Sự khác nhau đó được đặc trưng bằng các chỉ tiêu chất lượng điện áp: độ lệch điện áp, dao động điện áp… dao động điện áp là sự thay đổi tức thời của điện áp do mở máy các động cơ lớn, ng
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Đề tài luận văn được hoàn thành, Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của quí thầy cô trong Bộ Môn Kỹ Thuật Điện đã tận tình chỉ bảo Cám ơn các bạn cùng lớp và gia đình đã tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần giúp đỡ Em trong quá trình thực hiện luận văn
Một lần nữa Em xin thành thật cám ơn
Svth: Nguyễn Văn Bé Sáu
Trang 2Hiện nay phương pháp dạy học đã có nhiều thay đổi Xu hướng giảm bớt lý thuyết và tăng cường thực hành được áp dụng Tại Bộ Môn Điện, do mới thành lập nên
cơ sở vật chất còn thiếu, nhất là các phòng thí nghiệm chuyên môn Trên tinh thần từng bước hoàn thiện các phòng thí nghiệm, nhà trường, bộ môn đã cố gắng mua những thiết bị thí nghiệm đắt tiền phục vụ học tập Nhưng do còn khó khăn nên bộ môn không thể mua đầy đủ các thiết bị thí nghiệm Chính vì vậy mà nội dung đề tài luận văn của sinh viên sẽ tiến hành làm một số mô hình thí nghiệm cho các phòng thí nghiệm và nội dung của đề tài “ Tìm hiểu - thiết kế - triển khai mô hình thí nghiệm nghuyên lý điều khiển tự động trong ổn áp” cũng nhằm mục đích trên
Nội dung của đề tài sẽ tìm hiểu về nguyên lý ổn áp trong các ổn áp xoay chiều,
từ đó sẽ thiết kế, triển khai thành mô hình thí nghiệm Bên cạnh đó cũng trình bày một
số lý thuyết có liên quan
Nội dung của đề tài sẽ được bố cục trong 7 chương:
Chương I: Chất lượng điện năng và các phương pháp điều chỉnh
Chương II:Lý thuyết điều khiển
Chương III: Linh kiện điện tử và ứng dụng
Chương IV: Mô tả dụng cụ và phương pháp nghiên cứu
Chương V: Triển khai mô hình thí nghiệm
Chương VI: Kết quả và thảo luận
Chương VII: Ý kiến và đề nghị
Tuy đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài nhưng không tránh khỏi những sai sót, kính mong quí thầy cô cùng các bạn sinh viên thông cảm!
Svth: Nguyễn Văn Bé Sáu
Trang 3Phiếu nhận xét và đánh giá của cán bộ chấm phản biện
Lời nói đầu
Lời cảm ơn
Mục lục
Chương I: Chất lượng điện năng và các phương pháp điều chỉnh 1
1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ điện năng ở nước ta 1
1.2 Chất lượng điện năng 1
1.2.1 Khái niệm chung 1
1.2.2 Chất lượng tần số 2
1.2.3 Chất lượng điện áp 2
1.2.3.1 Độ lệch điện áp so với điện áp định mức của lưới điện 2
1.2.3.2 Độ dao động điện áp 3
1.2.3.3 Độ không đối xứng 3
1.2.3.4 Độ không sin 3
1.3 Mục tiêu điều chỉnh điện áp 4
1.3.1 Sự biến đổi điện áp trên lưới hệ thống 4
1.3.2 Điều kiện để có thể điều chỉnh được điện áp 5
1.4 Phương pháp điều chỉnh điện áp tập trung 5
1.4.1 Điều chỉnh điện áp bằng cách điều chỉnh kích từ máy phát 6
1.4.2 Điều chỉnh dưới tải hệ số biến áp 6
1.4.3 Điều chỉnh điện áp bằng các biến áp hỗ trợ 6
1.4.4 Điều chỉnh bằng cách thay đổi các thông số của đường dây 7
1.4.5 Điều chỉnh điện áp bằng cách thay đổi dòng công suất phản kháng 8
1.4.5.1Máy bù đồng bộ 8
1.4.5.2 Tụ điện 8
1.5 Điều chỉnh điện áp cục bộ 9
1.6 Phương thức điều chỉnh điện áp 9
1.6.1 Điều chỉnh sơ cấp 10
1.6.2 Điều chỉnh thứ cấp 10
1.6.3 Điều chỉnh cấp 3 10
Chương II: Lý thuyết điều khiển 11
2.1 Nguyên lý hồi tiếp 11
2.2 Hồi tiếp âm 12
2.3 Hồi tiếp dương 12
2.4 Ảnh hưởng của hồi tiếp đến độ ổn định 13
2.5 Ảnh hưởng của hồi tiếp lên độ nhạy 13
2.6 Ảnh hưởng của hồi tiếp đối với nhiễu 13
2.7 Ứng dụng của mạch hồi tiếp 13
2.7.1 Nguyên tắc thực hiện các sơ đồ ổn áp một chiều có hồi tiếp 14
2.7.2 Các sơ đồ ổn áp một chiều có hồi tiếp đơn giản 15
2.7.3 Sơ đồ ổn áp có hồi tiếp dùng khuếch đại thuật toán ( op-amp ) 16
Trang 43.1.2 Hệ số khuếch đại vi sai AD 18
3.1.3 Độ lệch offset 19
3.2 Ứng dụng của khuếch đại thuật toán 19
3.2.1 Mạch so sánh mức không (Zero ) 19
3.2.1.1 So sánh mức Zero không đảo 19
3.2.1.2 So sánh mức Zero đảo 20
3.2.2 Mạch so sánh với hai ngõ vào có điện thế bất kỳ 21
3.2.2.1 So sánh mức dương đảo và không đảo 21
3.2.2.2 So sánh mức âm đảo và không đảo 23
3.2.3 Mạch so sánh có hồi tiếp dương 24
3.2.3.1 Mạch so sámh đảo 24
3.2.3.2 Mạch so sánh không đảo 25
3.2.4 Mạch so sánh hai điện thế bất kỳ với hồi tiếp dương 27
3.2.4.1 Mạch so sánh không đảo 27
3.2.4.2 Mạch so sánh đảo 28
Chương IV: Mô tả dụng cụ và phương pháp nghiên cứu 30
4.1 Nguyên lý hoạt động chung của các loại ổn áp 30
4.2 Cấu trúc ổn áp Sutudo 31
4.3 Mạch điều khiển 32
4.3.1 Khối chỉnh lưu 32
4.3.2 Khối ổn áp 34
4.3.3 Cầu phân áp 35
4.3.4 Khối so sánh 35
4.3.5 Khối điều khiển 36
4.3.6 Khối chấp hành 37
4.4 Các loại ổn áp khác 37
4.4.1 Ổn áp Shita 37
4.4.2 Ổn áp Vinaftab 38
4.4.3 Ổn áp thay đổi từng nấc 39
4.5 Phương pháp nghiên cứu 40
Chương V: Triển khai mô hình thí nghiệm 42
5.1 Các thông số của biến áp từ ngẫu 42
5.2 Tính toán cầu phân thế 43
5.2.1 Chọn VZ = 5V 44
5.2.1.1 Tính toán các điện trở R1, R2, R3 44
5.2.1.2 Tính độ nhạy của mạch 45
5.2.2 Chọn VZ = 10V 47
5.2.2.1 Tính toán các điện trở R1, R2, R3 47
5.2.2.2 Tính toán độ nhạy của mạch 49
5.3 Thay đổi điện áp ổn định ngõ ra 51
5.4 Tính toán cơ cấu điều khiển 52
Trang 55.5.1 Khảo sát điện thế so sánh và điện thế chuẩn 54
5.5.2 Khảo sát ngõ ra của mạch so sánh 55
5.5.3 Khảo sát cơ cấu điều khiển 56
5.5.4 Khảo sát điện áp ngõ ra 56
5.5.5 Thay đổi điện áp ổn áp 57
Chương VI: Kết quả và thảo luận 60
Chương VII: Ý kiến và đề nghị 61
Trang 6CHƯƠNG I
CHẤT LƯỢNG ĐIỆN NĂNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH
1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ điện năng ở nước ta
Hiện nay với chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tất cả các ngành, các lĩnh vực không ngừng mở rộng qui mô sản xuất Nhu cầu về năng lượng
là một vấn đề cấp thiết Hiện nay nước ta đang tiến hành xây dựng nhiều nhà máy điện lớn khắp cả ba miền Song song đó là các hệ thống đường dây truyền tải điện năng từ Nam ra Bắc, từ thành thị về nông thôn Điện năng không chỉ được sử dụng
ở thành thị, các khu công nghiệp mà còn ở vùng nông thôn xa xôi
Tuy đạt được những thành tựu trên nhưng nhìn chung hệ thống điện nước ta vẫn còn nhiều khó khăn Hệ thống đường dây cũ kỹ không được thay thế mới gây ra tổn thất điện năng lớn làm cho chất lượng điện năng không cao Độ lệch điện áp trên đường dây và nơi tiêu thụ không nằm trong giới hạn cho phép Điều đó làm cho
cả nhà quản lý và hộ tiêu thụ điện tốn kém trong việc đầu tư thiết bị để nâng cao chất lượng điện năng
1.2 Chất lượng điện năng
1.2.1 Khái niệm chung
Chất lượng điện năng được đặc trưng bằng các giá trị qui định của điện áp và tần số trong mạng điện Các yêu cầu chất lượng điện năng được định lượng cụ thể
và có tính chất pháp định mà hệ thống điện phải thỏa mãn
Chất lượng điện năng ảnh hưởng nhiều đến các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của các hộ dùng điện Các thiết bị dùng điện chỉ có thể làm việc với hiệu quả tốt trong trường hợp điện năng có chất lượng cao
Các chỉ tiêu chính của chất lượng điện năng là độ lệch tần số, độ lệch điện
áp, dao động điện áp, sự không đối xứng và không hình sin của đường cong điện áp
Độ lệch tần số như nhau đối với toàn bộ hệ thống điện, bởi vì giá trị tần số ở thời điểm nào đó được xác định bằng tốc độ quay của các máy phát điện Trong các chế độ xác lập bình thường tất cả các máy phát có tốc độ đồng bộ Vì vậy độ lệch tần số là chỉ tiêu hệ thống của chất lượng điện năng
Trang 7Điện áp có các giá trị khác nhau tại những điểm khác nhau trong mạng điện
Và vậy các chỉ tiêu chất lượng điện áp là cục bộ
Trong các chế độ thực của mạng điện, điện áp luôn luôn khác với điện áp danh định Sự khác nhau đó được đặc trưng bằng các chỉ tiêu chất lượng điện áp: độ lệch điện áp, dao động điện áp… dao động điện áp là sự thay đổi tức thời của điện
áp do mở máy các động cơ lớn, ngắn mạch trong mạng điện
Sự thay đổi của phụ tải trong các mạng cung cấp và phân phối dẫn đến sự thay đổi điện áp ở các hộ tiêu thụ Điện áp giảm khi phụ tải tăng, điện áp tăng khi phụ tải giảm Độ lệch điện áp càng lớn, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các thiết bị tiêu thụ điện càng giảm Ví dụ, giảm điện áp ở bóng đèn sợi đốt 10% so với điện áp danh định dẫn đến giảm độ chiếu sáng khoảng 40%, tăng điện áp lên 10% tuổi thọ bóng đèn giảm 3 lần
Vì vậy các chế độ điện áp của mạng cần phải như thế nào để đảm bảo các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật
Độ dao động tần số đặc trưng bởi độ lệch giữa giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của tần
số khi tần số biến thiên nhanh với tốc độ lớn hơn 0,1% Độ dao động tần số không được lớn hơn giá trị cho phép
Theo tiêu chuẩn của Việt Nam hiện nay thì độ lệch tần số cho phép là 1% tức
±0,5HZ
1.2.3 Chất lượng điện áp
Chất lượng điện áp gồm các chỉ tiêu sau:
1.2.3.1 Độ lệch điện áp so với điện áp định mức của lưới điện
dm
dm
U U
Trang 8U là điện áp thực tế trên cực các thiết bị dùng điện, δU phải thỏa mãn điều kiện:
δU- ≤ δU≤ δU+
δU
-, δU+ là giới hạn trên và dưới của độ lệch điện áp
Khi điện áp quá cao làm tuổi thọ thiết bị dùng điện giảm, nhất là thiết bị chiếu sáng, còn khi điện áp thấp quá làm cho các thiết bị dùng điện giảm công suất, nhất là đèn điện Điện áp cao quá hoặc thấp quá đều gây ra phát nóng phụ cho thiết
bị dùng điện, làm giảm tuổi thọ và năng suất, làm hỏng sản phẩm
Độ lệch điện áp cho phép ở các hộ tiêu thụ được qui định theo tiêu chuẩn Việt Nam như sau:
+ Trên các cực của các thiết bị chiếu sáng làm việc trong nhà ±5%
+ Trên các cực của các động cơ, các thiết bị mở máy và điều khiển từ -5% đến +10%
+ Trên các cực của các thiết bị còn lại ±5%
Theo các điều kiện cách điện, điện áp trong các mạng 35 – 220kV không được lớn hơn 15%, trong các mạng 330kV không lớn hơn 10%, trong các mạng 500kV và cao hơn không lớn hơn 5% so với điện áp danh định
Độ lệch điện áp thay đổi theo thời gian do sự thay đổi của phụ tải, của chế độ điện áp trong các trung tâm cung cấp…
1.2.3.2 Độ dao động điện áp
Sự biến thiên nhanh của điện áp được tính theo công thức:
100
min max
dm
U
U U
=
Tốc độ biến thiên từ Umin đến Umax không nhỏ hơn 1%/s
Dao động điện áp gây ra dao động ánh sáng, làm hại mắt người, gây nhiễu máy thu thanh, máy thu hình và các thiết bị điện tử
Trang 9sin nữa và xuất hiện các sóng hài bậc cao Uj, Ij Các sóng hài bậc cao này góp phần làm giảm điện áp trên đèn và thiết bị sinh nhiệt, làm tăng thêm tổn thất sắt từ trong động cơ, tổn thất điện môi trong cách điện, tăng tổn thất trong lưới điện và thiết bị dùng điện, giảm chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của hệ thống cung cấp điện
Chất lượng điện áp được đảm bảo nhờ các biện pháp điều chỉnh điện áp Điều chỉnh điện áp có thể được tiến hành tập trung hay cục bộ Điều chỉnh tập trung được thực hiện ở các trung tâm cung cấp, còn điều chỉnh cục bộ được thực hiện ở
hộ tiêu thụ điện
1.3 Mục tiêu điều chỉnh điện áp
1.3.1 Sự biến đổi điện áp trên lưới hệ thống
Tổn thất điện áp trên lưới hệ thống được tính như sau:
2
.
U
X Q R P U
∆Trên lưới hệ thống X >> R nên có thể viết:
2
.
U
X Q U
Có hai loại biến thiên điện áp trên lưới hệ thống:
+ Biến đổi chậm gây ra bởi sự biến đổi tự nhiên của phụ tải theo thời gian + Biến đổi nhanh do nhiều nguyên nhân klhác nhau: sự dao động điều hòa hoặc ngẫu nhiên của phụ tải, sự biến đổi sơ đồ lưới điện, hoạt động của bảo vệ rơle
và các thiết bị tự động hóa, khởi động hay dừng tổ máy phát
Mục tiêu điều chỉnh điện áp trên lưới như sau:
a) Giữ vững điện áp trong mọi tình huống vận hành bình thường cũng như sự cố, trong phạm vi cho phép xác định bởi giới hạn trên và dưới Các giới hạn này được xác định như sau:
+ Giới hạn trên được xác định bởi khả năng chịu áp của cách điện và hoạt động bình thường của các thiết bị phân phối cao và siêu cao áp Nếu điện áp tăng cao sẽ làm già hóa nhanh cách điện và làm cho thiết bị hoạt động không chính xác
+ Giới hạn dưới được xác định bởi điều kiện an toàn hệ thống, tránh quá tải đường dây và máy biến áp ( trong lưới điện có điều áp dưới tải khi P là hằng số thì nếu U giảm I sẽ tăng gây quá tải ), tránh gây mất ổn định điện áp Nếu có nhà máy điện nguyên tử thì phải giữ điện áp trên lưới tự dùng của các nhà máy này rất chặt chẽ
Trang 10Giới hạn trên gọi là giới hạn kỹ thuật hay điều kiện kỹ thuật Nói chung trong lưới điện 220kV trở lên, điện áp chỉ được phép dao động trong giới hạn ±5% so với Udm Với mức giới hạn này thì việc điều chỉnh dưới tải ở các máy biến áp khu vực và trung gian sẽ thuận lợi
b) Trong giới hạn kỹ thuật cho phép, giữ mức điện áp sao cho tổn thất công suất tác dụng nhỏ nhất, đây là điều kiện kinh tế Nói chung trong điều kiện tổn thất vầng quang nhỏ mức điện áp nên giữ ở mức cao nhất có thể thì∆P sẽ nhỏ
Nói tóm lại, điện áp trên lưới hệ thống được điều chỉnh theo điều kiện an toàn và kinh tế
1.3.2 Điều kiện để có thể điều chỉnh được điện áp
Điều kiện cần để có thể điều chỉnh được điện áp là đủ công suất phản kháng
và công suất phản kháng này phải được phân bố hợp lý ở từng khu vực của hệ thống
Điều kiện đủ để có thể điều chỉnh điện áp là nguồn công suất phản kháng phải điều khiển được trong phạm vi cần thiết
1.4 Phương pháp điều chỉnh điện áp tập trung
Các giá trị của độ lệch điện áp phụ thuộc vào điện áp trong các trung tâm cung cấp, sơ đồ cung cấp điện cho các hộ tiêu thụ, đồ thị công suất phản kháng và công suất tác dụng
Trong các hệ thống điện hiện đại thường có nhiều cấp điện áp và các đường dây dài với các cấp điện áp khác nhau, vì vậy tổng tổn thất điện áp trên đường dây truyền tải điện năng từ các nguồn đến các hộ dùng điện có giá trị lớn Mặt khác sự thay đổi phụ tải từ giá trị lớn nhất đến giá trị nhỏ nhất dẫn đến thay đổi giá trị tổn thất điện áp Kết quả là điện áp trên các cực của các thiết bị dùng điện thay đổi trong các giới hạn vượt quá các giới hạn cho phép
Trong các điều kiện đó cần phải tiến hành các điều chỉnh điện áp để đảm bảo các yêu cầu của điện áp
Điều chỉnh điện áp là quá trình thay đổi điện áp tại các điểm đặt trưng của hệ thống điện nhờ các phương tiện kỹ thuật đặc biệt Các phương pháp điều chỉnh điện
áp bao gồm:
+ Điều chỉnh kích từ máy phát điện
+ Điều chỉnh dưới tải hệ số biến áp (đầu phân áp ) ở máy biến áp tăng và giảm áp
Trang 11+ Điều chỉnh điện áp ở các máy biến áp hỗ trợ chuyên dùng để điều chỉnh điện áp
+ Điều chỉnh điện áp bằng cách thay đổi thông số của đường dây
+ Điều chỉnh công suất phản kháng của các nguồn công suất phản kháng đặt trên lưới gồm máy bù đồng bộ và tụ điện
Để đảm bảo các chế độ cần thiết của điện áp trong các mạng phân phối cần phải đặt các thiết bị tập trung để điều chỉnh điện áp trong các trung tâm cung cấp Các thiết bị này là các máy biến áp điều chỉnh dưới tải, các máy bù đồng bộ và các
tụ tĩnh
Nếu như điều chỉnh điện áp trong các trung tâm cung cấp không đảm bảo các mức cần thiết của điện áp, cần điều chỉnh cục bộ bằng phương pháp thay đổi tỷ số biến áp của máy biến áp không điều chỉnh dưới tải và mắc nối tiếp các tụ điện với phụ tải
1.4.1 Điều chỉnh điện áp bằng cách điều chỉnh kích từ máy phát
Thay đổi điện áp của các máy phát điện có thể thực hiện được bằng cách điều chỉnh dòng điện kích từ Khi công suất tác dụng của máy phát không thay đổi,
có thể thay đổi điện áp trong giới hạn±5%Udmf, nghĩa là từ 0,95Udmf đến 1,05Udmf
Ví dụ, khi điện áp định mức của mạng bằng Udm = 10kV, điện áp định mức của máy phát Udmf = 10,05kV và phạm vi điều chỉnh 10 – 11kV Bởi vì phạm vi thay đổi điện áp của máy phát chỉ bằng ±5% cho nên không thể thỏa mãn các yêu cầu điều chỉnh điện áp trong các mạng điện có qui mô lớn Do đó các máy phát của các nhà máy điện chỉ là phương tiện hỗ trợ của điều chỉnh điện áp bởi vì phạm vi điều chỉnh điện áp của các máy phát bị hạn chế, đồng thời rất khó thỏa mãn yêu cầu về điện áp của các hộ tiêu thụ ở gần và ở xa Các máy phát được sử dụng như là phương tiện điều chỉnh duy nhất chỉ trong trường hợp nhà máy điện có phụ tải tập trung Ví dụ, nhà máy điện trong các khu công nghiệp
1.4.2 Điều chỉnh dưới tải hệ số biến áp
Tỷ số k của máy biến áp có thể thay đổi khi thay đổi số vòng dây w của các cuộn dây Để thực hiện điều đó cần phải chế tạo các đầu điều chỉnh điện áp trong các máy biến áp Các đầu điều chỉnh được đặt ở hai phía đầu ra chính của máy biến
áp Thay đổi các đầu điều chỉnh được thực hiện bằng các thiết bị chuyển mạch Theo cấu trúc của các thiết bị này có thể phân ra thiết bị chuyển đầu điều chỉnh khi cắt máy biến áp ( gọi là thiết bị không điều chỉnh điện áp dưới tải ) và thiết bị chuyển đầu điều chỉnh khi máy biến áp đang vận hành ( gọi là thiết bị điều chỉnh dưới tải ) Thiết bị điều chỉnh dưới tải đắt hơn nhiều thiết bị không điều chỉnh dưới tải Vì vậy thiết bị điều chỉnh dưới tải được sử dụng chủ yếu cho các máy biến áp công suất lớn, điện áp cao hơn 20kV Các máy biến áp công suất S≤ 630kVA, điện
áp 6 – 10kV có thiết bị không điều chỉnh dưới tải
Trang 121.4.3 Điều chỉnh điện áp bằng các biến áp hỗ trợ
Các máy biến áp hỗ trợ bao gồm các máy biến áp điều chỉnh đường dây và các máy biến áp điều chỉnh nối tiếp được sử dụng để điều chỉnh điện áp trên các
đường dây riêng biệt hay là trên một nhóm các đường dây
1.4.4 Điều chỉnh bằng cách thay đổi các thông số của đường dây
Trong các mạng phân phối điện trở tác dụng R lớn hơn điện kháng X Vì vậy tổn thất điện áp phụ thuộc nhiều vào điện trở tác dụng của đường dây Khi thay đổi tiết diện dây dẫn trong các mạng phân phối điện trở R thay đổi, do đó thay đổi tổn thất điện áp và điện áp ở hộ tiêu thụ Cho nên tiết diện dây dẫn trong các mạng phân phối đôi khi được chọn theo tổn thất cho phép của điện áp
Trong các mạng cung cấp, điện kháng X lớn hơn điện trở tác dụng, cho nên tổn thất điện áp phụ thuộc nhiều vào cảm kháng của đường dây, nhưng điện kháng của đường dây phụ thuộc ít vào tiết diện dây dẫn Vì vậy chọn tiết diện dây dẫn trong các mạng cung cấp theo tổn thất cho phép của điện áp là không phù hợp về kinh tế
Đặt nối tiếp các tụ điện vào đường dây dẫn đến giảm điện kháng của mạng điện và tổn thất điện áp trên dường dây, đồng thời là giải pháp hiệu quả để giảm các dao động đột biến của điện áp do các động cơ điện, các thiết bị hàn và các lò hồ quang gây ra Nối tiếp các tụ bảo đảm tăng khá rõ điện áp trên đường dây, đặc biệt khi hệ số công suất của phụ tải có giá trị thấp
Giả sử rằng, điện áp ở cuối đường dây U2 nhỏ hơn yêu cầu U2yc, nghĩa là
U
X X Q X P
2
2
Trong thực tế chỉ tiến hành bù một phần cảm kháng của đường dây Bù toàn bộ hay
bù thừa trong các mạng điện phân phối, cung cấp trực tiếp cho các phụ tải, thường không được áp dụng, bởi vì điều đó liên quan đến khả năng xuất hiện quá điện áp trong mạng
Sử dụng thiết bị bù nối tiếp cho phép cải thiện chế độ điện áp trong các mạng nhưng cần chú ý rằng, điện áp bổ sung của các tụ phụ thuộc vào giá trị và pha của dòng điện chạy qua thiết bị bù Vì vậy khả năng điều chỉnh điện áp của các
tụ bị hạn chế Do đó các tụ nối tiếp được áp dụng chủ yếu để giảm độ lệch điện áp trong các đường dây hình tia quá tải
Trang 13Trong các mạng cung cấp, bù nối tiếp các tụ điện gây ra phức tạp trong vận hành và không kinh tế Ngoài ra cần phải sử dụng các thiết bị đặc biệt để bảo vệ các
tụ điện khỏi quá điện áp trong thời gian ngắn mạch Có thể thấy rằng, đặt nối tiếp các tụ vào đường dây không chỉ để điều chỉnh điện áp, mà còn nâng cao khả năng tải của đường dây
1.4.5 Điều chỉnh điện áp bằng cách thay đổi dòng công suất phản kháng
Giảm tổn thất công suất và tổn thất điện áp trong mạng điện nói chung có thể thực hiện bằng giải pháp thay đổi các dòng công suất phản kháng Để thực hiện điều
đó người ta đặt các nguồn công suất phản kháng gần các hộ tiêu thụ điện và nối song song với các phụ tải Các nguồn công suất phản kháng có thể là các máy bù đồng bộ, các tụ điện…
Các thiết bị bù phát công suất phản kháng, đồng thời giảm tổn thất điện áp trong mạng, vì vậy chất lượng điện năng được nâng cao Trong các mạng cung cấp điện kháng X lớn hơn điện trở tác dụng R của đường dây, cho nên thành phần Q.X ảnh hưởng đáng kể đến giảm tổn thất điện áp trong mạng
Giả thiết rằng điện áp U2 nhỏ hơn điện áp yêu cầu ở cuối đường dây U2yc
Để thay đổi điện áp U2 đến điện áp U2yc cần phải đặt máy bù đồng bộ có công suấtQb Như vậy sau khi đặt thiết bị bù, điện áp U2yc được tính theo biểu thức
.
) ( ) (
U X
X Q R P U U U
trong thực tế Qb được tính theo công thức này
Điều chỉnh công suất bằng máy bù đồng bộ có thể áp dung chỉ trong trường hợp các trạm khu vực không có máy biến áp điều chỉnh dưới tải
1.4.5.2 Tụ điện
Trang 14Nối song song các tụ điện vào mạng điện chỉ cho phép nâng cáo điện áp, bởi
vì các tụ chỉ có thể phát công suất phản kháng Các tụ nối song song với mạng điện
sẽ phát công suất phản kháng, nâng cao hệ số công suất của mạng và đồng thời điều chỉnh điện áp, vì giảm tổn thất điện áp trong mạng
Công suất của các tụ thường được chọn theo phụ tải phản kháng lớn nhất Trong chế độ phụ tải nhỏ, điện áp trong mạng tănng lên Vì vậy cần phải dự kiến giảm công suất của các tụ
Công suất của tụ được chọn xuất phát từ điều kiện nâng cao nâng cao điện áp trên đường dây khi phụ tải tác dụng không thay đổi
Nếu như tổn thất điện áp trong mạng trước khi đặt tụ bù có giá trị:
dm
U
X Q R P
∆Sau khi nối song song các tụ điện với phụ tải tổn thất điện áp được xác định:
dm
b
U
X Q Q R P
=
∆Giá trị tăng điện áp sau khi đặt tụ bù
δ
Khi đặt các tụ song song với phụ tải sự tăng điện áp thực tế không phụ thuộc vào dòng điện phụ tải I, và được xác định chủ yếu bằng các thông số của mạng và giá trị công suất phát của các tụ Qb Đối với các giá trị công suất không đổi của các tụ Sự tăng điện áp trên một đoạn của mạng hay là trên đường dây sẽ có giá trị lớn nhất tại chỗ đặt tụ bù, còn ở đầu đường dây sự tăng điện áp là nhỏ nhất Có thể cho rằng, sự giảm tổn thất điện áp trên đường dây được phân phối đều dọc theo chiều dài đường dây, và đạt được giá trị lớn nhất tại chỗ đặt các tụ
Điều chỉnh điện áp bằng giải pháp thay đổi công suất của các tụ nối song song với phụ tải được áp dụng phổ biến trong các mạng điện công nghiệp
1.5 Điều chỉnh điện áp cục bộ
Mặc dù hệ thống điện đã được điều chỉnh điện áp, tuy nhiên ở nơi tiêu thụ độ lệch điện áp vẫn còn lớn Một số thiết bị tiêu thụ điện năng đòi hỏi điện áp ít dao động và độ lệch điện áp thấp Ở nơi tiêu thụ, việc điều chỉnh điện áp phải đảm bảo
độ lệch điện áp thấp Mặc dù đòi hỏi chất lượng điện áp cao như vậy nhưng việc điều chỉnh điện áp ở nơi tiêu thụ lại không khó khăn và phức tạp như điều chỉnh điện áp tập trung Điều này là do điều chỉnh điện áp chỉ áp dụng trong phạm vi hộ tiêu thụ mà không bao gồm cả khu vực hay hệ thống và được thực hiện chỉ bằng phương pháp chủ yếu là dùng thiết bị ổn áp Ổn áp là một thiết bị điện kết hợp với công nghệ điện tử để có thể tự động điều chỉnh điện áp Ở nơi tiêu thụ thường thì phụ tải tập trung và đường dây truyền tải không dài Ổn áp được đặt ở đầu đường dây, ngay sau biến áp hạ áp cũng vẫn đảm bảo độ lệch điện áp ở cuối đường dây
Trang 15thấp Ổn áp được điều khiển hoàn toàn tự động đáp ứng tức thời với các dao động điện áp tránh được hiện tượng giảm áp hoặc tăng áp quá mức
1.6 Phương thức điều chỉnh điện áp
Hệ thống điều chỉnh điện áp tập trung được chia làm ba cấp
1.6.1 Điều chỉnh sơ cấp
Điều chỉnh sơ cấp là quá trình đáp ứng nhanh và tức thời các biến đổi điện áp nhanh và ngẫu nhiên bằng tác động của các thiết bị điều chỉnh điện áp máy phát và các máy bù tĩnh Trong trường hợp điện áp biến đổi lớn thì các bộ tự động điều áp dưới tải ở các máy biến áp cũng tham gia vào quá trình điều chỉnh Điều chỉnh sơ cấp thực hiện tự động trong thời gian rất nhanh Điều chỉnh sơ cấp nhằm mục đích giữ điện áp lưới điện ở mức an toàn, tránh nguy cơ suy áp trong chế độ bình thường
và nhất là khi sự cố
1.6.2 Điều chỉnh thứ cấp
Điều chỉnh thứ cấp để đối phó với các biến đổi chậm và có biên độ lớn của điện áp lớn Điều chỉnh thứ cấp hiệu chỉnh lại các giá trị điện áp chỉ định của các thiết bị điều chỉnh điện áp sơ cấp của các máy phát và các bộ tụ bù có điều khiển tự động trong miền nó đảm nhận quá trình này kết thúc trong vòng 3 phút
1.6.3 Điều chỉnh cấp 3
Điều chỉnh cấp 3 điều hòa mức điện áp giữa các miền điều chỉnh cấp 2, tối
ưu hoá mức điện áp của hệ thống điện theo tiêu chuẩn kinh tế và an toàn Quá trình này có thể thực hiện bằng tay hoặc tự động
Trang 16CHƯƠNG II
LÝ THUYẾT ĐIỀU KHIỂN
2.1 Nguyên lý hồi tiếp
Định nghĩa: hồi tiếp là ghép một phần tín hiệu ngõ ra ( điện áp, dòng điện ) của một mạng bốn cực tích cực về đầu vào thông qua một mạng gọi là hồi tiếp
Hồi tiếp đóng vai trò rất quan trọng trong các mạch tín hiệu tương tự Hồi tiếp cho phép cải thiện và nâng cao chất lượng các thông số ngõ ra như điện áp, dòng điện, tốc độ
Hình 2.1 - Sơ đồ một mạng có hồi tiếp
Hình 2.2 - Tín hiệu ngõ ra của mạng không hồi tiếp và có hồi tiếp
Ta thấy là tín hiệu ra của mạng không hồi tiếp sẽ thay đổi suốt thời gian sau
đó khi có sự biến đổi trong khi mạng có hồi tiếp chỉ thay đổi một khoảng nhỏ
tt
C(s)C(s)
Trang 17Người ta phân biệt ra hai loại hồi tiếp cơ bản, đó là hồi tiếp âm và hồi tiếp dương Tín hiệu hồi tiếp âm ngược pha với tín hiệu đầu vào nên làm suy giảm tín hiệu đầu
ra Ngược lại, hồi tiếp dương cùng pha với tín hiệu đầu vào nên làm mạnh tín hiệu đầu ra
Ngoài ra, người ta còn phân biệt hồi tiếp một chiều và hồi tiếp xoay chiều
2.2 Hồi tiếp âm
Hồi tiếp âm là một hệ thống hồi tiếp mà tín hiệu hồi tiếp ngược pha với tín hiệu vào nên làm suy giảm tín hiệu ra Xét một mạng hồi tiếp âm như hình 2.3 Ngõ
ra Q(s) của bộ so sánh
Q(s) = R(s) - H(s).C(s) Tín hiệu ngõ ra
( 1
) ( )
(
) (
s G s H
s G s
R
s C
+
=
Ta thấy là tín hiệu ra giảm đi một lượng H(s).C(s)
2.3 Hồi tiếp dương
Hồi tiếp dương làm cho tín hiệu ra mạnh lên do tín hiệu hồi tiếp cùng pha với tín hiệu đầu vào
Xét một hệ thống hồi tiếp dương của hình 2.4
Trang 18Hình 2.4 - Hệ thống hồi tiếp dương
M =
) ( ).
( 1
) ( )
(
)
(
s G s H
s G s
Ta thấy là tín hiệu ra tăng thêm một lượng H(s).C(s)
2.4 Ảnh hưởng của hồi tiếp đến độ ổn định
Độ ổn định là đại lượng cho biết khả năng của hệ thống bám sát tín hiệu đặt Một hệ thống được gọi là không ổn định, nếu như tín hiệu ra của nó không thể kiểm soát được hoặc tăng vô hạn Hồi tiếp làm cho tín hiệu ra luôn được điều chỉnh để đạt được giá trị đặt trước
2.5 Ảnh hưởng của hồi tiếp lên độ nhạy
Độ nhạy thường được quan tâm trong thiết kế hệ thống điều khiển Mọi phần
tử vật lý đều có đặc tính thay đổi theo môi trường và tuổi thọ, nên không thể xem các thông số của hệ thống điều khiển là hoàn toàn cố định trong suốt thời gian hoạt động của nó Ví dụ, điện trở dây quấn của động cơ điện thay đổi khi động cơ điện tăng lên trong quá trình làm việc
Một hệ thống điều khiển được thiết kế tốt ít nhạy với các biến đổi của các thông số, nhưng nhạy với tín hiệu vào
2.6 Ảnh hưởng của hồi tiếp đối với nhiễu
Tất cả hệ thống vật lý đều phải đương đầu với các tín hiệu xa lạ hay các tín hiệu nhiễu trong suốt quá trình hoạt động Ví dụ về các tín hiệu nhiễu như điện áp nhiễu do nhiệt trong các mạch điện tử và nhiễu khi chuyển mạch trong các động cơ điện Do đó trong thiết kế hệ thống điều khiển cần phải làm sao để hệ thống không nhạy với tín hiệu nhiễu nhưng nhạy với tín hiệu vào
Ảnh hưởng của hồi tiếp lên nhiễu phụ thuộc nhiều vào vị trí có tín hiệu nhiễu xâm nhập vào hệ thống Trong nhiều trường hợp hồi tiếp làm giảm ảnh hưởng của nhiễu
2.7 Ứng dụng của mạch hồi tiếp
Trang 19Trong mạch có hồi tiếp sẽ cải thiện được chất lượng các thông số đầu ra Hồi tiếp được sử dụng trong các mạch điều khiển điện áp, tốc độ,… các thông số này sẽ được điều khiển theo một giá trị định trước nhằm đáp ứng mục đích đặt ra Mạch hồi tiếp được sử dụng để điều khiển điện áp thường nhằm mục đích ổn định điện áp
ra khi có thay đổi điện áp đầu vào Mạch này dùng cho cả điện áp xoay chiều lẫn một chiều Sau đây nêu ra một vài ví dụ về mạch ổn áp một chiều có hồi tiếp, còn mạch ổn áp xoay chiều sẽ được trình bày trong chương sau
2.7.1 Nguyên tắc thực hiện các sơ đồ ổn áp một chiều có hồi tiếp
Để thỏa mãn các yêu cầu cao hơn về mặt ổn áp, ổn dòng cũng như công suất phát ra, người ta thường dùng các mạch ổn áp có hồi tiếp Nguyên tắc hoạt động được trình bày trên hình 2.5
Trong mạch này, một phần điện áp hoặc dòng điện ra được đưa về so sánh với một giá trị chuẩn Kết quả so sánh được khuếch đại lên và đưa đến phần tử điều
Hình 2.5 - Sơ đồ khối mạch ổn áp một chiều có hồi tiếp
khiển Phần tử điều khiển tác động làm thay đổi các tham số để điện áp ra hoặc dòng điện ra thay đổi theo hướng tiến dần đến giá trị mong muốn
Thông thường phương pháp lấy mẫu để làm tín hiệu hồi tiếp khi ổn áp là dùng một cầu chia điện thế đơn giản
Các sơ đồ ổn định có hồi tiếp được chia làm hai loại: ổn định song song và
ổn định nối tiếp Nguyên tắc ổn địng song song được biểu diễn trên hình 2.6, trong
đó transistor điều khiển được mắc song song với điện áp vào UV
phần tử điều khiển
khuếch đại
nguồn chuẩn
So sánh
Trang 20+ -
3 2 1
Z
R
R
Hình 2.6 - Sơ đồ ổn áp song song
Nguyên tắc ổn định nối tiếp là transistor điều khiển sẽ mắc nối tiếp với nguồn điện
áp vào
+ -
3 2 1
Z
R V
Hình 2.7 - Sơ đồ ổn áp nối tiếp
2.7.2 Các sơ đồ ổn áp một chiều có hồi tiếp đơn giản
B1
R V
R
R
R Q Q
Hình 2.8 - Sơ đồ mạch ổn áp một chiều dùng 2 transistor
Nguyên tắc hoạt động:
Trang 21Transistor Q1 là phần tử điều khiển đồng thời làm nhiệm vụ khuếch đại công suất Transistor Q2 vừa là phần tử khuếch đại vừa so sánh Khi UR giảm thì qua bộ phân
áp R1, R2 điện áp bazơ Q2: UB2 = VZ + UBE2 cũng giảm và VZ không đổi nên UBE2giảm theo làm cho UCE2 tăng, do đó UB1 tăng và Ur tăng trở lại
Điện áp ra được tính toán như sau:
UB2 = Ur
2 2
1
2
BE
Z U V R R
R
+
= +
3
2 1
V
1 2
Z 3
Hình 2.9 - Sơ đồ mạch ổn áp một chiều dùng op-amp
Nguyên lý hoạt động của mạch là khi có sự biến thiên điện áp ra thì qua cầu phân thế sẽ làm thay đổi điện áp ngõ vào đảo Khi đó điện áp vi sai sẽ được khuếch đại
và kích transistor Q dẫn ít hay nhiều tuỳ thuộc điện áp ra Ur tăng hay giảm
Trang 22CHƯƠNG III
LINH KIỆN ĐIỆN TỬ VÀ ỨNG DỤNG
3.1 Các tính chất về khuếch đại thuật toán ( op-amp )
Op-amp là một linh kiện điện tử quan trọng được dùng trong nhiều ứng dụng thực tế Một số tính chất của op-amp hơn hẳn các loại linh kiện khác
3.1.1 Các tính chất cơ bản của op-amp
Giữa bộ khuếch đại thuật toán và các bộ khuếch đại thông thường về cơ bản không có gì khác Cả hai loại này đều dùng để khuếch đại điện áp, dòng điện hoặc công suất Trong khi tính chất của bộ khuếch đại thông thường phụ thuộc vào kết cấu bên trong của mạch thì tác dụng của bộ khuếch đại thuật toán có thể thay đổi được và chỉ phụ thuộc các linh kiện mắc ở mạch ngoài Để thực hiện được điều đó
bộ khuếch đại thuật toán phải có hệ số khuếch đại rất lớn, trở kháng vào rất lớn và trở kháng vào rất nhỏ
+ -
3 2
1
U IR
RI
I U U
UP
Hình 3.1 - Sơ đồ bộ khuếch đại thuật toán
UD = UP – UN : điện áp vi sai
UP, IP : điện áp và dòng điện vào không đảo
UN, IN : điện áp và dòng điện vào đảo
UR, IR : điện áp và dòng điện ra
Bộ khuếch đại thuật toán khuếch đại điện áp vi sai UD = UP – UN với hệ số khuếch đại vi sai AD > 0 Khi đó điện áp ra UR = AD.UD = AD( UP – UN )
+ Nếu UP > UN thì UR = AD( UP – UN ) > 0
Điện áp ra UR sẽ đồng pha với điện áp vào
+ Nếu UP < UN thì UR = AD( UP – UN ) < 0
Điện áp ra UR sẽ ngược pha với điện áp vào
Ngoài ra khuếch đại thuật toán còn có hai cổng vào để đấu với nguồn cung cấp ±
VCC - gọi là nguồn đôi Đôi khi khuếch đại thuật toán hoạt động bằng nguồn đơn
Trang 23+VCC và mass Ngoài ra khuếch đại thuật toán còn mốt số chân để điều chỉnh độ lệch không và bù tần số
Một khuếch đại thuật toán lý tưởng có những thông số sau:
+Trở kháng vào ZV = ∞ tương ứng dòng IP, IN = 0
+Trở kháng ra ZR = 0
+Hệ số khuếch đại vi sai AD = ∞
3.1.2 Hệ số khuếch đại vi sai A D
AD là hệ số khuếch đại vi sai khi không tải, được xác định:
AD =
N
U
U U
−
=
P R
D
R
U U
Thông thường các khuếch đại thuật toán có hệ số AD khoảng 103 ÷ 106
Điện áp ra UR chỉ tỷ lệ với UD trong một dãy điện áp URmin đến URmax Dãy điện áp này gọi là dãy biến đổi điện áp ra của bộ khuếch đại thuật toán hay còn gọi là chế
độ khuếch đại tuyến tính Ngoài dãy này, thì điện áp ra không thay đổi và không phụ thuộc vào điện áp vào Khi đó khuếch đại thuật toán làm việc ở chế độ bão hòa
U D
U R
Trang 243.2 Ứng dụng của khuếch đại thuật toán
Do khuếch đại thuật toán có nhiều ưu điểm hơn các linh kiện khác về độ khuếch đại, tổng trở vào và tổng trở ra… nên khuếch đại thuật toán được sử dụng rất nhiều trong các ứng dụng thực tế như mạch khuếch đại điện áp xoay chiều và một chiều, mạch so sánh và mạch làm toán… Trong phạm vi đề tài này chỉ trình bày mạch so sánh dùng khuếch đại thuật toán
Mạch so sánh cho một bước nhảy ở đầu ra để chỉ kết quả so sánh giữa hai đại lượng ở cửa vào Có hai loại mạch so sánh:
+ Mạch so sánh hai số nhị phân, gọi là mạch so sánh số
+ Mạch so sánh tương tự so sánh một điện áp bất kỳ với một điện áp chuẩn
3 2
Điện thế ngõ vào đảo ( - ) được dùng làm điện thế chuẩn và VI là điện thế
cần đem so sánh với điện thế chuẩn được đưa vào ngõ vào không đảo (+ )
+ khi VI > VRef thì UR = AD( VI - VRef ) = +URsat
+ khi VI < VRef thì UR = AD ( VI - VRef ) = -URsat
Trang 25Hình 3.4 - Đặc tính ngõ ra của mạch so sánh mức Zero không đảo lý tưởng
Thí dụ khi VI có dạng tam giác thì dạng sóng ngõ ra UR có dạng như hình 3.5
Hình 3.5 - Ngõ ra mạch so sánh mức không không đảo với tín hiệu vào tam giác
Ứng dụng của mạch này là thường dùng trong các mạch so sánh phát hiện bán kỳ dương của tín hiệu xoay chiều để tạo góc kích trong các mạch chỉnh lưu có điều khiển dùng tiristor
3.2.1.2 So sánh mức Zero đảo
Hình 3.6 - Sơ đồ nguyên lý so sánh mức Zero đảo
+ -
Trang 26Điện thế chuẩn VRef đặt ở ngõ vào không đảo ( + ) Điện thế so sánh VI đưa vào ngõ vào đảo ( - )
+ khi VI > VRef thì UR = AD( VRef – VI ) = -URsat
+ khi VI < VRef thì UR = AD( VRef - VI ) = +URsat
Hình 3.7a trình bày ngõ ra của mạch so sánh loại này và hình 3.7b là dạng điện áp ngõ ra với tín hiệu ngõ vào dạng tam giác
Hình 3.7
3.2.2 Mạch so sánh với hai ngõ vào có điện thế bất kỳ
3.2.2.1 So sánh mức dương đảo và không đảo
a So sánh mức dương không đảo
Điện thế chuẩn VRef > 0V đặt ở ngõ vào đảo ( - ) Điện thế so sánh VI đưa vào ngõ vào không đảo ( + )
+ -
3 2
Hình 3.8 - Sơ đồ nguyên lý mạch so sánh hai điện thế bất kỳ mức dương không đảo
+ khi VI > VRef thì UR = AD( VI - VRef ) = + URsat
+ khi VI < VRef thì UR = AD( VI - VRef ) = -URsat
Hình 3.9a trình bày ngõ ra của mạch so sánh loại này và hình 3.9b trình bày dạng điện áp ngõ ra với ngõ vào có dạng tam giác
Trang 27( a ) ( b )
Hình 3.9
b So sánh mức dương đảo
+ -
Hình 3.10 - Sơ đồ nguyên lý mạch so sánh hai điện thế bất kỳ đảo
+ khi VI > VRef thì UR = AD( VRef – VI ) = -URsat
+ khi VI < VRef thì UR = AD( VRef – VI ) = +URsat
Hình 3.11a trình bày ngõ ra của mạch so sánh loại này và hình 3.11b trình bày dạng điện áp ngõ ra với tín hiệu ngõ vào dạng tam giác
Hình 3.11
Trang 283.2.2.2 So sánh mức âm đảo và không đảo
a So sánh mức âm không đảo
+ - 3
Hình 3.12 - Sơ đồ nguyên lý
Điện thế chuẩn VRef đặt ở ngõ vào đảo ( - ) Điện thế so sánh VI đưa vào ngõ vào không đảo ( + )
+ khi VI > VRef thì UR = AD( VI - VRef ) = +URsat
+ khi VI < VRef thì UR = AD( VI - VRef ) = -URsat
Hình 3.13a trình bày ngõ ra của mạch so sánh loại này và hình 3.13b trình bày dạng điện áp ra với tín hiệu ngõ vào dạng tam giác
Hình 3.14 - Sơ đồ nguyên lý
-URsat
Trang 29( a ) ( b )
Hình 3.15
Điện thế chuẩn VRef đặt ở ngõ vào không đảo ( + ) Điện thế so sánh VI đưa vào ngõ vào đảo ( - )
+ khi VI > VRef thì UR = AD( VRef – VI ) = -URsat
+ khi VI < VRef thì UR = AD( VRef – VI ) = +URsat
Hình 3.15a trình bày ngõ ra của mạch so sánh loại này và hình 3.15b trình bày dạng điện áp ngõ ra của mạch so sánh với điện áp ngõ vào dạng tam giác
3.3.3 Mạch so sánh có hồi tiếp dương
3.3.3.1 Mạch so sánh đảo
+
3
Trang 30Ta có : VRef = Rsat Rsat
2 1
2 R
2 1
R R
R U
R R
R
β
= +
= +
Trong đó: β =
2 1
2
R R
R
+ gọi là tỉ số hồi tiếp dương
Nếu ta tăng VI từ từ, ta nhận thấy:
+ Khi VI < VRef thì UR = AD( VRef - VI ) = +URsat
+ Khi VI > VRef thì UR = AD( VRef – VI ) = -URsat
Trị số của VI = VRef = β.( +URsat ) làm cho mạch bắt đầu đổi trạng thái được gọi là điểm nảy trên hay điểm thềm trên
UNT = β( +URsat )
Bây giờ nếu ta giảm VI từ từ, chú ý là lúc này UR = -URsat và VRef = β( -URsat ), ta thấy khi VI < β( -URsat ) thì UR chuyển sang trạng thái +URsat Trị số của VI lúc này:
VI = VRef = β( -URsat ) được gọi là điểm nảy dưới hay điểm thềm dưới UND
Hình 3.17 - Chu trình làm việc của mạch so sánh đảo với hồi tiếp dương
3.3.3.2 Mạch so sánh không đảo
+ -
3 2
Trang 31Thay đổi VI ta nhận thấy:
+ Khi VA < VRef thì UR =AD( VRef – VA ) = -URsat
+ Khi VA bắt đầu lớn hơn 0V mạch đổi trạng thái và UR = +URsat Trị số VIkhi UR bắt đầu đổi trạng thái được gọi là điểm nảy trên UNT
+ Bây giờ nếu ta giảm VI ( UR đang là +URsat ), khi VA bắt đầu nhỏ hơn VRefthì UR đổi trạng thái và bằng –URsat Trị số của VI lúc này được gọi là điểm nảy dưới
R R
R U
R R
R
2 1
2 Rsat
2 1
2
+
+ +
Ta phân biệt hai trường hợp:
+ Khi tăng VI từ trị số thật âm lên, lúc đầu UR = -URsat nên:
R R
R U
R R
R
2 1
2 Rsat
2 1
+ +
− ++ Khi VA = 0V tức VI = UNT, UR đổi trạng thái, ta suy ra:
Trang 32VA = ( +URsat ) - V I
R R
R U
R R
R
2 1
2 Rsat
2 1
+ + +
++ Khi VA = 0V, tức VI = UND, mạch đổi trạng thái Vậy:
R R
R R
R
R
2 1 2
2 1
Khi VA < VRef thì UR = -URsat và VA = VI – R1.I
Hình 3.20 - Mạch so sánh hai điện thế bất kỳ không đảo với hồi tiếp dương
với I =
2 1
R
R R
2 1
R R
R V
R R
R
I
+
+ +
Khi VA = VRef thì mạch đổi trạng thái, trị số của VI lúc này được gọi là điểm nảy trên UNT
UNT =
2
2 1
R
−nếu chọn R2 = n.R1, ta có:
3 2
Trang 33VA = VI - ( Rsat)
2 1 1
2 1
R R
R V
R R
R
+
− + bằng VRef thì mạch sẽ đổi trạng thái, trị số của VI lúc này gọi là điểm nảy dưới UND Tương tự như trên ta tìm được :
UND =
2
2 1
R Re
R R
Nếu ta tăng VI lên từ từ, khi VI đạt đến trị số VA thì mạch đổi trạng thái, trị số của
VI lúc đó, cũng là trị số của VA, gọi là điểm nảy trên UNT
UNT = -R1.I + VRef
= -R1
2 1
R Re
R R
U
+
−+VRef
UNT = ( 1 - )
2 1
1
R R
R
+ VRef + ( Rsat)
2 1
R R
R
+ +Nếu chọn R2 =n.R1 => UNT =
Rsat Re
2 1
R
R R
U V
R R
−
+ -
3 2