1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI: Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy khoá trình lịch sử việt nam 19301945

82 372 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 19,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả nêu rõ: “Dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học trong đó học sinh tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề mà các bài toán có vấn đề được xây dựng the

Trang 1

MO DAU

1 Ly do chon dé tai

Bước sang thế ki XXI, đất nước ta đang phải đối mặt với những tranh đua

về sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh, tri thức được xem là nguồn nhân lực chủ yếu Do

32 €6

đó, giáo dục đào tạo được coi là “quốc sách hàng đầu”, “giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới” [3; 10], “giáo dục là chìa khóa mở cửa tiến vào tương lai” [3; 10] Như vậy, Đảng và nhà nước ta ngày càng xác định rõ vai trò của giáo dục, quan tâm đến giáo dục là quan tâm đến thế hệ trẻ, cũng là quan tâm đến tương lai của đất nước Nằm trong định hướng chung đó, khoa học xã hội và nhất là khoa học lịch sử được đặc biệt quan tâm, bởi vì lịch sử có ưu thế hơn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm ở các em

Để lịch sử phát huy ưu thế hơn nữa trong việc giáo dục thế hệ trẻ thì vấn

đề đặt ra là ngày càng phải đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp với tình hình mới Do đó, vấn đề cải tiến phương pháp dạy học lịch sử được đặt ra Nghị quyết Hội nghị lần II BCHTW Đảng cộng sản Việt Nam(Khóa VII) chỉ rõ: “ Phải đổi mới phương pháp giáo dục-đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” [42; 41]

Vậy làm thế nào để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ? Đó là câu hỏi của không ít những nhà giáo có tâm huyết và các nhà nghiên cứu bộ môn đặt ra Chúng ta biết rằng, dạy học lịch sử không phải thầy đọc trò chép, bắt học sinh học thuộc lòng, mà phải hướng dẫn gợi mở cho các em tự tìm tòi kiến thức Đặc trưng của dạy hoc lịch sử là “khơi dậy quá khứ để nhìn nhận hiện tại va tương lai”, do đó cần làm cho quá khứ sống lại sinh động, chính xác Trong

Trang 2

day hoc lịch sử, giáo viên ngoài việc truyền thụ tri thức - giáo dục tư tưởng, tình cảm cần phải chú ý tới việc phát triển tư duy, trí thông minh, óc sáng tạo ở học sinh, phải giúp các em đánh giá sự kiện, rút ra kết luận và hình thành khái niệm, từ đó góp phần đào tạo nên những con người mới “có kiến thức văn hóa, khoa học, có kĩ năng nghề nghiệp lao động tự chủ, sáng tạo và có kỉ luật ” [34; 2] Muốn vậy, cần có những phương pháp dạy học mới và việc xây dựng, vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề là một phương pháp quan trọng để phát huy tính tích cực, sáng tạo, năng lực nhận thức, năng lực hành động cho học sinh

Mặt khác, thực tế dạy học lịch sử ở phổ thông hiện nay cho thấy cũng còn không ít giáo viên do quan niệm sai lầm hoặc do thiếu phương pháp đã cho rằng lịch sử là môn thuần túy lý thuyết Với quan niệm sai lầm đó, họ đã biến giờ học lịch sử thành một giờ học khô khan, khó hiểu Điều này giải thích tại sao học sinh của chúng ta không có hứng thú với môn lịch sử

Để khắc phục tình trạng trên và để thực hiện mục tiêu đào tạo của Dang thì việc đổi mới phương pháp dạy học là điều cần thiết Việc lựa chọn đề tài:

“Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy khóa trình lịch sử Việt Nam 1930-1945” (SGK lịch sử lớp 12), góp phần vào thực hiện những nhiệm vụ đang đặt ra cho lí luận dạy học bộ môn cũng như thực tế dạy học ở trường phổ thông hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

Vấn đề vận dụng dạy học nêu vấn đề trong dạy học lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng, đã được một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong

và ngoài nước đề cập đến

2.1 Tài hệu nước ngoài

Lla.Lécne trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề” (NXBGD - 1997) đã làm sáng tỏ bản chất của phương pháp dạy học nêu vấn đề, vạch rõ cơ sở của phương pháp đó, tác dụng và phạm vi áp dụng của nó Tác giả xem xét các

Trang 3

chức năng cơ bản của dạy học nêu vấn đề và những điều kiện áp dụng phương pháp đó hiệu quả nhất Tác giả lưu ý người đọc chẳng những đến các mặt lí luận của vấn đề mà cả đến nhiệm vụ thuộc về tổ chức thực hành mà nếu không giải quyết thì dạy học nêu vấn đề không thể đảm nhiệm được vai trò của

nó Tác giả nêu rõ: “Dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học trong đó học sinh tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề mà các bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu học trong chương

“sự cần thiết phải xây dựng tình huống có vấn đề khi nghiên cứu cáđề tài quan trọng của giáo trình ” [8; 10]

2.2.Tài liệu trong nước

Trước hết phải kể đến các giáo trình phương pháp dạy học lịch sử của tác giả Trần Ngọc Liên chủ biên - xuất bản vào những năm 1992, 2001, 2002 đã đề cập đến một số vấn đề của dạy học nêu vấn đề như: Cách tạo tình huống có vấn

đề và giải quyết vấn đề đặt ra thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập nhận thức Trong cuốn “Đại cương về phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông”( Tủ sách đại học Vinh- dùng cho sinh viên sư phạm ngành lịch

Trang 4

sử - Vinh 2001), Tiến sỹ Trần Viết Thụ đã trình bày nhiều khía cạnh của dạy học nêu vấn đề: đặc trưng bản chất của dạy học nêu vấn đề, việc tạo tình huống

có vấn đề và cách giải quyết vấn đề, các hình thức cơ bản của dạy học nêu vấn đề Trong đó, tác giả khẳng định “vận dụng các hình thức của dạy học nêu vấn đề là biện pháp có hiệu quả nhất” [38; 101]

Trong cuốn “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong qúa trình dạy học” của PGS - PTS Nguyễn Ngọc Bảo đã nhấn mạnh dạy học nêu vấn đề là “phương pháp có tác động kích thích tích cực tính tự lực nhận thức

của học sinh” [2; 33]

Vấn đề này còn được đề cập đến trong các tạp chí nghiên cứu giáo dục, nghiên cứu lịch sử hay trong các khóa luận tốt nghiệp của sinh viên các khóa trước Trong mỗi bài viết, các tác giả nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của dạy học nêu vấn đề nhưng nhìn chung đều thừa nhận vai trò quan trọng, ý nghĩa về nhiều mặt của dạy học nêu vấn đề trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Ngoài ra, để việc vận dụng dạy học nêu vấn đề đạt được hiệu quả cao, bên cạnh các tài liệu nói trên, chúng tôi còn sử dụng các loại tài liệu hướng dẫn giảng dạy và sách giáo viên như: “Thiết kế bài giảng lịch sử ở trường PTTH”

(Phan Ngọc Liên (CB), NXB ĐHQG, HN,1999), “Sách giáo viên lịch sử lớp

12” (Nguyễn Anh Thái, Trần Văn Trị, Nguyễn Thừa Hỷ, NXBGD, HN, 1999),

“Tài liệu bồi dưỡng giảng dạy sách giáo khoa lớp 12 cải cách giáo dục bộ môn lịch sử” (Bộ giáo dục và đào tạo, vụ giáo viên, Hà Nội, 1999)

Tóm lại, các công trình nêu trên đã đặt cơ sở lí luận cho việc giải quyết đề tài nhưng chỉ dưới dạng khái quát chứ chưa nêu ra những phương pháp cụ thể, thiết thực cho việc vận dụng các hình thức cơ bản của dạy học nêu vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả dạy học chương “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam” (1930-1945)

Trang 5

3 Déi tượng và phạm vỉ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài này là vận dụng các hình thức

cơ bản của dạy học nêu vấn đề vào giảng dạy chương “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam 1930 - 1945” (SGK lịch sử lớp 12) nhằm phát huy tối

đa năng lực tư duy độc lập, khả năng sáng tạo của người học

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.I Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu đặc điểm và vai trò, tác dụngcủa ba hình thức dạy học nêu vấn

đề nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử

- Đề xuất phương án tối ưu cho việc vận dụng các hình thức cơ bản của dạy học nêu vấn đề vào giảng dạy chương “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam 1930 - 1945”(SGK lịch sử lớp 12)nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, hình thành năng lực tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của học sinh

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích trên, đề tài giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Từ lí luận và thực tế dạy học ở trường phổ thông, khẳng định có thể sử dụng và sử dụng tốt 3 hình thức dạy học nêu vấn đề trong dạy học lịch sử

- Xác định cách thức và biện pháp vận dụng 3 hình thức của dạy học nêu vấn đề trong dạy học lịch sử nói chung và trong việc giảng dạy chương “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam 1930 - 1945” (SGK lịch sử lớp 12)

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của quá trình nghiên cứu

5 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng tốt các hình thức của dạy học nêu vấn đề trong dạy học chương “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam 1930 - 1945” (SGK lịch sử lớp 12) thì sẽ nâng cao được hiệu quả của các bài học và sẽ phát huy

Trang 6

được tính tích cực nhận thức, gây hứng thú trong quá trình học tập, hình thành cho học sinh khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập cũng như trong thực tiễn

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu các tác phẩm của các tác gia kinh điển, của Hồ Chí Minh và của Đảng ta về giáo dục, nghiên cứu các công trình của các nhà khoa học giáo dục, lịch sử trong và ngoài nước về việc vận dụng dạy học nêu vấn đề trong dạy học lịch sử

- Tiến hành điều tra, khảo sát để nâng cao tính chân thực, khoa học của đề tài

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 7

NOI DUNG CHUONG 1:

CO SG Li LUAN VA THUC TIEN CUA DAY HOC NEU VAN DE TRONG DAY HOC LICH SU G TRUGNG PHO THONG TRUNG HOC

1.1 CO S6 Li LUAN VA THUC TIEN

1.1.1 Cơ sở lí luận:

1.1.1.1 Đặc điểm tâm lí học sinh

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định rằng nhận thức là sự phản ánh khách quan hiện thực và các quy luật của nó vào đầu óc con người Sự phản ánh đó là một quy trình vận động và phát triển không ngừng Quá trình vận động này đã được Lênin khái quát:

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách

quan” [20; 213]

Theo quan điểm của Lênin, quá trình nhận thức không phải là một con đường thẳng mà rất quanh co và phức tạp Con đường ấy đi từ nhận thức cảm tính, giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, giai đoạn nhận thúc trực tiếp

sự vật, hiện tượng ở mức độ thấp mà chưa đi vào bản chất - đến nhận thức lí tính, giai đoạn nhận thức cao hơn mang tính tổng hợp khái quát, phân tích giúp con người nhận thức được bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng Còn thực tiễn không chỉ là cơ sở của nhận thức mà còn là tiêu chuẩn để xác nhận chân lí Tất cả những hiểu biết của con người phải được khảo nghiệm trở lại trong thực tiễn thì trình độ nhận thức của con người càng phong phú và trở thành hệ thống

lí luận

Quá trình nhận thức của học sinh cũng không nằm ngoài quy luật chung

ấy, cũng bắt đầu từ chỗ cảm tính tri giác đối tượng (trực quan sinh động) đến

Trang 8

bản chất của sự vật, hiện tượng, xây dựng khái niệm và hình thành lí thuyết Tuy nhiên, nó cũng mang đặc điểm riêng biệt Nếu như các nhà bác học tìm hiểu cái mới mà mọi người chưa biết (cái mới khách quan) và con đường nhận thức của họ phải trải qua nhiều vấp váp, sai lầm, mò mẫm, trải qua nhiều giả thuyết và thực nghiệm thì ngược lại, học sinh tiếp thu cái mới một cách chủ quan, cái mà khoa học đã phát hiện ra và nhận thức được nó Đó chính là sự

“khám phá lại” những kiến thức kinh nghiệm mà nhân loại đã khám phá ra Vì vậy, việc tiếp thu được chân lí nói trên sẽ đạt kết quả tốt hơn nếu nó được thông qua hoạt động trí tuệ tích cực và khi hoạt động đó được tiến hành theo

sự hướng dẫn của giáo viên nhằm tìm ra những điều chưa biết mà đối với học sinh, nó xuất hiện như là một vấn đề cần giải quyết

Do vậy, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, trình tự nhận thức của học sinh cũng có thể không tuân theo quy luật nhận thức chung, mà đi từ cụ thể đến trừu tượng hoặc từ trừu tượng đến cụ thể, khái quát Đúng như Thái Duy Tuyên

đã nói “Trong nhận thức học tập, tùy thuộc vào đặc điểm tài liệu, khả năng và điều kiện thực tế của giáo viên và học sinh mà thầy giáo giới thiệu tài liệu đi từ

cụ thể đến trừu tượng hay từ trừu tượng đến cụ thể” [40; 10]

Điều quan trọng là trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, giáo viên phải tạo điều kiện để học sinh lĩnh hội tri thức một cách chủ động, sáng tạo, độc lập và tích cực nhằm đảm bảo cho các em có được những tri thức vững chắc, nâng cao được trình độ tư duy

Mặt khác, tâm lí học cũng đã chứng minh được rằng quá trình nhận thức của học sinh ở các cấp học không giống nhau, đặc biệt là ở lứa tuối PTTH Đây là giai đoạn mà trí tuệ, khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh phát triển mạnh, nên giáo viên cũng cần phải lưu ý để điều chỉnh hoạt động dạy học cho phù hợp, nhất là về phương pháp giảng dạy

Tóm lại, quá trình nhận thức của học sinh là quá trình “khám phá lại” tri thức mà nhân loại đã tìm ra Quá trình này tùy thuộc vào các khả năng, lứa

Trang 9

tuổi của học sinh Nó diễn ra dưới sự chỉ đạo của giáo viên nhằm phát triển và hoàn thiện tư duy độc lập của các em Do đó, nó đòi hỏi người giáo viên phải

có kĩ thuật, kĩ năng sư phạm cao Muốn vậy, ngoài việc trang bị đầy đủ kiến thức, người giáo viên cũng phải có phương pháp dạy học phù hợp Và đúng như chúng ta đã khẳng định, tư duy của học sinh bắt đầu hoạt động khi các em

có những thắc mắc về nhận thức Lúc đó tư duy mang tính tích cực, tìm tòi, phát hiện, và do đó học sinh sẽ có hứng thú cao đối với vấn đề nghiên cứu Dạy học nêu vấn đề đặt học sinh vào vị trí của người nghiên cứu làm tăng mức tích cực hoạt động của các em khi tiếp thu kiến thức, điều đó đảm bảo những kiến thức tiếp thu sẽ sâu sắc hơn đồng thời nâng cao năng lực tư duy cho các

em Nói cách khác dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm tâm lí, lứa tuổi của học sinh ở từng lớp học, cấp học, góp phần phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho các em học sinh thông qua việc tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề đặt ra

1.1.1.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử

Lịch sử là quá trình phát sinh, phát triển khách quan của tự nhiên và xã hội diễn ra ngoài ý muốn chủ quan của con người Lịch sử là thực tế không thể chối cãi và không ai có thể thay đổi được Ngay từ khi mới xuất hiện và trong quá trình phát triển của mình, con người nảy sinh nhu cầu nhận thức về chính mình và tổ chức xã hội của mình, bên cạnh nhận thức về tự nhiên, vì vậy, con người đã tạo nên lịch sử Lúc đầu, ý thức lịch sử của con người mới chỉ là những quan niệm về nguồn gốc, tổ tiên và cùng với thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức về lịch sử của con người càng phong phú và sâu sắc thêm Có thể nói, lịch sử là một quá trình thống nhất hợp quy luật và đầy mâu thuẫn Nó bao gồm lịch sử của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới Việc học tập lịch sử, nhất là đối với học sinh PTTH, là nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử (bao gồm cả lịch sử thế giới và

Trang 10

lịch sử dân tộc), góp phần hình thành thế giới quan khoa học, phẩm chất đạo đức, chính trị cho học sinh

Nhận thức lịch sử đúng đắn là yếu tố khách quan để hành động đúng, có hiệu quả trong hiện tại và dự đoán sự phát triển của tương lai.“Lịch sử là bó đuốc soi đường đi đến tương lai” Trong việc nhận thức lịch sử, không chỉ biết

mà phải hiểu để rút ra bài học kinh nghiệm cho hoạt động thực tiễn Từ đó, không chỉ giúp học sinh hiểu biết sâu sắc hơn mà còn rèn luyện cho các em trở thành những con người có tư duy độc lập, tự chủ, chủ động, sáng tạo trong suy nghĩ cũng như hành động Để làm được điều đó, người giáo viên phải có phương pháp dạy học phù hợp Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu một trong số các phương pháp dạy học tích cực đó - Phương pháp dạy học nêu vấn đề Mặc dù không phải là một phương pháp vạn năng nhưng qua thực tiễn của việc dạy học, phương pháp dạy học nêu vấn đề đã phát huy được hiệu quả rộng rãi của nó Chẳng những nó đảm bảo phát triển trí tuệ học sinh tới trình độ cao mà còn ảnh hưởng đến phong cách, tinh thần học tập, động cơ học tập của học sinh Thông qua việc tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề đó, dạy học nêu vấn đề góp phần phát huy tối đa năng lực độc lập, sáng tạo, tích cực của học sinh

1.1.1.3 Cơ sở lí luận dạy học

Trước những biến chuyển ngày càng to lớn của tình hình thế giới và do tác động của cơ chế thị trường, vai trò của giáo dục ngày càng được đề cao và được xem như là động lực trực tiếp nhất để bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài và thúc đầy sự phát triển của xã hội Do đó, nhà trường hiện nay muốn tồn tại và phát triển thì phải đổi mới việc dạy học trên cả 3 phương diện: Mục tiêu giảng dạy, nội dung giảng dạy và phương pháp giảng dạy Trong đó, yếu tố phương pháp là yếu tố cốt lõi nhất, yếu tố quan trọng cuối cùng quyết định nâng cao chất lượng đào tạo để đảm bảo cho sản phẩm đào tạo được nhanh chóng thích ứng với cơ chế mới

Trang 11

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi mở đầu cuốn “Lịch sử Việt Nam” đã viết:

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

[30; 221]

Có thể xem đây là nguyên tắc sư phạm về mối quan hệ giữa “biết” và

“tường” được đề cập đến trong giáo dục học hiện nay, tức là bàn về mối quan

hệ giữa “hiểu” và “biết” Luật giáo dục đã nhấn mạnh đến yêu cầu đối với phương pháp giáo dục là phải biết phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưõng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên

Tuy nhiên, trong thực tế, chất lượng giảng dạy ở trường phổ thông đang còn tồn tại nhiều bất cập Chất lượng đó thực chất không phải do nội dung bài dạy mà phần lớn là do phương pháp dạy học chưa có hiệu quả Hiện vẫn tồn tại nhiều quan niệm không đúng về phương pháp dạy học Không ít người lãng quên hoặc không coi trọng đúng mức vấn đề phương pháp Vẫn tồn tại khá vững chắc quan niệm sai lầm cho rằng người thầy giáo giỏi, lí tưởng là người dạy uyên bác, chỉ cần có kiến thức nhiều và sâu; người thầy giáo là “cuốn từ điển bách khoa” Với quan niệm này, người thầy được coi là “trung tâm của quá trình dạy học”, chủ động truyền đạt kiến thức sắn có còn học sinh thụ động tiếp thu kiến thức Tình trạng “thầy nói trò chép” trong giờ giảng và nói lại những điều thầy đã nói, sách giáo khoa đã ghi trong giờ kiểm tra, thậm chí

cả bài tập là hiện tượng thường gặp Điều này dẫn đến hậu quả là chất lượng đào tạo giảm sút, vai trò vị trí của bộ môn lịch sử ngày càng suy yếu

Song, trước những biến chuyển của tình hình thế giới, khi mà cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra như vũ bão, tác động sâu sắc đến mọi lnh vực của đời sống xã hội Hơn bao giờ hết, con người đang đứng trước những diễn biến to lớn, phức tạp về lịch sử - xã hội và khoa học - Kĩ thuật Nhiều mối quan hệ, mâu thuẫn của thời đại đặt ra cần phải giải quyết Nó đòi

Trang 12

hỏi con người được giáo dục không chỉ về mặt kiến thức mà còn phải trang bi phương pháp luận và phương pháp tư duy phù hợp Trong bối cảnh đó, các phương pháp “dạy học truyền thống” trở nên không còn phù hợp Và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra cấp thiết đối với mỗi quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới

Chúng ta biết rằng, trên thế giới, tại nhiều quốc gia, phong trào đổi mới, cải cách phương pháp dạy học đươc dấy lên mạnh mẽ vào giữa thế ki XX, trong đó phải kể đến Nga, Mĩ Ở nước ta, việc đổi mới phương pháp day học hiện nay là cần thiết và cấp bách nhằm đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ mà nên giáo dục đã đặt ra là “làm sao cho người học phải suy nghĩ, tìm tòi, hiểu rộng hơn những điều thầy nói, mở rộng từ đây năng lực sáng tạo của người học.” [10; 47] Tiến hành cách dạy - học như vậy sẽ khơi dậy được vốn trí tuệ

có thể đang còn tiềm ẩn ở trong mỗi học sinh

Tuy nhiên, việc đổi mới phương pháp dạy học phải dựa trên điều kiện thực

tế của đất nước, tức là trước hết phải thừa nhận bản chất thực tiễn của dạy học Đổi mới không có nghĩa là xóa bỏ hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống Bởi bên cạnh những hạn chế, các phương pháp này vẫn còn giá trị.Vì vậy, hướng tìm tòi của chúng ta là kết nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống có tác dụng tích cực với các phương pháp dạy học hiện đại Chẳng hạn,

lí luận dạy học truyền thống cũng có nêu việc đặt vấn đề và giải quyết vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh nhưng vẫn đặt nó trong khuôn khổ cứng nhắc của lối truyền thụ một chiều, nặng về vai trò của thầy và chưa đánh giá đúng vai trò hoạt động sáng tạo, thích ứng của học sinh trong xã hội phát triển Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học phải bổ khuyết mặt yếu kém nói trên, nâng cao trình độ đa dạng, phức hợp toàn diện của hoạt động dạy học theo yêu cầu ngày càng cao của xã hội phát triển

Tóm lại, phương pháp dạy học hiện đại, bên cạnh việc cung cấp đầy đủ kiến thức cho hoc sinh cần phải phát triển năng lực tư duy độc lập, khả năng

Trang 13

sáng tạo ở người học Để làm được điều dó, đòi hỏi phải có sự đổi mới phương pháp, góp phần “cải tiến và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử trong việc đào tạo con người phù hợp với thời đại chúng ta” [36; 12] Dạy học nêu vấn đề là một phương pháp hữu hiệu góp phần thực hiện việc áp dụng quan điểm này 1.1.2 Cơ sở thực tiễn

Mỗi môn học trong nhà trường, do đặc điểm, chức năng và nội dung của

nó đều góp phần xây dựng cơ sở cho việc đào tạo con người mới XHCN, đó là việc dạy chữ kết hợp với việc dạy người, dạy nghề Bộ môn lịch sử cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Một điều dễ nhận thấy là bộ môn lịch sử ngày càng có vai trò và vị trí quan trọng trong nhà trường phổ thông Điều đó thể hiện ở chỗ là các nhà trường hiện nay đã có rất nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên bộ môn Song thực tế, trong nhiều thập kỉ qua, việc học tập lịch sử vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu sót làm cho chất lượng bộ môn giảm sút Tình trạng không nắm được những tri thức lịch sử cơ bản, nhớ nhầm niên đại, tên người hay không hiểu lịch sử là khá phổ biến Nguyên nhân chính của tình trạng này là do phần lớn giáo viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác dạy sử nên chưa đề ra được phương pháp dạy học thích hợp và có hiệu quả, mà chủ yếu là dạy học theo kiểu nhồi nhét, áp đặt, thông báo - thông tin một chiều, thầy đọc trò ghi dẫn đến học sinh tiếp thu bài giảng một cách gò bó, thiếu tính chủ động và sáng tạo

Hay như trong khâu soạn bài, chuẩn bị giáo án, hiện vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm không đúng Một số giáo viên trẻ mới ra trường trong thực tế đã biến giáo án thành bản tóm tắt nội dung SGK, “thoát li nội dung SGK”, “để cháy giáo án” Trong khi đó một số giáo viên lâu năm lại xem giáo án là cái gì không thay đối, soạn một lần dùng cho nhiều năm học Những quan niệm sai lâm đó đã làm cho kiến thức của học sinh què quặt, nông cạn, không phát huy được tính tích cực sáng tạo của người học

Trang 14

Cũng giống như các bộ môn khác, ở trường phổ thông, lịch sử có kha năng, nhiệm vụ góp phần vào việc thể hiện mục tiêu đào tạo của trường phổ thông nói chung Môn học lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ

sở của khoa học lịch sử, đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống Cho nên, cũng như các môn học khác, việc học tập lịch sử cũng phải phát triển tư duy,trí thông minh, sáng tạo của người học Muốn vậy, bên cạnh việc đảm bảo về mặt nội dung đòi hỏi người dạy phải có phương pháp dạy học thích hợp

Một phương pháp dạy học chỉ có khả năng bồi dưỡng những phẩm chất của tư duy khi nó thực sự phát động, thúc đẩy sự suy nghĩ tích cực của người học và dẫn dắt sự suy nghĩ ấy theo con đường ngắn nhất hợp lí nhất Tâm lí học và thực tiễn dạy đã chứng minh tư duy, trí thông minh óc sáng tạo, năng lực độc lập của con người chỉ phát triển khi đứng trước tình huống có vấn đề Điều đó, các phương pháp dạy học như thuyết trình, thông báo không thể đáp ứng được Với chức năng giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức sâu sắc ở trình ở độ áp dụng sáng tạo, nắm vững các phương pháp nhận thức và phương pháp tư duy khoa học dạy học nêu vấn đề hướng giáo viên lôi cuốn học sinh một cách có hệ thống vào quá trình tìm tòi, giải quyết có chứng minh những vấn đề mới đối với các em, nhờ đó mà học sinh học được cách tự lực giành lấy kiến thức, áp dụng cái đã và nắm vững kinh nghiệm hoạt động sáng tạo Trong

xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay (dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực của học sinh ), với những ưu thế đó, dạy học nêu vấn đề là một trong những phương pháp được quan tâm áp dụng Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp dạy học này còn chưa thực hiện đồng bộ, rộng rãi, đặc biệt là trong việc giảng dạy các khóa trình lịch sử Ở đây, chúng tôi đề cập đến việc giảng dạy chương “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam1930 — 1945” (SGK lịch sử lớp 12) theo hướng dạy học nêu vấn đề Nhìn chung, việc áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề còn nhiều hạn chế,nhiều

Trang 15

giáo vién to ra lúng túng trong việc áp dụng nên chưa phát huy được các thế mạnh của phương pháp dạy học này

Từ thực tế đó, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đưa ra phương pháp vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề (đặc biệt là các hình thức của dạy học nêu vấn đề) để khắc phục những khuyết điểm của việc dạy - học lịch sử, góp phần phát triển năng lực suy nghĩ độc lập, sáng tạo của học sinh qua việc học tập chương “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam 1930-1945”

1.2 KHÁI NIỆM DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ VÀ CÁC HÌNH THỨC DẠY

HỌC NÊU VẤN ĐỀ

1.2.1 Khái niệm dạy học nêu vấn đề

Dạy học nêu vấn đề là một trong những thành tựu cơ bản của lí luận dạy học hiện đại Nét đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của dạy học nêu vấn đề là

“tình huống có vấn đề” Vậy tình huống có vấn dé là gì ?, xung quanh vấn dé này còn nhiều ý kiến khác nhau

Tư duy là công cụ, là quá trình nhận thức, sản sinh do nhu cầu cần phải khắc phục khó khăn về mặt nhận thức trong bất kì dạng hoạt động nào Toàn

bộ lịch sử nhận thức, về thực chất, là lịch sử khắc phục khó khăn về mặt nhận thức mà thực tiễn xã hội không ngừng đặt ra cho loài người Nhưng quá trình này lại diễn ra trong sự phát triển của cá thể Tư duy nảy sinh và phát triển khi cần khắc phục khó khăn bằng các phương tiện trí óc Khó khăn này người ta gọi là tình huống có vấn đề, đó là khái niệm chủ yếu và mở đầu của dạy học nêu vấn đề

Theo thuyết M.T Mácmutốp: “Tình huống có vấn đề là trở ngại về trí tuệ của con người xuất hiện khi anh ta chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện, quá trình thực tế, chưa thể đạt tới mục đích bằng cách hành động quen thuộc Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải quyết hay hành động mới Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo

Trang 16

có hiệu quả Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động tư duy tích cực sé diễn ra trong quá trình nêu và giải quyết vấn đề” [28; 221]

Ôkôn thì cho rằng: Đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề là những lúng túng về lí thuyết và thực hành để giải quyết vấn đề Đây là trạng thái tâm

lí của chủ thể, một hiên tượng chủ quan, trạng thái lúng túng xuất hiện trong quá trình nhận thức hoặc hoạt động của con người

Theo M.A.Machuskin, “Tình huống có vấn đề là một dạng đặc biệt của sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể được đặc trưng bởi một trạng thái tâm lí xuất hiện ở chủ thể khi giải quyết một vấn đề nào đó Ông đưa ra ba thành phần cấu thành “tình huống có vấn đề” là:

- Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học

- Tìm kiếm tri thức và phương thức hành động chưa biết

- Khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kiến thức và năng lực

C.LRubeinxtein nhấn mạnh rằng, “tư duy chỉ bắt đầu ở nơi xuất hiện tình huống có vấn đề Nói cách khác, ở đâu không có vấn đề thì không có tư duy Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng nội dung cần xác định, một nhiệm

vụ cần giải quyết một khó khăn cần tháo gỡ Do vậy, giải quyết tình huống có vấn đề sẽ đem đến một tri thức mới một phương thức hành động mới”[37; 317]

Theo Lécne “ tình huống có vấn đề là một khó khăn được chủ thể ý thức

rõ ràng hay mơ hồ mà muốn khắc phục thì phải tìm tòi những tri thức mới, những phương thức hành động mới” [19; 25] Muốn tình huống có vấn đề hoàn thành được chức năng của nó là kích thích tư duy thì nó phải đươc chủ thể tiếp nhận để giải quyết Tình hình này sẽ xảy ra nếu chủ thể sẵn có những tri thức ban đầu nào đấy đáp ứng nội dung cụ thể của tình huống, sẵn có phương tiện trí

óc để “xử sự” với nội dung cụ thể đó

M.Crugliắc quan niệm có các loại tình huống có vấn đề: Với biểu tượng

và khái niệm cũ của học sinh, mâu thuẫn với điêù học sinh biết về biểu tượng ấy

Trang 17

Vấn đề còn nảy sinh khi giáo viên giới thiệu cho học sinh biết luận điểm

lí thuyết chung và hướng hoạt động trí tuệ cho học sinh về việc luận chứng và chứng minh

Vấn đề nảy sinh khi học sinh hiểu ý nghĩa của chủ đề đang học và tầm quan trọng của nó

Tình huống có vấn đề xuất hiện khi đòi hỏi học sinh tìm những đặc điểm phổ biến và bản chất của một loạt đối tượng cùng loại

Như vậy, bản chất của dạy học nêu vấn đề là giáo viên tạo tình huống có vấn đề và tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề Sau khi giải quyết vấn đề, học sinh thu nhận được kiến thức mới hoặc phương thức hoạt động mới

1.2.2 Các hình thức cơ bản của dạy học nêu vấn đề

Dạy học nêu vấn đề không phải là một phương pháp cụ thể mà là nguyên tắc chỉ đạo việc tiến hành của nhiều phương pháp dạy học liên kết với nhau Vì vậy, dạy học nêu vấn đề bao gồm rất nhiều nội dung: Cấu trúc, bản chất, mục đích, Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu các hình thức cơ bản của dạy học nêu vấn đề nhằm phát triển hơn nữa năng lực tư duy, sáng tạo của học sinh

Theo Lécne, thực tiễn đã sản sinh ra 3 dạng dạy học nêu vấn đề khác nhau:

-Irình bày nêu vấn dé -Tìm tòi từng phần (Ơrixti) -Phương pháp nghiên cứu của học sinh

Mỗi dạng đặc trưng bởi một hệ thống hành động của giáo viên và học sinh riêng, tức bởi những phương pháp dạy học riêng [19; 48 - 57]

1.2.2.1 Trình bày nêu vấn đề

Ở trên, chúng tôi đã khẳng định rằng tư duy chỉ nảy sinh khi con người đứng trước tình huống có vấn đề, không có vấn đề thì sẽ không có hoạt động tư duy Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, không phải lúc nào tình huống có vấn

Trang 18

đề cũng làm nay sinh tư duy Có những trường hợp giáo viên đặt ra một vấn dé hay ra một bài toán có vấn đề nhưng học sinh hoàn toàn không đủ sức giả bài toán đó hoặc các em không thể tự lực giải quyết được những tình huống như vậy Trong những trường hợp này, chúng ta phải sử dụng hình thức và trình bày nêu vấn đề của giáo viên

Thực chất của trình bày nêu vấn đề là: sau khi tạo ra tình huống vấn đề, giáo viên chẳng những nêu lời giải cuối cùng mà còn vạch rõ lôgic của quá trình đi đến lời giải đó với những mâu thuẫn, những lệch lạc của nó, còn nêu nguồn gốc phát sinh những mâu thuẫn, lệch lạc đó và nêu luận cứ củng cố cho mỗi bước tiến tới lời giải cuối cùng

Còn học sinh thì theo dõi lôgIc của con đường giải quyết, cách thức tiến hành giải quyết vấn đề của giáo viên

Cách trình bày như vậy khêu gợi ở học sinh nhu cầu “không chủ định” theo dõi lôgic của bài trình bày, kiểm tra từng bước xem có đúng không Và nếu giáo viên trình bày một bước nào đó chưa thật nhất quán và có cơ sở, thì học sinh sẽ nảy sinh thắc mắc, hoài nghi, phản đối Điều đó giúp bồi dưỡng năng lực nhìn thấy vấn đề, óc phê phán của tư duy, kĩ năng nhìn thấy nhiều lời giải tức là bồi dưỡng những nét tư duy sáng tạo của học sinh

Tác dụng của trình bày nêu vấn đề còn là ở tính chất “dự kiến” của nó nữa Trong quá trình nghe hay đọc một bài trình bày chặt chẽ, nhiều khi học sinh dự đoán được bước nghiên cứu tiếp sau hoặc xây dựng bước đo theo cách riêng của mình, qua đó biểu lộ hình thức tối ưu của sáng tạo ở trình độ nào đó

Sự đúng đắn của phương pháp này còn thể hiện ở chỗ cần phải ở một mức

độ nhất định, không chỉ khẳng định, không chỉ minh họa, mà còn phải chứng minh tính chân thực của kiến thức cũng như tính hiệu nghiệm của các phương pháp hoạt động đã giảng dạy cho học sinh, nhằm mục đích cho các em làm quen với cách thức tìm tòi kiến thức, hình thành niềm tin vào tính chân thực của kiến thức đã truyền đạt

Trang 19

Ví dụ như đối với bài “Cuộc đấu tranh bdo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân” (1945 — 1946) (SGK lịch sử lớp 12), giáo viên có thể trình bày theo kiểu nêu vấn đề như sau: Giáo viên nêu vấn đề: “Tại sao nói rằng, ngay sau khi thành lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc ?”

Để giải quyết vấn đề đó, giáo viên lần lượt trình bày:

- Những khó khăn do chế độ thuộc địa-phong kiến để lại, do hậu quả của cuộc chiến tranh vệ quốc

- Sự non yếu của chính quyền cách mạng đang trong thời kì trứng nước, sự thiếu kinh nghiệm của nhân dân và của Đảng cầm quyền

- Âm mưu phá hoại và xâm lược của các nước đế quốc tìm mọi cách thủ tiêu thành quả cách mạng và xâm lược nước ta

Tất cả những khó khăn đó đã đẩy cách mạng nước ta lâm vào tình thế hiểm nghèo

Cách nêu vấn đề như vậy không bắt buộc trí nhớ của học sinh phải làm việc quá tải mà làm cho học sinh tư duy, suy nghĩ, nắm được mối liên hệ, bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử

1.2.2.2 Phương pháp tìm tòi một phần (Ơrixtic)

Trong quá trình dạy học, người giáo viên không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà quan trọng hơn là phải dạy học sinh con đường đi tới kiến thức Usinxki nói: “Nhiệm vụ chủ yếu của thầy giáo không phải là truyền đạt kiến thức mà dạy cho học sinh biết suy nghĩ” Đó mới là người dạy thực thụ Đứng trước tình huống có vấn đề, học sinh không thể tự lực giải quyết được toàn bộ vấn đề, vì vậy, giáo viên phải giúp đỡ các em giải quyết từng phần một bằng

hệ thống câu hỏi phụ gợi mở Đó chính là hình thức thứ hai của dạy học nêu vấn đề — phương pháp tìm tòi một phần

Trang 20

Thực chất của nó là: Nói chung, giáo viên lập kế hoạch các bước giải, lập

kế hoạch cho quá trình đi đến lời giải hay làm cho quá trình đó trở nên dễ giải hơn, còn học sinh chỉ tự lực giải quyết một phần vấn đề thôi Nhờ dạng dạy học này mà học sinh thu được kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, nắm được các yếu tố tìm tòi nghiên cứu

Thực tiễn dạy học cho thấy có rất nhiều con đường để thực hiện phương pháp này, trong đó, hình thức đàm thoại phát kiến (ơrixtic) là hình thức rõ ràng nhất Đó là hệ thống câu hỏi do giáo viên xây dựng thế nào để mỗi câu hỏi sau được suy từ các câu hỏi trước, để việc đặt nó trong cuộc đàm thoại la có lý đo,

để tất cả câu hỏi và lời giải của học sinh cho các câu hỏi đó, tập hợp lại, cuối cùng sẽ giải quyết được một vấn đề nào đó

Để thực hiện tốt biện pháp này, giáo viên cần tuân thủ quy trình sư phạm gồm các bước sau:

- Xác định vấn đề cần tìm hiểu bằng một câu hỏi chung có tính chất nêu nhiệm vụ nhận thức

- Bằng cách thông báo hoặc giải thích ngắn gọn, giáo viên định hướng cho học sinh thông qua việc cung cấp cho các em những kiến thức có tính lý luận

- Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề bằng hệ thống câu hỏi phụ, gợi mở

- Trên cơ sở những vấn đề được giải quyết trong đàm thoại, giáo viên tổng kết, khái quát lại cho học sinh dễ nhớ, dễ thuộc

Sử dụng hình thức đàm thoại trong dạy học lịch sử có hiệu quả nhiều mặt:

- Không phải thay đổi cấu trúc của sách giáo khoa, của bài giảng, không đảo lộn các khâu của quá trình dạy học mà vẫn nâng cao được hiệu quả dạy học

- Học sinh tự nắm vững kiến thức hơn vì các em tự khám phá ra kiến thức

đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên

- Góp phần phát triển tư duy học sinh, bởi vì đàm thoại tái hiện chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã học còn thực hiện đàm thoại phát kiến là để phân tích, khái quát hóa đánh giá các sự việc, hiện tượng lịch sử

Trang 21

- Gây hứng thú học tập cho học sinh

Để chứng minh, chúng tôi xin đưa ra ví dụ cụ thể sau:

Khi dạy bài “Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam nửa đầu XIX và cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp” giáo viên có thể đặt học sinh trước tình huống: “Trách nhiệm của nhà Nguyễn trước việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp như thế nào ?”

Đưa ra một lời giải có chứng minh chặt chẽ là một điều khó khăn đối với học sinh, tuy vẫn có một số em trả lời được Để tất cả học sinh có thể nắm được vấn đề, giáo viên có thể đưa ra hệ thống câu hỏi phụ gợi mở như sau:

- Cuộc khủng hoảng của đế quốc - phong kiến Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII dién ra nhu thế nao ?

- Nha Nguyén đã làm gi dé giai quyét khing hoang ?

- Sau khi Pháp xâm lược, nhà Nguyễn đã có những biện pháp, chính sách

1.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu của học sinh

Đây là hình thức cao nhất của dạy học nêu vấn đề Trong đó giáo viên xây dựng những vấn đề và bài toán có vấn đề dưới hình thức một bài làm có tính chất nghiên cứu, trong một hệ thống nhất định, còn học sinh làm các bài đó hoàn toàn tự lực, và trong quá trình đó tự mình tìm tòi sáng tạo

Thực chất của phương pháp nghiên cứu là việc thiết kế và sử dụng bài tập nhận thức Theo Lécne, việc thiết kế và sử dụng bài tập nhận thức có khả năng phát triển tư duy học sinh Theo ông, bài tập nhận thức khác câu hỏi thông thường ở chỗ nội dung của bất kỳ bài tập nào cũng là một vấn đề Trên cơ sở của vấn đề đó có sự mâu thuẫn giữa những điều học sinh đã biết và điều chưa

Trang 22

biết Vấn đề này được giải quyết bằng toàn bộ các thao tác và những phán đoán về trí tuệ và thực tiễn có tính chất trung gian giữa câu hỏi và câu trả lời của bài tập

Bài tập nào cũng yêu cầu học sinh phải có kiến thức hoặc cung cấp kiến thức cho học sinh Trên cơ sở kiến thức đó, các em giải quyết được bài tập, nhưng kiến thức này không tự chúng vạch ra biện pháp giải quyết và càng không phải chính bản thân câu trả lời Bài tập nào cũng đòi hỏi phải độc lập g1ải quyết tìm ra câu trả lời và được chứng minh rõ ràng

Phân loại bài tập nhận thức là một vấn đề khó khăn, phức tạp Có nhiều kiểu phân loại Theo Lecne, có hai cách phân loại: Một là, phân loại bài tập nhận thức theo nội dung lịch sử (có 15 loại bài tập); Hai là, phân loại bài tập nhận thức theo các phương pháp của khoa học lịch sử (có 12 loại bài tập) Điều đáng chú ý là khi ra bài tập cho học sinh cần có ý thức rõ ràng là bài tập thuộc về kiểu nào của sự phân loại theo hai cách trên Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh từng bước giải quyết bài tập như sau:

- Đọc kỹ các cứ liệu và nhớ câu hỏi đặt ra

- Bất đầu phân tích cứ liệu, suy nghĩ để giải bài tập

- Nhất thiết phải chứng minh cách giải bài tập Nếu bài tập có nhiều kết luận thì phải chứng minh từng kết luận một

- Kiểm tra xem các câu trả lời đã đúng chưa, đầy đủ chưa

Có thể nói, việc xây dựng bài tập nhận thức đã khó nhưng việc sử dụng chúng vào dạy học lịch sử một cách có hiệu quả còn khó hơn Thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông cho thấy, việc thiết kế và sử dụng bài tập nhận thức gặp nhiều khó khăn đòi hỏi người giáo viên cần có phương pháp sử dụng phù hợp để đạt hiệu quả dạy học tốt nhất, cụ thể:

Thứ nhất, bài tập nhận thức chỉ tập trung vào các kiến thức cơ bản của bài học, không nên sử dụng tràn lan kiến thức thứ yếu, không cơ bản

Trang 23

Thứ hai, bài tập nhận thức phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh và yêu cầu của bài học, tiết học

Thứ ba, khi sử dụng bài tập nhận thức phải kết hợp với các phương pháp

và các phương tiện dạy học khác

Thứ tư, giáo viên cần xác định thời gian sử dụng, chuẩn bị cách giải bài tập để tránh tình trạng bị động trước học sinh

Thứ năm, hệ thống bài tập nhận thức phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trong dạy học cả quá trình, phải đảm bảo hình thành tri thức cơ bản cho học sinh, phát huy tối đa năng lực nhận thức độc lập, sáng tạo, khả năng học tập của học sinh

Ví dụ, khi trình bày về công lao đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xác định con đường cứu nước đúng đắn, giáo viên có thể ra bài tập nhận thức: “Vì sao muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản? ”

Học sinh phải tự tìm tài liệu để chứng minh vấn đề này Trước hết, các em phải hiểu đầu thế kỷ XX, giai cấp tư sản dân tộc nói riêng ở Việt Nam không thể lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thắng lợi Sứ mệnh này thuộc về giai cấp vô sản Những bài học về lịch sử thế giới và dân tộc trước đó như: Công xã Pari, cách mạng tháng Mười Nga, sự thất bại của phong trào đấu tranh chống Pháp theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX, phong trào công nhân giúp học sinh những sự kiện, kiến thức để giải quyết vấn đề đặt ra

Như vậy, trên đây, chúng tôi đã mô tả ba hình thức khác nhau trong dạy học nêu vấn đề Mỗi hình thức có đặc điểm riêng, có ưu điểm riêng và có những hạn chế riêng của nó Nhưng trong qúa trình thực tế dạy học, ba hình thức này nhiều khi được kết hợp với nhau, hỗ trợ nhau, đan xen lẫn nhau giúp cho giờ học thêm sinh động, lôi cuốn

Trang 24

1.3 VỊ TRÍ VÀ Ý NGHĨA CỦA DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ TRONG DAY HỌC LỊCH SỬ

Dạy học nêu vấn đề có vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình dạy học, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi mà vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đang được đặt ra cấp thiết Tại sao vậy?

Như chúng ta đã biết, quá trình học tập của học sinh phải dựa vào trình độ nhận thức tích cực, sáng tạo Chính hoạt động nhận thức đó là yếu tố cơ bản nhất của việc nắm vững kiến thức, là biểu hiện khát vọng và sự phát triển cao

về trí tuệ của học sinh Vấn đề đòi hỏi ở người giáo viên là muốn học sinh phát triển tư duy không phải chỉ nêu tiêu đề bài học và thông báo những vấn đề cơ bản của nó mà phải gây cho học sinh hứng thú, tạo nên những mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, dựng nên những tình huống buộc học sinh phải tự minh tìm tòi và giải quyết, điều khiển được sự chú ý và hứng thú học tập của học sinh

Từ xưa đến nay, có rất nhiều phương pháp được vận dụng vào trường học, song tác dụng không lớn lắm Hiện nay, do yêu cầu của xã hội đòi hỏi phải có con người phát triển toàn diện và hài hòa thì công tác giảng dạy nói chung và phương pháp dạy học nêu vấn đề nói riêng có ý nghĩa to lớn Bởi lẽ nó đảm bảo được ở người giáo viên có phương pháp dạy học tốt nhằm phát huy được tính tích cực học tập của học sinh và tính độc lập suy nghĩ của học sinh là cơ

sở vững chắc và duy nhất của mọi sự học tập có hiệu quả

Dạy học nêu vấn đề là một phương pháp dạy học đặc biệt của công tác tổ chức dạy học Nó khác hẳn với các phương pháp dạy học “nhồi sọ” khác Tính chất quyết định của dạy học nêu vấn đề là chuẩn bị cho thế hệ trẻ tham gia lao động sáng tạo, biểu lộ tiềm lực sáng tạo trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động Dạy học nêu vấn đề giúp học sinh nắm vững cơ sở khoa học một cách tích cực, sáng tạo và phát triển cho học sinh những năng lực nhận thức và năng lực hành động, tự giác, độc lập giải quyết vấn đề Mặt khác, dạy học nêu vấn đề

Trang 25

còn giúp học sinh củng cố, mở rộng và đào sâu tri thức đã tiếp thu, làm cho học sinh tích cực hơn trong việc học tập Đó cũng chính là ý nghĩa về mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển

e© Về mặt giáo dưỡng:

Nói đến lịch sử là nói đến sự kiện, không gian, thời gian Vì vậy, trong quá trình giảng dạy lịch sử, nhiệm vụ cơ bản của giáo viên là cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản đủ để khôi phục lại quá khứ và hiểu biết về quá khứ Dạy học nêu vấn đề giúp học sinh nắm kiến thức một cách sâu hơn, nhanh hơn, chắc chắn hơn vì kiến thức bao giờ cũng gắn với một tình huống mới cho học sinh Đó là những thắc mắc, những vấn đề được đặt ra giải quyết Qua phân tích sâu sắc vấn đề đặt ra, học sinh sẽ nắm được bản chất sự kiện, từ đó có quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề đúng đắn hơn, góp phần nâng cao hiểu biết của học sinh

đề, có thái độ thẳng thắn và dứt khoát khi nhìn nhận, đánh giá về các vấn dé, các nhân vật và hiện tượng lịch sử Đồng thời hình thành ở các em tình cảm tôn trọng đối với các anh hùng liệt sỹ , thái độ căm thù đối với cái ác, phân biệt được cái đúng cái sal; từ đó xác định được vi tri, vai tro của mình đối với cuộc sống hiện tại

Như vậy, dạy học nêu vấn đề có tác dụng giáo dục rất tốt, góp phần hình thành thế giới quan, rèn luyện cho các em tính kiên nhẫn, nhanh nhạy, tính làm việc độc lập

Trang 26

e Vé phat trién hoc sinh :

Môn học nào ở trường phổ thông cũng hình thành cho học sinh tư duy bộ môn Vì vậy, bộ môn lịch sử cũng tạo cho các em tư duy lịch sử, nó được hình thành trong quá trình học tập lịch sử Có thể nói rằng, tư duy lịch sử là hoạt động trí tuệ của học sinh nhằm nhận thức đúng quá khứ, hiểu rõ hiện tại và dự đoán sự phát triển hợp quy luật của tương lai Tư duy lịch sử thể hiện rõ nhất, tập trung nhất ở việc giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản một cách thông minh, sáng tạo và tích cực

Như vậy, dạy học nêu vấn đề là điều kiện và phương tiện để đạt tới những mục đích quan trọng nhất của nhà trường, giúp học sinh phát triển năng lực tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn, rèn luyện các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh Cũng như một số kỹ năng về trình bày, diễn đạt ý kiến của mình, kỹ năng nghiên cứu lịch sử

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải thấy rằng dạy học nêu vấn đề không phải là một phương pháp vạn năng để nâng cao chất lượng học tập và có tác dụng đối với học sinh trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào Nó cũng chỉ là một bộ phận hợp thành tất yếu của hệ thống dạy học hoàn chỉnh hiện đại, đòi hỏi sự đa dạng trong mục đích, nội dung trí dục và phương pháp dạy học Bởi bên cạnh những ưu điểm, phương pháp này vẫn còn có hạn chế nhất định Phương pháp dạy học nêu vấn đề được ứng dụng tối ưu nhất cần phải có

cả sự cải tiến đồng bộ về chương trình, tài liệu tham khảo và cả hàng loạt biện pháp tổ chức khoa học và sư phạm

1.4 THUC TIEN CUA VIỆC VAN DUNG DAY HOC NEU VAN DE

TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PTTH HIỆN NAY

Hiện nay, trong nhà trường phổ thông, tình hình nhận thức về quan điểm dạy học mới - quan điểm dạy học nêu vấn đề và được áp dụng trong thực tiễn dạy học như thế nào?

Trang 27

Để nắm được tình hình đó,chúng tôi đã trực tiếp tiến hành điều tra, phỏng vấn một số giáo viên Ở các trường sau:

Cô Lê Thị Hiền - Giáo viên trường PTTH Lương Đắc Bằng - Hoằng Hóa Thây Lê Quốc Bình - Giáo viên trường PTTH Lam Sơn - Thanh Hóa Thầy Nguyễn Duy Quân - Giáo viên trường PTTH Hoằng Hóa II - Thanh Hóa

Cô Lê Thị Hòa - Giáo viên trường PTTH Lý Tự Trọng - Thạch Hà - Hà Tĩnh

Cô Hoàng Thị Yến - Giáo viên trường Bán công thị xã Cửa Lò - Nghệ An

Cô Phan Danh Hoa - Giáo viên trường PUTH Lê Quý Đôn - Thạch Hà -

Hà Tĩnh

Thầy Lê Xuân Đồng - Giáo viên trường PITH Đào Duy Từ - Thanh Hóa

Cô Đỗ Như Hoa - Giáo viên trường PTTH Tống Duy Tân - Vĩnh Lộc - Thanh Hóa

Các giáo viên trên đây là những người có kinh nghiệm, có thâm niên công tác Tổng hợp các ý kiến của giáo viên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau :

- Phần lớn các giáo viên đều duy trì cách dạy học truyền thống kiểu thầy doc - tro ghi

- Phương pháp giảng dạy chủ yếu ở các trường phổ thông từ trước đến nay

là thông báo và thuyết trình, chỉ có một số ít là kết hợp phân tích và diễn giảng

- Một số giáo viên cho rằng việc vận dụng phương pháp dạy học mới đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức Trong khi đó, tài liệu chuẩn lại rất thiếu và khó tìm, không phù hợp với điều kiện ở một số vùng Do đó, việc sử dụng phương pháp dạy học mới là rất hạn chế, có chăng cũng chỉ thực hiện được một phần nào đó do sự nỗ lực và tìm tòi của những cá nhân mà thôi

Điều đó cho thấy vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề là hết sức mới mẻ - mới với thầy và bỡ ngỡ đối với trò Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng nếu vận dụng đúng phương pháp dạy học này thì hiệu quả sẽ rất cao

Trang 28

Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng việc giảng dạy theo phương pháp nêu vấn đề ít được quan tâm trong trường phổ thông hiện nay Điều đó một phần do thói quen ngại thay đổi của phần lớn giáo viên một phần do điều kiện khách quan đưa lại Thực tế đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước, các ban ngành có liên quan phải chú ý hơn nữa đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức các buổi trao đổi kinh nghiệm, học chuyên đề để các giáo viên có thể tiếp cận được một cách đầy đủ hơn và nắm bắt được rõ hơn các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là phương pháp dạy học nêu vấn đề, để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học ở trường phổ thông hiện nay

1.5 NHỮNG YÊU CẦU KHI VẬN DỤNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ

TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY

Dạy học nêu vấn đề có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình dạy học Tuy nhiên, cũng như mọi phương pháp dạy học khác, phương pháp dạy học này không thể có tính chất vạn năng Nó cũng chỉ là một phương pháp

mà thực ra trên quy mô rộng lớn phải được ứng dụng song song với các phương pháp khác, vì vậy để giờ học nêu vấn đề đạt kết quả tốt, cần phải tuân thủ, đáp ứng một số yêu cầu sau:

Trước hết, cần phải bám sát nội dung cơ bản của bài học, của quá trình lịch sử Mỗi sự kiện trong các bài học, các quá trình lịch sử đều có thể góp phần vào việc phát triển tư duy học sinh Song chúng ta cần tập trung vào những sự kiện lớn, cơ bản làm cơ sở Để phát triển tư duy học sinh, không phải chỉ có sự kiện lịch sử mà còn có những hiểu biết khác có liên quan cũng như kĩ năng, phương pháp nắm vững tri thức và vận dụng tri thức

Thứ hai, dạy học nêu vấn đề chỉ có tác dụng khi học sinh đứng trước tình huống có vấn đề Do vậy, để vận dụng dạy học nêu vấn đề đạt hiệu quả cao, giáo viên phải chú ý đến nhu cầu tư duy của học sinh bằng cách tạo ra tình huống có vấn đề và biết cách giải quyết vần đề

Trang 29

Thứ ba, đảm bảo tính vừa sức :

Việc sử dụng các hình thức của dạy học nêu vấn đề không đặt ra yêu cầu quá cao, cũng như quá dễ đối với học sinh, mà phải phù hợp với yêu cầu và trình độ của mỗi học sinh Nói cách khác tính vừa sức thể hiện ở chỗ học sinh phải có sự nỗ lực nhất định về trí tuệ mới có thể tiếp thu hiệu quả bài học Thứ tư, phải kết hợp hoạt động của thầy và trò trong việc vận dụng dạy học nêu vấn đề Trong đó giáo viên là người tổ chức hướng dẫn quá trình học tập, còn học sinh là chủ thể của quá trình nhận thức

Thứ năm, phải kết hợp với các phương pháp dạy học khác: phương pháp

sử dụng đồ dùng trực quan, phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo

Cuối cùng, phải đảm bảo tinh kha thi, tức là kha năng ứng dụng cao trong thực tiễn

Trang 30

CHUONG 2

PHƯƠNG PHÁP VAN DUNG DAY HOC NEU VAN DE TRONG

GIANG DAY KHOA TRINH LICH SU VIET NAM 1930 — 1945

Trên thế giới, việc dạy học môn lịch sử vốn được coi trọng từ lâu, ở nước

ta từ sau cách mạng tháng Tám, việc giáo dục lịch sử vốn được coi trong từ lâu, ở nước ta từ sau cách mạng tháng Tám việc giáo dục lịch sử cũng được đẩy mạnh, đặc biệt là việc đổi mới phương pháp Đảng ta đã chỉ đạo cải cách giáo dục nhiều lần, thực hiện phối hợp nhiều nguyên tắc để đạt hiệu quả tối ưu Những kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam và thế giới được phân phối hợp

lí, phù hợp với đặc điểm tâm lí và trình độ học sinh ở các cấp học, đặc biệt là chương trình lịch sử lớp 12 cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản của lịch sử thế giới từ sau chiến tranh thế giới thứ hai và lịch sử Việt Nam từ năm1919 đến nay, cụ thể:

- Lịch sử thế giới hiện đại (từ sau chiến tranh thế giới II) gồm 5 chương, 5 bài và 18 tiết

- Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến nay gồm 6 chương, 18 bài và 41 tiết Trong phần lịch sử Việt Nam, chương II “Cuộc cách mạng giải phóng dân toc Viét Nam 1930 — 1945” được trình bày trong 8 tiết, chiếm 1/5 tổng số tiết

về lịch sử Việt Nam và hơn 1/7 chương trình lịch sử lớp 12

Trang 31

Từ đó có thể thấy được vị trí và tầm quan trọng đặc biệt của chương

“Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam1930 — 1945” Đây là giai đoạn

15 năm vận động của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng cộng sản Việt Nam Đây cũng là giai đoạn cách mạng Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng về đường lối lãnh đạo, thoát khỏi những thất bại liên tiếp, tình hình đen tối tưởng như không có đường ra, tìm được con đường cách mạng đúng đắn - con đường cách mạng giải phóng dân tộc theo lập trường của giai cấp vô sản theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác - LênIn Con đường đó đã được thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng Đây là giai đoạn có tính chất bản lề, đặt cơ sở cho toàn bộ thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn về sau

Vì vậy, việc giáo dục lịch sử giai đoạn này là hết sức quan trọng và cần thiết, đòi hỏi người giáo viên phải có năng lực sư phạm tốt, kết hợp đa dạng nhiều phương pháp giảng dạy

2.1.2 Nhiệm vụ:

Trong quá trình giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông, bộ môn lịch sử cũng như bất kì một môn học nào khác đều phải thực hiện 3 chức năng, nhiệm vụ: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, tức là cung cấp kiến thức giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ,nâng cao năng lực tư duy và năng lực hành động cho học sinh Trong phạm vi đề tài này, việc giảng dạy chương II theo phương pháp dạy học nêu vấn đề cũng không nằm ngoài mục đích trên vì dạy học nêu vấn đề có tầm quan trọng và ý nghĩa rất lớn trong toàn bộ khóa trình lịch sử lớp 12

e Về mặt giáo dưỡng :

Thông qua việc giảng dạy chương II “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam 1930 - 1945” giúp học sinh nắm được chặng đường đầy khó khăn gian khổ nhưng cũng rất oanh liệt của cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trải qua 5 đợt chuẩn bị và 4 đợt tập đượt: 1930 - 1931, 1932 -

Trang 32

1935, 1936 - 1939, 1939 - 1945, để tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám giành

chính quyền trong cả nước Bằng những dẫn chứng, những sự kiện lịch sử có chọn lọc, giáo viên nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam “một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch

sử nứơc ta, nó chứng tỏ giai cấp vô sản đã trưởng thành và có đủ sức mạnh để lãnh đạo cách mạng ” Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã đoàn kết một lòng, đập tan bè lũ tay sai đế quốc bán nước và cướp nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giải phóng dân tộc bằng cuộc tổng khởi nghĩa mùa thu tháng Tám lịch sử

Mỗi một phong trào cách mạng là một bước chuẩn bị và một đợt tập dượt, hoàn thiện dan Kể từ bước chuẩn bị đầu tiên là sự ra đời của Đảng cho đến bước chuẩn bị về mọi mặt cuối cùng, giai đoạn 1939-1945

Mặt khác, thông qua việc giảng dạy chương “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam 1930 — 1945”, giáo viên còn cung cấp và trang bị thêm cho học sinh một hệ thống khái niệm mới như: Diễn tập, khởi nghĩa từng phần, tổng khởi nghĩa, thời cơ, cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới Mục đích là giúp các em củng cố vững chắc hơn kiến thức lịch sử đã học và làm cơ sở cho việc tìm hiểu giai đoạn tiếp theo

e Về mặt giáo dục :

Trên cơ sở giúp học sinh nắm vững nội dung, kiến thức cơ bản của chương “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam 1930 — 1945”, giáo viên qua đó giáo dục cho các em những tư tưởng, tình cảm, đạo đức, hành vi đúng đắn Đó là niềm tin vào lí tưởng XHCN, vào chủ nghĩa Mác - Lênin, con đường cách mạng đúng đắn mà Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn và dân tộc việt nam đã ởi theo Ngoài ra, giáo viên còn giáo dục cho học sinh lòng kính yêu đối với Đảng, với Bác Hồ - vị cha già của dân tộc, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn giải phóng dân tộc và nhân dân ta thoát khỏi gông cùm nô

lệ, đưa dân tộc ta bước sang kỉ nguyên mới - kỉ nguyên độc lập tự do và tiến

Trang 33

lên chủ nghĩa xã hội Khi nói đến thành công của cách mạng tháng Tám, giáo viên không thể không nhắc đến nguyên nhân thắng lợi của nó Đó là sản phẩm của sự kết hợp những nhân tố chủ quan và khách quan Nói cách khác, thắng lợi đó một mặt là do sức mạnh đoàn kết, tỉnh thần quyết chiến, quyết thắng, nghị lực phi thường của dân tộc ta đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch

sử Nhưng chúng ta cũng không thể không nhắc đến những nhân tố quốc tế thuận lợi, đến sự phối hợp chiến đấu, giúp đỡ và ủng hộ hết lòng của bạn bè thế giới (Quốc tế cộng sản, Liên Xô, Đảng cộng sản Pháp và những người yêu chuộng hòa bình thế giới), qua đó giáo dục cho học sinh chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản

e_ Về mặt phát triển:

Chức năng giáo dưỡng và giáo dục của bộ môn lịch sử góp phần vào việc phát triển học sinh, chủ yếu là hình thành ở các em năng lực tư duy và năng lực hành động, nhằm nhận thức đúng quá khứ, hiểu rõ hiện tại và dự đoán sự phát triển hợp quy luật của tương lai Tư duy lịch sử thể hiện rõ nhất tập trung nhất

ở việc vận dụng kiến thức đã học một cách thông minh, tích cực và sáng tạo Vận dụng vào việc giảng dạy chương II, ta thấy đây là một gia1 đoạn cách mạng diễn ra trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, đầy biến động Vì vậy đòi hỏi người học phải có óc phán đoán, phân tích, so sánh, đối chiếu một cách khách quan, khoa học mới hiểu đúng và sâu sắc cốt lõi của vấn đề Có như vậy, học sinh mới thấy được sự đúng đắn và sang tạo, khả năng nắm bắt tình hình và tận dụng thời cơ của Đảng ta qua việc chuyển hướng và hoàn chỉnh đường lối chiến lược cách mạng, qua việc tổ chức chuẩn

bị và tiến hành tổng khởi nghĩa tháng Tám Qua đó, giúp học sinh rút ra những kết kuận, những bài học kinh nghiệm cần thiết, đồng thời giúp các em

có khả năng kết hợp được nhiều phương pháp và cách tiếp cận vấn đề tốt hơn

và phù hợp hơn

Trang 34

2.1.3 Nội dung cơ bản của chương

Nội dung bao trùm, cơ bản nhất của chương “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam 1930 — 1945”mà học sinh cần nắm vững, đó là con đường cách mạng giải phóng dân tộc theo lập trường của giai cấp vô sản, con đường cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra và được thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng Trải qua 15 năm chuẩn bị và tập dượt, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi nhanh chóng chỉ trong vòng 15 ngày

Trong vòng 15 năm (1930 — 1945) lịch sử Việt Nam trải qua 3 chặng đường tương ứng với 3 phong trào cách mạng của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo

Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930) là bước ngoặt vĩ đại đầu tiên của cách mạng Việt Nam Đảng là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Đảng ra đời đã chấm dứt thời kì khủng hoảng lãnh đạo của cách mạng Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, sâu sắc nhất là trong những năm 20, mở ra thời kì cách mạng Việt Nam có chính đảng cách mạng của giai cấp vô sản lãnh đạo Đảng với đường lối cách mạng đúng đắn đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến lên những bước vững chắc xen kế những bước nhảy vọt Nó chứng tỏ giai cấp vô sản đã trường thành, đã chuyển từ tự phát sang tự giác và đủ sức lãnh đạo cách mạng Đây là nhân tố quyết định, là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên cho những bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam

Phong trào cách mạng 1930 - 1931 có một vi tri vô cùng quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng gla1 cấp ở nước ta Trong phong trào này, lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng đã xây dựng được khối liên minh công - nông chặt chẽ do giai cấp công nhân lãnh đạo Phong trào đã diễn

ra trong phạm vi toàn quốc, quyết liệt và mạnh mẽ, lật đồ chính quyền của đế quốc phong kiến, thay thế vào đó là một chính quyền mới - chính quyền Xô

Trang 35

viết Mặc dù cuối cùng bị đàn áp, dập tắt và thất bại do nhiều nguyên nhân xong phong trào công nông 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh đã

để lại nhiều bài học quý báu “đã rèn luyện lực lượng cho cách mạng tháng Tám sau này”, cụ thể như vấn đề liên minh công nông, vấn đề đấu tranh chính trị và khởi nghĩa vũ trang, về vấn đề dân tộc và dân chủ, về việc thành lập mặt trận dân tộc thống nhất Phong trào là cuộc diễn tập đầu tiên của Đảng và quần chúng cách mạng chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Phong trào cách mạng 1936 - 1939 thực sự là một phong trào dân chủ rộng lớn, diễn ra trên nhiều lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng Nó thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia: Nông dân, công nhân, trí thức, tiểu thương, tiểu chủ Đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, tự do, cơm áo, hòa bình Phong trào thể hiện vai trò tiên phong của giai cấp công nhân trên cơ

sở liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng ta đã kết hợp nhuần nhuyễn các khả năng, các phương pháp đấu tranh hợp pháp và bất hợp pháp, công khai và nửa công khai để tập hợp quần chúng đông đảo, tập dượt cho họ đấu tranh, tạo nên một lực lượng chính trị hùng hậu đông đảo làm nòng cốt cho Đảng và phân hóa được kẻ thù Đồng thời, phong trào cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho Đảng và cho cách mạng nước ta trong giai doan sau

Vì vậy, phong trào dân chủ 1936-1939 được Đảng ta đánh giá là cuộc diễn tập thứ hai cho Tổng khởi nghĩa 8/1945

Từ 1939 - 1945, bằng phong trào giải phóng dân tộc, quần chúng tiến hành đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự và khởi nghĩa vũ trang, nhằm chống đế quốc và tay sai, giành quyền sống tự do, độc lập, trực tiếp chuẩn bị lực lượng tiến tới tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, giải phóng dân tộc Đây cũng là giai đoạn Đảng ta thực hiện chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược tại các Hội nghị 6, 7 và hoàn chỉnh tại Hội nghị 8, thành lập mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp lực lượng cả nước,

chuẩn bị Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến

Trang 36

Tóm lại, vấn đề cơ bản, cốt yếu mà học sinh cần nắm vững khi học giai đoạn này là: Thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 không chỉ là kết quả của 15 ngày đấu tranh quyết liệt mà là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu đài qua 15 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng

2.1.4 Nội dung cơ bản của tiết

Cấu trúc chương II “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam”1930- 1945” bao gồm 4 bài với những nội dung cụ thể như sau:

Bài 4 “Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ”

Bài này được dạy trong một tiết bao gồm 3 mục :

Mục 1 Hội nghị thành lập Dang cong san Viét Nam( 3/2/1930)

Đối với mục này, giáo viên phải giúp học sinh hiểu rõ các điều kiện ra đời của Đảng cộng sản đã đầy đủ và chín muồi Đây là yêu cầu cấp thiết để thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên Đồng thời, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta

đã thấu suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, con đường kết hợp và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Ngoài ra, giáo viên cũng phải làm nổi bật được tính đúng đắn và sáng tạo của bản cương lĩnh chính trị đầu tiên cua Dang

Mục 2 Luận cương chính trị năm T930

Ở mục này, giáo viên giúp học sinh hiểu được những nội dung cơ bản của luận cương thông qua việc so sánh với bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên (đã trình bày ở mục 1) Qua đó rút ra những nguyên nhân hạn chế của bản luận Cương

Mục 3 ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng

Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững những ý nghĩa cơ bản sau : Đối với cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối lãnh đạo Đây là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho bước phát triển nhảy vọt mới

Trang 37

Đối với giai cấp công nhân, chứng tỏ “giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”, chuyển phong trào công nhân từ tự phát sang tự giác

Bài 5 Phong trào cách mạng 1930 - 1931 và cuộc đấu tranh phục hồi lực lượng cách mạng

Bài này chia làm 2 tiết bao gồm 3 mục lớn

Mục I Việt Nam trong thời kì khủng hoảng kinh tế thế giới(1929 - 1933)

Ở mục này, giáo viên hướng dẫn cho học sinh thấy được âm mưu, thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp: tìm cách trút gánh nặng khủng hoảng lên vai nhân dân thuộc địa, trong đó có nhân dân Việt Nam bằng cách bóc lột về kinh tế và kìm kẹp về chính trị (tăng cường khủng bố trắng hòng dập tắt phong trào cách mạng) Ngoài ra, một nội dung cũng quan trọng ở mục này đó là những hậu quả mà cuộc khủng hoảng kinh tế đã để lại cho nhân dân ta

Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của phong trào 1930-1931 Mục II Phong trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ - Tĩnh Mục 1 Phong trào công nhân và nông dân trong nứa đầu những năm 1930 Thông qua việc tìm hiểu một số phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân trong giai đoạn này, giáo viên giúp học sinh thấy được quy mô rộng lớn của phong trào

Mục 2 Chính quyền Xô viết Nghệ —Tĩnh

Đây là một nội dung trọng tâm, cốt lõi của bài nên giáo viên cần phải đi sâu, làm nổi bật được vấn đề Khẳng định Xô viết Nghệ -Tĩnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 - 1931 Nó diễn ra trên quy mô rộng lớn, hình thức đấu tranh quyết liệt, lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia

Và kết quả của nó là đưa đến sự ra đời của chính quyền Xô viết - một hình thức sơ khai của chính quyền công nông ở nước ta- chính quyền của dân, do

đân và vì dân

Trang 38

Đồng thời giáo viên nhấn mạnh ý nghĩa của phong trào là bước tập dượt đầu tiên của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng chuẩn bị cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám

Mục HI Sự phục hồi lực lượng cách mạng sau khủng bố trắng của đế quốc Pháp

Ở mục này, giáo viên cần phải làm cho học sinh thấy được sau một thời gian tạm thời lắng xuống do bị địch khủng bố, tàn sát dã man, phong trào đã dần phục hồi trở lại Điều đó chứng tỏ sức sống mắnh liệt của Đảng và của phong trào cách mạng không bao giờ bị tiêu diệt

Bài 6: Cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939

Bài này dạy trong một tiết bao gồm 3 mục:

Mục 1 Tình hình thế giới và trong nước sau khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 Đối với mục này, giáo viên cần làm rõ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới

1929 - 1933 đã đưa tới việc thiết lập chủ nghĩa phát xít ở một số nước Đó là một chế độ độc tài tàn bạo nhất, sô vanh nhất, đế quốc chủ nghĩa nhất của tư bản hành chính, là mối nguy cơ lớn đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế

Đứng trước tình hình đó Đại hội V]ỊI quốc tế cộng sản đã đề ra chủ trương đúng đắn xác định được kẻ thù chính trước mất là chủ nghĩa phát xít và chủ trương thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi ở các nước Đồng thời, việc lên cầm quyền của mặt trận nhân dân Pháp cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân thuộc địa Pháp nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng

Đứng trước những điều kiện của tình hình thế giới và trong nước, Đảng vô sản Đông Dương đã đề ra chủ trương, sách lược cách mạng đúng đắn: Về xác định kẻ thù chính, chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương, sau đổi thành Mặt trận dân chủ thống nhất Đông Dương tập hợp lực lượng đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và bọn phản động Pháp, giành các quyền tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, bảo vệ hòa bình thế giới Giáo viên

Trang 39

cần khẳng định đây là hình thức mặt trận phù hợp với điều kiện lúc bấy giờ, có tác dụng lớn trong việc tập hợp lực lượng

Mục 2 Mặt trận dân chủ Đông Dương và phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ

Chủ trương của Đảng phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng bức thiết của giai cấp nên đã dấy lên một phong trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi trong cả nước hướng vào các mục tiêu trước mắt là tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình Sau đó giáo viên giới thiệu hoặc gọi học sinh lên nêu một số phong trào đấu tranh tiêu biểu: Đông Dương đại hội, cuộc tổng bãi công của công nhân công ti than Hòn Gai (11/36), công nhân xe lửa Trường Thi (7/37) và cuộc mít tỉnh khổng lồ của 2,5 vạn người tại nhà Đấu Xảo - Hà Nội, công tác tuyên truyền cổ động và đấu tranh nghị trường cũng được đẩy mạnh và từ cuối năm

1938, do tình hình thay đổi, phong trào bị thu hẹp dần và đến tháng 9 năm

1939, khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ thì chấm dứt hẳn

Mục 3 Kết quả và ý nghĩa của phong trào

Khẳng định đây thực sự là một cao trào cách mạng dân tộc, dân chủ rộng lớn, là cuộc tập dượt lần hai cho cuộc cách mạng tháng Tám

Qua phong trào, uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng và ăn sâu trong nhân dân lực lượng chính trị của quần chúng được tập hợp, xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng dạn dầy trong đấu tranh, có nhiều kinh nghiệm, những hạn chế của phong trào 1930 - 1931 được khắc phục

Bài 7 Cuộc vận động cách mạng tháng Tám (1939 - 1945)

Bài này được dạy trong năm tiết, bao gồm 7 mục lớn

Mục I Tình hình Việt Nam trong chiến tranh thế giới lần thứ hai

Trong mục này học sinh cần nắm được những ý cơ bản sau :

Chiến tranh thế giới bùng nổ (9/1939) đã tác động mạnh mẽ đến tình hình của thực dân Pháp và phát xít Nhật ở Đông Dương

Trang 40

Thực dân Pháp đứng trước hai nguy cơ: một là su phát triển của cách mạng Việt Nam; hai là sự đe dọa trắng trợn của phát xít Nhật đang lăm le hất

căng chúng

Để đối phó lại, một mặt, thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến, thẳng tay đàn áp nhân dân ta, lôi kéo mua chuộc tay sai, đẩy nhân dân ta vào cảnh sống ngột ngạt về chính trị và bần cùng về kinh tế Mặt khác thực dân Pháp chọn con đường thỏa hiệp với phát xít Nhật

Mục II Chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Duong (11/1939)

Trước những thay đổi của tình hình mới, Đảng cộng sản Đông Dương đã rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, đồng thời cũng rất chú trọng đến đô thị Mặt khác, để giải quyết tình hình Đảng đã triệu tập Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung Ương, đề ra chủ trương sách lược mới của Đảng: khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách nhất hiện nay Mọi vấn đề cách mạng khác đều phải nhằm mục đích đó mà giải quyết Để thực hiện nhiệm vụ trung tâm đó, Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương nhằm tập hợp rộng rãi tất cả các tầng lớp, giai cấp, dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc phát xít, giành độc lập dân tộc

Hội nghị đánh dấu sự chuyển hứơng đúng đắn về chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, mở đường đi tới thắng lợi của cách mạng tháng Tám

Mục IHI Những phát súng đầu tiên báo hiệu thời kì đấu tranh mới

Gồm 4 mục, đó là: Khởi nghĩa Bắc Son (27/9/1940)

Khởi nghĩa Nam Kì (23/11/1940)

Binh biến Đô Lương (13/1/1941)

Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của ba sự kiện trên Thông qua việc trình bày nguyên nhân bùng nổ, diễn biến, kết quả, ý nghĩa, và bài học lịch sử của các cuộc đấu tranh đó, giáo viên phải nhấn mạnh

Ngày đăng: 14/01/2015, 10:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sử  dụng  phương  pháp  dạy  học  nêu  vấn  đề  (3  hình  thức)  kết  hợp  với  một - ĐỀ TÀI: Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy khoá trình lịch sử việt nam 19301945
d ụng phương pháp dạy học nêu vấn đề (3 hình thức) kết hợp với một (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w