3.17 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng qua 81 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi sử dụng chung bơm 3.19 Mối liên quan giữa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
- -
TRẦN VĂN KIỆM
HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV
VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP DỰ PHÒNG TRÊN NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI QUẢNG NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
-
TRẦN VĂN KIỆM
HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV
VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP DỰ PHÒNG TRÊN NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI QUẢNG NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trần Văn Kiệm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Bộ môn Dịch tễ học, Khoa Đào tạo và Quản lý khoa học, Khoa HIV/AIDS, các khoa phòng liên quan của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất và trang bị giúp đỡ tôi trau dồi kiến thức, đóng góp những ý kiến quí báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thanh Long và PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, những thầy cô đã tận tình giúp đỡ
và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài cũng như hoàn thành luận án tốt nghiệp
Tôi vô cùng biết ơn Cục Phòng chống HIV/AIDS-Bộ Y tế, Trường Đại học Y Hà Nội, Học Viện Quân Y, Viện Pasteur Nha Trang đã giúp đỡ tôi trau dồi kiến thức, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính để hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Y tế Quảng Nam, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Quảng Nam đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ Trung tâm y tế các huyện/thành phố, lãnh đạo chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể
và các đối tượng tham gia nghiên cứu đã nhiệt tình, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian điều tra thu thập số liệu tại thực địa
Tôi xin chân thành cảm ơn các GS, PGS, TS trong các hội đồng khoa học chấm luận án đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi có thêm kiến thức
và hoàn thiện luận án đạt chất lượng tốt hơn
Trang 5Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân
trong gia đình cha mẹ, vợ, các con, anh chị em cùng bạn bè và đồng nghiệp
thân thiết, những người đã hết lòng ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình
học tập và giúp tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành luận án tốt
nghiệp
Tác giả luận án
Trần Văn Kiệm
Trang 6MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
1.1.3 Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở người nghiện chích ma túy
1.2 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở người NCMT 16 1.2.1 Các hành vi nguy cơ do tiêm chích ma túy 16 1.2.2 Các hành vi nguy cơ do quan hệ tình dục 22 1.2.3 Nguy cơ lây nhiễm HIV từ người NCMT nhiễm HIV 24
1.3 Các biện pháp can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV trong
1.3.1 Chương trình truyền thông thay đổi hành vi 26 1.3.2 Chương trình khuyến khích sử dụng bao cao su 28 1.3.3 Chương trình trao đổi bơm kim tiêm sạch 30
Trang 71.3.4 Chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc
1.3.5 Chương trình tư vấn, xét nghiệm tự nguyện 35 1.3.6 Chương trình giáo dục đồng đẳng 37 1.3.7 Chương trình quản lý và điều trị các bệnh lây truyền qua
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 40
3.1 Tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở
người nghiện chích ma túy tại Quảng Nam năm 2011 62 3.1.1 Một số đặc điểm đối tượng nghiên cứu 62 3.1.2 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở người NCMT 64 3.1.3 Tỷ lệ nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy tại tỉnh
Trang 83.1.4 Các yếu tố liên quan với hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV 81
3.2 Hiệu quả dự phòng lây nhiễm HIV ở người nghiện chích
ma túy tại tỉnh Quảng Nam sau 2 năm can thiệp 87 3.2.1 Hiệu quả về tư vấn, xét nghiệm HIV 87 3.2.2 Hiệu quả về chăm sóc và hỗ trợ người nghiện chích ma túy
88 3.2.3 Hiệu quả tiếp cận can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV của
3.2.4 Hiệu quả thay đổi hành vi nguy cơ của người nghiện
3.2.5 Tỷ lệ nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy trước và
4.1 Tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở
người nghiện chích ma túy tại Quảng Nam năm 2011 100 4.1.1 Một số đặc điểm đối tượng nghiên cứu 100 4.1.2 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của người nghiện chích
ma tuý tại tỉnh Quảng Nam năm 2011 101 4.1.3 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy tại
4.1.4 Các yếu tố liên quan với hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV 116
4.2 Hiệu quả dự phòng lây nhiễm HIV ở nhóm nghiện chích
ma túy tại Quảng Nam sau 2 năm can thiệp 117 4.2.1 Hiệu quả về tư vấn, xét nghiệm HIV 117 4.2.2 Hiệu quả về chăm sóc, hỗ trợ người nghiện chích ma túy 119 4.2.3 Hiệu quả tiếp cận dịch vụ của người nghiện chích ma túy 121 4.2.4 Hiệu quả thay đổi hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của
124
Trang 9người nghiện chích ma túy 4.2.5 Hiệu quả thay đổi tỷ lệ nhiễm HIV trước và sau can
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS : Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
(Acquired Immuno Deficiency Syndrome)
ARV : Thuốc kháng Retrovirus (Anti Retrovirus)
HIV : Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
(Human Immuno deficiency Virus)
IBBS : Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI
(Integrated Biological and Behavioral Surveillance)
LTQĐTD : Lây truyền qua đường tình dục
MSM : Nam quan hệ tình dục đồng giới
(Men who have sex with men)
STIs : Nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục
(Sexually Transmitted Infections)
Trang 11TCMT : Tiêm chích ma túy
TCYTTG : Tổ chức Y tế Thế giới
TTYT : Trung tâm y tế
TVXNTN : Tư vấn xét nghiệm tự nguyện
UNAIDS : Chương trình phối hợp Liên hiệp quốc về HIV/AIDS
(Joint United Nations Programme on HIV/AIDS)
UNODC : Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm Liên hiệp quốc
(United Nations Office on Drugs and Crime)
WHO : Tổ chức Y tế Thế giới
(World Health Organization)
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Phân bố mẫu theo địa bàn nghiên cứu 46 3.1 Đặc trưng nhân khẩu-xã hội của đối tượng nghiên cứu 62 3.2 Đặc điểm hôn nhân, gia đình của đối tượng nghiên cứu 63 3.3 Kiến thức của người nghiện chích ma túy về phòng lây
3.4 Tự đánh giá nguy cơ nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy 67 3.5 Tuổi sử dụng ma túy lần đầu tiên 68
3.7 Hành vi tiêm chích ma túy trong tháng qua 69 3.8 Hành vi tiêm chích ma túy trong lần tiêm chích gần nhất 69 3.9 Tần suất quan hệ tình dục và hành vi dùng bao cao su với
3.14 Tỷ lệ người nghiện chích ma túy biết nơi có thể nhận/mua
3.15 Tỷ lệ người nghiện chích ma túy biết nơi có thể nhận/mua
bao cao su
79
3.16 Tỷ lệ nhiễm HIV phân theo địa phương 81
Trang 133.17 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và hành vi sử dụng
chung bơm kim tiêm trong 6 tháng qua 81 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi sử dụng chung bơm
3.19 Mối liên quan giữa thời gian tiêm chích ma túy và hành vi sử
3.20 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và hành vi sử dụng bao
3.21 Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi sử dụng bao cao su
3.22 Mô hình hồi quy logistic xác định mối liên quan giữa một số
yếu tố và hành vi dùng chung BKT trong nhóm NCMT 84 3.23 Mô hình hồi quy logistic xác định mối liên quan giữa một số
yếu tố và hành vi không dùng bao cao su khi QHTD 85 3.24 Hiệu quả truyền thông thay đổi hành vi 88 3.25 Hiểu biết của người NCMT về nguy cơ lây nhiễm HIV 91 3.26 Hiểu biết về địa điểm xét nghiệm HIV của người nghiện
Trang 14DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1.1 Số người mới phát hiện nhiễm HIV theo năm tại Việt Nam 11 1.2 Phân bố người nhiễm HIV theo đường lây qua các năm 12 1.3 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT theo năm 14 1.4 Tỷ lệ sử dụng chung BKT trong những người NCMT đã
3.1 Nhận thức sai về đường lây nhiễm HIV 65 3.2 Quan niệm sai lầm về lây nhiễm HIV 66 3.3 Kiến thức cần thiết về HIV của người nghiện chích ma
2011
80
3.12 Tỷ lệ nhiễm HIV ở người đã từng và chưa từng vào
3.13 Hiệu quả về loại hình xét nghiệm HIV của người nghiện
Trang 15chích ma túy 87 3.14 Hiệu quả tư vấn trước và sau xét nghiệm HIV của người
3.15 Tỷ lệ người nghiện chích ma túy có hoạt động tình dục
3.16 Nguồn cung cấp bao cao su miễn phí cho người nghiện
3.17 Tỷ lệ người nghiện chích ma túy nhận được bơm kim
tiêm sạch trước và sau can thiệp 89 3.18 Nguồn cung cấp bơm kim tiêm sạch miễn phí cho người
nghiện chích ma túy trong 6 tháng qua 90 3.19 Kết quả tự đánh giá về nguy cơ lây nhiễm HIV của
3.20 Tỷ lệ người nghiện chích ma túy biết địa điểm mua/nhận
3.21 Hiệu quả tư vấn khám chữa bệnh lây truyền qua đường
tình dục trước và sau can thiệp 94 3.22 Tỷ lệ thay đổi hành vi dùng chung bơm kim tiêm trong
3.26 Tỷ lệ thay đổi hành vi dùng chung thuốc và dụng cụ pha
thuốc khi tiêm chích trước và sau can thiệp 97
Trang 163.27 Tỷ lệ sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần
đây nhất với phụ nữ mại dâm và bạn tình bất chợt 97 3.28 Tỷ lệ người nghiện chích ma túy thường xuyên dùng bao
cao su khi quan hệ tình dục trong 12 tháng qua 98 3.29 Tỷ lệ nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy trước và
Trang 17DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1 Số người hiện nhiễm HIV trên thế giới 6
Sơ đồ 2.1 Can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm
NCMT
47
Trang 18ĐẶT VẤN ĐỀ
Bắt đầu từ 5 trường hợp đồng tính luyến ái nam được phát hiện tại Mỹ năm 1981 đến nay, đại dịch HIV/AIDS đã thực sự trở thành hiểm họa toàn cầu Dịch HIV/AIDS đã tạo ra tình trạng khẩn cấp và đặt ra một trong những thách thức ghê gớm nhất đối với sự tiến bộ, phát triển và ổn định xã hội trên toàn thế giới Hơn 30 năm đấu tranh phòng chống HIV/AIDS, mặc dù các quốc gia đã có nhiều nỗ lực đưa ra những biện pháp phòng chống tích cực, nhưng dịch HIV/AIDS vẫn gia tăng với tốc độ nhanh và trải dài trên diện rộng với tính chất ngày càng phức tạp Theo Tổ chức Liên hiệp quốc về Phòng chống AIDS (UNAIDS), đến cuối năm 2012 toàn thế giới có 35,3 triệu người
bị nhiễm HIV/AIDS còn sống; trong đó, 50% là phụ nữ và 3,3 triệu trẻ em dưới 15 tuổi Hàng năm có 2 - 3 triệu người nhiễm mới và khoảng 2 triệu người tử vong do AIDS Châu Phi, đặc biệt vùng cận Sahara là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, chiếm 70% tổng số ca nhiễm HIV còn sống trên toàn cầu [102]
Ở nước ta, tính đến cuối năm 2013, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 216.254 người, trong đó có 66.533 bệnh nhân AIDS và 68.977 người
đã tử vong do AIDS Hiện nay, dịch HIV/AIDS đã lan ra 78% số xã/phường/thị trấn, 98% quận/huyện trong cả nước Dịch vẫn đang trong giai đoạn tập trung, chủ yếu trong nhóm có hành vi nguy cơ cao như ma túy, mại dâm… Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế thị trường đã kéo theo hệ lụy mặt trái là sự gia tăng các tệ nạn xã hội Tình trạng sử dụng ma túy phổ biến đã tạo điều kiện thuận lợi cho dịch HIV/AIDS lan truyền mạnh mẽ ở nước ta với tính chất phức tạp và trầm trọng hơn [16]
Trang 19Đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra được thuốc điều trị đặc hiệu
và vắc xin phòng bệnh HIV/AIDS, nên các biện pháp can thiệp dự phòng lây nhiễm được đặt lên hàng đầu ở các quốc gia trên toàn thế giới nhằm hạn chế
sự lây lan, ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS [13]
Quảng Nam là một tỉnh duyên hải miền Trung, đất rộng người đông, diện tích toàn tỉnh là 10.438 km2 với 1.490.179 người sinh sống, bao gồm 18 huyện/thành phố, 244 xã/phường Tính đến cuối năm 2013, toàn tỉnh đã có
816 người nhiễm HIV, trong đó có 402 người chuyển sang AIDS và 312 người tử vong do AIDS Trong số các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện
5 năm gần đây nhóm nghiện chích ma túy (NCMT) chiếm tỷ lệ cao nhất (65,8%) [25], [62]
Một trong những nguyên nhân quan trọng gây lan truyền HIV/AIDS tại Quảng Nam là hành vi tiêm chích ma túy (TCMT) của những người NCMT
Họ có hành vi nguy cơ cao nhưng thiếu hiểu biết về các biện pháp dự phòng Tác động đến nhóm đối tượng này sẽ có vai trò rất lớn nhằm ngăn chặn tốc độ lan truyền của HIV/AIDS [61] Tuy nhiên, Quảng Nam là tỉnh nghèo, các hoạt động phòng chống HIV/AIDS ít được đầu tư từ ngân sách tỉnh và cũng ít
có dự án ngước ngoài tài trợ Các biện pháp can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV có triển khai nhưng không đầy đủ, mang tính nhỏ lẻ, cục bộ ở một vài địa phương, không liên tục và cũng chưa áp dụng nhiều Mặc khác, ở Quảng Nam đến nay chưa có nghiên cứu nào đề cập chi tiết đến hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trên nhóm NCMT và xây dựng các giải pháp can thiệp hiệu quả
dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm người này Xuất phát từ những lý do trên,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nguy cơ lây nhiễm HIV và hiệu quả can thiệp dự phòng trên nhóm nghiện chích ma túy tại Quảng Nam”, với
các mục tiêu cụ thể như sau:
Trang 201 Xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV và mô tả hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của người NCMT tại tỉnh Quảng Nam năm 2011;
2 Đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV ở nhóm người NCMT tại Quảng Nam (2012-2013)
Trang 21CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 TÌNH HÌNH NHIỄM HIV/AIDS TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.1.1 Một số khái niệm
Khái niệm về HIV/AIDS
HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh (Human Immunodeficiency Virus) là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người HIV được phát hiện đầu tiên
do nhóm nhà khoa học Pháp (L.Montagnier, F Barré - Sinoussi) vào năm
1983 và đặt tên là LAV (Vi rút gây bệnh liên quan đến hạch) Đến năm 1984,
RC Gallo và các nhà khoa học Mỹ đã phân lập được vi rút này đặt tên là HTLV3 Năm 1986, Hội nghị Quốc tế về vi rút thống nhất tên gọi là HIV-1 Cũng năm này, các nhà khoa học đã phân lập được một loại nữa và đặt tên HIV-2 [38], [63]
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh (Acquired Immuno Deficiency Syndrome) nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải HIV tấn công và tiêu hủy các tế bào miễn dịch làm suy giảm miễn dịch của cơ thể
và tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh nhiễm trùng cơ hội, các rối loạn về thần kinh và các bệnh ung thư phát triển dẫn đến tử vong [2], [38], [57]
Khái niệm về ma túy
Hiện nay, chưa có một khái niệm thống nhất về “ma túy” (drugs) hay
“chất ma túy” (narcotic drugs) Nhìn chung, ma túy được hiểu là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp Khi đưa vào cơ thể con người nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó, nếu lạm dụng ma túy con người sẽ bị lệ thuộc vào nó, khi đó sẽ gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng ma túy và cộng đồng [37]
Trang 22Nghiện ma túy: Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thì nghiện ma tuý (NMT) là tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai khi một người sử dụng ma tuý lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma tuý và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng ma tuý để có được những hiệu ứng ma tuý về mặt tâm thần của ma tuý và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu ma tuý
Người nghiện chích ma túy: là những người đã từng sử dụng ma túy không phải thuốc y tế kê theo đơn bằng đường tiêm trong vòng 1 tháng trước điều tra [56]
Khái niệm về mại dâm
Bán dâm và mua dâm: Bán dâm là hành vi giao cấu của người này với người khác để được trả tiền hoặc vật chất Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu
Phụ nữ mại dâm (PNMD): Là phụ nữ khi quan hệ tình dục (QHTD) với khách làng chơi để kiếm tiền [68]
Một số khái niệm liên quan
Đồng đẳng viên (ĐĐV): Là người NCMT có cùng cảnh ngộ, đã cai nghiện được lựa chọn, đào tạo, cung cấp trang bị để tham gia vào các can thiệp giảm tác hại (CTGTH) như hoạt động truyền thông thay đổi hành vi, tư vấn phòng chống HIV/AIDS, phân phát bơm kim tiêm (BKT), bao cao su (BCS), giới thiệu khám chữa bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) cho người NCMT
Tụ điểm ma túy: là vị trí những người NCMT tụ tập để tiêm chích và hút, hít như công viên, bến xe, đường phố, nhà trọ, chợ
Trang 23Hành vi nguy cơ: là những hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh LTQĐTD từ người này sang người khác như: Tiên chích ma túy, dùng chung BKT, không sử dụng BCS hoặc sử dụng BCS không đúng cách khi QHTD [56], [57]
1.1.2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT trên thế giới
Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Tính đến cuối năm 2012, số người nhiễm HIV trên thế giới hiện còn sống là 35,3 (32,2 - 38,8) triệu người Trong đó, có 3,3 (3,1 - 3,8) triệu trẻ em dưới 15 tuổi, khoảng 50% (48 - 53%) số người nhiễm là phụ nữ Riêng năm
2012, số người nhiễm HIV mới phát hiện là 2,3 (1,9 - 2,7) triệu người, trong
đó trẻ em dưới 15 tuổi là 320.000 (270.000 - 380.000) người, số người chết
do AIDS là 1,6 (1,4 - 1,8) triệu người Cứ mỗi ngày trôi qua có thêm 7.000 trường hợp (1.000 trẻ em và 6.000 người lớn) nhiễm HIV mới phát hiện và 90% trong số này ở các nước đang phát triển [44], [101], [112]
Hình 1.1 Số người hiện nhiễm HIV trên thế giới
*Nguồn:Theo báo cáo của UNAIDS năm 2013 [101]
Trang 24Châu Phi Cận Sahara: là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch HIV/AIDS Ước tính có khoảng 25 triệu người nhiễm HIV đang còn sống, chiếm 70% số người nhiễm toàn cầu Riêng trong năm 2012, có khoảng 1,6 triệu người phát hiện nhiễm HIV và 1,2 triệu người chết vì AIDS [101] Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia tình hình nhiễm HIV khác nhau Trong khi ở Somalia và Senegal tỷ lệ nhiễm HIV dưới 1% dân số trưởng thành, thì ở Namibia, Zambia và Zimbabwe khoảng 10 - 15% người lớn bị nhiễm HIV Khu vực Nam Phi là nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi HIV/AIDS, trở thành
“tâm chấn” của đại dịch HIV/AIDS toàn cầu Tỷ lệ nhiễm HIV ở Nam Phi là 17,9%; và có ba quốc gia mà tỷ lệ nhiễm HIV ở người lớn vượt quá 20%, đó
là Botswana (23,0%), Lesotho (23,6 %) và Swaziland (26,5%) Hình thái lây truyền HIV Châu phi chủ yếu là qua QHTD khác giới và NCMT [85], [103]
Châu Á: Những năm đầu vụ dịch ở thập kỷ 1980, trong khi các châu lục khác đang phải đối phó với tình hình nghiêm trọng HIV, thì Châu Á vẫn chưa bị ảnh hưởng Nhưng vào những năm 1990 dịch HIV/AIDS bắt đầu xuất hiện ở một số nước Châu Á và đến cuối thập kỷ này, HIV đã và đang lây lan nhanh chóng ở nhiều khu vực của châu lục này [99] Hiện nay, khoảng gần 5 triệu người đang sống với HIV ở Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á Mặc dù,
tỷ lệ nhiễm HIV ở nhiều nước Châu Á không cao, nhưng dân số quá đông cũng làm cho số lượng người nhiễm HIV khá lớn Ví dụ tại Ấn Độ, tỷ lệ nhiễm HIV trong độ tuổi 15 - 49 là 0,1%, nhưng với 1,2 tỷ dân số, điều này thực sự tương đương với 2,3 triệu người trưởng thành sống với HIV ở Ấn Độ
Khu vực Đông Nam Á: Là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề của dịch HIV/AIDS sau Châu Phi cận Sahara Hiện nay, có khoảng 4,0 triệu người ở khu vực này đang nhiễm HIV
Trang 25Tại Indonesia, có khoảng 380.000 người đang sống với HIV, là nơi có tốc độ lây lan nhanh nhất Châu Á Số người nhiễm HIV đang tăng mạnh trong những năm gần đây, có thể tăng 2 lần vào năm 2015 nếu các biện pháp phòng, chống HIV không hiệu quả QHTD rộng rãi và tệ nạn TCMT là lý do chính làm gia tăng nhanh chóng đại dịch này tại Indonesia Tỷ lệ phụ nữ bán dâm bị nhiễm HIV là 15% và tỷ lệ này ở nhóm NCMT là 36% [106]
Thái Lan là một quốc gia điển hình về cam kết mạnh mẽ để giải quyết đại dịch HIV/AIDS và đã gặt hái những thành công to lớn Tuy nhiên, thời gian gần đây số nhiễm mới HIV tăng cao trong nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam (MSM), đặc biệt ở Bangkok, nơi tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này
đã tăng từ 17,3% năm 2003 lên 31,3% năm 2009 Hiện nay, có khoảng 590.000 người nhiễm HIV đang sống, chiếm tỷ lệ 1,2% dân số Thái Lan [101], [107]
Châu Mỹ La Tinh: không có sự biến động lớn và HIV tiếp tục lây truyền ở nhóm có hành vi nguy cơ cao, bao gồm những người NCMT, hoạt động mại dâm và đồng tính nam Ước tính số nhiễm mới HIV ở Châu Mỹ La Tinh trong năm 2012 là 86.000 người, nâng tổng số người đang sống với HIV
ở khu vực này lên tới 1,5 triệu người, chiếm 0,4% dân số Tại một số thành phố ở Argentina gần 50% số người NCMT nhiễm HIV Brazil là nơi có số người nhiễm HIV cao nhất ở khu vực này, tính đến cuối năm 2012, Brazil có 595.000 người nhiễm HIV, chiếm 0,4% dân số [101], [105]
Đông Âu và Trung Á: Người nhiễm HIV chỉ mới xuất hiện đầu tiên vào năm 1996 nhưng có sự gia tăng mạnh Chỉ riêng năm 2012, đã phát hiện thêm 150.000 người nhiễm HIV, nâng tổng số người đang sống với HIV tại Đông Âu và Trung Á lên 1,4 triệu người so với 630.000 người trong năm
2001, tăng 150% Gần 90% số ca nhiễm HIV mới tại khu vực này là từ hai
Trang 26quốc gia: Cộng hòa Liên bang Nga (66%) và Ukraine (21%) Hiện nay nhiều nước ở Trung Á như Kazakhastan, Uzbekistan báo cáo đã có sự gia tăng số người nhiễm HIV và hầu hết là những người NCMT [93], [101]
Châu Úc: Nhìn chung ít bị ảnh hưởng bởi đại dịch HIV/AIDS Hiện nay, ở châu lục này có khoảng 53.000 người nhiễm HIV còn sống và 1.300 người tử vong do AIDS Hình thái lây truyền HIV ở Châu Úc chủ yếu là qua đường tình dục và TCMT [99], [112]
Tình hình nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy trên thế giới
Theo báo cáo của Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hiệp Quốc (UNODC) năm 2012, trên toàn thế giới có khoảng 14 triệu (11,3 - 22,1 triệu) người NCMT trong độ tuổi từ 15 - 64, trong đó có khoảng 9,5 triệu người sử dụng hêrôin, tương đương với 0,3% tổng số dân số thế giới trong độ tuổi từ 15 - 64 Trong số này có tới 1,6 triệu người NCMT nhiễm HIV chiếm 11,4% tổng số người NCMT và gần 5% số trường hợp nhiễm HIV/AIDS toàn cầu Trên 50% số người NCMT đang sinh sống tại Châu Á, nơi có tình hình
sử dụng ma túy khá phổ biến [109]
Đối với các nước trong khu vực Châu Á, nhiễm HIV ở nhóm người NCMT gia tăng nhanh trong thời gian ngắn Người NCMT đã chiếm phần lớn trong tổng số nhiễm HIV của từng quốc gia trong khu vực Tại Myanmar, năm 2008 ước tính có khoảng 75.000 người sử dụng ma túy bằng đường tiêm chích, 91,7% trong số đó sử dụng heroin, còn lại là các chất nghiện chiếc xuất
từ cây thuốc phiện Đây là hậu quả của nền công nghiệp trồng cây thuốc phiện
nở rộ ở Myanmar chỉ sau Afghanistan Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT
ở Myanmar là 36,3% có nơi tỷ lệ này lên đến 63%, một trong những con số cao nhất thế giới Chiến lược can thiệp của Myanmar hướng tới mục tiêu tăng
Trang 27cường triệt để các hoạt động tiếp cận cộng đồng từ đó phát hiện ra mối liên hệ giữa giới tính xung quanh sự lây nhiễm HIV [90], [104]
Tại Thái Lan, mức độ lây nhiễm HIV trong nhóm người NCMT tăng lên ở mọi miền của quốc gia này và đạt đỉnh cao với tỷ lệ 61% ở khu vực phía Bắc Thái Lan năm 2000; 45% ở BăngKok, miền Trung và miền Nam năm
2003 Tỷ lệ này đang được giảm dần, đến năm 2012 tỷ lệ này ở Thái Lan xấp
xỉ 20% [107] Tại Campuchia sự lây lan HIV vào năm 2007 trong những người trưởng thành có giảm xuống chỉ còn 0,9% Tuy nhiên, tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm người NCMT vẫn ở mức cao, chiếm 22,8% [106]
Tại Trung Quốc, tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT tăng theo chiều thẳng đứng từ cuối những năm 1990 Năm 2002, tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT dao động từ 18 - 56% tại Tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, trong khi
đó tại Vân Nam là 20 - 25% [87] Năm 2008, Trung Quốc được ước tính có số người NCMT nhiều nhất thế giới với 2,4 triệu người Tình trạng lây nhiễm HIV ở người trưởng thành tại Trung Quốc chiếm 0,1% dân số Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT ở Trung Quốc là 12,3% [77]
Đối với các nước ở Châu Mỹ La Tinh, phương thức lây truyền HIV chủ yếu qua quan hệ tình dục đồng giới nam và hành vi dùng chung BKT trong TCMT Tại Argentina, người NCMT chiếm 41% trong tổng số trường hợp nhiễm HIV/AIDS Tại Uruguay, người NCMT chiếm 33% trong tổng số trường hợp HIV Tại Brazil, do chương trình can thiệp cho người NCMT có hiệu quả, vì vậy tỷ lệ các trường hợp NCMT nhiễm HIV trong tổng số HIV/AIDS giảm đều đặn hàng năm từ 16% năm 1991 đến 12% năm 2000 và 8,0% năm 2012 [105]
Khu vực Đông Âu: HIV tập trung chủ yếu ở Nga và Ucraina Tại các nước này, người nhiễm HIV chủ yếu là người NCMT (chiếm 90% trường
Trang 28hợp) và tỷ lệ người nhiễm HIV mới phát hiện hàng năm tăng gấp đôi trong vòng 5 năm trở lại đây Đối với các nước ở Châu Úc, khu vực Trung Đông là những nơi ít chịu tác động của đại dịch HIV/AIDS, nhưng hành vi TCMT cũng là phương thức lây truyền HIV đáng kể tại đây [92], [101], [112]
1.1.3 Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại Việt Nam
Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
Biểu đồ 1.1 Số người mới phát hiện nhiễm HIV theo năm tại Việt Nam
*Nguồn: Theo báo cáo Cục Phòng chống HIV/AIDS-Bộ Y tế [16]
Ở Việt Nam người nhiễm HIV/AIDS đầu tiên được phát hiện vào tháng 12/1990 tại TP Hồ Chí Minh Từ đó đến nay, số người nhiễm HIV liên tục tăng Từ năm 2011 đến nay, mỗi năm phát hiện hàng chục ngàn người nhiễm HIV trên khắp các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt vào các năm 2006 -
2007, mỗi năm phát hiện trên 30.000 người nhiễm HIV Tuy nhiên, từ năm
2008 trở lại đây, dịch HIV/AIDS đã có dấu hiệu chững lại, nhưng chưa thật sự bền vững [3], [16], [34]
1660317780
14127 11567
Trang 29Tính đến cuối năm 2013, số các trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống
ở nước ta là 216.254 người, trong đó có 66.533 người chuyển sang giai đoạn AIDS và 68.977 người đã tử vong do AIDS So sánh cùng kỳ năm 2012, số trường hợp nhiễm HIV giảm 15%, số bệnh nhân AIDS giảm 16%, tử vong do AIDS giảm 2%; có 16 tỉnh số người nhiễm HIV mới phát hiện tăng so cùng
kỳ năm 2012 và 47 tỉnh có số người nhiễm HIV mới phát hiện giảm [16]
Hiện nay, tỷ suất người hiện nhiễm HIV ở nước ta là 248/100.000 dân
Tỷ suất này cao nhất ở Điện Biên 1.029/100.000 dân, tiếp theo là thành phố
Hồ Chí Minh (682/100.000 dân), Thái Nguyên (632/100.000 dân) 10 tỉnh có
số người nhiễm HIV mới phát hiện năm 2013 cao nhất là thành phố Hồ Chí Minh 1.736 trường hợp, Hà Nội 738 trường hợp, Sơn La 538 trường hợp, nghệ An 411 trường hợp, Điện Biên 406 trường hợp, Đồng Nai 385 trường hợp, Thái Nguyên 353 trường hợp, Lai Châu 334 trường hợp, Đồng Tháp 322
trường hợp và Cần Thơ 318 trường hợp [16], [35]
Biểu đồ 1.2 Phân bố người nhiễm HIV theo đường lây qua các năm
*Nguồn: Theo báo cáo Cục Phòng, chống HIV/AIDS-Bộ Y tế [16]
Trang 30Kết quả giám sát qua các năm cho thấy người nhiễm HIV lây nhiễm qua đường máu chiếm 50%, tập trung chủ yếu trong nhóm người NCMT
Những năm gần đây lây truyền HIV qua QHTD ngày càng trở nên phổ biến, song hành cùng với lây truyền qua đường TCMT Theo số liệu báo cáo của Cục Phòng, chống HIV/AIDS-Bộ Y tế, trong số những người phát hiện nhiễm HIV năm 2013: số người nhiễm HIV do lây truyền qua đường máu chiếm 42,4%, số người nhiễm HIV do QHTD chiếm 45,0%, tỷ lệ nhiễm HIV
do lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2,5% và có 10,1% số người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền [16], [35], [64]
Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở nhóm nghiện chích ma túy
Tình hình sử dụng ma tuý tại Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp với chiều hướng ngày càng gia tăng, số người nghiện ma túy năm 1996 là 69.195 người, sau 10 năm số người nghiện đã tăng 131,6% lên 160.226 người Tính đến 30/06/2013, cả nước có gần 180.000 người nghiện ma túy Trong số người nghiê ̣n thống kê được , nam giới chiếm 96%; nữ giới: 4% Sử dụng heroin vẫn là chủ yếu chiếm 75% Công tác cai nghiện đã được xã hội hoá, số người được tiếp cận dịch vụ cai nghiện ngày càng tăng, tuy nhiên tỷ lệ tái nghiện vẫn còn ở mức cao trên 80% có nơi trên 95% [9], [10]
Ở nước ta, từ những ngày đầu vụ dịch HIV/AIDS vào năm 1990 đến nay cho thấy, số người nhiễm HIV được phát hiện hàng năm vẫn tập trung trong nhóm NCMT Tỷ lệ nhiễm HIV qua đường máu mà chủ yếu là do dùng chung BKT trong TCMT tuy có giảm dần từ năm 1993 đến năm 2013 (từ 83,3% năm 1993 xuống còn 42,4% năm 2013) nhưng vẫn chiếm ưu thế trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV của cả nước [16], [48], [101]
Trang 31Biểu đồ 1.3 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT theo năm
*Nguồn: Theo báo cáo Cục Phòng, chống HIV/AIDS-Bộ Y tế [16]
Qua số liệu giám sát trọng điểm, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người NCMT tăng mạnh giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2003, tỷ lệ cao nhất là 29,3% (năm 2002 và năm 2003), sau đó dịch có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây [65] Năm 2010, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT là 17,2% và giảm xuống còn 13,4% vào năm 2011, 11,6% vào năm 2012 và 10,3% vào năm 2013
Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa các khu vực về tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT, tỷ lệ này ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ là 14,9%, khu vực miền núi phía Bắc 12,1%, ở các tỉnh miền Đông Nam bộ 9,6%, các tỉnh Bắc Trung
bộ 7,9%, khu vực đồng bằng sông Cửu Long 9,1%, khu vực Tây Nguyên 5,7%, khu vực duyên hải miền Trung 3,8% Tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT tập trung cao tại một số tỉnh, cao nhất là Thái Nguyên 32%, tiếp theo là Lai Châu 27,7%, Hà Nội 24%, Quảng Ninh 22,4%, TP Hồ Chí Minh 18,2%, Cao Bằng 17,2%, Lạng Sơn 15,6%, Hải Phòng 14,7, Sơn La 14,3% [6], [16]
17.3 14.9 10.9 13.4 16.6 20.5 22.1
29.3 29.3
27.7 28.3 25.6 23.1 20.1 20.5 18.4 17.2 13.4 11.6 10.3
Trang 32Các tỉnh miền núi phía Bắc: Kể từ năm 2001 đến năm 2005 tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại các khu vực miền núi phía Bắc có chiều hướng tăng đều qua các năm và cao nhất vào năm 2005 với tỷ lệ là 29,5% sau đó tỷ
lệ này có chiều hướng chung giảm dần còn 26,3% vào năm 2008, và tiếp tục giảm đến năm 2012 là 16,2% và năm 2013 còn 12,4% [16]
Các tỉnh đồng bằng Bắc bộ: Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người NCMT cũng có xu hướng tăng trong giai đoạn 1994 - 2004 Tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm này cao nhất vào năm 2004 với 36,6% cao hơn khu vực miền núi phía Bắc Tỷ lệ nhiễm ở nhóm này có xu hướng giảm nhanh giai đoạn 2005 –
2008, năm 2008 là 17,5% và giảm dần từ năm 2009 đến nay; năm 2013 tỷ lệ này là 14,9% [16]
Miền Đông Nam bộ: Khác với chiều hướng dịch trong nhóm NCMT tại các vùng khác, tỷ lệ nhiễm HIV tại khu vực này tăng lên đến 44,2% năm 1995
và giảm dần xuống còn 17,3% năm 1998 Sau đó , tỷ lệ này tăng lên và đạt tỷ
lệ cao nhất là 46,0% vào năm 2001 Từ năm 2002 đến nay tỷ lệ này giảm dần, năm 2013 là 9,6%
Đồng bằng sông Cửu Long: Tình hình dịch HIV trong nhóm NCMT tại khu vực các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng tương tự như chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm NCMT của toàn quốc Tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT tại vùng này thấp hơn so với tỷ lệ chung của cả nước, tỷ lệ này năm 2013
là 9,1% [4], [16]
Các tỉnh phía Bắc Trung bộ: Thời gian đầu vụ dịch trước năm 1998, tỷ
lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT ở khu vực này thấp nhất cả nước, chỉ khoảng 2-3% Tuy nhiên, giai đoạn 1999 - 2003 tỷ lệ này gia tăng nhanh chóng, năm 2003 là 21,7% Những năm từ 2004 - 2008 tỷ lệ này bấp bênh
Trang 33không có xu hướng rõ ràng Nhưng từ 2009 đến nay tỷ lệ này có xu hướng giảm dần, năm 2012 và năm 2013 là 7,9%
Tây Nguyên: Từ năm 1995 - 2007, tình hình nhiễm HIV trong nhóm NCMT có xu hướng tăng dần, cao nhất là năm 1998 tỷ lệ này là 46,2% Sau
đó giảm dần, đến năm 2013 tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT ở khu vực này là 5,7% [16]
Các tỉnh duyên hải miền Trung: Nhìn chung, tình hình dịch HIV trong nhóm NCMT ở khu vực này thấp hơn so với cả nước Tuy nhiên, giai đoạn đầu vụ dịch, trước năm 2000 tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT rất cao, năm
1997 tỷ lệ này là 62%, năm 1998 này là 76,5% và năm 1999 là 78,2% cao hơn rất nhiều so các khu vực khác Nhưng từ năm 2001 đến nay tình hình nhiễm HIV trong nhóm NCMT có xu hướng giảm nhiều và luôn thấp hơn tỷ lệ nhiễm chung của toàn quốc, đặc biệt từ năm 2006 đến nay tỷ lệ này luôn ở mức thấp nhất khi so với các khu vực khác trên toàn quốc, năm 2013 tỷ lệ này
vi nguy cơ cao ở người NCMT được rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập đến Trong số các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV, sử dụng chung BKT là hiện tượng phổ biến của những người NCMT ở nước ta cũng như trên toàn thế
Trang 34giới, là một trong những nguy cơ lan tràn HIV Người ta ước tính: hơn 5,1% các trường hợp lây nhiễm HIV liên quan đến hành vi TCMT không vô trùng, hơn 10,2% các trường hợp bệnh nhân AIDS là người NCMT [21], [31], [99]
Các nghiên cứu ở Châu Mỹ và Châu Âu cho thấy tần số TCMT, dùng chung dụng cụ tiêm chích, các hành vi tình dục có nguy cơ cao và số lần tiêm chích trong ngày là yếu tố nguy cơ có ý nghĩa về mặt thống kê Một nghiên cứu thời kỳ đầu ở New York cho thấy: tỷ lệ nhiễm HIV ở những người dùng
ma túy không chích là 21%, tỷ lệ này là 31% ở những người tiêm chích 1 - 5 lần một tháng 47,1% ở những ngươi tiêm chích 6 - 45 lần/tháng và 61% ở những người tiêm chích trên 45 lần/tháng Một nghiên cứu khác trong 110 người NCMT ở NewYork cho thấy một số yếu tố quyết định việc dùng chung BKT là nhận thức sai lệch về nguy cơ lây nhiễm, vấn đề giảm tải về chi phí và việc tiện lợi không phải mang theo dụng cụ tiêm chích Các nghiên cứu đều thống nhất cho thấy rằng: tiêm chích tại các tụ điểm tiêm chích là yếu tố nguy
cơ của nhiễm Tại các tụ điểm này ma túy được bán và các dụng cụ tiêm chích được chuẩn bị sẵn để thuê hoặc dùng chung Hàng chục, hàng trăm người NCMT có thể sẽ đến các tụ điểm tiêm chích như vậy trong một ngày và dùng chung số lượng nhất định các dụng cụ tiêm chích [21], [94]
Mặc dù, một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng giá trị văn hóa và xã hội quyết định hành vi dùng chung trong cộng đồng người NCMT, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng dùng chung BKT bị chi phối phần lớn bởi yếu tố luật pháp và kinh tế Tại hầu hết các bang ở Mỹ, việc tàn trữ các dụng cụ tiêm chích trong người được xem là phạm pháp Vì vậy để tránh sự bắt bớ khi mang dụng cụ tiêm chích, người NCMT đã lựa chọn việc dùng chung dụng cụ tiêm chích [21], [94]
Trang 35Tìm hiểu các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng nhiễm HIV ở người NCMT là chủ đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Theo kết quả nghiên cứu của Davies và Peters, trong 346 người NCMT tại thành phố Edinburgh, Scotland cho rằng những người NCMT sớm không có nghề nghiệp ổn định, nguy cơ mắc HIV cao hơn những người khác nhiều lần [79] Một nghiên cứu ở Trung tâm Kirketon Road, bệnh viện Sydney-Úc do Dwyer
và Richardson tiến hành trên 1.245 trường hợp NCMT gồm 908 nam và 337
nữ, kết quả cho thấy rằng các đối tượng NCMT là nữ có nguy cơ lây nhiễm cao hơn do dùng chung BKT nhiều hơn, nhiều hoạt động mại dâm, nhiều bạn tình và thường bạn tình của họ là những người NCMT [80]
Cayla và các cộng sự tiến hành một nghiên cứu ở Edinburgh cho thấy:
tỷ lệ nhiễm HIV ở những người TCMT không dùng chung BKT là 30,0% so với 56,2% ở những người có một vài lần tiêm chích chung BKT và 75,1% ở những người thường xuyên dùng chung BKT Trong số 1.363 người NCMT ở Italia, tỷ lệ nhiễm HIV là 22,1% ở những người không dùng chung BKT so với 67,4% ở những người luôn dùng chung BKT [75]
Bên cạnh hành vi dùng chung BKT khi TCMT, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những hành vi dùng chung dụng cụ tiêm chích gián tiếp khác cũng làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV Cách chia thuốc theo vạch chia sẻ
“Frontloading” là một cách người NCMT sử dụng một BKT để pha thuốc và
đo lường lượng thuốc chia cho một bạn chích sau đó đẩy thuốc trực tiếp vào đầu BKT của người đó Kết quả cho thấy 72,0% người NCMT ở Denver có hành vi dùng chung các dụng cụ này trong vòng một tháng trở lại Tỷ lệ dùng chung dụng cụ tiêm chích gián tiếp này gấp đôi tỷ lệ dùng chung BKT Kết quả nghiên cứu này cho thấy người NCMT chưa nhận thức đầy đủ các biện pháp dự phòng [21], [86]
Trang 36Việt Nam:
Hiện nay, ở Việt Nam và một số nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương lây nhiễm HIV phổ biến qua nhóm người NCMT Xu hướng này có thể sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới Nguyên nhân chính của tình trạng trên là người nhiễm HIV vẫn tiếp tục TCMT và sử dụng chung BKT Trong vòng 15 năm trở lại đây, hành vi dùng chung BKT khi tiêm chích là hành vi phổ biến ở nhóm quần thể NCMT, tỷ lệ dùng chung BKT trong 6 tháng qua ở người NCMT là 14 - 50% Các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, trong số những người NCMT có 87% đối tượng dùng chung BKT, trong đó thường xuyên dùng chung BKT là 40% Việc làm sạch BKT khi chích chung rất tùy tiện và không đảm bảo tiệt khuẩn cũng là yếu tố nguy cơ làm lây nhiễm HIV trong nhóm TCMT [11]
Một cuộc điều tra tại 7 tỉnh ở Việt Nam năm 2002 để lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cho thấy: Tỷ lệ thanh thiếu niên từ 15 - 24 tuổi đã từng TCMT tại Thanh Hóa là 0,4%, Nghệ An 1%, Bình Dương 1,5%, Bình Phước 0,4% và Long An 1,7% Do đặc điểm tâm sinh lý của thanh niên là thích khám phá và do sự lôi kéo của bạn bè, nhiều thanh niên đã sử dụng ma túy khi còn ở tuổi vị thành niên [17], [33]
Số năm TCMT càng nhiều nguy cơ lây nhiễm HIV càng cao Tỷ lệ người NCMT có thời gian TCMT trên 3 năm chiếm 69%, nhóm TCMT từ 3 năm trở xuống chiếm 31% Phân bố theo thời gian TCMT có sự khác biệt giữa các tỉnh: ở phần lớn các tỉnh, tỷ lệ người NCMT có thời gian TCMT trên
3 năm chiếm phần lớn trong số các trường hợp nghiệm chích ma túy Tỷ lệ người NCMT có thời gian tiêm chích trên 3 năm cao nhất ở Thái Nguyên (94%), tiếp đến là các tỉnh Cao Bằng (92,6%), Lạng Sơn (89,5%), Nam Định (87,2%), Hà Nội (87%), Hải Phòng (85,3%) Ngược lại, một số tỉnh có tỷ lệ
Trang 37người nghiện chích ma túy có thời gian tiêm chích từ 3 năm trở xuống chiếm
tỷ lệ cao như Gia Lai (68,1%), Bình Dương (60%), Sóc Trăng (59,1%), Nghệ
lệ người NCMT có tuổi dưới 25 tuổi lại chiếm đa số, ở An Giang là 60,7%, Sóc Trăng (59,3%), Gia Lai (57,2%) Mặt khác, phần lớn người NCMT tiêm chích lần đầu ở độ tuổi dưới 25 tuổi (64%) [14], [23], [64]
Nghiên cứu tỷ lệ hiện nhiễm HIV và yếu tố hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong người NCMT của Nguyễn Thanh Long tại Thị xã Lai Châu và 3 huyện của tỉnh Lai Châu được tiến hành năm 2007 trên 330 người NCMT Kết quả cho thấy: có 40,3% người NCMT nhiễm HIV; 87,3% người NCMT không bao giờ dùng lại BKT Trong tổng số 43 người NCMT có sử dụng lại BKT thì chỉ có 27,9% là luôn luôn làm sạch BKT 10% người NCMT có QHTD với PNMD trong thời gian 1 tháng trước khi tiến hành nghiên cứu [45]
Xu hướng tỷ lệ nhiễm HIV của những người NCMT nói chung qua các năm cho thấy, tỷ lệ nhiễm tăng từ 9,4% năm 1996 lên lới 29,3% vào năm
Trang 382002-2003 và sau đó giảm dần còn 11,6% vào năm 2012 và 10,3% năm 2013 [16] Tuy nhiên, ở một số địa phương, tỷ lệ này còn khá cao như: Thái Nguyên 32,7%, Lai Châu 27,7%, Hà Nội 24%, Quảng Ninh 22,4%, TP Hồ Chí Minh 18,24% [16] Nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường TCMT rất cao do tình trạng người sử dụng ma túy thường xuyên dùng chung BKT Kết quả giám sát hành vi kết hợp với chỉ số học sinh năm 2005 - 2006 cho thấy tỷ lệ
sử dụng chung BKT có giảm nhưng vẫn khá cao, tỷ lệ này là 37% tại TP Hồ Chí Minh, An Giang 33%, Quảng Ninh 14%, TP Hải Phòng 15% Ngoài ra, nhóm người NCMT thường xuyên có QHTD trong đó có QHTD với PNMD
và ít khi sử dụng BCS [11], [16], [52]
Hành vi dùng chung BKT trong TCMT những năm gần đây có chuyển biến tích cực Kết quả điều tra IBBS năm 2012 cho thấy, tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT trong một tháng qua là 16,7% Tỷ lệ này có giảm so các năm trước, nhưng vẫn còn cao ở các tỉnh như Sóc Trăng (80,3%), Bà Rịa - Vũng Tàu (67,3%), Kiên Giang (35,2%), Bình Dương (34,5%), TP Hồ Chí Minh (31,3%), Gia Lai (31%) Hành vi dùng chung BKT tuy có giảm nhưng không bền vững và còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây nhiễm HIV Kết quả nghiên cứu hành vi kết hợp với các chỉ số sinh học được tiến hành tại 10 tỉnh/thành phố năm 2009, trong nhóm nguy cơ cao đã nhận định dịch HIV/AIDS tại Việt Nam còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong những năm tới đây [14], [23]
Dùng chung BKT trong nhóm nghiện chích ma tuý còn tương đối phổ biến Kết quả điều tra IBBS năm 2012 cho thấy, tỷ lệ dùng chung BKT ở nhóm nghiện chích ma tuý trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra rất cao tại
Đà Nẵng (37%) và trên 20% tại nhiều tỉnh, thành phố như Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Yên Bái, Đồng Nai và TP Hồ Chí Minh Hải Phòng là thành phố có tỷ lệ sử dụng chung BKT trong nhóm người NCMT thấp nhất với tỷ lệ
Trang 397% và 3% trong khoảng thời gian 6 tháng và 1 tháng trước điều tra Dịch HIV tại các tỉnh có tỷ lệ dùng chung BKT cao vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch cao [14]
1.2.2 Các hành vi nguy cơ do quan hệ tình dục ở người NCMT
Thế giới:
Những người NCMT cũng thường xuyên đi kèm theo với các hành vi nguy cơ khác, làm tăng khả năng phơi nhiễm của những người NCMT và bạn tình của họ với việc lan truyền HIV qua QHTD Ngược lại, những người có hành vi QHTD cao cũng thường gắn kết với hành vi dùng chung BKT Việc kết hợp giữa TCMT và QHTD với PNMD làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV Kết quả điều tra cho thấy: 39% PNMD tại vùng Samara, 37% tại St Petersburg của Liên bang Nga nói rằng họ đã từng TCMT 50% số phụ nữ có xét nghiệm HIV dương tính tại Ucraina nhiễm HIV khi có QHTD với những người TCMT Tại bang Manipur (Ấn độ), kết quả điều tra năm 2001 cho thấy 20% PNMD nói rằng họ đã từng TCMT Và kết quả của một nghiên cứu khác tại phòng khám các STIs tại Mumbai (Ấn Độ) cho thấy 78% những người NCMT đã từng mua dâm và 27% trong số họ đã từng bán dâm [96], [109]
Lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) từ người NCMT sang PNMD là một đường lây quan trọng trong lây nhiễm HIV Người ta thấy những người NCMT là nữ giới mà có bạn tình khác giới cũng là người NCMT thì đó là một kết hợp yếu tố nguy cơ độc lập trong lây nhiễm HIV Tỷ
lệ chuyển đổi huyết thanh cao hơn 4 lần ở người NCMT có bạn tình nhiễm HIV khi đã kiểm soát được việc dùng BKT Những người nam giới NCMT
mà có tiền sử bị giang mai hoặc các bệnh LTQĐTD và những nữ giới TCMT
có trên 3 bạn tình trong 6 tháng trở lại sẽ có khả năng chuyển đổi huyết thanh nhiều hơn Nam giới NCMT có tình dục đồng giới hoặc lưỡng giới có nguy
Trang 40cơ cao nhiễm HIV vì không chỉ nhiễm HIV qua đường tình dục mà còn nhiễm theo đường tiêm chích [21], [102]
Việt Nam:
Theo kết quả điều tra giám sát hành vi năm 2005 - 2006 cho thấy: tỷ lệ người NCMT có QHTD với PNMD trong 12 tháng qua tại TP Hà Nội là 22% Quảng Ninh là 17%, TP Đà Nẵng là 35%, TP Hồ Chí Minh là 28% nhưng tỷ
lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất với PNMD thấp tại TP Hà Nội
là 59%, TP Đà Nẵng là 79%, TP Hồ Chí Minh là 47% Theo điều tra lượng giá nguy cơ nhiễm STIs và HIV tại 7 tỉnh là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Phước, Long An, Sóc Trăng cho thấy 18 - 43% NCMT có QHTD với PNMD nhưng tỷ lệ thường xuyên dùng BCS khi QHTD với PNMD chỉ khoảng 26 - 60% Mặt khác, khoảng 1 - 5% người NCMT có mắc STIs trong vòng 12 tháng qua Đó là những yếu tố nguy cơ cao làm tăng lây nhiễm HIV
ở những người NCMT [11], [33], [65]
Trong một nghiên cứu hành vi kết hợp với các chỉ số sinh học tại 10 tỉnh/thành phố năm 2009, cho thấy tỷ lệ những người nghiện chích ma túy có quan hệ tình dục trong 12 tháng qua khá cao Tỷ lệ này là 31 - 72% có QHTD với bạn tình thường xuyên và 11 - 48% có QHTD với PNBD Bên cạnh đó, tỷ
lệ người NCMT có sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD với PNMD vẫn ở mức thấp, dao động từ 38 - 74% ở mỗi tỉnh, tỷ lệ này là một trong những chỉ
số cảnh báo nguy cơ lây truyền HIV từ nhóm NCMT sang nhóm PNMD và ngược lại [14], [70]
Kết quả điều tra giám sát trọng điểm năm 2012 về quan hệ tình dục trong nhóm nghiện chích ma túy cho thấy: 67,4% người NCMT tham gia nghiên cứu trả lời có QHTD với phụ nữ bán dâm trong 12 tháng qua, trong đó chỉ có 67,5% người NCMT thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với phụ