1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mô tả tập tính nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ dân tộc dao có con dưới 24 tháng tuổi tại xã tân sơn, huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn

42 820 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 297 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có nhiều công trình nghiên cứu nói về giá trị dinh dưỡng của sữa mẹ,phần lớn các tác giả tập trung vào những điểm chính sau đây: Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khoẻ và sự phát tri

Trang 1

Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ suy dinh dưỡng cao trong khu vực Đông Nam Châu Á Theo số liệu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia tỷ

lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm dần: năm 1980 là 51,1%, năm 1990 là 41,8%, năm 2000 là 33,8%, năm 2005 là 25,5%, đến năm 2008 tỷ lệ SDD còn

là 19,9%[21] Năm 2010 tỷ lệ SDD giảm xuống 17,5%, tuy nhiên tỷ lệ SDD thấp còi vẫn chiếm tới 29,3%[22] Tỷ lệ này vẫn ở mức cao so với thế giới

Các nguyên nhân của SDD là phức hợp từ nguyên nhân trực tiếp là ănuống, bệnh tật đến các yếu tố về chăm sóc Nhưng nguyên nhân cơ bản vẫn là

sự nghèo đói và thiếu kiến thức của bà mẹ nuôi con [14] Trong đó kiến thức

và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ là vấn đề có ý nghĩa quantrọng trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Các chuyên gia y

tế quốc tế cho rằng, chỉ riêng việc cho con bú hoàn toàn không cần bổ sungthêm bất cứ thức ăn đồ uống nào khác đã là một cơ hội to lớn giúp giảm tìnhtrạng ốm đau và tử vong ở trẻ[10] Hiện nay NCBSM được coi là biện phápquan trọng để bảo vệ sức khoẻ trẻ em Nuôi con bằng sữa mẹ là một tập quántốt của các dân tộc Việt Nam Việc NCBSM bản thân là thiên chức của ngườiphụ nữ, tuy vậy có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quá trình đó, đặc biệt là nhữngảnh hưởng của lối sống, của điều kiện kinh tế, dân trí và mối liên quan đến

Trang 2

sức khoẻ Nhiều tác giả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau về tập quán nuôicon bằng sữa mẹ ở các địa phương

Hiện nay nền kinh tế nước ta đang phát triển mạnh, song trên thực tếcác dân tộc thiểu số ở miền núi cuộc sống của họ chưa được cải thiện nhiều,

họ là những người Ýt được hưởng lợi nhất từ tăng trưởng kinh tế của đấtnước

Bắc Kạn là một tỉnh miền núi phía đông Bắc Bộ, có nhiều bà con dântộc thiểu số sinh sống, đời sống kinh tế còn rất nhiều khó khăn, còn nhiềuphong tục tập quán sinh hoạt lạc hậu Tỉ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi còn rấtcao so với các địa phương khác trong toàn quốc Năm 1999, tỉ lệ SDD ở trẻ

em Bắc Kạn là 43,2%; năm 2001 là 38,8%; năm 2003 là 37%, năm 2005 là33,9%, đến năm 2008 tỷ lệ SDD vẫn còn là 28,3%[21], năm 2010 là giảmxuống 25,4%, tỷ lệ SDD thấp còi là 34,5%[22] Tỷ lệ này cao hơn nhiều sovới tỷ lệ chung của cả nước

Cuộc sống của người dân tộc thiểu số tại các xã vùng cao ở đây rất khókhăn vất vả nhất là đối với phụ nữ Đa phần họ là lao động chính trong giađình và hầu như không được chia sẻ gánh nặng nội trợ gia đình, chăm sóc concái, họ phải lao động năng nhọc ngay cả khi có thai và cho con bó

Để tìm hiểu xem phụ nữ dân tộc Dao tại Bắc Kạn nuôi con bằng sữa mẹnhư thế nào, đồng thời khuyến khích bà mẹ dân tộc Dao thực hành tốt NCBSM

do đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với những mục tiêu sau đây:

1 Mô tả tập tính NCBSM của các bà mẹ dân tộc Dao có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Tân Sơn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

2 Tìm hiểu những yếu tố thúc đẩy hoặc yếu tố cản trở NCBSM của các bà mẹ dân tộc Dao có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Tân Sơn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

Trang 3

CHƯƠNG 1tổng quan1.1 Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ

Nuôi con bằng sữa mẹ là một biện pháp dinh dưỡng tự nhiên, kinh tế vàhiệu quả để bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em

Đã có nhiều công trình nghiên cứu nói về giá trị dinh dưỡng của sữa mẹ,phần lớn các tác giả tập trung vào những điểm chính sau đây:

Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ.Việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục bú

mẹ hoàn toàn trong hai năm đầu tiên có ý nghĩ quan trong đối với sự sống còn

và phát triển toàn diện của trẻ về sau

Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, phù hợp nhất đối với trẻ sơ sinh vàtrẻ nhỏ vì trong sữa mẹ có đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiếtnhư protid, glucid, lipid, vitamin, muối khoáng với tỷ lệ thích hợp cho sự hấpthu và phát triển cơ thể trẻ Bú mẹ trẻ sẽ lớn nhanh, phòng được suy dinhdưỡng và phát triển trí thông minh

Sữa mẹ bài tiết trong vài ngày đầu sau khi sinh gọi là sữa non Sữa non sánhđặc màu vàng nhạt Sữa non có nhiều năng lượng protein và vitaminA đồng thờilại có nhiều chất kháng khuẩn tăng cường miễn dịch cho trẻ Sữa non có tácdụng sổ nhẹ giúp cho việc tống phân su nhanh, ngăn chặn vàng da Sữa non tiết

ra tuy Ýt nhưng chất lượng cao thoả mãn nhu cầu cho trẻ mới đẻ [6]

Sau giai đoạn sữa non, sữa mẹ chuyển tiếp thành sữa ổn định Sữa nàygồm có sữa đầu bữa và sữa cuối bữa Sữa đầu bữa có màu hơi xanh, sữa cuốibữa có màu trắng hơn vì chứa nhiều chất béo cung cấp năng lượng cho bữa

bú Trẻ bú sữa mẹ sẽ nhận đủ khối lượng nước và các chất dinh dưỡng Vìvậy không cần cho trẻ uống thêm nước hoặc bất cứ loại dịch nào trước khi trẻđược 6 tháng tuổi

Trang 4

Trong sữa mẹ số lượng protein tuy thấp hơn sữa bò nhưng có đầy đủ cácacid min cần thiết và ở tỷ lệ cân đối dễ tiêu hoá và hấp thu đối với trẻ nhỏ [1].Protein hoà tan trong sữa mẹ nhiều hơn sữa bò nên dễ tiêu hoá Trái lạiprotein trong sữa bò chủ yếu là casein khi vào dạ dày sẽ kết tủa thành thể tíchlớn khó tiêu hoá[6].

Sữa mẹ chứa các acid béo cần thiết mà những loại này không có mặttrong sữa bò hoặc sữa hộp như acid linolenic, những acid béo cần thiết nàycần cho sự phát triển của não, mắt và sự bền vững của các mạch máu của trẻ.Sữa mẹ còn có men lipase giúp cho việc tiêu hoá chất béo Men này không cómặt trong sữa động vật hoặc sữa hộp

Lactose trong sữa mẹ nhiều hơn sữa bò, cung cấp thêm nguồn nănglượng cho trẻ, một số lactose vào ruột lên men tạo thành acidlactic giúp chohấp thu calci và muối khoáng tốt hơn

Trong sữa mẹ còn có nhiều vitamin và muối khoáng thoả mãn nhu cầucủa trẻ

Lượng calci và phospho tuy Ýt hơn sữa bò nhưng tỷ lệ Calci/Phosphocân đối nên dễ hấp thu và đồng hoá Chính vì vậy mà trẻ bú mẹ Ýt bị còixương hơn những trẻ nuôi bằng sữa bò[1]

Lượng sắt trong sữa mẹ tuy thấp nhưng khoảng 50% lượng sắt được hấpthu từ sữa mẹ, trong khi chỉ khoảng 10% sắt trong sữa bò được hấp thu.Những trẻ bú mẹ hoàn toàn sẽ nhận đủ sắt và sẽ được bảo vệ chống lại bệnhthiếu máu do thiếu sắt cho đến khi Ýt nhất được 6 tháng tuổi

Sữa mẹ chứa các vitamin quan trọng nhiều hơn sữa bò, đặc biệt làvitamin A và vitamin C Nếu bà mẹ được cung cấp đủ vitamin A trong thức

ăn thì lượng vitamin A chứa trong sữa mẹ có thể cung cấp đủ cho trẻ cả đếnnăm thứ 2 của cuộc đời Vitamin A có thể giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễmkhuẩn và bệnh khô mắt

Trang 5

Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên chứa nhiều chất kháng khuẩn, tăngcường sức đề kháng cho trẻ Trong sữa mẹ có những yếu tố quan trọng có vaitrò bảo vệ cơ thể mà không một thức ăn nào có thể thay thế được Đó là: cácglobulin miễn dịch, chủ yếu là IgA có tác dụng bảo vệ cơ thể chống các bệnhđường ruột và các bệnh nhiễm khuẩn; lactoferin là một protein có gắn sắt cótác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn mà trong quá trình phát triển cần

có sắt; lysozim là loại men mà trong sữa mẹ có nhiều hơn hẳn so với sữa bò,

là loại men tham gia vào quá trình tiêu diệt vi khuẩn Trong sữa mẹ có nhiều

tế bào bạch cầu có khả năng tiết IgA, lactoferin, lysozim và inteferon có tácdụng bảo vệ chống lại các vi khuẩn gây bệnh [1]

Ngoài ra trong sữa mẹ còn có yếu tố kích thích sự phát triển của vi khuẩnlactobacillus bidifus, lấn át sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh nhE.Coli[2]

Do đặc tính kháng khuẩn của sữa mẹ nên tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ

bú mẹ thấp hơn ở trẻ nuôi nhân tạo

Chính vì sữa mẹ cung cấp cho trẻ các yếu tố miễn dịch, bạch cầu nên trẻ

bú mẹ Ýt bị nhiễm khuẩn, Ýt bị dị ứng nh nuôi trẻ bằng sữa bò

Cùng với những lợi Ých của sữa mẹ đối với trẻ thì việc cho con bú cũngmang lại rất nhiều lợi Ých và thuận tiện cho người mẹ nh:

NCBSM giúp co hồi tử cung tốt trong thời kỳ hậu sản, giảm nguy cơbăng huyết sau sinh

Cho con bú sữa mẹ sẽ rất thuận lợi và kinh tế Cho trẻ bú sữa mẹ rấtthuận lợi vì không phụ thuộc vào giờ giấc, không cần phải đun nấu, dụng cụpha chế Trẻ bú sữa mẹ sẽ kinh tế hơn nhiều so với nuôi nhân tạo bằng sữa bòhoặc bất cứ loại thức ăn nào khác, vì sữa mẹ không mất tiền mua Khi người

mẹ ăn uống đầy đủ, tinh thần thoải mái thì sẽ đủ sữa cho con bó

Trang 6

NCBSM có điều kiện gắn bó tình cảm mẹ con, người mẹ có nhiều thờigian gần gũi con đó là yếu tố tâm lý quan trọng giúp cho sự phát triển hài hoà

về trí tuệ, nhân cách và tình cảm của trẻ sau này

Cho con bú góp phần hạn chế sinh đẻ, vì khi trẻ bú, tuyến yên sẽ tiết raprolactin ức chế rụng trứng, làm giảm khả năng sinh đẻ, giúp tránh thai tựnhiên Cho con bú còn làm giảm tỷ lệ ung thư vú và ung thư tử cung, tránhcho mẹ bị các biến chứng như áp xe vó hay căng cứng vú do không cho conbó

Nh vậy NCBSM gắn liền với sự ra đời và trường tồn của nhân loại Tạohoá sinh ra con người và ban tặng nguồn sữa mẹ quí giá cho trẻ nhỏ Sữa mẹ

là nguồn dinh dưỡng tốt nhất đảm bảo sự sống còn và phát triển tối ưu cho trẻnhỏ mà không có một loại thức ăn gì có thể thay thế được

1.2 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Tỷ lệ cho bú mẹ hoàn toàn tăng lên kể từ đầu những năm 1990, mặc dù

tỷ lệ này vẫn còn khá thấp ở những nước đang phát triển và tập quán khôngtiếp tục cho bú mẹ cùng với không cho ăn dặm đủ vẫn còn khá phổ biến.Dựa trên số liệu từ 37 quốc gia với các số liệu sẵn có (gồm 60% dân số ởcác nước đang phát triển), tỷ lệ cho bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng tuổi đầutiên tăng từ 34% đến 41% ở những nước đang phát triển từ năm 1990 đếnnăm 2004 Sự cải thiện đáng kể này diễn ra ở vùng Châu Phi cận sa mạcSahara, nơi tỷ lệ tăng gần gấp đôi từ 15% lên 32% trong cùng thời gian đó Tỷ

lệ bú mẹ hoàn toàn tại Nam á và khu vực Trung- Tây/Bắc Phi cũng tăng lầnlượt là 43% đến 47% và từ 30% đến 38% trong năm 1990 đến 2004 Riêngkhu vực Tây và Trung Phi có sự cải thiện đáng kể về tốc độ tăng từ 4% lên22% và khu vực Tây và Nam Phi cũng có những tiến bộ trong tốc độ tăng tỷ

Trang 7

lệ cho bú mẹ hoàn toàn từ 34% lên 48% Tốc độ gần nh hằng định trong suốtthời gian này ở các nước Đông á và Thái Bình Dương [25].

Ở Châu Âu đã có xu hướng tăng cường nuôi con bằng sữa mẹ Tỷ lệ các

bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước Bungari, Đức, Hungari và Thuỵ Sỹdao động quanh 90%, tỷ lệ này ở các nước Tây Âu thấp hơn, dao động từ 53-67% [26]

Ở Đông Nam Á sữa mẹ vẫn là cách nuôi chính của các bà mẹ trong khuvực nhưng có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và thành thị về khoảng thờigian trẻ được bú mẹ Ở Bangkok theo điều tra năm 1987, thời gian cho con bótrung bình là 4 tháng trong khi ở nông thôn là 14 tháng [26]

Hiện nay, theo kết quả điều tra của UNICEP tỷ lệ nuôi con hoàn toànbằng sữa mẹ ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chỉ chiếm 61% ở trẻ 4tháng tuổi, tỷ lệ này thấp hơn ở trẻ 6 tháng tuổi, chỉ khoảng 35% [27]

Trang 8

Trần Thị Phúc Nguyệt và công sự năm 1988 nghiên cứu trên gần 500 bà

mẹ ở Hà Nội cho thấy tỷ lệ trẻ bú mẹ tới 1 tuổi chỉ đạt 40%, 3% trẻ được bú

mẹ tới 18 tháng và 31% trẻ được ăn bổ sung trong vòng 3 tháng đầu [16].Nguyễn Đình Quang nghiên cứu trên 425 cặp mẹ và con ở nội và ngoạithành Hà Nội năm 1996 Đối với trẻ ở nội thành cho thấy tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớmtrong vòng nửa giờ đầu sau sinh là 30%, tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu

là 40%, thời gian cho trẻ bú mẹ trung bình là 14 tháng, tỷ lệ trẻ 12 tháng tiếp tụcđược bú mẹ là 60%, tỷ lệ trẻ được bú mẹ đến hai năm là 27,3% [19]

Trần Thị Ngọc Hà nghiên cứu trên 750 trẻ từ 0-23 tháng tuổi tại haihuyện, thị của tỉnh Hà Tĩnh cho thấy có 68% các bà mẹ cho con bú lần đầutrong vòng 30 phót sau đẻ, tỷ lệ trẻ được bú mẹ đến hai tuổi là 58,2%, tỷ lệ trẻđược cai sữa sau 12 tháng là 84,8% [7]

Nghiên cứu tập tính nuôi con dưới 24 tháng tuổi của các bà mẹ tạiphường Láng Hạ, quận Đống Đa - Hà Nội năm 2000, Lê Thị Kim Chung chothấy tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớm trong 1/2 giờ đầu mới chỉ đạt 40% Tỷ lệ trẻđược bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu là 62,7% Tỷ lệ trẻ được bú mẹ tới

18 tháng là 55% [4]

Theo kết quả nghiên cứu của Trương Thị Hoàng Lan năm 2004 về Thựchành nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ ăn bổ sung của các bà mẹ có con dưới 2tuổi tại xã Thi Sơn huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam cho thấy tỷ lệ trẻ được búsữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ là 28,7%, tỷ lệ cai sữa từ 18 đến 24 tháng

Trang 9

Sơn Nam và cộng sự cho thấy chỉ có 3,8% bà mẹ có thói quen cho trẻ bútrong vòng 30 phút đầu sau khi sinh Lý do không cho trẻ bú ngay chủ yếu là

“chờ sữa về” hoặc cho rằng “sữa đầu là không tốt”[18]

Năm 2009 Bùi Thu Hương nghiên cứu về Kiến thức và thực hành nuôicon bằng sữa mẹ của các bà mẹ tại phường Quỳnh Mai và Bạch Đằng - HàNội công bè có 30% các bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sausinh[12]

Vũ Thị Hạnh Uyên khảo sát ở trẻ dưới 2 tuổi tại một số xã thuộc huyệnChiêm Hoá, Tuyên Quang thấy có 54,9% trẻ được bú sữa mẹ trong vòng 1giờ đầu sau đẻ [20]

1.3 Những yếu tố tác động đến tập tính nuôi con bằng sữa mẹ

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tập tính NCBSM, qua nhiều nghiên cứucho thấy những vấn đề sau có ảnh hưởng đến tập quán NCBSM

Kiến thức và thái độ của bà mẹ về giá trị của sữa mẹ: Một nghiên cứu đãđược tiến hành ở nông thôn Bangladesh về tập quán cho bú sữa non Kết quảcho thấy các bà mẹ coi sữa ổn định là sữa “đích thực”, nã mang đến cho đứatrẻ sức khoẻ, còn sữa non không được thừa nhận là sữa đích thực và nóichung các bà mẹ cho là sữa non không bổ, không bà mẹ nào đề cập đến đặctính chống nhiễm trùng của sữa non Do sữa non có màu vàng và kết cấu keo(dính) mà nó bị gắn với các đặc tính tiêu cực như bị coi là “sữa bẩn”, hoặc cókhi còn bị coi là nguyên nhân gây ỉa chảy [23]

Tình trạng kinh tế xã hội, giáo dục và văn hoá của gia đình làm ảnhhưởng đến thời gian NCBSM Một nghiên cứu được tiến hành để xác địnhyếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ NCBSM ở Niu Đeli cho thấy tỷ lệ NCBSM chothấy tỷ lệ NCBSM là cao hơn ở các bà mẹ mù chữ và các bà mẹ có mức kinh

tế xã hội thấp Trẻ em ở các gia đình nghèo nhất được bắt đầu bú mẹ sau đẻ

Trang 10

sớm hơn trẻ em ở các gia đình giàu nhất (89% và 7%), ngoài ra còn cho thấy

tỷ lệ NCBSM đến 3-6 tháng ở các gia đình nghèo thấp hơn nhưng tỷ lệ trẻđược bú mẹ đến 12 tháng lại cao hơn ở các gia đình nghèo [24]

Tại Việt Nam các nghiên cứu tương tự do Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự(1986) tiến hành đều cho thấy thiếu sữa mẹ là một yếu tố quan trọng ảnhhưởng đến NCBSM [17] Việc bà mẹ trở lại đi làm sớm sau đẻ và số lần chocon bó Ýt đi là yếu tố gây mất sữa [17]

Tại Việt Nam, hiện nay trên thị trường xuất hiện khuynh hướng giảm sửdụng sản phẩm nông nghiệp thông thường và gia tăng tiêu thụ các sản phẩmcông nghiệp

Mét quan sát của các chuyên gia y tế Thuỵ Điển tại Hà Nội tháng 12 năm

1994 cho thấy có Ýt nhất 25 mặt hàng sữa khác nhau đang được bày bán tạicác cửa hàng bán lẻ với chủ yếu là sữa ngoại, so với năm 1992 chỉ có 15 loại

và tính đến đầu năm 2009, Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng cho biếtước tính hiện nay có khoảng 120 nhãn sữa với mẫu mã, giá thành, chất lượngkhác nhau, được cung cấp bởi nhiều nguồn khác nhau Như vậy trong một thịtrường sữa phong phú và đa dạng người tiêu dùng có quá nhiều sự lựachọn[9]

Do tính chất ưu việt của sữa mẹ nên những trẻ không được bú mẹthường gặp rủi ro nhiều hơn những trẻ được bú mẹ

Qua một số nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của thực hành NCBSM tớisức khoẻ trẻ em là rất lớn Nếu như tập tính NCBSM mất đi sẽ để lại hậu quảrất lớn đối với sức khoẻ trẻ em

Việc cho trẻ ăn sữa ngoài thay vì sữa mẹ trong giai đoạn dưới một tuổicho thấy làm tăng huyết áp tâm trương và tăng huyết áp động mạch trung bìnhtrong giai đoạn sau của cuộc đời Nhiều bằng chứng hiện có cho thấy tác hại

Trang 11

của sữa ngoài tới các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là thống nhất với cácquan sát cho thấy tỷ lệ tử vong tăng ở người trưởng thành đã được nuôi bằngsữa ngoài trong giai đoạn dưới một tuổi Nguy cơ đối với bệnh mạn tính củathời kỳ thơ Êu và vị thành niên (đó là các bệnh đái tháo đường typ1, bệnh nộitạng, một số ung thư trẻ em, bệnh viêm ruột) cũng có liên quan với nuôidưỡng trẻ nhỏ về các sản phẩm thay thế sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹtrong thời gian ngắn [3]

Nghiên cứu của Nguyễn Thu Nhạn, Đào Ngọc Diễn năm 1983 ở các trẻ

em nội, ngoại thành cũng chỉ rõ tỷ lệ suy dinh dưỡng và mắc các bệnh tiêuchảy, nhiễm trùng hô hấp ở trẻ em dưới 12 tháng cao hơn một cách có ý nghĩa

ở nhóm trẻ mẹ bị thiếu sữa[17]

Trần Phúc Nguyệt và cộng sự cũng quan sát thấy ở khu vực nội thành HàNội, trẻ thiếu sữa mẹ bị suy dinh dưỡng cao hơn nhóm trẻ được bú sữa mẹđầy đủ[16]

Nguyễn Công Khẩn và cộng sự quan sát thấy nhóm trẻ không được bú

mẹ có mẹ có nguy cơ bị các biểu hiện lâm sàng khô mắt do thiếu vitamin Acao hơn nhóm trẻ đối chứng [13]

1.4 Một số khái niệm hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ

* Tập tính nuôi con bằng sữa mẹ:

* Nuôi con bằng sữa mẹ: là cách nuôi dưỡng trong đó trẻ trực tiếp bú

sữa mẹ hoặc gián tiếp uống sữa mẹ được vắt ra [27]

*Bú mẹ hoàn toàn: là cách thực hành trong đó trẻ chỉ được ăn sữa mẹ

qua bú trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua vắt sữa mẹ hoặc bú trực tiếp từngười mẹ khác, ngoài ra không được nuôi bằng bất cứ loại thức ăn đồ uống

Trang 12

nào khác Các thứ khác ngoại lệ được chấp nhận là các giọt dạng dung dịch cóchứa vitamin, khoáng chất hoặc thuốc[27].

*Thời gian bắt đầu cho trẻ bú: theo khuyến cáo của WHO và UNICEF

về sự sống còn của trẻ đã khuyến nghị bà mẹ nên cho con bú sữa mẹ trongvòng giờ đầu sau đẻ, bú càng sớm càng tốt và không cần cho trẻ mới đẻ ăn bất

kỳ thức ăn gì trước khi bú mẹ lần đầu

Động tác mút vú của trẻ sẽ kích thích tuyến yên giải phóng ra prolactin

và sữa mẹ sẽ được tiết ra nhiều hơn Nh vậy một cách đơn giản và tự nhiênnhất để tăng lượng sữa mẹ là cho con bú trường xuyên và nhiều lần[2]

WHO phối hợp cùng UNICEF đã đưa ra công thức tính chỉ số bú sớmcủa trẻ sơ sinh là tỷ lệ phần trăm trẻ được sinh ra trong vòng 24 tháng quađược cho bú mẹ lần đầu trong vòng 1 giê sau sinh Đây là một trong nhữngtiêu chí đánh giá việc thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ trongcộng đồng[27]

* Số lần cho bó: Cho trẻ bú càng nhiều thì sữa mẹ càng được bài tiết

nhiều Số lần cho bú tuỳ thuộc vào nhu cầu của trẻ, cho trẻ bú bất kỳ lúc nàotrẻ muốn Mỗi bữa bú cho trẻ bú kiệt một bên vú rồi mới chuyển sang vú bênkia để trẻ nhận được sữa cuối giàu chất béo.[2]

* Thời gian cho con bó: cho trẻ bú kéo dài đến 24 tháng hoặc hơn,

không nên cai sữa quá sớm hoặc khi chưa đủ thức ăn thay thế hoàn toànnhững bữa bú mẹ[2]

Trang 13

CHƯƠNG 2đối tượng và phương pháp nghiên cứu2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại thời điểm tháng 5 năm 2011

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

Các bà mẹ dân tộc Dao có con dưới 24 tháng tuổi

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

Các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi trên địa bàn nghiên cứu, tự nguyệntham gia, không có vấn đề về trí nhớ hoặc tâm thần

* Tiêu chuẩn loại trừ

Những đối tượng không đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiêncứu, những đối tượng không sẵn sàng tham gia nghiên cứu và không có khảnăng cung cấp thông tin sau khi đã giới thiệu mục đích nghiên cứu

Tất cả các đối tượng nghiên cứu muốn bỏ cuộc đều có thể chấm dứt vàobất kỳ thời điểm nào

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại xã Tân Sơn của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

* Đặc điểm của xã Tân Sơn:

Xã Tân Sơn là một xã vùng cao nằm ở phía Bắc huyện Chợ Mới, cáchthị trấn Chợ Mới 35 km Địa hình xã phức tạp chủ yếu là rừng núi, diện tích6600ha Xã gồm có 6 thôn, phân bố rải rác rất xa nhau, thôn xa nhất cáchtrung tâm xã 20km, không có đường ô tô đi tới Đường liên thôn của xã toàn

bộ là đường đất, đường rừng, giao thông đi lại rất khó khăn Có thôn chỉ cóđường đi bộ, không đi được bằng xe máy, hai thôn xa nhất xã hiện nay chưa

có điện sinh hoạt

Trang 14

Toàn xã có 318 hộ với 1434 nhân khẩu chủ yếu là người dân tộc Dao(97%), còn lại là dân tộc Tày và Kinh (3%) Nghề nghiệp chính của người dân

ở đây là nghề nông, chủ yếu làm nương rẫy, làm ruộng và khai thác rừng

Hệ thống y tế : Xã có 1 Trạm y tế gồm có 1 Bác sỹ, 1 Y sỹ sản nhi, 1 Y

sỹ đông y, 1 Điều dưỡng Mỗi thôn có 1 nhân viên y tế thôn bản

Trang thiết bị y tế còn thiếu, các phương tiện phục vụ công tác truyềnthông còn hạn chế, hệ thống loa công cộng chỉ có ở hai thôn trung tâm xã, cácthôn còn lại không có Công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cho ngườidân chủ yếu do nhân viên y tế xã và nhân viên y tế thôn bản

2.3.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành từ ngày đến ngày

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với các kỹ thuật chủ yếu làphỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm

2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

* Đối với các bà mẹ: Lấy chủ đích 40 bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi để

- Các bà của trẻ được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để thu thập thông tin, bao gồm:

Trang 15

- Sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc được thiết kế sẵn phỏng vấn trực tiếpcác bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi để thu thập thông tin về đặc điểm cánhân, kiến thức, thói quen và cách thực hành nuôi con bằng sữa mẹ.

- Phỏng vấn sâu một số bà mẹ để tìm hiểu về một số tập quán đặc thù

- Thảo luận nhóm có trọng tâm để tìm hiểu suy nghĩ của các bà của trẻ vềcác tập quán nuôi con

* Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu:

Sè con

Phỏng vấnbằng bộ câuhỏi được thiết

kế sẵn và thảoluận nhóm

kế sẵn và thảoluận nhóm

Phỏng vấnbằng bộ câuhỏi được thiết

kế sẵn và thảoluận nhóm

* Xử lý và phân tích số liệu:

Trang 16

Các câu hỏi trong phiếu phỏng vấn bán cấu trúc được nhập vào phầnmềm excel để tính toán tần suất cho các câu hỏi đóng còn các câu hỏi mởđược nhập nguyên câu để đọc và mã hoá thông tin.

Cuộc thảo luận nhóm với các bà của trẻ được ghi chép và ghi âm nếuđối tượng đồng ý, sau cuộc phỏng vấn băng và bản chép tay sẽ được đánhmáy và lưu lại dưới dạng file Word, in ra, nghiên cứu viên đọc và tiến hành

mã hoá thông tin theo các nội dung nghiên cứu, từ đó tổng hợp rót ra kếtquả nghiên cứu

Nếu các bà mẹ và bà của trẻ nói bằng tiếng dân tộc Dao sẽ nhờ cán bé

y tế tại địa phương thành thạo hai thứ tiếng Kinh và Dao phiên dịch giúp

2.6 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

* Được sự nhất trí của chính quyền địa phương và sự phối hợp của Trạm

Y tế xã khi tiến hành nghiên cứu

* Các bà mẹ, các bà, tham gia chương trình một cách tự nguyện

* Giải thích rõ với các đối tượng về ý nghĩa và mục đích nghiên cứu

* NÕu các đối tượng nghiên cứu không muốn tiếp tục thì có thể dừngcuộc phỏng vấn bất cứ lúc nào kể cả khi đang tiến hành phỏng vấn

* Sẵn sàng tư vấn cho các bà mẹ những vấn đề liên quan đến chăm sóc

và nuôi dưỡng trẻ

Trang 17

CHƯƠNG 3Kết quả nghiên cứu3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Thông tin chung về các bà mẹ từ phỏng vấn bán cấu trúc

Bảng 3.1: Thông tin chung về trẻ và các bà mẹ được phỏng vấn

Nhận xét các thông tin chung của các bà mẹ:

Cơ cấu giới tính của trẻ điều tra: Tỷ lệ nam/nữ gần tương đương là

55% và 45%

Phân bố nhóm tuổi của trẻ: Số trẻ từ 6 - 12 tháng chiếm hơn một nửa

trong tổng số trẻ là 57,5%, còn lại là trẻ < 6 tháng chiếm 17,5 %, trẻ từ

12-<24 tháng chiếm 25%

Trang 18

Tuổi của mẹ: 100% số bà mẹ được điều tra ở độ tuổi từ 18-35 tuổi, bà

mẹ già nhất là 33 tuổi và trẻ nhất là 18 tuổi

Tỷ lệ số lần sinh: Tỷ lệ sinh con thứ nhất và thứ hai chiếm đa số với

38/40 bà mẹ (95%), còn lại chỉ có 2 bà mẹ sinh con thứ 3 (5%)

Trình độ học vấn của mẹ: Một nửa số bà mẹ được điều tra có trình độ

trung học cơ sở 22/40 bà mẹ (55%), trình độ tiểu học là 10/40 bà mẹ (25%),

số bà mẹ mù chữ là 3/40 (7,5%), số bà mẹ có trình độ trung học phổ thông là5/40 (12,5%)

Phân bố nghề nghiệp của mẹ: Tất cả các bà mẹ được điều tra đều làm

nông nghiệp, chủ yếu làm nương rẫy và làm ruộng

3.1.2 Thông tin chung về các bà tham gia thảo luận nhóm

Có 8 bà tham gia thảo luận nhóm tại xã nghiên cứu Tuổi trung bình củacác bà là 52 (45-61) Tất cả các bà đều là dân tộc Dao Trình độ của các bàhầu như đều chưa học hết tiểu học, có một bà mù chữ và một bà học đến lớp6/10 Nghề nghiệp của các bà tất cả đều làm ruộng và nương rẫy

3.2 Tập tính nuôi con bằng sữa mẹ

3.2.1 Kiến thức của bà mẹ về lợi Ých nuôi con bằng sữa mẹ

Trang 19

“Sữa mẹ có đủ chất dinh dưỡng, trẻ bú mẹ sẽ khoẻ mạnh hơn”

“Sữa mẹ có nhiều chất bổ, có chất đề kháng phòng được bệnh tật cho trẻ”

“Trẻ bú mẹ không bị còi xương, suy dinh dưỡng”

(PV các bà mẹ)

* Theo các bà của trẻ:

Theo các bà của trẻ NCBSM tốt cho sức khoẻ của trẻ, trẻ khoẻ mạnh, Ýt

bị ốm, chống được còi xương, suy dinh dưỡng và cho trẻ bú sữa mẹ sạch sẽ,

vệ sinh tiện lợi Tất cả các bà tham gia thảo luận đều khẳng định rằng sữa mẹtốt hơn sữa ngoài

“Sữa mẹ tốt hơn sữa hộp, sữa hộp cũng đủ chất nhưng không tốt bằng sữa mẹ”

(TLN các bà của trẻ)

3.2.2 Kiến thức và thực hành cho trẻ bú sớm

3.2.2.1 Thời gian cho trẻ bú lần đầu sau sinh

Bảng 3.2: Thời gian cho bú lần đầu sau sinh

3.2.2.2 Lý do cho trẻ bú muộn

Trang 20

*Theo các bà mẹ

Các lý do dẫn đến việc cho trẻ bú muộn được các bà mẹ đề cập đến baogồm: Lý do đầu tiên (chiếm 45% số bà mẹ cho con bú muộn sau 1 giê) đượccác bà mẹ nêu lên là do mẹ phải mổ đẻ, hoặc mẹ có các can thiệp y tế khácphải ở trong phòng đẻ lâu (mẹ phải cắt khâu tầng sinh môn, phải truyềndịch ) Lý do thường gặp nữa là “sữa mẹ chưa về” hoặc không có sữatrong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh Một số Ýt bà mẹ nêu lên nguyên nhân chotrẻ bú muộn từ trẻ đó là trẻ không khóc nên chờ đến khi con khóc mẹ mới chobó

Khi được hỏi có 1/3 số bà mẹ cho rằng sữa chỉ được tiết ra sau khi sinhchứ trước khi sinh thì chưa thể có sữa được và 1/3 số bà mẹ thì cho rằng saukhi đẻ 1-2 ngày sau mới có sữa, thậm chí một số Ýt bà mẹ còn nói sau đẻ vàingày mới có sữa

Như vậy vấn đề cho trẻ bú muộn phần nhiều do bà mẹ chưa nhận thức tốt

về tầm quan trọng của sữa non

“Chị mổ đẻ và phải truyền nên không cho con bú được”

“Chưa thấy có sữa nên chưa cho con bú, lúc nào sữa về thì mới cho bú”

“Con không khóc nên chưa cho bú, chờ nó khóc mới cho bú”

(PV các bà mẹ)

* Theo các bà của trẻ:

Theo các bà trong thảo luận nhóm thì ngoài những lý do được nhắc đến ởtrên, các bà còn cho rằng ngay sau đẻ thì bà mẹ chưa có sữa ngay, thường sau đẻ1-2 ngày mới có sữa do đó bà mẹ không thực hiện được việc cho con bú sớm

Mặc dù các bà cũng nghĩ rằng dạ dày của trẻ mới sinh nhá, “chỉ cần khoảng 2 chén sữa nhỏ” hoặc “ một lưng chén sữa là được”.

Nhưng các bà không có niềm tin rằng bà mẹ có thể cho bú sớm và có đủsữa trong những ngày đầu Hầu hết các bà không tin vào điều này:

Trang 21

“Ngay sau đẻ phải sau 1-2 ngày mới có sữa, con đầu sau 2 ngày, con thứ 2 sau 1 ngày thì mới có sữa Nếu muốn có ngay thì phải hái lá cây thuốc trên rừng để uống thì mới có sữa”.

(TLN các bà của trẻ)Phần lớn các bà đều cho rằng sau khi đẻ phải uống nước lá cây thuốc củangười Dao hái trên rừng thì mới có sữa và nhiều sữa cho con bó

3.2.3 Dùng đồ uống khác trước khi cho bú lần đầu

Biểu đồ 3.1: Dùng đồ uống khác trước khi cho bú lần đầu

Qua biểu đồ trên cho thấy hơn 1/3 số bà mẹ cho trẻ uống đồ uống kháctrước khi cho bú lần đầu Trong đó cho uống sữa ngoài chiếm tỷ lệ cao nhất,sau đó là tập quán cho trẻ uống mật ong trước khi cho bú lần đầu

3.2.4 Kiến thức và thực hành về cho bú sữa non

Có 1/3 số bà mẹ (35%) hiểu rằng sữa non là sữa tiết ra lúc đầu, cónhiều chất đề kháng, giúp trẻ phòng chống bệnh tật Khoảng 1/4 số bà mẹ(22,5%) chỉ biết là sữa non tốt cho sức khoẻ của trẻ nhưng không biết cụ thể

Ngày đăng: 13/01/2015, 20:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Thông tin chung về trẻ và các bà mẹ được phỏng vấn - mô tả tập tính nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ dân tộc dao có con dưới 24 tháng tuổi tại xã tân sơn, huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.1 Thông tin chung về trẻ và các bà mẹ được phỏng vấn (Trang 17)
Bảng 3.2: Thời gian cho bú lần đầu sau sinh - mô tả tập tính nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ dân tộc dao có con dưới 24 tháng tuổi tại xã tân sơn, huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.2 Thời gian cho bú lần đầu sau sinh (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w