không gắn liền với ý trí chủ quancủa cá nhân người thẩm định
- Thẩm định tài chính là nội dung quan trọng trong thẩm định dự án.Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào đối tượng quản lý dự án, thẩm định tài chính dự ánđược quan tâm ở mức độ khác nhau: đối với nhà đầu tư và các tổ chức tíndụng, thẩm định tài chính dự án được quan tâm nhiều và nó có vai trò quyếtđịnh trong việc quyết định đầu tư, tài trợ dự án; đối với chính phủ và các cơquan quản lý vĩ mô thì lại quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả kinh tế - xã hội
- Thẩm định tài chính dự án là quá trình tính toán và phân tích để lựachọn sàng lọc những được dự án tốt hoạt động có hiệu quả theo mục tiêu đãđịnh, loại bỏ những dự án có khả năng phát huy hiệu quả thấp hoặc gây tổnhại cho xã hội
Phuơng pháp thẩm định tài chính dự án
Phương pháp thẩm định tài chính dự án là cách thức thẩm định nhằmđạt được những yêu cầu đặt ra đối với thẩm định tài chính dự án Việc thẩmđịnh dự án có thể theo nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp thẩm
Trang 14định theo trình tự, phương pháp so sánh, phân tích tình huống, phương pháp
dự báo và phương pháp triệt tiêu rủi ro
Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng Pháttriển rất cần thiết, do:
Thứ nhất, thẩm định tài chính dự án để giúp nhà đầu tư lựa chọn dự án
tốt, loại bỏ dự án xấu: thực tế, không ít dự án được lập sơ sài mang tính phiếndiện, chủ quan và thiếu cân nhắc tổng thể các vấn đề liên quan đến dự án;hoặc dự án được đề xuất đầu tư theo phong trào mang tính cục bộ địa phương
và xem nhẹ hiệu quả tài chính của dự án Nếu coi nhẹ công tác thẩm định tàichính dự án, cho vay đầu tư theo kiểu xuôi chiều đối với các dự án này sẽ dẫnđến những tổn thất cho Ngân hàng và xã hội Do vậy thẩm định tài chính dự
án trước khi quyết định cho vay dự án là rất cần thiết, nhằm phân tích đánhgiá khách quan hiệu quả tài chính dự án, loại bỏ những dự án kém hiệu quả
Thứ hai, thẩm định tài chính dự án để lựa chọn cân đối dự toán ngânsách đầu tư dự án: thẩm định tài chính dự án nhằm xác định được tổng số vốnđầu tư dự án và nhu cầu vốn đầu tư theo từng thời kỳ, từ đó giúp cho các nhàđầu tư có thể chủ động trong việc lập dự toán ngân sách đầu tư và có kế hoạchhuy động vốn đối với các nguồn vốn tham gia đầu tư dự án có hiệu quả nhất
và tránh được tình trạng mất cân đối về nguồn vốn tài trợ dự án, nhất là nguồnvốn ngân sách Nhà nước
Thứ ba, thẩm định tài chính dự án nhằm đưa ra được cảnh báo rủi rocủa dự án từ đó có giải pháp khắc phục: thông qua thẩm định tài chính dự án,bằng các phương pháp tính toán và phân tích tài chính có thể xác định đượcmức độ rủi ro mà dự án chịu đựng đuợc, từ đó có những cảnh báo hạn chế rủi
ro, bác bỏ những dự án có mức rủi ro lớn hoặc đưa ra các giải pháp đầu tưthích hợp nhằm hạn chế tối đa rủi ro vốn đầu tư trong những trường hợp bấtkhả kháng
Trang 151.2.1.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án
Thẩm định tài chính dự án bao gồm tính toán xác định các vấn đề liênquan đến tài chính và hiệu quả tài chính dự án, như sau:
- Thẩm định tổng dự toán vốn đầu tư (tổng mức đầu tư của dự án):Khi xây dựng dự án đầu tư, người lập dự án phải tính toán mức vốn cầnthiết để đầu tư dự án hay còn gọi là tổng mức đầu tư dự án Tổng mức đầu tư
dự án là số tiền dự tính phải chi ra hình thành nên tài sản cố định và tài sảnlưu động đảm bảo cho dự án vận hành và hoạt động và tạo ra sản phẩm
+ Chi phí để hình thành nên tài sản cố định là tất cả các khoản chi phí
bỏ ra từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn kết thúc quá trình đầu tư đưa
dự án vào vận hành sản xuất kinh doanh, bao gồm chi phí đến bù giải phòngmặt bằng, xây dựng nhà xưởng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật, thuê đất …, muasắm thiết bị công nghệ chuyển giao công nghệ và các chi phí khác
+ Chi phí hình thành tài sản lưu động bao gồm những chi phí chủ đầu
tư chi ra để mua nguyên vật liệu, trả lương, mua sắm công cụ dụng cụ phục
vụ sản xuất và khoản tiền mặt trong thanh toán
+ Xét về cơ cấu hình thành, trong dự toán vốn đầu tư xây dựng (tổngmức đầu tư dự án) gồm chi phí xây dựng lắp đặt, chi phí mua sắm thiết bị, chiphí khác, chi phí dự phòng và chi phí đầu tư tài sản lưu động
* Những căn cứ dự tính tổng mức đầu tư dự án:
Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, việc xác định tổng mức đầu tư dự án cóthể căn cứ vào suất đầu tư Người ta có thể căn cứ vào suất đầu tư của những
dự án đầu tư có cùng tiêu thức chung về ngành nghề, quy mô hoặc vùng miền
để làm cơ sở dự kiến tổng mức đầu tư dự án; phương pháp tính này thường ápdụng để dự toán vốn đầu tư trong giai đoạn đầu tìm kiếm cơ hội đầu tư Đốivới một dự án cụ thể thì việc dự kiến tổng mức đầu tư dự án căn cứ trên cáctiêu thức sau:
Trang 16+ Căn cứ hồ sơ thiết kế cơ sở của dự án và đơn giá tổng hợp để kháitoán các chi phí xây dựng và lắp đặt.
+ Căn cứ vào giá chào hàng của thiết bị trên thị trường để xác định chiphí mua thiết bị công nghệ
+ Căn cứ vào định mức đơn giá của Nhà nước quy định để tính cáckhoản chi phí khác tính theo tỷ lệ (chi phí thuê tư vấn, chi phí quản lý )
+ Căn cứ vào chế độ quy định hiện hành của Nhà nước về chi phí đầu
tư như tiền thuê đất, các loại thuế và lệ phí liên quan đến đầu tư dự án
+ Căn cứ vào quy mô công suất, các định mức chi phí và kế hoạch kinhdoanh dự kiến để tính chi phí cần thiết đầu tư cho tài sản lưu động
* Thẩm định tổng vốn đầu tư và các yếu tố ảnh hưởng đến tổng mứcđầu tư
Khi thẩm định phải xem xét đánh giá tổng vốn đầu tư của dự án đãđược tính toán hợp lý hay chưa, tổng vốn đầu tư đã tính đủ các khoản cầnthiết chưa, cần xem xét các yếu tố làm tăng chi phí do trượt giá do phát sinhthêm khối lượng hoặc thay đổi tỷ giá ngoại tệ (dự án có sử dụng ngoại tệ)
Trên cơ sở những dự án tương tự đã thực hiện và được đúc rút ở những
dự án đã đầu tư cùng loại (quy mô, ngành nghề và kỹ thật công nghệ), cán bộthẩm định có thể so sánh các chỉ tiêu (về suất vốn đầu tư, kỹ thuật công nghệ,
về các hạng mục thực sự cần thiết và chưa thực sự cần thiết trong giai đoạnthực hiện đầu tư, v.v), nếu thấy có sự khác biệt lớn ở bất kỳ một chỉ tiêu nàothì phải tập trung phân tích, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra nhận xét
- Thẩm định nguồn vốn tài trợ cho dự án
Sau khi xác định được tổng mức đầu tư dự án, cần phải thẩm địnhphương án huy động các nguồn vốn tài trợ cho dự án Nguồn vốn tài trợ dự ánbao gồm vốn chủ sở hữu, vay nợ, thuê tài sản (leasing), hoặc một dự án có thể
sử dụng kết hợp các phương thức tài trợ trên
Trang 17+ Vốn chủ sở hữu (vốn tự có): là vốn của chủ đầu tư bỏ ra để đầu tư dự
án từ tài sản của doanh nghiệp, bao gồm các nguồn chủ yếu là nguồn vốn tíchluỹ từ thu nhập của doanh nghiệp dùng để tái đầu tư, phát hành cổ phiếu (đốivới công ty cổ phần) và thặng dư vốn do phát hành cổ phiếu
+ Vốn vay nợ: chủ đầu tư vay vốn của các tổ chức tín dụng đầu tư tàisản cố định, vay tín dụng ngắn hạn để đầu tư tài sản lưu động; vay tín dụngthương mại, phát hành trái phiếu vay vốn từ các tổ chức và cá nhân trong nềnkinh tế
+ Thuê tài sản (leasing): đây là hình thức thuê tài sản để đầu tư sản xuấtkinh doanh trong đó bên cho thuê (chủ sở hữu tài sản) cho người thuê (người
sử dụng tài sản) được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản thuê trongthời gian nhất định để kinh doanh đồng thời phải trả cho Bên cho thuê một sốtiền về quyền sử dụng tài sản đó
Một dự án có thể được tài trợ vốn bởi một trong các hình thức trên,hoặc được tài trợ hỗn hợp nhiều hình thức Khi thẩm định về nguồn vốn tàitrợ dự án cần xác định nhu cầu vốn đầu tư theo tiến độ thực hiện dự án, nguồnvốn đầu tư và tính khả thi của các nguồn vốn tài trợ dự án; khả năng đáp ứngnhu cầu vốn trong từng giai đoạn thực hiện dự án để đảm bảo tiến độ thi công
dự án Ngoài ra, cần phải xem xét tỷ lệ và tiến độ của các nguồn vốn tham gia
có hợp lý hay không, thông thường vốn tự có phải tham gia đầu tư trước
- Thẩm chi phí, lợi ích và dòng tiền của dự án
* Doanh thu:
Doanh thu là nguồn thu dự kiến từ việc bán sản phẩm, dịch vụ trực tiếptạo ra từ dự án Doanh thu dự án hàng năm được xác định trên cơ sở kế hoạchsản xuất kinh kinh doanh tiêu thụ sản phẩm và giá bán sản phẩm
Doanh thu của dự án là số dự kiến, do vậy khi thẩm định phải xem xét
cơ sở tính toán doanh thu như: mức huy động công suất so với công suất thiết
Trang 18kế, tiến độ thực hiện dự án và dự báo khả năng tham gia vào thị trường củasản phẩm sản xuất để dự kiến hệ số phát huy công suất hàng năm hợp lý haykhông; giá bán đơn vị sản phẩm có phù hợp với giá thị trường hiện tại vàchiều hướng biến động giá sản phẩm trong thời gian hoạt động của dự án đểđưa ra mức giá hợp lý để tính doanh thu.
* Chi phí hoạt động:
Chi phí hoạt động là toàn bộ chi phí bỏ ra để tổ chức sản xuất và tiêuthụ sản phẩm Bao gồm chi phí hoạt động sản xuất (chi phí mua nguyên vậtliệu, năng lượng, trả lương, các chi phí khác…) và chi phí tiêu thụ sản phẩm
Khi thẩm định, cần xem xét lại tính đầy đủ của các yếu tố chi phí cầnthiết để tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; xem xét sự hợp lý của các yếu
tố chi phí tạo nên giá thành sản phẩm như: giá mua nguyên vật liệu và nănglượng, chi trả tiền lương, định mức tiêu hao nguyên vật liệu và các chi phítính theo tỷ lệ % so doanh thu sản phẩm; xem xét đến sự phù hợp với chínhsách chế độ của Nhà nước quy định về quản lý tài chính doanh nghiệp
* Dự báo kết quả sản xuất kinh doanh:
Trên cơ sở doanh thu, chi phí hoạt động, lãi vay và thuế để xác định kếtquả sản xuất kinh doanh hàng năm (lợi nhuận sau thuế) của dự án Khi thẩmđịnh kết quả kinh doanh dự án, cần phải xem xét sự chuẩn xác trong tính toán,xác định đúng khoản lãi vay phải trả, các khoản thuế phải nộp, có xem xétđến chế độ miễn giảm thuế theo quy định của Nhà nước Sau khi thẩm định sựhợp lý đúng đắn của các yếu tố trên, lập bảng tính toán kết quả kinh doanhhàng năm của dự án
* Thẩm định dòng tiền của dự án
Trang 19Dòng tiền của một dự án là các khoản chi và thu được dự kiến xuấthiện tại các mốc thời gian (thường tính hàng năm) trong suốt chu kỳ của dự
án
Khi bỏ vốn đầu tư vào một dự án, Nhà đầu tư phải tính toán nhữngkhoản chi phí phải bỏ ra và dự kiến những khoản thu về qua các năm trongsuốt quá trình hoạt động của dự án, từ đó xác định được lợi ích mang lại tư từhoạt động đầu tư dự án; vấn đề này được các nhà đầu tư cũng như các nhà tàitrợ quan tâm khi quyết định đầu tư dự án đó là dòng tiền của dự án Dòng tiềnphát sinh trong suốt chu kỳ hoạt động của dự án theo các mốc thời gian khácnhau, do tiền có giá trị theo thời gian nên không thể so sánh giá trị dòng tiền ởcác mốc thời gian khác nhau mà phải quy về một thời điểm để so sánh, thôngthường người ta quy dòng tiền trong tương lai về hiện tại theo một tỷ lệ chiếtkhấu (r) thích hợp để tính toán hiệu quả tài chính dự án
Dòng tiền ròng của dự án được xác định trên cơ sở dòng tiền chi chohoạt động đầu tư; dòng tiền thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh qua các nămcủa dự án và dòng tiền thu được từ lợi ích dự án mang lại cho nền kinh tế
Dòng tiền chi dự án được xác định bao gồm:
+ Chi phí đầu tư tài sản cố định: đây là những khoản chi phí bỏ ra đểhình thành tài sản cố định đã được dự kiến trong Tổng mức đầu tư dự án Chiđầu tư xây dựng dự án tương đối lớn và được chi ra theo tiến độ thực hiện đầu
tư dự án, thông thường đầu tư trong 1 năm, đối với các dự án có quy mô lớn
có thể kéo dài hơn
+ Chi phí cơ hội: chi phí cơ hội là chi phí mà nhà đầu tư đã bỏ ra từtrước đó đầu tư nên tài sản cố định, nay tài sản đó được sử dụng để đầu tư dựán; giá trị tài sản này là chi phí cơ hội và được tính vào chi phí đầu tư dự án
Trang 20Việc xác định chi phí cơ hội không căn cứ vào giá trị quá khứ (giá mua) màđược tính theo giá của tài sản đó ở thời điểm hiện tại
+ Chi phí chìm: Chi phí chìm là chi phí đã xuất hiện từ trước khi đầu tư
dự án và không thể bù đắp cho dù dự án có được chấp thuận hay không chấpthuận Có thể phân tích rõ hơn là chi phí chìm là khoản chi có trước, khôngliên quan đến sự tăng chi phí của dự án và không được tính vào chi phí đầu tư
dự án
+ Chi đầu tư vào vốn lưu động ròng: đối với dự án đầu tư vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh đều phải đầu tư vốn lưu động ròng Vốn lưu độngròng được tính bằng tổng tài sản lưu động trừ đi tài sản ngắn hạn Tổng tài sảnlưu động bao gồm các khoản chi cần thiết phục vụ quá trình sản xuất của dự
án và được xác định trong tổng mức đầu tư dự án Vốn lưu động ròng sẽ thayđổi qua các năm, sự thay đổi vốn lưu động ròng hàng năm tính bằng nhu cầuvốn lưu động năm sau trừ năm trước
+ Trả nợ vốn vay: là số vốn chủ đầu tư phải bỏ ra để trả nợ gốc cho các
tổ chức tín dụng Trả nợ vốn vay chỉ thực hiện đối với dự án đầu tư có sửdụng nguồn vốn vay và có ý nghĩa trong phân tích tài chính dự án đối với chủđầu tư Tuy nhiên, đối với cơ quan cho vay (Ngân hàng) khi thẩm định dòngtiền thường đứng trên quan điểm tổng mức đầu tư của dự án, chi phí trả nợvốn vay không xem xét khi xác định dòng tiền của dự án
Dòng tiền thu của dự án bao gồm:
+ Lợi nhuận sau thuế: đây là khoản thu nhập của nhà đầu tư sau khi lấydoanh thu trừ đi tất cả các khoản chi phí vận hành, các khoản thuế và lãi vay(nếu có) Lợi nhuận sau thuế là kết quả của việc đầu tư dự án, chủ đầu tư cóquyền được sử dụng và định đoạt Cũng lưu ý là lợi nhuận sau thuế của một tổchức sản xuất kinh doanh bao gồm cả lợi nhuận từ hoạt động tài chính và hoạt
Trang 21động khác, nhưng ở giác độ nghiên cứu thẩm định tài chính dự án chỉ đề cậpđến lợi nhuận sau thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh mà dự án mang lại.
+ Giá trị khấu hao tài sản cố định: giá trị khấu hao tài sản cố định đượchạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh hàng năm, nhưng thực chất đâykhông phải là khoản chi thực của nhà đầu tư, khoản chi này được hạch toántrên sổ sách để tính giá thành và hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh Giátrị khấu hao tài sản cố định là khoản thu hồi dần vốn đầu tư tài sản cố định màchủ đầu tư đã bỏ ra ban đầu thông qua tiền thu bán hàng hàng năm Trườnghợp tài sản cố định đi thuê, thì người sử dụng tài sản không được trích khấuhao tài sản cố định, không có khoản thu tài chính từ khấu hao tài sản cố định
+ Giá trị thu hồi vốn lưu động: khi dự án chuyển sang giai đoạn vậnhành sản xuất, nhà đầu tư cần phải bỏ thêm số vốn lưu động ban đầu để đầu tưvào tài sản lưu động (tồn kho, trả tiền lương…) Khi dự án kết thúc quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho được bán và không được thaythế, các khoản phải thu được chuyển thành tiền mặt, nhà đầu tư thu hồi đượcvốn lưu động bằng số vốn lưu động đã chi ra đầu tư tài sản lưu động Khoảnthu này có được vào năm hoạt động cuối cùng của dự án
+ Giá trị thu hồi tài sản cố định: kết thúc chu kỳ hoạt động của dự án,
dù cho giá trị tài sản cố định đã khấu hao hết hay không hết thì tài sản cố địnhvẫn còn giá trị thị trường nhất định Nhà đầu tư bán tài sản cố định ra thịtrường thu được một khoản tiền nhất đinh (gọi là tiền thu từ thanh lý tài sản
cố định); khoản tiền thu thanh lý tài sản cố định sau khi điều chỉnh (cộngthêm hoặc giảm trừ) với các khoản thuế phải nộp theo quy định từ tiền bánthanh lý tài sản cố đinh tạo nên luồng tiền thu ở năm cuối của dự án
* Đặc điểm của ngân hàng Phát triển hoạt động không vì mục tiêu lợinhuận, mục tiêu chính là hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Các
dự án Ngân hàng Phát triển cho vay có tác động tích cực cho sự nghiệp phát
Trang 22triển kinh tế - xã hội của quốc gia, những lợi ích dự án mang lại cho nền kinh
tế và xã hội là không nhỏ và cần được lượng hoá để xác định hiệu quả dự án.Khi thẩm định hiệu quả tài chính dự án, ngoài việc xem xét hiệu quả mang lạitrực tiếp từ dự án, cần quan tâm đến lợi ích mà dự án đem lại cho nền kinh tế,cho xã hội ( ví dụ: tăng thu nhập cho một số cộng đồng dân cư, giảm ô nhiễmmôi trường, tăng trình độ dân trí); những lợi ích này cần đuợc tính toán lượnghoá bằng giá trị để tính vào dòng thu (lợi ích) mang lại từ dự án Đây là đặcđiểm khác biệt của NHPT với các NHTM về thẩm định tài chính dự án, khithẩm dịnh cho vay các NHTM quan tâm chính đến khả năng trả nợ của dự án
do vậy họ chỉ quan tâm đến hiệu quả tài chính trực tiếp từ bản thân dự án màkhông cần quan tâm nhiều đến lợi ích dự án đem lại cho nền kinh tế, cho xãhội Xuất phát từ đặc điểm riêng của mình, khi thẩm định dòng tiền dự ánngoài việc xác định dòng tiền thu và chi trực tiếp từ dự án mang lại, cần tínhtoán đến giá trị của chi phí cũng như lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh
tế, cho xã hội
Từ phân tích trên cho thấy phương pháp xác định dòng tiền từng nămhoạt động của mỗi dự án tuỳ thuộc vào nguồn vốn đầu tư và đặc điểm riêngcủa từng dự án, có thể được tóm tắt như sau:
Dòng tiền chi (chi đầu tư)
+ Đối với dự án sử dụng toàn bộ bằng vốn tự có: gồm chi đầu tư tài sản
cố định + chi phí cơ hội (nếu có) + chi đầu tư vốn lưu động ròng
+ Đối với dự án sử dụng toàn bộ tài sản cố định thuê ngoài gồm: chiđầu tư vốn lưu động ròng
+ Đối với dự án sử dụng vốn vay gồm: gồm chi đầu tư tài sản cố định +chi phí cơ hội (nếu có) + chi đầu tư vốn lưu động ròng
Dòng tiền thu
Trang 23- Dòng tiền ròng từ hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Dự án sử dụng vốn vay và vốn tự có của nhà đầu tư, dòng tiền ròngbao gồm: lợi nhuận sau thuế + khấu hao tài sản cố định + thu hồi vốn lưuđộng ròng và thu thanh lý tài sản cố định
+ Dự án sử dụng tài sản cố định thuê ngoài, dòng tiền ròng chỉ có lợinhuận sau thuế và thu hồi tài sản lưu động ròng (nếu có)
- Dòng tiền thu được từ lợi ích dự án mang lại cho nền kinh tế
Thực tế một dự án có thể được tài trợ bởi nhiều nguồn vốn khác nhau,tuỳ từng trường hợp mà có thể tính các dòng thu, chi của dự án một cách hợp
lý theo nguyên tắc lấy dòng thu trừ dòng chi được dòng tiền của dự án
- Thẩm định lãi suất chiết khấu:
Sau khi xác định được dòng tiền của dự án qua các mốc thời gian trongchu kỳ hoạt động của dự án, nhưng không thể so sánh giá trị tiền ở các cácnăm với nhau vì tiền có giá trị theo thời gian, giải quyết vấn đề này người tathường quy đổi dòng tiền xuất hiện trong tương lai của dự án về thời điểmhiện tại để xác định hiệu quả tài chính của dự án theo một mức lãi suất chiếtkhấu nhất định (r) gọi là chi phí vốn của dự án
Lãi suất chiết khấu (r) được các nhà đầu tư lựa chọn như thế nào? suấtsinh lời tối thiểu mà nhà đầu tư yêu cầu có thể dùng làm lãi suất chiết khấu dự
án Chi phí vốn sẽ được xác định trên thị trường vốn và phụ thuộc vào rủi rocủa doanh nghiệp hay rủi ro của dự án, phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ của
dự án Mỗi nguồn vốn tài trợ cho dự án có chi phí vốn khác nhau, lãi suấtchiết khấu cho từng dự án phụ thuộc vào nguồn và tỷ lệ tài trợ vốn cho dự án,
cụ thể như sau:
+ Vốn đầu tư là nợ: nhà đầu tư vay nợ từ các tổ chức tín dụng hoặc pháthành trái phiếu để đầu tư dự án Trường hợp vay nợ của các tổ chức tín dụng,
Trang 24hàng năm phải trả lãi vay theo quy định, chính khoản lãi vay này được hạchtoán vào chi phí trước thuế làm giảm bớt một phần thu nhập chịu thuế, doanhnghiệp được lợi ra một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp bằng lãi vay phảitrả (x) thuế suất; khi này chi phí vốn được tính như sau: nếu ký hiệu chi phí
nợ trước thuế là Kd, và Tc là thuế suất thuế thu nhập của doanh nghiệp thì chiphí nợ sau thuế tính bằng = (1- Tc)x Kd Trường hợp vay nợ thông qua pháthành trái phiếu, thì lãi suất huy động nợ chính là lãi suất trái phiếu khi đáohạn với giả định những khoản đầu tư mới có mức độ rủi ro tương tự các tàisản hiện có
+ Vốn đầu tư là vốn chủ sở hữu: xem xét dưới góc độ một doanhnghiệp thì lợi tức kỳ vọng chính là chi phí vốn chủ sở hữu Để xác định chiphí vốn chủ sở hữu, thông thường hay áp dụng mô hình CAPM Theo môhình CAPM, thì suất sinh lời của khoản đầu tư xác định như sau:
Lãi suất phi rủi ro: Rf; chênh lệch lợi tức kỳ vọng thị trường và lợi tứcphi rủi ro: (Rm – Rf); hệ số Bêta của cổ phiếu: β
Lợi tức kỳ vọng được xác định: R = Rf + (Rm – Rf) β
Lãi suất phi rủi ro (Rf) có thể lấy bằng lãi suất trái phiếu Kho bạc đượcxác định thông qua kết quả đấu thầu; lãi suất đền bù phi rủi ro được xác địnhbằng chênh lệch giữa đầu tư danh mục thị trường và lãi suất phi rủi ro; hệ số β
do các công ty tư vấn dịch vụ cung cấp
+ Vốn đầu tư dự án gồm vay nợ và vốn chủ sở hữu:
Khi dự án đuợc tài trợ bởi cả vốn chủ sở hữu và vay nợ thì chi phí sửdụng vốn là chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền hay chi phí trung bìnhtrọng số của vốn đầu tư (ký hiệu là WACC)
Trang 25Các ký hiệu: số vốn nợ để tài trợ dự án: S; số vốn của chủ đầu tư cho
dự án: B; tỷ lệ chi phí vốn nợ: Rb; tỷ lệ chi phí vốn chủ sở hữu: Rs; tỷ lệ thuếthu nhập doanh nghiệp phải nộp: Tc
Trong quá trình thẩm định tài chính dự án, Ngân hàng Phát triển luônquan tâm đến khả năng trả nợ của dự án, đồng nghĩa với việc thẩm định xemxét kỹ dòng tiền của dự án Tuy nhiên để khẳng định chắc chắn về hiệu quảcủa dự án, khi thẩm định tài chính dự án cũng cần quan tâm đến các chỉ tiêuhiệu quả tài chính dự án làm cơ sở tham khảo cho việc ra quyết định cho vay
- Thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án:
Quá trình thẩm định tài chính dự án, Ngân hàng Phát triển với tư cách
là nhà cho vay tài trợ thường quan tâm nhiều đến dòng tiền để xác định khảnăng và mức độ trả nợ của dự án Bên cạnh đó, cũng quan tâm phân tích cácchỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án làm cơ sở tham khảo để ra quyết định tài trợ
dự án, các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án chủ yếu được quan tâm gồm:
* Chỉ tiêu giá trị hiện tại dòng (NPV): giá trị hiện tại dòng của dự án làtổng hiện giá của giá trị dòng tiền của dự án với tỷ lệ lãi suất chiết khấu (r).NPV >0, dự án có suất sinh lời cao hơn chi phí vốn, NPV = 0 dự án có suấtsinh lời bằng chi phí vốn, NPV < 0 dự án có suất sinh lời thấp hơn chi phívốn; chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của dự án cao hay thấp
* Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR): tỷ suất hoàn vốn nội bộ là lãi suấtchiết khấu mà tại đó NPV bằng 0 IRR chính là suất sinh lời thực tế của dư ánđầu tư, một dự án có hiệu quả tài chính khi tỷ suất sinh lời thực tế của dự án(IRR) lớn hơn hoặc bằng lãi suất chiết khấu (r) của dự án
Trang 26* Chỉ số doanh lợi PI: chỉ số doanh lợi PI (hay còn gọi là tỷ số lợi ích –chi phí) phản ánh khả năng sinh lời của dự án, chỉ số này được tính bằng tổnggiá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai chia cho vốn đầu tư bỏ ra banđầu Chỉ số này cho biết một đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ thu về bao nhiêu đồngthu nhập Dự án nào có PI càng cao thì hiệu quả tài chính dự án đảm bảonhưng chỉ số PI của dự án tối thiểu phải bằng lãi suất chiết khấu.
* Thời gian hoàn vốn PP:
Thời gian hoàn vốn PP là thời gian mà nhà đầu tư thu hồi được số vốn
đã bỏ ra đầu tư dự án Khi thẩm định cho vay, chỉ tiêu PP giúp cho phân tíchđánh giá thời gian thu hồi vốn của dự án và mức độ rủi ro của dự án; dự án cóthời gian thu hồi vốn càng dài thì độ rủi ro gặp phải càng nhiều, người ta sẽlựa chọn phương án đầu tư có thời gian thu hồi vốn nhanh hơn
* Lợi nhuận kế toán bình quân của dự án AAP:
Lợi nhuận kế toán bình quân năm của dự án phản ánh mức độ tạo ra lợinhuận bình quân các năm của dự án trong vòng đời hoạt động Lợi nhuận kếtoán bình quân dùng để so sánh với suất sinh lời bình quân của doanh nghiệp ,của ngành sản xuất để đánh giá mức độ sinh lời của dự án cao hay thấp
* Điểm hoà vốn BP:
Điểm hoà vốn là mức sản lượng mà tại đó nhà đầu tư thu hồi được vốnđầu tư Đối với dự án, điểm hoà vốn khi NPV của dự án = 0
Điểm hoà vốn BP giúp cho người thẩm định đánh giá, nhận xét về mức
độ hoà vốn của dự án Dự án nào có sản lượng hoà vốn càng thấp thì khả năngmang lại hiệu quả cho nhà đầu tư càng cao và ngược lại
- Thẩm định rủi ro dự án:
Theo các nhà phân tích đã chia rủi ro dự án thành ba loại:
Trang 27Rủi ro loại 1: đây là rủi ro của chính bản thân dự án, tức là rủi ro củamột tài sản duy nhất đối với nhà đầu tư Rủi ro này đo bằng sự biến thiên củalãi suất mong đợi của dự án.
Rủi ro loại 2: rủi ro này được đánh giá trên phương diện tác động ảnhhưởng của dự án đầu tư đến rủi ro của chủ đầu tư Tức là khi dự án đầu tưhoạt động thì ảnh hưởng tốt hay sấu đến lợi nhuận của doanh nghiệp và đâychính là tiêu chí đánh giá rủi ro loại 2
Rủi ro loại 3: là rủi ro của dự án được đánh giá theo quan điểm của cácnhà đầu tư cổ phiếu Đây là rủi ro không thể khắc phục được bằng việc đadạng hoá đầu tư Rủi ro này được đo bằng hệ số Bêta của dự án
Khi phân tích rủi ro dự án người ta chú trọng đến cả ba loại rủi ro trên,thực tế ba loại rủi ro trên có mối quan hệ với nhau theo cùng chiều Khi nềnkinh tế cho triển vọng tốt thì các doanh nghiệp cũng có cơ hội tốt để phát triển
và dự án của doanh nghiệp cũng có cơ hội phát triển tốt, khả năng rủi ro củađầu tư các dự án cũng giảm Như vậy, người ta thường đo lường phân tích rủi
ro loại 1 thay thế cho đo lường và phân tích rủi ro loại 2 và loại 3 Tức là đolường phân tích rủi ro dự án thông qua đo lường sự biến động của dòng tiền
dự án trong các điều kiện có biến động của các yếu tố ảnh hưởng đến nó
Các kỹ thuật dùng để phân tích rủi ro dự án gồm: phân tích độ nhạy,phân tích tình huống và phân tích mô phỏng Sau đây là kỹ thuật phân tíchđánh giá rủi ro trong quá trình thẩm định:
* Phân tích độ nhạy: là kỹ thuật phân tích để thấy được ảnh hưởng củabiến độc lập đến biến phụ thuộc của dự án Biến phụ thuộc ở đây được chọn
là các chỉ số đánh giá hiệu quả tài chính dự án như NPV, IRR ; các biến độclập (giá nguyên liệu, giá bán sản phẩm, sản lượng tiêu thụ, tổng mức đầu
tư ) Mục tiêu phân tích ở đây là đưa ra các tình huống biến động của các
Trang 28biến độc lập để xem xét kết quả của các biến động của các biến phụ thuộc, từ
đó xác định hiệu quả dự án chịu đựng được mức độ nào khi có sự thay đổi củacác yếu tố đầu vào, hiệu quả tài chính dự án nhạy cảm với yếu tố nào
Phân tích độ nhạy một chiều là phân tích sự ảnh hưởng riêng lẻ củatừng biến độc lập tới các chỉ tiêu hiệu quả dự án Phân tích độ nhạy hai chiều
là cùng một lúc phân tích sự ảnh hưởng đồng thời của hai biến độc lập tớihiệu quả tài chính dự án
* Phân tích tình huống:
Theo phương pháp phân tích độ nhạy của dự án, người thẩm định đưa
ra các giả định về sự biến động của các biến độc lập và xem xét sự ảnh hưởngcủa nó tới các chỉ tiêu tài chính của dự án Tuy nhiên tình huống giả định cósảy ra hay không và xác xuất sảy ra là đối với tình huống là bao nhiêu chưađược đề cấp đến, trong thực tế có những tình huống phân tích giả định khôngbao giờ sảy ra do vậy có thể làm giảm ý nghĩa của các kết luận thẩm định.Khắc phục những hạn chế của phương pháp phân tích độ nhạy, người ta dùngphương pháp phân tích tình huống
Phân tích tình huống là kỹ thuật phân tích đánh giá sự tác động đồngthời của nhiều biến hay nhiều yếu tố đến biến phụ thuộc, phương pháp phântích này không tách biệt sự tác động riêng rẽ của từng yếu tố mà xem xét sựbiến động đồng thời của chúng qua từng tình huống với xác suất sảy ra củatừng tình huống Thông thường phân tích 3 tình huống sau:
+ Tình huống kỳ vọng: là tình huống bình thường mà nhà đầu tư kỳvọng đối với dự án trong tương lai, với xác suất sảy ra là P1
+ Tình huống xấu: là tình huống sảy ra có tác động không tốt đến biếnphụ thuộc, với xác suất sảy ra là P2
Trang 29+ Tình huống tốt: tình huống có tác động tích cực đến các biến phụthuộc, với xác suất sảy ra là P3.
Giả sử biến phụ thuộc ở đây là (NPV) của dự án, ta có thể xác địnhđuợc NPV mong đợi (NPVmđ)
NPV mđ =
n
∑ i=1
hệ số biến thiên trung bình của các dự án trong doanh nghiệp, hệ số biến thiêncàng lớn thì mức độ rủi ro của dự án càng cao và ngược lại
* Phân tích mô phỏng
Phân tích mô phỏng là phương pháp phân tích hiện đại, giúp chúng taphân tích được sự tác động của nhiều biến hay nhiều yếu tố đến các chỉ tiêutài chính cần phân tích, thông qua hàng trăm tình huống Qua đó phương phápphân tích này cho phép xác định xác xuất bao nhiêu phần trăm dự án có hiệuquả (giả sử NPV>0) Phương pháp phân tích mô phỏng khắc phục đượcnhững hạn chế của phân tích độ nhạy và phân tích tình huống, tuy nhiệnphương pháp này tính toán rất phức tạp và đồi hỏi sự hỗ trợ của toán học
1.2.2 Chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triển :
1.2.2.1 Khái niệm chất lượng thẩm định tài chính dự án
Trang 30Chất lượng là khái niệm tổng quát hàm chứa giá trị của sản phẩm dịch
vụ nào đó, phản ánh mức độ thoả dụng của người sử dụng sản phẩm dịch vụ
đó Chất lượng cũng đã được nhiều tác giả quan tâm và đưa ra định nghĩa về
Từ các định nghĩa về chất lượng cho thấy: chất lượng phản ánh mức độthoả mãn về các đặc điểm tính chất của sản phẩm hoặc dịch vụ so với yêu cầucủa người cần nó Mức độ thoả mãn cao hay thấp so với yêu cầu của người sửdụng phản ánh ánh chất lượng cao hay thấp của sản phẩm, dịch vụ
Từ khái niệm về chất lượng, ta có thể đưa ra được khái niệm chất lượngthẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triểnnhư sau:
“Chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay củaNgân hàng Phát triển là mức độ phù hợp của các đánh giá đưa ra trong kếtluận thẩm định với yêu cầu của thẩm định tài chính dự án”
Quá trình thẩm định tài chính dự án của NHPT phải tuân thủ theo cácnguyên tắc và phải đạt yêu cầu nhất định.Chất lượng thẩm định tài chính dự
án trong hoạt động cho vay tại NHPT được đánh giá thông qua các chỉ tiêuphản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án cụ thể
1.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự ánTrên cơ sở mục tiêu và yêu cầu của thẩm định tài chính trong hoạt độngcho vay của NHPT, có thể xây dựng chỉ tiêu đánh giá chất lượng thẩm định
Trang 31dựa trên những căn cứ nội dung thẩm định tài chính dự án trong báo cáo thẩmđịnh, mức độ phù hợp của kết luận thẩm định so với thực tế triển khai dự án,thời gian và chi phí thẩm định dự án, cụ thể sau:
- Thứ nhất, mức độ chính xác, toàn diện của nội dung và kết luận thẩmđịnh
Mức độ chính xác, toàn diện của nội dung và kết luận thẩm định tàichính được phản ánh thông qua báo cáo thẩm định dự án Một bản báo cáothẩm định tài chính dự án được đánh giá là có chất lượng thể hiện bằng cácchỉ tiêu định tính như sau:
+ Báo cáo đưa ra được những nhận xét đánh giá đầy đủ và chính xáccác nội dung về tài chính dự án, trình bày báo cáo thẩm định rõ ràng mạch lạcđưa ra được những kiến nghị đề xuất rõ ràng về tính khả thi của dự án
+ Kết quả tính toán phân tích tài chính phải chính xác; số liệu phân tíchtính toán dựa trên những cơ sở chính sách chế độ của Nhà nước, những thôngtin mới và đáng tin cậy, kết quả điều tra phân tích thực tế và những kết quảphân tích dự báo đúng đắn
+ Kết luận thẩm định đưa ra phải phải logic dựa trên những kết quả tínhtoán phân tích các chỉ tiêu tài chính, từ đó đưa ra được đánh giá nhận định vềtài chính dự án là tốt hay xấu và đề xuất các giải pháp bỏ vốn đầu tư phù hợp
- Thứ hai, Thời gian thẩm định
Thời gian thẩm định tài chính dự án có quan hệ chặt chẽ với chất lượngthẩm định tài chính dự án và phản ánh chất lượng thẩm định dự án Thời gianthẩm định dự án kéo dài và chậm làm ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư của dự án,khi cơ hội đầu tư đã qua đi thì việc đầu tư dự án sẽ không còn ý nghĩa hoặclàm giảm hiệu quả đầu tư Mặt khác, thời gian thẩm định tài chính dự án thựchiện gò ép trong thời gian ngắn dẫn đến việc thẩm định các nội dung tài chính
Trang 32dự án không được xem xét cẩn thận và đồng bộ, việc tính toán và phân tích tàichính có thể sai sót và gây ảnh hưởng xấu đến kết quả thẩm định Để thẩmđịnh tài chính dự án đảm bảo chất lượng, các Ngân hàng thường quy định thờigian thẩm định thích hợp cho từng dự án tuỳ theo quy mô và mức độ phức tạpcủa dự án.
- Thứ ba, Chi phí thẩm định tài chính dự án
Chi phí bỏ ra để thẩm định tài chính dự án là cần thiết, bao gồm: chiphí tiền công cho cán bộ thẩm định, chi phí công nghệ thẩm định, chi phí muathông tin hoặc thuê tư vấn và các chi phí khác có liên quan Đứng trên giác độnhà quản lý tài chính thì chi phí đầu tư cho thẩm định càng thấp thì càng tiếtkiệm chi phí là tốt, nhưng xét trên mối quan hệ giữa chi phí thẩm định và chấtlượng thẩm định tài chính dự án thì chi phí thẩm định thấp chưa phải tốt Bởi
lẽ chi phí đầu tư cho thẩm định tài chính dự án hợp lý (đầu tư cho đào tạo cán
bộ, mua phần mềm công nghệ phục vụ công tác thẩm định ) sẽ góp phần tiếtkiệm thời gian thẩm định do tăng năng suất lao động, giúp cho tính toán phântích tài chính dự án được chính xác, chất lượng thẩm định tài chính dự ánđuợc nâng cao
Mặt khác, việc đầu tư trang thiết bị và công nghệ thẩm định trợ giúpcán bộ thẩm định nâng cao năng suất lao động trong việc tính toán phân tíchchỉ tiêu tài chính và khai thác thông tin giảm bớt thời gian thẩm định cũng làgiải pháp tốt để giảm chi phí thẩm đinh mặc dù vốn đầu tư ban đầu có thể bỏ
ra nhiều hơn và bài toán tiết kiệm chi phí thẩm định cũng được giải quyết.Tuy nhiên việc chi phí cho thẩm định tài chính dự án cũng không phải càngnhiều càng tốt, mà khi xem xét chi phí bỏ ra phải hợp lý và phù hợp với quy
mô và yêu cầu của từng đơn vị
Như vậy nếu loại trừ những chi phí không hợp lý (chi hành chính hộihọp nhiều tốn kém mà không đem lại hiệu quả) thì chi phí thẩm định tài chính
Trang 33dự án có quan hệ biện chứng với chất lượng thẩm định tài chính dự án và chiphí thẩm định là chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án.
- Thứ tư, tỷ lệ dự án hoạt động có hiệu quả
Chất lượng thẩm định tài chính dự án được đánh giá thông qua kết quảhoạt động của dự án khi vận hành sản xuất là tốt hay kém; hoạt động của dự
án ở giai đoạn này sẽ kiểm chứng lại mức độ chính xác nội dung và chấtlượng thẩm định tài chính dự án là tốt hay chưa tốt Quá trình triển khai thựchiện, dự án có phát huy được hiệu quả tài chính hay không còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố tác động khác, nhưng không thể đánh giá chất lượng thẩm địnhtài chính dự án là tốt khi thực tế vận hành khai thác dự án kém hiệu quả
Đứng trên giác độ của Ngân hàng Phát triển thì dự án hoạt động có hiệuquả là dự án sản xuất kinh doanh theo đúng mục tiêu phương án sản xuất dựkiến, trả được nợ gốc và lãi vay đúng hạn không có nợ quá hạn và lãi treo.Chỉ tiêu tỷ lệ dự án hoạt động có hiệu quả (Hhq) phản ánh bằng tỷ số giữa sốlượng dự án có hiệu quả và tổng số dự án đã thẩm định chấp thuận cho vaytrong kỳ phân tích (%) Tỷ lệ này càng cao, phản ánh chất lượng thẩm định tàichính dự án tốt và ngược lại
- Thứ năm, Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu
Trong quá trình thẩm định tài chính dự án, nếu tính toán các nguồn thu
và khoản chi không không đầy đủ, không dựa trên những số liệu đáng tin cậy
và những dự báo khoa học thì sẽ đi đến những kết luận sai lầm về chi phí vàlợi ích của dự án và tạo ra khoảng cách đáng kể giữa dự kiến ban đầu và thực
tế khi vận hành sản xuất; điều này gây bất lợi cho thực hiện nghĩa trả nợ theo
dự kiến do mất cân đối về tài chính và để sảy ra nợ quá hạn Tuy nhiên nợ quáhạn ở một dự án còn do ảnh hưởng của các nguyên nhân khác (động đất, thiêntai ), song đây không phải là những nguyên nhân chủ yếu và ít sảy ra; phần
Trang 34lớn nguyên nhân xuất phát từ thẩm định tài chính dự án chưa tốt Do vậy tỷ lệ
nợ quá hạn, nợ xấu là chỉ tiêu phản ánh rõ nét chất lượng thẩm định tài chính
dự án Chỉ tiêu này được lượng hoá thông qua hệ số sau:
Hnx: phản ánh tỷ lệ nợ xấu (không trả đuợc nợ gốc và lãi theo kế hoạch)trên tổng dư nợ của các dự án thẩm định trong kỳ phân tích Hệ số này cànglớn thể hiện chất lượng thẩm định tài chính càng kém
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự
án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triển:
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Con người: những người làm công tác thẩm định dự án có vaitrò quyết định đến chất lượng thẩm định dự án, họ phải có năng lực chuyênmôn và có khả năng phân tích tổng hợp tốt sẽ cho kết quả thẩm định có chấtlượng Cùng với trình độ năng lực chuyên môn, cán bộ thẩm định cần phải cóđạo đức nghề nghiệp, bởi lẽ một trong những yêu cầu của thẩm định dự án làtính khách quan và trung thực; người tham gia thẩm định không tuân thủ yêucầu này tất yếu kết quả thẩm định dễ bị bóp méo và không đáng tin cậy
1.3.1.2 Thông tin phục vụ thẩm định: thông tin là nguồn dữ liệu đầuvào quan trọng trong thẩm định Mọi hoạt động của người thẩm định đều căn
cứ vào thông tin trong dự án, thông tin từ thị trường, từ các phương tiện thôngtin đại chúng, từ tiếp súc phỏng vấn khách hàng, từ các cơ quan quản lý vàthông tin quốc tế có liên quan đến dự án Thông tin là nguyên liệu đầu vàocho công tác thẩm định, nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thẩm định tàichính dự án Thông tin thu thập đầy đủ và chính xác giúp cho kết quả thẩmđịnh sẽ có chất lượng và nếu thông tin thiếu hoặc sai lệch sẽ làm hạn chếtrong kết quả thẩm định nói chung trong đó cáo thẩm định tài chính dự án
1.3.1.3 Tổ chức thẩm định tài chính dự án: thẩm định tài chính dự ánđược thực hiện qua giai đoạn có quan hệ chặt chẽ với nhau, có liên hệ đến các
Trang 35bộ phận trong một đơn vị Tổ chức thẩm định tài chính khoa học và chặt chẽ
là điều kiện để thực hiện thẩm định trôi chảy và hiệu quả từ đó nâng cao chấtlượng thẩm định, ngược lại làm hạn chế chất lượng thẩm định
1.3.1.4 Trang thiết bị, công nghệ thẩm định: yếu tố này có ảnh hưởngđến kỹ thuật thẩm định tài chính, mặc dù là phương tiện phục vụ công tácthẩm định nhưng nó ảnh hưởng đến độ chính xác và thời gian thẩm định Sửdụng các phương tiện và công nghệ thẩm định hiện đại, thì việc thu thập xử lýthông tin chính xác để đưa ra kết luận kịp thời phục vụ cho nhà quản lý raquyết định đầu tư và không bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt
1.3.2 Các nhân tố khách quan
1.3.2.1 Chất lượng dự án: dự án được lập đúng quy định, phản ánh đầy
đủ các nội dung theo yêu cầu của Nhà nước hoặc của thông lệ quốc tế, nhữngthông tin trong dự án có căn cứ và cơ sở tính toán hợp lý sẽ tạo điều kiện chocông tác thẩm định tài chính được thuận lợi và ảnh hưởng tốt đến kết quảthẩm định tài chính dự án Ngược lại sẽ rất khó khăn cho người thẩm định nếu
dự án chất lượng không tốt, để đưa ra được kết luận cuối cùng sẽ mất nhiềuthời gian và ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả thẩm định tài chính dự án
1.3.2.2 Các văn bản quy phạm pháp luật: Ngân hàng Phát triển chủ yếu
sử dụng nguồn vốn của Nhà nước để tài trợ dự án, do vậy việc thẩm định tàichính dự án tuân thủ theo quy định về điều kiện cho vay của Chính phủ, của
Bộ tài chính và các bộ ngành có liên quan Chính sách chế độ ổn định và cụthể rõ ràng và không chồng chéo là cơ sở thuận lợi trong công tác thẩm định
và sẽ rất khó khăn khi chính sách chế độ thường xuyên thay đổi hoặc quyđịnh không rõ ràng
1.3.2.3 Môi trường kinh tế vĩ mô: trong điều kiện nền kinh tế phát triển
ổn định, các chỉ số giá kinh tế không có biến động lớn thì việc tính toán và dựkiến thu nhập và chi phí và hiệu quả tài chính của dự án trong tương lai có cơ
Trang 36sở chắc chắn hơn trong điều kiện nền kinh tế bất ổn về thị trường và sự biếnđộng thất thường Công tác dự báo, dự đoán các yếu tố có liên quan đến tàichính dự án rất khó và độ tin cậy không cao khi nền kinh tế diễn biến không
ổn định và ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thẩm định tài chính dự án
Như vậy, chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vaycủa Ngân hàng Phát triển phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố chủ quan vàkhách quan Sự tác động của các nhân tố đó như thế nào sẽ đuợc nghiên cứuthông qua thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt độngcho vay của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN BẮC NINH
2.1 TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NHPT BẮC NINH
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh là đơn vị trực thuộc Ngânhàng Phát triển Việt Nam được thành lập theo quyết định số 01/QĐ - TGĐngày 19/5/2006 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Năm 2000, theo mục tiêu của Chính phủ là tách nhiệm vụ quản lý vốncấp phát đầu tư xây dựng cơ bản và tín dụng Nhà nước Nhiệm vụ quản lýquản lý cấp phát vốn đầu tư được bàn giao cho hệ thống Kho bạc Nhà nướcquản lý và nhiệm vụ quản lý vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nướcđược bàn giao cho Quỹ Hỗ trợ phát triển tiếp nhận
Quỹ Hỗ trợ phát triển thành lập ngày 8 /7/1999 trên cơ sở bộ máy vàcon người từ hệ thống Tổng Cục đầu tư phát triển, Chi nhánh Quỹ Hỗ trợ pháttriển Bắc Ninh là đơn vị trực thuộc Quỹ Hỗ trợ phát triển, được thành lập trên
cơ sở bộ máy và con người từ Chi cục Đầu tư phát triển Bắc Ninh và thực
Trang 37hiện nhiệm vụ cho vay vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nướctrên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Năm 2006, do yêu cầu của Hội nhập kinh tế Quốc tế, Ngân hàng Pháttriển Việt Nam được thành lập trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợphát triển Chi nhánh Ngân hàng phát triển Bắc Ninh là một thành viên trong
hệ thống NHPT Việt Nam, được thành lập trên cơ sở tiếp nhận bộ máy quản
lý và con người từ Chi nhánh Quỹ Hỗ trợ phát triển Bắc Ninh và tiếp tục thựchiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước trên địabàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2006 đến nay
2.1.2 Cơ cấu bộ máy hoạt động
Bộ máy tổ chức quản lý của Chi nhánh NHPT Bắc Ninh gồm:
- Ban lãnh đạo Chi nhánh: Giám đốc và các phó Giám đốc
- Các phòng chức năng:
+ Phòng Tín dụng: thực hiện nhiệm vụ cho vay và quản lý các dự án tíndụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu; thực hiện công tác Hỗ trợ sau đầu tư và Bảolãnh tín dụng đầu tư; quản lý các dự án ODA
+ Phòng Tổng hợp: chủ trì công tác thẩm định, công tác kế hoạch, huyđộng vốn và điều hành nguồn vốn, cấp phát vốn uỷ thác, kiểm tra kiểm toánnội bộ; tổng hợp báo cáo
+ Phòng Tài chính - Kế toán: tổ chức hạch toán kế toán, thanh toán vàquản lý chi tiêu nội bộ
+ Phòng Hành chính - Quản lý nhân sự: thực hiện quản lý nhân sự và tổchức cán bộ; quản trị công tác hành chính và công tác tiên lương; công tácxây dựng cơ bản nội bộ
2.1.3 Nhiệm vụ chủ yếu:
Trang 38- Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước trên địabàn tỉnh Bắc Ninh gồm: cho vay đầu tư phát triển, hỗ trợ sau đầu tư và bảolãnh tín dụng đầu tư.
- Thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu của Nhà nước trên địa bàntỉnh Bắc Ninh gồm: cho vay xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh
dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu
- Nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn ODA được Chính phủ cho vay lại;nhận uỷ thác, cấp phát cho vay thu hồi nợ của các tổ chức trong và ngoàinước thông qua hợp đồng nhận uỷ thác
- Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng; tham gia hệ thốngthanh toán trong nước và Quốc tế
2.1.4 Một số kết quả thực hiện trong 5 năm (2003 – 2007)
Thực hiện nhiệm vụ quản lý tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu củaNhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Chi nhánh Ngân hàng Phát triển BắcNinh đã thẩm định cho vay các dự án trung dài hạn, cho vay ngắn hạn xuấtkhẩu, Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, Cấp phát vốn uỷ thác và huy động vốn Kháiquát hoạt động của Chi nhánh NHPT Bắc Ninh trong 5 năm qua như sau:
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu về tình hình hoạt động chủ yếu của Chinhánh NHPT Bắc Ninh
Trang 39Nguồn: Báo cáo tài chính các năm (2003 – 2007), Chi nhánh NHPT Bắc Ninh
Biểu đồ minh hoạ
0100000
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI CHI NHÁNH NHPT BẮC NINH
2.2.1 Thực trạng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh
2.2.1.1 Khái quát chung về tổ chức thẩm định tài chính dư án tronghoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh
- Nội dung thẩm định quyết định cho vay tại Chi nhánh thực hiện theoquy định của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, gồm bốn nội dung chính :
+ Thẩm định hồ sơ dự án, hồ sơ chủ đầu tư
+ Thẩm định chủ đầu tư
+ Thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay
Trang 40+ Thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay.
Thẩm định tài chính dự án là một nội dung trong quá trình thẩm địnhquyết định cho vay của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh
- Tổ chức thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay tại Chi nhánhNgân hàng Phát triển Bắc Ninh do Chi nhánh quy định và được thực hiệnthông qua phân công nhiệm vụ và mối quan hệ giữa các phòng, bộ phận trongquá trình thẩm định, cụ thể như sau:
Phân giao nhiệm vụ:
Nhiệm vụ thẩm định quyết định cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Pháttriển Bắc Ninh được thực hiện tại phòng Tín dụng và phòng Tổng hợp, phòngTổng hợp chủ trì công tác thẩm định tham mưu cho lãnh đạo Chi nhánh vềviệc quyết định tài trợ dự án Nhiệm vụ cụ của các đơn vị tham gia thẩm địnhđược quy định như sau:
+ Phòng Tín dụng: làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ và hướng dẫn kháchhàng về điều kiện tín dụng, trình tự thủ tục vay vốn Thực hiện thẩm định hồ
sơ chủ đầu tư gửi; thẩm định năng lực chủ đầu tư và thẩm định tài sản bảođảm tiền vay Sau khi thẩm định xong, phòng Tín dụng gửi hồ sơ và báo cáokết quả thẩm định cho phòng Tổng hợp
+ Phòng Tổng hợp chủ trì công tác thẩm định tại Chi nhánh, thực hiệnthẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ vốn vay Tổng hợp kếtquả thẩm định, lập báo cáo thẩm định trình Giám đốc Chi nhánh xem xétquyết định cho vay (đối với dự án phân cấp) hoặc trình Ngân hàng Phát triểnViệt Nam xem xét quyết định cho vay (đối với dự án không phân cấp)
+ Hội đồng tín dụng: có chức năng kiểm tra lại kết quả thẩm định dophòng Tổng hợp báo cáo và đề xuất ý kiến tham gia với Giám đốc Chi nhánh
về việc cho vay dự án