Luyện tập dưỡng sinh đã trở thành nhu cầu của người cao tuổi, trong đó tỷ lệ phụ nữ mãn kinh chiếm một phần không nhỏ [1], [21]... Đó có một số công trình nghiên cứu về phương pháp tập l
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Dưỡng sinh hay còn gọi là nhiếp sinh, đạo sinh, bảo dưỡng có nghĩa là bảo dưỡng sinh mệnh Dưỡng sinh nghiên cứu các quy luật sống của con người, tìm ra các phương pháp dự phòng bệnh và tăng cường sức khỏe, xem xét cơ chế của sự lão hóa làm chậm quá trình lão suy và kéo dài chất lượng cuộc sống
Ở Việt Nam phương pháp dưỡng sinh đó cú truyền thống từ lâu đời, đã được nhiều danh y nghiên cứu, phát triển như: Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV), Hoàng Đụn Hũa (thế kỷ XVI), Đào Công Chính (thế kỷ XVII), Lê Hữu Trác (thế kỷ XVIII) đã góp phần làm cho phương pháp dưỡng sinh từ chỗ thiên về dưỡng sinh cá nhân trở thành một phương pháp y học dự phòng toàn diện [9], [21], [23], [50], [51]
Đến thế kỷ thứ XX, phương pháp dưỡng sinh được phát triển lên mức độ cao hơn với đóng góp của nhiều nhà dưỡng sinh tiêu biểu như: Nguyễn Khắc Viện, Tô Như Khuờ, Lờ Kim Định và Nguyễn Văn Hưởng, đã vận dụng những phương pháp tập luyện y học cổ truyền với kiến thức y học hiện đại để xây dựng thành những hệ thống tập luyện hoàn chỉnh, có cơ sở khoa học rõ ràng [9], [15], [16], [28], [54]
Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, biến quá trình chữa bệnh thành quá trình tự chữa bệnh, trong nhiều năm trở lại đây phong trào tập luyện dưỡng sinh đã được áp dụng phổ biến trong nhân dân, trong các khoa dưỡng sinh của Bệnh viện Luyện tập dưỡng sinh đã trở thành nhu cầu của người cao tuổi, trong đó tỷ lệ phụ nữ mãn kinh chiếm một phần không nhỏ [1], [21]
Trang 2Trên thế giới từ sau hội nghị dân số họp tại Cairo (Aicập năm 1994), thì vấn đề sức khoẻ của phụ nữ mãn kinh đã được nhiều nhà khoa học quan tâm.
Các công trình nghiên cứu về sức khoẻ của phụ nữ mãn kinh chưa đáp ứng được với yêu cầu về chăm sóc sức khoẻ ở lứa tuổi này Theo ước tính có đến 75%-90% phụ nữ độ tuổi trên 50 cú các triệu chứng bất thường, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống [6], [12], [19], [41]
Phương pháp tập luyện dưỡng sinh của Nguyễn Văn Hưởng kế thừa, chỉnh lý trong 50 năm qua đã được Khoa Dưỡng sinh chõm cứu Bệnh viện Y học cổ truyền trung ương ứng dụng vào điều trị và phòng bệnh thông qua nhiều khóa luyện tập Đó có một số công trình nghiên cứu về phương pháp tập luyện này ở các lĩnh vực như: nghiên cứu ảnh hưởng của luyện tập thư gión cổ truyền lên một số chỉ số sinh học của Lê Thị Hiền [21]; đánh giá tác dụng của bài tập trên bệnh nhân có hội chứng thiểu năng tuần hoàn não của Nguyễn Thị Vân Anh [1]; điều chỉnh chứng rối loạn Lipid máu của Vương Thị Kim Chi [11] Thực tế cho thấy có rất nhiều phụ nữ đến tham gia các khoá luyện tập Họ không thuộc những đối tượng có bệnh như trên mà là những phụ nữ món kinh có biểu hiện rối loạn về vận mạch, về tõm sinh lý … Phải chăng phương pháp luyện tập dưỡng sinh Y học cổ truyền cũng mang lại nhiều lợi ích cho họ nhưng từ trước đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với 2 mục tiêu:
1 Đánh giá tác dụng của phương pháp luyện tập dưỡng sinh Y học cổ truyền đối với phụ nữ thời kỳ mãn kinh.
2 Mô tả một số đặc điểm lâm sàng của phụ nữ thời kỳ mãn kinh theo Y học cổ truyền.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Dưỡng sinh và cơ sở lý luận của phép dưỡng sinh
1.1.1 Khái niệm:
Dưỡng sinh là sự nuôi dưỡng và bảo vệ sự sống để phòng bệnh và kéo dài tuổi thọ Về phương pháp dưỡng sinh, trong Nội kinh cổ nhân đã qui nạp thành bốn phương diện:
Điều dưỡng tinh thần
Điều tiết sinh hoạt và ăn uống
Thích nghi với điều kiện khí hậu, xã hội
Rèn luyện thân thể
1.1.2 Cơ sở lý luận của phép dưỡng sinh
Sách Nội kinh viết “Thánh nhân chữa khi chưa có bệnh, không để bệnh phát ra rồi mới chữa, trị khi nước chưa có loạn, không đợi khi có loạn rồi mới trị Phàm sau khi bệnh đã thành rồi mới dùng thuốc, loạn đã thành rồi mới lo dẹp, cũng ví như khát mới đào giếng, khi chiến đấu mới đúc binh khí thì chẳng phải muộn ru” [21], [51, [52]
Phép dưỡng sinh đã được Tuệ Tĩnh, một danh y thế kỷ XIV đúc kết trong hai câu thơ [50]:
“ Bế tinh, dưỡng khí, tồn thầnThanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hỡnh”
Có thể minh hoạ hai cõu thơ này bằng sơ đồ dưới đõy:
Trang 4Tinh, khí, thần được coi là tam bảo (ba báu vật) của cơ thể Tinh dồi dào, khí đầy đủ thì thần mới vững mạnh, cơ thể mới sống khoẻ và sống lâu.
Bế tinh: là giữ gìn tinh của cơ thể, tinh có hai loại là tinh tiên thiên (bẩm thụ từ cha mẹ, đóng vai trò sinh sản) và tinh hậu thiên (khí huyết, tân dịch có được từ tinh hoa từ đồ ăn thức uống, đóng vai trò dinh dưỡng)
Dưỡng khí: là nuụi dưỡng khí trong cơ thể, có hai loại khí là khí tiên thiên (nguyên khí, bẩm thụ từ cha mẹ) và khí hậu thiên (do phế sinh ra và tỳ
vị lấy từ đồ ăn thức uống) Khí là vật chất vô hình có tác dụng duy trì cuộc sống, thúc đẩy hoạt động chức năng của cơ thể, không chỗ nào không đến,
Bảo vệ sức khoẻ Kéo dài tuổi thọ
Trang 5không chỗ nào không qua Muốn duỡng khí tốt phải luyện khí thở và ăn uống khoa học
Tồn thần: thần là hoạt động sống, là biểu hiện của sự sống bao gồm cảm giác, tư duy, hành vi, thần minh và hoạt động tinh thần Tồn thần là bảo
vệ tốt hoạt động sống nhất là hoạt động tâm trí
Thanh tâm: đứng đầu ngũ tạng là Tâm, biểu hiện bằng tâm chủ thần minh, hoạt động trí tuệ của con người Thanh tâm là luôn giữ cho tâm hồn thanh cao, trong sạch
Quả dục: dục có nghĩa là lòng ham muốn, khát vọng (dục vọng) Quả dục là hạn chế dục vọng vô lý, hạn chế ham muốn bất chính
Thủ chân: là giữ gìn, bảo vệ chõn khớ, không làm gì quá mức để làm
cơ thể suy yếu
Luyện hình: là tập luyện để cơ thể khoẻ mạnh, thân hình cường tráng.Hai câu thơ trên của danh y Tuệ Tĩnh đã thể hiện đấy đủ các yếu lĩnh
để có được một cuộc sống khoẻ mạnh và lâu dài
1.2 Một số phương pháp tập luyện dưỡng sinh ở trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Nguồn gốc của các phương pháp tập luyện
Từ ngàn xưa, con người đã biết tác dụng của luyện tập đối với sức khoẻ Sách Tố vấn - Thượng cổ Thiờn chõn luận có ghi: “Người thượng cổ biết phép dưỡng sinh, thuận theo quy luật âm dương, thích ứng với bốn mùa, biết phép tu thân tích đức, ăn uống điều độ, sinh hoạt chừng mực, không làm lụng bừa bãi mệt nhọc nên thể xác và tinh thần đều khỏe mạnh hưởng hết tuổi trời cho” [55]
Mỗi quốc gia, dân tộc đều xây dựng cho mình phương pháp tập luyện riêng:
Trang 6Phương pháp khí công đã xuất hiện ở Trung Quốc hơn 1000 năm nay.Phương pháp Yoga của Ấn Độ đã xuất hiện từ hơn 4000 năm nay, với các ngành của nó như: Hath Yoga chuyên luyện về thể xác, Raja Yoga chuyên luyện về tinh thần, tập trung tinh thần [11], [25].
Ở Châu Âu, có phương pháp tập luyện thể dục thể thao, điền kinh, thư gión…
1.2.2 Một số phương pháp tập luyện dưỡng sinh ở trên thế giới
Các phương pháp phổ biến như: Khí công, Thái cực quyền, xoa bóp, Yoga, thư gión,…
1.2.2.1 Khớ công dưỡng sinh:
Là phương pháp tập luyện từ lâu đời ở Trung Quốc, là phương pháp tự tập luyện để nâng cao thể chất, phòng bệnh và chữa bệnh Gồm có 2 phần là: tĩnh công và động công [1], [20], [45]
Tĩnh công gồm ba phần tập luyện chính: luyện tư thế, luyện ý, luyện thở ở trạng thái tĩnh có tác dụng làm cho khí huyết lưu thông, rèn luyện nội tạng, để chữa bệnh tật [1], [20], [45]
Động công gồm ba phần tập chính: luyện tư thế, luyện ý, luyện thở ở tư thế động, có tác dụng làm mạnh cơ bắp, tăng cường sức lực [1], [20], [45]
Theo thống kê của hội nghị khí công quốc gia Trung Quốc có khoảng
50 triệu ngưũi tập luyện khí công [1] Hiện nay Trung Quốc đã áp dụng khí công vào điều trị nhiều bệnh như: tăng huyết áp, suy nhược thần kinh, hen phế quản, viêm loét dạ dày, giảm béo [1], [45]
Hiện nay có Viện nghiên cứu khí công và cỏc mụn tập khí công ở Trung Quốc, hội khí công ở nhiều nước trên thế giới [45]
Trang 71.2.2.2 Yoga
Là phương pháp tập luyện có nguồn gốc từ Ấn Độ, Yoga có 2 ngành chính là: Hatha Yoga - luyện về thể xác, còn được gọi là yoga thể dục và Raja Yoga chuyên luyện về tinh thần, tập trung tinh thần
Hiện nay có nhiều viện nghiên cứu về Yoga ở Ấn Độ và một số nước Phương Tây [21], [25]
1.2.2.3 Thư giãn
Thư giãn là phương pháp tập luyện tinh thần, chủ động tách rời cơ thể khỏi môi trường bên ngoài, tập trung theo dõi hơi thở, cảm giác ấm nặng, tạo cho toàn
bộ cơ thể ở trạng thái ức chế, thư giãn hoàn toàn [27], [54]
Thư giãn là thuật ngữ phản ánh hai trạng thái cơ bản cần đạt được trong liệu pháp tâm lý: thư giãn tâm thần và giãn mềm cơ bắp [21], [26], [27]
Có hai phương pháp thư giãn hay dùng trong YHHĐ là:
* Phương pháp thư giãn Schultz: từ não bộ điều khiển xuống các cơ Đặc điểm của phương pháp này là tự ám thị để có được các cảm giác nặng,
ấm, tim êm dịu, với 6 bài “tự tập sơ cấp” là: Tay nặng, tay ấm, trái tim êm dịu, theo dõi hơi thở, bụng ấm, trỏn mỏt rất dễ chịu [20], [21], [25], [26], [27]
* Phương pháp thư giãn của Jacobson: từ các cơ tác động lên bộ não, với nguyên tắc: mỗi cơ khớp có hai tác dụng đối lập (một cái co, một cái duỗi) gồm
12 động tác: khớp ngón tay và ngón chân, khớp bàn tay và bàn chân, khớp cổ tay và khớp cổ chân, bàn tay và bàn chân, khớp cùi trỏ và đầu gối, khớp vai và khớp háng, mắt, miệng, đầu, lưỡi [20], [21], [25], [26], [27]
Ngoài ra còn một số phương pháp tập luyện khác như: xoa bóp, thái cực quyền, bài tập thể dục …
1.2.3 Phương pháp luyện dưỡng sinh ở Việt Nam
Trang 8Ở Việt Nam phương pháp tập luyện dưỡng sinh đã có từ lâu đời, vào thế kỷ XIV danh y Tuệ Tĩnh đã nêu lên bí quyết dưỡng sinh trong đó có phần luyện tập thân thể [50] Hoàng Đôn Hoà (thế kỷ XVI) trong cuốn “Hoạt nhõn toỏt yếu” đã nêu ra phương pháp luyện thở khí công [23] Đến thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông đã nêu lên mối liên hệ giữa luyện tập và tinh thần với hai cõu thơ: [21], [51], [52]
“ Tập cho khí huyết lưu thôngChân tay điêu luyện trong lòng thảnh thơi”
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng cho chúng ta về tập luyện dưỡng sinh Người nói: “mỗi người dân lúc ngủ dậy, tập ớt phỳt thể dục, ngày nào cũng tập thỡ khớ huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ” [27]
Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bị lao phổi, sáu lần mổ, chỉ còn 1/3 sức thở nhưng nhờ kiên trì tập luyện dưỡng sinh nên sức khoẻ hồi phục, vẫn làm việc và lao động sáng tạo Phương pháp tập luyện dưỡng sinh của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện gồm: luyện thở, luyện thư giãn, một số động tác Yoga [21], [25], [54]
Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng bị Tai biến mạch máu não từ năm 1970, đã
tự tìm ra phương pháp tập luyện và ông đã phục hồi gần như hoàn toàn, sống
và làm việc đến năm 1998
Từ năm 1960 đến nay Viện Y học cổ truyền Việt Nam (nay là Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương) đã thường xuyên mở các lớp tập luyện dưỡng sinh để phòng bệnh và điều trị một số bệnh mạn tính
1.3 Nội dung bài tập dưỡng sinh YHCT tại Bệnh viện Y học cổ truyền trung ương
1.3.1 Xuất xứ của bài tập:
Trang 9Bài tập dưỡng sinh tại Bệnh viện Y học cổ truyền Việt Nam được Bác
sĩ Nguyễn Văn Hưởng xây dựng dựa trên cơ sở kế thừa truyền thống dưỡng sinh từ lâu đời của cha ông ta, tiếp thu có chọn lọc các phương pháp tập luyện của các dân tộc khác như: khí công, xoa bóp của Trung Quốc; Yoga của Ấn
Độ [21], [25]
Bài tập đã được các Giáo sư Hoàng Bảo Châu, Trần Thuý và một số bác sỹ của Khoa Dưỡng sinh Chõm cứu kế thừa, bổ sung hoàn thiện hơn [3], [9]], [15]
1.3.2 Nội dung bài tập
1.3.2.1 Luyện thư giãn:
Theo quan điểm của YHCT thì thư nghĩa là thư thái, trong đầu óc lúc nào cũng thư thái; giãn có nghĩa là nới ra, giãn ra, chùng lại Thư giãn nghĩa
là ở gốc trung tâm vỏ não thì phải thư thái, ở ngọn các cơ vân và cơ trơn thì phải giãn ra Gốc thư thái tốt thì ngọn giãn tốt, mà ngọn giãn tốt thì sẽ giúp gốc thư thái Nếu thư giãn tốt thì không có cơ nào căng thẳng, tay chân và toàn thân trở nên mềm mại Gương mặt phải rất bình thản như “mặt nước hồ” như “gương mặt đức phật trên toà sen” [11], [28]
Theo YHHĐ thì thư giãn là phép luyện ức chế bằng cách làm giãn, làm mềm, buông lỏng các cơ vân và cơ trơn để làm bớt căng thẳng thần kinh Nếu
cơ trơn giãn ra hoàn toàn thì ta có cảm giác nặng, nếu cơ trơn được giãn ra nhất là cơ trơn mạch máu thỡ cỏc mạch máu không bị co thắt, mà giãn ra máu chảy dần ra tay chõn nờn ta có cảm giác nóng, ấm Luyện thư giãn làm cho quá trình ức chế và hưng phấn trong hoạt động thần kinh được cân bằng Thư gión đã được áp dụng chữa cho nhiều nhóm bệnh: tim mạch, tiờu hoỏ, hô hấp, thần kinh,…[11], [28]
1.3.2.2 Luyện thở: có 3 cách
Trang 10- Thở 4 thỡ cú 2 thì dương và 2 thỡ õm (cú kờ mụng): là để luyện thần kinh, luyện khí và huyết, xoa bóp nội tạng Trong đó thì 1 và thì 2 đều dương
vỡ thỡ này các cơ hô hấp phải co thắt tối đa để hít vào, thì 3 và 4 là 2 thỡ õm
vỡ lúc này các cơ hô hấp giãn ra, đối với các luyện thở này thì 2 là quan trọng
vì giỳp luyện ý chí làm chủ hơi thở [3], [15], [20], [21]
- Thở 4 thì dương: cách luyện thở này thường được kết hợp trong các động tác Yoga Bốn thì đều dương vì cấc cơ hô hấp đều hoạt động mạnh, hai thì đầu hít vào tối đa, hai thì sau thở ra triệt để có tác dụng thúc đẩy khí huyết lưu thông đều [3], [15], [20], [21]
- Thở có trở ngại: là luyện thở trong các tư thế khó thở, mục đích của cách luyện thở này là để thúc đẩy khí huyết lưu thông rộng khắp cơ thể và tăng sức [3], [15], [20], [21]
Ảnh hưởng của thở sâu đến một số chức năng cơ thể:
Đối với hô hấp: ngưũi tập thở sâu thì hiệu số giãn ngực và dung tích sống lớn hơn ngưũi không tập [1], [27]
Đối với chức năng trao đổi khí: càng thở sâu, chức năng trao đổi khí càng hoàn chỉnh, các phương pháp thở trên đều cho kết quả là PaO2 và SaO2
máu tăng [1], [26], [28]
Luyện tập ở các tư thế Yoga:
Mục đích làm cho khí huyết lưu thông và chống xơ cứng Các tư thế ASANA của phương pháp Yoga có ưu điểm chống xơ cứng, làm cơ thể dẻo dai bằng, buộc huyết phải lưu thông đến các tế bào ở nơi xa nhất [1], [25]
Điểm trọng tâm của luyện tập là: tập cột sống, tập cơ phía sau thân, tập
để giữ tạng phủ không sa ra ngoài, tư thế dồn mỏu lờn đầu (một số động tác như cái cày, trồng cây chuối, chổng mông thở, tư thế kờ mụng có tác dụng dồn mỏu lờn nóo)
Trang 11Các động tác trong bài tập của Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng là những động tác phù hợp với người lớn tuổi, không nguy hiểm, với mục đích chống
xơ cứng để bồi dưỡng sức khỏe, kéo dài tuổi thọ
Theo Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng thì người có tăng huyết áp không nên tập động tác trồng cây chuối, người già xơ cứng mà tập quá mạnh có thể bị chấn thương cột sống, gãy xương Vì vậy người tập phải lựa chọn những động tác phù hợp với mình [28]
Theo GS Nguyễn Khắc Viện, các động tác này giúp cho mạch máu não nhạy cảm với sự thay đổi của áp lực, luyện đàn hồi thành mạch máu não và làm ổn định lưu lượng não Muốn tập các động tác đưa hai chân lên cao phải tập từ từ, tăng dần, tránh đột ngột Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh tim mạch nên tránh [1], [54]
1.4 Các công trình đã nghiên cứu về bài tập dưỡng sinh
Bệnh viện Y học cổ truyền trung ương đã kết hợp với Trường Đại học y
Hà Nội, Học viện Quõn y, Bệnh viện công ty than 3, Bệnh viện trung ương quân đội 108, đã đánh giá nhiều chỉ tiêu của bài tập này Kết quả chung là người tập luyện ăn ngon hơn, ngủ tốt hơn, đại tiểu tiện điều hoà hơn Đối với hoạt động chức năng thở: dung tích sống, VEMS, chỉ số Tiffeneau, PaO2 và SaO2 đều tăng Huyết áp có xu hướng trở về bình thường, chứng tỏ tác dụng điều hoà huyết áp của bài tập [1], [14], [21], [25]
Các tác giả Nguyễn Văn Tường, Võ Mộng Lan, Hoàng Bảo Châu, Nguyễn Tấn Gi Trọng và cộng sự (1987) nghiên cứu những thay đổi về huyết động học trong bài tập dưỡng sinh trước và sau đợt tập cho thấy sau đợt tập lưu lượng tim tăng [1]
Phạm Huy Hùng (1996) nghiờn cứu sự thay đổi một số chỉ số lâm sàng
và cận lâm sàng ở người tập luyện dưỡng sinh theo phương pháp của Bác sĩ
Trang 12Nguyễn văn Hưởng cho thấy: độ giãn cột sống được cải thiện, độ giãn nở của lồng ngực tăng có ý nghĩa thống kê so với trước tập, các chỉ số hô hấp được cải thiện [25].
Lê Thị Hiền (2003) nghiên cứu ảnh hưởng của luyện tập thư gión cổ truyền lên một số chỉ số sinh học cho thấy: luyện tập thư gión cổ truyền gõy biến đổi một số chỉ số sinh học ở người trưởng thành bình thường, người có tuổi tăng huyết áp và người có tuổi có hội chứng suy nhược thần kinh [21]
Nguyễn Thị Vân Anh (2000) nghiờn cứu tác dụng bài tập dưỡng sinh của Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng trên bệnh nhân có hội chứng thiểu năng tuần hoàn não mạn tính cho thấy: bài tập có tác dụng cải thiện tình trạng thiểu năng tuần hoàn não mạn tính, trương lực mạch máu não giảm, khả năng đàn hồi của thành mạch được cải thiện [1]
Vương Thị Kim Chi (2001) nghiờn cứu tác dụng của dưỡng sinh góp phần điều chỉnh chứng rối loạn lipid máu cho thấy: bài tập có tác dụng góp phần điều chỉnh một số thành phần của lipid máu trong chứng rối loạn lipid máu, nồng độ triglycerid máu giảm có ý nghĩa thống kê với P < 0,001, nồng
độ HDL-C tăng có ý nghĩa thống kê với P< 0,001 [11]
1.5 Khái niệm về Mãn kinh
1.5.1 Theo YHHD
1.5.1.1 Mãn kinh và cơ sở sinh lý học của món kinh
Ở người phụ nữ vào độ tuổi 50 trở lên các nang trứng của buồng trứng giảm phát triển, trở lên không đáp ứng với kích thích của hormon tuyến yên, sau vài tháng đến vài năm các chu kỳ sinh dục ngừng, người phụ nữ hết kinh, không có hiện tượng phúng noón, nồng độ các hormon sinh dục giảm thấp Hiện tượng này được gọi là mãn kinh [6], [7], [18]
Trang 13Mãn kinh là tình trạng thôi hành kinh vĩnh viễn, một vô kinh thứ phát
do suy giảm tự nhiên hoạt động của buồng trứng một cách tự nhiên và không hồi phục [2], [7]
Mãn kinh được phân thành 2 loại:
- Mãn kinh tự nhiên: là tình trạng vô kinh liên tục sau 12 tháng mà không có bất kỳ nguyên nhân bệnh lý nào [2], [6], [19]
- Mãn kinh nhân tạo: là tình trạng dừng kinh nguyệt sau khi cắt bỏ buồng trứng, do điều trị hoá chất, phóng xạ làm suy giảm chức năng buồng trứng
Hội chứng món kinh được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn tiền mãn kinh: là giai đoạn khi mà chu kỳ kinh nguyệt vẫn đều ở phụ nữ sau độ tuổi 40, đôi khi mất kinh nhưng không kéo dài quá 3 tháng [2], [6], [19], [33],[37]
Giai đoạn quanh mãn kinh: là giai đoạn ngay trước khi mãn kinh thật
sự, chu kỳ kinh nguyệt bất thường, có giai đoạn vô kinh kéo dài hơn ba tháng nhưng không kéo dài trên 12 tháng, giai đoạn này bao gồm cả năm đầu sau khi mãn kinh [2], [6], [19], [33], [37]
Giai đoạn hậu mãn kinh: là sau khi vô kinh liên tục 12 tháng, giai đoạn này kéo dài cho đến chết [2], [6], [19], [33], [37]
Cơ sở của món kinh: Món kinh là sự kiệt quệ của buồng trứng, vào thời
kỳ tiền mãn kinh ở buồng trứng, số nang trứng nguyờn phỏt cũn rất ít Việc đáp ứng của buồng trứng với kích thích của Follicle Stimulating Hormon (FSH) và Luteinizing Hormon (LH) giảm dẫn đến lượng estrogen giảm dần đến mức thấp nhất Với hàm lượng này estrogen không đủ chế tạo một cơ chế feedback
õm gõy ức chế bài tiết FSH và LH, đồng thời cũng không đủ để tạo cơ chế feedback dương gây bài tiết đủ lượng FSH và LH cần thiết làm rụng trứng Do
Trang 14đó chỉ sản xuất được một lượng nhỏ hơn estrogen, không còn đủ để làm thay đổi niêm mạc tử cung tới mức gây được kinh nguyệt [6], [12], [17], [17], [37].
1.5.1.2 Những thay đổi về nội tiết khi mãn kinh
Ở thời kỳ mãn kinh có sự thay đổi lớn về nội tiết mà hiện tượng chính
là sự tụt giảm estrogen Trong thời kỳ sinh sản buồng trứng chế tiết chủ yếu estradiol và một lượng nhỏ etrol, còn lại hầu hết estrol được hình thành từ một đích từ nguồn androgen do vỏ thượng thận và lớp vỏ của nang noãn chế tiết Estrogen cũng có thể biến đổi từ dạng này sang dạng khác, như sự chuyển dạng qua lại của estradiol và estron [6], [33] Trước khi mãn kinh 95% estradiol lưu hành trongmỏu do buồng trứng tiết ra phần còn lại có nguồn gốc
từ sự chuyển hoá estron [2], [6], [19]
Ở thời kỳ mãn kinh có sự thay đổi về estrogen, nồng độ estradiol và etron giảm rõ trong 12 tháng đầu của thời kỳ này và tiếp tục giảm chậm trong một vài năm sau đó
Vào những năm cuối của đời sống sinh sản, có sự sụt giảm rất lớn nồng
độ etradiol và chớnh sự tụt giảm này đã gõy ra các rối loạn tâm sinh lý và bệnh tật cho người phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh [2], [6], [18]
Nồng độ FSH huyết thanh tương quan chặt chẽ với thời kỳ mãn kinh Khi nồng độ FSH huyết thanh tăng lên trên 40 IU/l là dấu hiệu cận lâm sàng đáng tin cậy nhất để xác định mãn kinh Vào giai đoạn tiền mãn kinh đó cú sự thay đổi nồng độ FSH và LH Khoảng 2-3 năm sau kỳ kinh cuối, hàm lượng FSH có thể gia tăng từ 10-20 lần, giá trị FSH có thể đạt tới 20-140 IU/l Nồng
độ LH cũng gia tăng nhưng ít đột ngột hơn, điển hình là tăng khoảng từ 3-5 lần [2], [6]
1.5.1.3 Những thay đổi về chức năng thời kỳ mãn kinh
Trang 15Chính sự tụt giảm nồng độ estrogen thời kỳ mãn kinh đã dẫn tới những thay đổi về cấu trúc cũng như về chức năng buồng trứng để lại nhiều khó khăn ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người phụ nữ ở giai đoạn này Những biểu hiện lâm sàng của tuổi mãn kinh thay đổi rất nhiều về mức độ và thời gian xuất hiện Một số phụ nữ hoàn toàn không có một triệu chứng gì đáng kể trừ sự thay đổi chức phận kinh nguyệt là do những thay đổi về hình thái và nội tiết chắc chắn tiến triển một cách từ từ vì vậy các hậu quả hầu như không thấy rõ Ngược lại ở những phụ nữ mà sự thiếu hụt estrogen đột ngột hơn và rõ ràng hơn, phối hợp với những thay đổi ở đường sinh dục, vú và đôi khi các triệu chứng khác cùng một lúc với những biểu hiện của tớnh khụng ổn định nghiêm trọng của bản thân Chính những người này được gọi là có hội chứng mãn kinh [5],[6], [13].
1.5.1.4 Hội chứng mãn kinh
Danh từ hội chứng mãn kinh được dùng để chỉ một nhúm cỏc triệu chứng mà một số 70-90% phụ nữ bị mắc trong tuổi mãn kinh bao gồm: Rối loạn thần kinh thực vật như cơn bốc hoả, vã mồ hôi, hồi hộp, chóng mặt, các rối loạn tâm lý như: rối loạn tập trung, giảm ham muốn tình dục…
Trang 16theo một cơn đỏ mặt, đôi khi sau cơn bốc hoả lại rùng mình Thường xuất hiện vã mồ hôi sau cơn bốc hoả Đôi khi thấy xuất hiện choáng váng, chóng mặt, đánh trống ngực, nhức đầu, buồn nôn ngay sau khi bị bốc hoả và sự kết thúc của triệu chứng trên cũng đột ngột như khi nó xuất hiện Tất cả giai đoạn này kéo dài khoảng vài phút
Các cơn bốc hoả nhiều hay ít, mạnh hay nhẹ rất khác nhau, thường các cơn đó hay xẩy ra sau các xúc cảm Tuy nhiên nhiều trường hợp các cơn vã
mồ hôi đặc biệt hay xẩy ra trong lúc ngủ, gây ảnh hưởng tới giấc ngủ Cú lỳc cơn bốc hoả, vã mồ hôi nhiều và mạnh làm cho người phụ nữ thấy rất mệt Trong một vài trường hợp sau các cơn đó bệnh nhân có thể bị hồi hộp hay có những cơn mạch nhanh kớch phỏt
Sự đỏ bừng ở mặt có thể nhận thấy được bởi người khác khi bốc hoả xuất hiện, có thể nhận ra được ở mặt, ở cổ như vết bóng đỏ, bàn tay trở lên nóng, da ở mặt, cổ trở lên nhớp nháp [3], [5], [6]
Căn nguyên của vấn đề vận mạch đã được nghiên cứu nhiều Nhiều ý kiến cho rằng sự mất estrogen bản thân nó không phải là nguyên nhân chính Đối với những người phụ nữ chưa bao giờ chịu tác dụng của estrogen thì không xuất hiện các triệu chứng về vận mạch như trên Ngược lại nếu những người này đã từng được điều trị bằng estrogen thì khi ngừng estrogen các rối loạn về vận mạch sẽ xuất hiện Các rối loạn vận mạch đặc biệt là không xuất hiện ở các bệnh nhân bị suy giảm estrogen thứ phát sau thiểu năng chức phận tuyến yên Người ta cũng nhận thấy không có một sự liên quan nào giữa mức
độ bài tiết hormone hướng sinh dục với mức độ trầm trọng của các cơn bốc hoả mãn kinh [3], [4], [13]
Trang 17Ngày nay người ta thấy có một mối tương quan tạm thời giữa nhịp độ bài tiết ra LH và các đợt bốc hoả (lúc bắt đầu có bốc hoả mãn kinh và sự chế tiết LH) [3], [38] Các triệu chứng vận mạch của mãn kinh dường như là do rối loạn chức năng trung tâm điều hoà nhiệt độ của vùng hạ đồi với sự giảm đi đột ngột cơ chế kìm nhiệt ở vùng hạ đồi
Những thay đổi về sinh lý do việc đổ mồ hôi và co thắt mạch đều là do chức năng của hệ thần kinh giao cảm ngoại biên, những sợi phó giao cảm kích thích tuyến mồ hôi trong khi những sợi thần kinh giao cảm thì điều khiển tình trạng co thắt mạch ngoại biên Cả hai đáp ứng này đều hạ thấp nhiệt độ trung ương trong suốt thời gian bốc hoả Những phụ nữ thường đáp ứng với
sự khởi đầu của cơn bốc hoả bằng cách cố gắng làm mát cho mình bằng việc
mở cửa sổ hay cởi bỏ quần áo quá dày ngay cả khi không có sự gia tăng thật
sự trong nhiệt độ trung ương
Tần suất xuất hiện của các cơn bốc hoả rất khác nhau tuỳ theo từng vùng, từng dõn tộc… Ví dụ: 23% phụ nữ mãn kinh ở Thái Lan, 10% ở phụ
nữ Trung Quốc; 56% ở phụ nữ Thuỵ Điển, 17,6 % ở phụ nữ Singapore; 56%
ở phụ nữ Malaysia; hơn 80% ở phụ nữ Hà Lan [6], [], [57], [58], [60] Theo
M Yusoff Dawood 85% phụ nữ mãn kinh có cơn bốc hoả với 65% cơn bốc hoả xuất hiện từ 1 – 5 năm, 26% kéo dài từ 6 – 10 năm, 10% kéo dài trên 10 năm [59] Theo Kronnenberg (1990): có 60% phụ nữ có cơn bốc hoả trong thời gian 7 năm và 15% trên 15 năm Mỗi cơn bốc hoả kéo dài trung bình 2,7 phút, có 17,4% phụ nữ mãn kinh có cơn bốc hoả kéo dài hơn 1 phút, 5,7% cơn bốc hoả kéo dài hơn 6 phút [2] Mỗi cơn bốc hoả có liên quan với sự tăng nhiệt độ, tăng nhịp đập của tim (trung bình 9 nhịp đập/phỳt và có thể tới 20 nhịp đập/ phút), tăng hoạt động máu ở tay chân và tăng máu ở ngoài da
Trang 18* Chóng mặt:
Là một ảo giác vận động của bản thân hoặc của môi trường thông thường là cảm giác quay, có thể do sinh lý hoặc do rối loạn trong hệ tiền đình Cảm giác đầu óc quay cuồng, choáng váng, lảo đảo như ngồi trên thuyền chòng trành [2] Chóng mặt sinh lý kéo dài 3 – 40 giây, nhẹ thì thoáng qua, nặng thì tức ngực, buồn nôn, đổ mồ hôi, nặng hơn thì ngất xỉu Ở các bệnh nhân này không thấy biểu hiện của rối loạn tiền đình rõ ràng hoặc hội chứng động mạch đốt sống cổ thân nền [2], [24], [38], [47]
* Các rối loạn ở hệ thống thần kinh tâm lý
Tính dễ bị kích động ngày càng tăng về hình thái này hay hình thái khác là một biểu hiện thường gặp xẩy ra ở hầu hết các bệnh nhân như là một phần của hội chứng mãn kinh Sự cáu gắt, bất ổn định về cảm xúc và sự mất ngủ ngày càng nặng là những hình thái thường gặp nhất Nhưng ở một số trường hợp trầm cảm và một trạng thái phủ định thụ động có thể có Điều đó đến mức độ nào có thể cho là do các yếu tố nội tiết hoặc phối hợp đến mức độ nào là kết quả của các yếu tố chủ quan khác xẩy ra ở thời điểm đó của cuộc đời là một câu hỏi còn tranh luận ? Có lẽ cả hai đều có vai trò Các triệu chứng vận mạch là một hiện tượng rối loạn mà bản thân nú đó làm tăng tính xúc cảm và cáu gắt Giống như các cơn bốc hoả loại phản ứng thần kinh này
Trang 19không thể gán cho là do bản thân sự giảm sút estrogen, nhất là nó thường không hay đi kèm với giảm chức phận tuyến yên và giảm chức phận sinh dục Trong nhiều trường hợp các yếu tố tâm lý thay đổi đó gây ra một ảnh hưởng quan trọng mà ta không thể ngờ tới Trong số đó có thể người phụ nữ bất chợt nhận ra là mỡnh đó tới một mốc mới của cuộc đời và sợ hãi là từ nay sẽ già
đi Khả năng sinh đẻ không còn nữa, cuộc đời sinh dục sẽ thay đổi, ung thư và các bệnh thoỏi hoỏ sẽ dễ dàng phát triển Cộng với điều đó là việc tất cả các hiện tượng đó xẩy ra vào một giai đoạn trong cuộc đời lỳc cỏc con đã lớn và
đi xa, hơn nữa chồng thì bận rộn hơn bao giờ hết, do đó khó có thể chăm sóc người phụ nữ một cách chu đáo như mong muốn [13]
Những bệnh nhân có một tình trạng trầm cảm thì trở nên ít cười, kêu ca mệt, chán nản và mất tin tưởng vào khả năng có thể tiếp tục công việc bình thường Họ có ý định rút ra khỏi xã hội và họ sợ rằng sẽ mất trí Thường họ phát triển tình trạng loạn thần kinh thể lo lắng, trong một số trường hợp họ có thể đi tới chứng sầu uất thoái triển thực sự Việc các triệu chứng này không hết khi điều trị bằng estrogen đã loại bỏ những ngờ vực về việc cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này do yếu tố nội tiết gây nên
* Đau đầu
Thuật ngữ đau đầu bao hàm tất cả các loại đau ở đầu nhưng trong ngôn ngữ thông thường người ta dùng từ đau đầu chỉ để nói tới những cảm giác khó chịu vựng vũm sọ Có khoảng 1/3 bệnh nhân than phiền bị đau đầu, coi như một dấu hiệu mới, đau đầu thường được gọi là loại căng thẳng thần kinh và được bệnh nhân mô tả là cảm thấy giống như một sợi dây bó chặt quanh đầu, hoặc đi từ chẩm đến cổ lan ra gỏy, ớt khi nó thuộc loại đau nửa đầu [2], [13]
Một số cho rằng hiện tượng đau đầu ở phụ nữ thời kỳ mãn kinh là kết quả của sự căng phồng của tuyến yờn đã cương năng về chức phận [13], [43] Theo
Trang 20tính chất thì có thể các cơn đau đầu là biểu hiện khác của sự rối loạn hệ thống thần kinh thường hay xẩy ra ở người phụ nữ mãn kinh.
* Tâm tính khí thất thường:
Lúc vui, lúc buồn, hay quên, nhiều khi không làm chủ được khi quyết định một việc gì dù nhỏ nhặt trong sinh hoạt hằng ngày
* Mất ngủ
Đó là sự giảm sút về thời gian, độ sâu hoặc hiệu quả hồi phục của ngủ,
có thể là không ngủ được, muốn ngủ rất khó, giấc ngủ chập chờn dễ bị thức giấc, ngủ không sâu, cả đêm không ngủ, hoặc cả ngày ngủ 2 – 3 giờ, sáng ngủ dậy cảm thấy không thoải mái còn thiếu ngủ, mệt mỏi Bệnh thường kốm chúng mặt, đau đầu, hồi hộp hay quên [2], [5], [12]
* Tính yếu đuối và mệt mỏi:
Mệt mỏi cũng là một triệu chứng quan trọng, hay gặp trong hội chứng mãn kinh Bệnh nhân thường cảm thấy mệt mỏi, uể oải, không khoan khoỏi cả tinh thần và thể chất, dễ bị mệt mỏi trong lao động trí óc cũng như lao động thể lực Do đó bệnh nhân có thể bỗng dưng thấy khó khăn trong giải quyết một công việc thông thường nào đó
Trang 21* Đau cơ, xương khớp
Đây là một triệu chứng hay gặp trong hội chứng mãn kinh Bệnh nhân cảm thấy đau nhức ở trong cơ, xương, khớp xương, đau có khi di chuyển có khi cố định xong hầu như không có sưng nóng khớp
* Cảm giác kiến bò ở da:
Bệnh nhân có cảm giác buồn buồn như một sinh vật nhỏ bé bò đi, bò lại
ở trên da tay, chõn mỡnh có khi rất khó chịu, nặng có thể phải gói luụn
Chẩn đoán hội chứng mãn kinh có thể dễ dàng thiết lập dựa trên các phát hiện về lâm sàng bao gồm cả tuổi bệnh nhân Các triệu chứng và kết quả thăm khám thực thể Các triệu chứng vận mạch của hội chứng mãn kinh là đặc biệt nhất và giúp ích nhất trong việc xác định chẩn đoán Các xét nghiệm cận lâm sàng chỉ giúp thêm vào trong các trường hợp có vấn đề Các thực nghiệm lâm sàng về nội tiết và các xét nghiệm cận lâm sàng khác để thiết lập một chẩn đoán một hội chứng mãn kinh phải được đánh giá một cách cẩn thận, nhất là không có một thử nghiệm nào tự bản thân nó thiết lập được chẩn đoán Một vài phát hiện phù hợp với chẩn đoán, một số khỏc giỳp ta loại trừ chẩn đoán
1.5.1.5 Điều trị hội chứng mãn kinh
Việc điều trị hiện nay bên cạnh việc giải quyết vấn đề tâm sinh lý, thông qua: sinh hoạt ăn uống tập luyện, còn cần tới sự hỗ trợ của thuốc
Thuốc để điều trị chủ yếu là các chế phẩm của nội tiết tố là Estrogen và Progesteron được gọi là liệu pháp hormon thay thế (LPHTT) Nhằm đem lại cho người phụ nữ một cuộc sống có chất lượng, làm nhẹ các triệu chứng vận mạch và các biểu hiện của hệ thống thần kinh phối hợp mà người ta cho là do thiếu cân bằng nội tiết, vì vậy cần được điều trị khi có yêu cầu [5], [12], [40], [41], [42]
Trang 22Tuy nhiên dù kết quả có lợi của việc điều trị Estrogen đối với hội chứng mãn kinh, song có một vài bệnh nhân và đôi lúc có một số thầy thuốc không tán thành hay từ chối chấp nhận cách điều trị đú vỡ nhiều lý do khác nhau [53] Chính vì vậy một trong những quyết định phức tạp và khó khăn nhất trong chăm sóc sức khoẻ phụ nữ là hiệu họ cú nờn dựng LPHTT sau mãn kinh hay không [2].
Trong điều trị thầy thuốc phải xác định xem bệnh nhõn cú chỉ định cần đến LPHTT hay không ? Thầy thuốc cần xem xét những lợi ích và tác hại của LPHTT với bệnh nhân Nhấn mạnh vào sự thiếu chắc chắn của nhiều vấn đề
có liên quan Những tác dụng phụ có thể xẩy ra cũng phải được bàn Những chống chỉ định đối với LPHTT cũng phải được đánh giá thường quy [40], [41] Khi điều trị bằng LPHTT đòi hỏi người phụ nữ phải đến cơ sở y tế kiểm tra thường xuyên Mặc dù LPHTT là phương pháp trị liệu chính xong không phải tất cả phụ nữ có hội chứng mãn kinh đều được điều trị và nên điều trị bằng LPHTT
Ngoài ra, người phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh nờn cú: một chế độ tập luyện đặc biệt (nên đi bộ), một công việc phù hợp với tuổi già, một cuộc sống thoải mái với gia đình và bạn bè cùng lứa tuổi, dùng Calcium và Vitamin D,…
1.5.1.6 Tình hình nghiên cứu về mãn kinh trên thế giới và trong nước
Trên thế giới:
Việc nghiên cứu mãn kinh nói chung cũng như về hội chứng mãn kinh nói riêng có rất nhiều công trình Về phần điều trị chủ yếu là nghiên cứu cảnh hưởng của LPHTT tới hội chứng mãn kinh, cũng như ảnh hưởng tới các cơ quan đích mà estrogen, progesteron tác động Bằng chứng hiển nhiên có liên quan đến những lợi ích và tác hại của trị liệu LPHTT được xác định từ hai thử nghiệm ngẫu nhiên lớn đang tiến hành Đó là thử nghiệm đề xướng sức khoẻ
Trang 23phụ nữ tại Hoa Kỳ năm 2005 có kết quả và nghiên cứu quốc tế về sử dụng lâu dài Estrogen sau mãn kinh Tại 14 quốc gia dự kiến đến năm 2012 có kết quả [24] Bên cạnh đó cũng có nghiên cứu về các thuốc không phải hormon để điều trị hội chứng mãn kinh như: clonidin, vitamin E, châm cứu, một số dược thảo có chứa hoạt chất phytoestrogen, đậu nành, bí đao, nhân sâm,…
Ở Việt Nam
Nghiên cứu về mãn kinh có một số công trình nghiên cứu, đặc biệt là
đề tài cấp nhà nước do Phạm Thị Minh Đức làm chủ nhiệm đề tài [19] Tuy nhiên kết quả chủ yếu là về phần biến đổi tâm sinh lý và bệnh tật, phần điều trị ít được đề cập Ở Viện lão khoa Trung ương (1994) có làm nghiên cứu bước đầu áp dụng điều trị thay thế bằng estrogen và progestron ở phụ nữ rối loạn tiền mãn kinh và mãn kinh [47], [48]
1.5.2 Theo Y học cổ truyền
1.5.2.1 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Từ lâu trong y học cổ truyền, dựa trên quan sát lâm sàng cũng nhận thấy người phụ nữ trước và sau khi hết kinh thường xuất hiện những triệu chứng như: Triều nhịờt, xuất hiện các cơn bốc hoả, mặt nóng đỏ, ra mồ hôi, tinh thần mệt mỏi, hay hoa mắt chóng mặt, phiền táo, dễ cáu giận, ù tai, mất ngủ, hay hồi hộp đánh trống ngực, vai lưng đau mỏi, lòng bàn chân bàn tay nóng và thường kèm theo rối loạn kinh nguyệt…tất cả đều có liên quan đến vấn đề hết kinh và gọi là ‘’kinh đoạn tiền hậu chứng’’ hay là ‘’tuyệt kinh đường hậu chứng’’ Những triệu chứng này xuất hiện có thể nhiều hoặc ít, số lần xuất hiện và thời gian xuất hiện không theo quy luật, quá trình bị bệnh có thể dài ngắn khác nhau (từ vài tháng đến vài năm) Chứng này tương đương với hội chứng mãn kinh của Y học hiện đại [31]
Sự phát sinh ra hội chứng mãn kinh có liên quan tới đặc điểm sinh lý của người phụ nữ vòng quanh tuổi 49 Ở thời điểm này thần khí đã suy nhiều, thiên quý ít dần và theo hướng suy kiệt, hai mạch Xung- Nhâm cũng từ đấy
Trang 24suy yếu dần đi Như vậy ở vào khoảng tuổi này người phụ nữ về cơ bản hết khả năng sinh đẻ, chức năng của các tạng phủ cũng suy giảm dần mà chủ yếu
là thận khí suy (chủ yếu là tinh, huyết suy dần nên âm dương mất cân bằng) ảnh hưởng tới sự hoạt động của các tạng phủ khác Do thận là gốc của tiên thiên nên khi ngũ tạng bị tổn thương, bao giờ cũng ảnh hưởng tới thận, dẫn đến chức năng của tạng thận bị suy giảm Thận dương thận âm mất cân bằng, ảnh hưởng đến sự hoạt động của các tạng phủ khác như: tâm, can, tỳ…làm cho biểu hiện lâm sàng của hội chứng mãn kinh rất phức tạp [31]
1.5.2.2 Các thể lâm sàng
- Thể âm hư hoả vượng: người bệnh cú cỏc biểu hiện như: tính tình bứt rứt, nóng nảy, dễ cáu gắt, chóng mặt, đau đầu, ngực sườn đầy tức, miệng khô đắng, chân tay run, tê hoặc có cảm giác kiến bò, lưỡi đỏ tía, mạch huyền sác
- Thể can thận âm hư: người bệnh cú cỏc biểu hiện: đau đầu, chóng mặt, bốc hoả, ra mồ hôi, miệng khô, tiểu vàng, táo bón, lưng gối mỏi, đau nhức xương, tai ù, ngũ tâm phiền nhiệt, chất lưỡi đỏ, rờu ớt, mạch tế sác
- Thể thận dương hư: người bệnh cú cỏc biểu hiện: người béo bệu, chân tay lạnh, mệt mỏi, sắc mặt trắng, đau mỏi lưng, tiểu tiện trong hoặc són tiểu, chất lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc tế nhược
- Thể thận âm thận dương đều hư: người bệnh cú cỏc biểu hiện: đau đầu, chóng mặt, ù tai, ngủ ít hay mơ, lúc lạnh lỳc núng, ra mồ hôi, mặt nóng từng lúc, lưng lạnh, lưỡi nhợt hoặc đỏ, mạch trầm nhược
1.5.2.3 Điều trị theo YHCT
Một số bài thuốc hay dùng như Lục vị hoàn, Kỷ cúc địa hoàng hoàn, Tiêu dao đan chi để điều trị
Ngoài ra có thể vận dụng phương pháp không dùng thuốc như: Châm cứu, Xoa bóp, Khí công, Dưỡng sinh để điều trị
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những phụ nữ đã mãn kinh tuổi từ 50 đến 65 tham gia các lớp tập luyện dưỡng sinh tại Khoa Châm cứu – Dưỡng sinh Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, tự nguyện tham gia nghiên cứu này
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
* Theo Y học hiện đại
- Phụ nữ tuổi từ 50 – 65 không phân biệt nghề nghiệp, đang tham gia các lớp tập dưỡng sinh
- Đã mãn kinh (trên 12 tháng không thấy kinh)
- Có biểu hiện rối loạn các triệu chứng theo thang điểm Kupperman gồm các triệu chứng sau [24], [56], [60]
Blatt-+ Cơn bốc hoả, vã mồ hôi
Trang 26* Theo Y học cổ truyền
Chọn những phụ nữ có biểu hiện của 4 thể sau:
Thể âm hư hoả vượng Tính tình bứt rứt, nóng nảy, dễ cáu gắt, chóng mặt,
đau đầu, ngực sườn đầy tức, miệng khô đắng, chân tay run, tê hoặc có cảm giác kiến bò, lưỡi đỏ tía, mạch huyền sác
tiểu vàng, táo bón, lưng gối mỏi, đau nhức xương, tai ù, ngũ tâm phiền nhiệt, chất lưỡi đỏ, rêu ít, mạch
tế sác
Thể thận dương hư: Người béo bệu, chân tay lạnh, mệt mỏi, sắc mặt
trắng, đau mỏi lưng, tiểu tiện trong hoặc són tiểu, chất lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc tế nhược
Thể thận âm thận
dương đều hư
Đau đầu, chóng mặt, ù tai, ngủ ít hay mơ, lúc lạnh lúc nóng, ra mồ hôi, mặt nóng từng lúc, lưng lạnh, lưỡi nhợt hoặc đỏ, mạch trầm nhược
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Phụ nữ mãn kinh không phải theo tự nhiên mà do cắt tử cung, buồng trứng trước mãn kinh, sau điều trị hoá chất, tia xạ
- Tự ý uống thuốc YHHĐ và YHCT trong quá trình tập luyện
- Bỏ tập quá 3 buổi trong suốt quá trình tập
- Không làm đủ các xét nghiệm theo yêu cầu của nghiên cứu
Trang 27- Có mắc bệnh nhiễm trùng hay các bệnh cấp tính kèm theo
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp can thiệp giả thử nghiệm so sánh trước sau
2.2.2 Chọn mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được chọn theo công thức [8]:
2 0 1
2 1 1 1 0 0 1
) (
) 1 ( )
1 (
p p
p p Z p p Z n
−
− +
Z1 - α = 1,96: hệ số tin cậy khi α = 0,05
Z1 - β = 1,28 : hệ số tin cậy khi β = 0,1
Theo kết quả Trần Xuõn Hoan (2007) phương pháp Nhĩ chõm kết hợp hào chõm trong điều trị hội chứng món kinh đạt tỉ lệ tốt là: 49,20%
Trang 28Chọn p0 = 0,49.
Kết quả mong đợi: p1 0,65
Theo công thức trên chúng tôi có mẫu nghiên cứu là n = 81
2.3 Tiến hành nghiên cứu
Trình tự tiến hành nghiên cứu như sau:
1 Trước khoá tập luyện chúng tôi tiến hành:
+ Hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng một cách toàn diện cho đối tượng (có hồ sơ theo dõi riêng)
+ Làm các xét nghiệm cơ bản:
Công thức máu: Hồng cầu, bạch cầu, HGB
Sinh hoỏ mỏu: Cholesterol, triglycerid, HDL-c, LDL-c, glucose
2 Theo dừi các biểu hiện về lâm sàng trong quá trình tập luyện
3 Xét nghiệm lại các xét nghiệm cơ bản sau đợt tập luyện
4 Đánh giá, so sánh kết quả trước và sau tập luyện
Trang 29Tư thế người tập: nằm ngửa, hai bàn tay buông xuôi theo thân Hai chân duỗi thẳng, mở rộng bằng vai Đầu khụng kờ gối, mặt hơi ngước lên, tập trung tư tưởng thư giãn toàn thân kết hợp với thở tự nhiên nhẹ nhàng.
Cách tập: tập trung chú ý, thở theo nhịp êm, nhẹ, đều 5-10 lần thở rồi ra lệnh thầm (không nói thành tiếng) tự làm giãn lần lượt bộ phận của cơ thể và theo dõi cảm giác dón đú, thụng thường khi hít vào người tập ra lệnh cho vị trí nào đó, khi thở ra ra lệnh giãn và theo dõi cảm giác giãn
Làm thư giãn cơ thể theo 3 đường:
- Đường giãn thứ nhất: từ đỉnh đầu → hai bên mặt → hai bên cổ → đến hai vai → hai cánh tay → hai cẳng tay → hai bàn tay → các ngón tay
- Đường thư giãn thứ hai: từ đỉnh đầu → mặt → cổ → ngực → bụng → hai bên đùi → hai cẳng chân → hai bàn chân → các ngón chân
- Đường thư giãn thứ 3: từ đỉnh đầu → gáy → lưng → thắt lưng → hai bên mông → sau đùi → hai chõn→ hai gót chân
* Luyện thở: 15 phút
Tư thế: nằm ngửa cú kờ mụng
Cách tập: thở 4 thì
- Thì 1: Hít vào đều, sâu, tối đa, ngực nở, bụng căng
Thời gian ẳ hơi thở
- Thì 2: Giữ hơi, cơ hoành và các cơ lồng ngực đều co thắt tối đa
Thời gian ẳ hơi thở
- Thì 3: thở ra thoỏi mỏi tự nhiên, khụng kỡm, khụng thỳc
Thời gian ẳ hơi thở
- Thì 4: Nghỉ, thư giãn hoàn toàn, có cảm giác ấm nặng
Tự kỷ ám thị: tay chân tôi nặng và ấm, toàn thân tôi nặng và ấm
Trang 30Thời gian ẳ hơi thở
2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi
+ Chỉ số khối cơ thể được tớnh theo công thức của Kaup:
BMI = cõn nặng (kg)/ [chiều cao đứng (m)]2
Trang 31+ Đo chiều cao đứng: thước đo nhõn trắc có chia tới milimet, đối tượng được đo ở tư thế đứng nghiêm, hai gót chõn chạm nhau, hai tay buông thẳng, bàn tay úp vào mặt ngoài đùi, đầu ở tư thế sao cho đường nối giữa lỗ tai ngoài với mắt ở trên một đường thằng nằm ngang, mắt nhìn thẳng Đo từ mặt đất lên đến đỉnh đầu, khi đo để cho bốn điểm phớa sau chạm vào thước đo, đó là: chẩm, lưng, mông và gót Các đối tượng đều được đo vào cùng một thời điểm trong ngày, do cùng một người đo.
+ Đo cõn nặng: Đối tượng mặc quần áo mỏng, bỏ giầy dép, đặt nhẹ hai bàn chõn lên cõn, đứng trên cõn chỉnh thăng bằng, đo cùng thời điểm trong ngày
- Theo dõi mạch, huyết áp của người tập 1lần/1 ngày
+ Đếm tần số mạch quay: Đối tuợng ở tư thế ngồi, nghỉ 5 phút trước khi đếm mạch Đếm mạch ở động mạch quay cổ tay bằng đồng hồ bấm giõy, tớnh từ giõy thứ 15 đến giõy thứ 45 rồi nhõn đôi Dùng một đồng hồ trong suốt quá trình nghiên cứu
+ Đo huyết áp: Đối tượng đo ở tư thế ngồi, nghỉ 5 phút trước khi đo Đối tượng đặt tay trên mặt bàn sao cho cánh tay ngang mức tim, đo ở động mạch cánh tay trái Cuốn vòng băng đo huyết áp chặt vừa phải, mép dưới của vòng băng cách nếp lằn khuỷu tay 2 cm Đặt ống nghe vào vị trí động mạch (đã xác định bằng tay từ trước), bơm hơi cho đến áp lực 200mmHg rồi xả hơi
từ từ với tốc độ 2- 3 mmHg trên 1 nhịp đập Vị trí của cột thuỷ ngõn khi nghe thấy tiếng đập đầu tiên là số đo huyết áp tõm thu, nghe thấy tiếng đập cuối cùng là huyết áp tõm trương Đo 2 lần, lấy kết quả ở lần đo thứ hai Dùng bộ ống nghe và huyết áp kế trong suốt quá trình nghiên cứu
Trang 32+ Huyết áp bình thường: (90<HATT<140)mmHg và (60<HATr<90) mmHg
Tăng huyết áp: HATT ≥ 140mmHG hoặc và HATr ≥ 90mmHg
Huyết áp thấp: HATT ≤ 90mmHg hoặc và HATr ≤ 60mmHg
- Theo dừi lực bóp tay: bằng lực kế bóp tay có trọng lượng tối đa 100kg Đo sức bóp của bàn tay phải, sức bóp của bàn tay trái Đo ở tư thế đứng, mỗi bàn tay bóp lực kế 2 lần, lấy chỉ số cao nhất trong hai lần đo
- Theo dõi các triệu chứng về YHCT:
+ Vọng chẩn: nhìn hình thể, cử động, chất lưỡi, rêu lưỡi
+ Văn chẩn: nghe tiếng nói, hơi thở
+ Vấn chẩn: hỏi về đầu mình, tứ chi, ăn uống, ngủ, đại tiểu tiện
+ Thiết chẩn: mạch chẩn, phúc chẩn, xúc chẩn
Các chỉ số lâm sàng được theo dõi vào 3 thời điểm: trước tập luyện ( ký hiệu D0), ngày tập thứ 15 (ký hiệu D15), ngày tập thứ 30 (ký hiệu D30)
Cận lâm sàng:
- Xét nghiệm huyết học : Hồng cầu, bạch cầu, HGB
- Xét nghiệm Sinh hoỏ mỏu: Cholesterol, triglycerid, HDL-c, LDL-c, glucose
Các chỉ số cận lâm sàng được đánh giá tại hai thời điểm: trước tập luyện (D0) và ngày tập thứ 30 (D30)
2.4 Phương pháp đánh giá
Đánh giá các triệu chứng cơ năng bằng thang điểm Blatt – Kupperman, gồm 11 triệu chứng đại diện cho hội chứng mãn kinh (được sử dụng rộng rãi trong các thử nghiệm lâm sàng trên thế giới)
Triệu chứng Hệ số Mức độ của triệu chứng
Trang 33Mức độ của triệu chứng:
- Không = 0 điểm Không có biểu hiện gì
- Nhẹ = 1 điểm: sự nhận cảm về thay đổi (rối loạn) nhẹ không đáng để lưu ý hoặc thỉnh thoảng (đôi khi) xuất hiện
- Trung bình = 2 điểm: Sự nhận cảm về thay đổi (rối loạn) nhiều hơn, đáng để lưu ý hoặc khá thường xuyên xuất hiện
- Nặng = 3 điểm: Sự nhận cảm về thay đổi (rối loạn) mạnh, xuất hiện thường xuyên, rất đáng để lưu ý
Giá trị điểm của mỗi triệu chứng bằng giá trị hệ số của triệu chứng đó nhõn với mức độ nghiêm trọng của triệu chứng đó
Tổng giá trị điểm của 11 triệu chứng bằng tổng giá trị điểm của mỗi triệu chứng:
Điểm tối thiểu là 0Điểm tối đa tớnh theo mức độ nặng của triệu chứng là 33
Trang 34Điểm tối đa tớnh theo mức độ hệ số của các triệu chứng là 51Dựa vào đó phõn ra mức độ nặng của hội chứng món kinh như sau:
Mức độ Điểm theo triệu chứng Điểm theo hệ số
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ tiến hành khi đã được Hội đồng đạo đức nghiờn cứu của Trường Đại học Y Hà nội cho phép