189 Đổi mới quản lý vốn tự có tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các Ngân hàng Thương mại Cổ phần TP.HCM
Trang 1NGUYỄN QUỐC KHÁNH
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ TẠO MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH LÀNH MẠNH CHO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Trang 2NGUYỄN QUỐC KHÁNH
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ TẠO MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH LÀNH MẠNH CHO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : TÀI CHÍNH, LƯU THÔNG TIỀN TỆ VÀ TÍN DỤNG Mã số : 5 02 09
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 NGND.TS NGUYỄN VĂN HÀ
2 TS LÊ THỊ HIỆP THƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt,
Danh mục các Bảng số liệu, các Biểu dữ liệu,
Danh mục các hình minh hoạ, đồ thị, công thức xác định
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1.1 Khái quát về vốn tự có của NHTM 4 1.1.2 Cấu thành vốn tự có của NHTM 7 1.1.3 Các đặc trưng của vốn tự có của NHTM 9 1.1.4 Các chức năng cơ bản của vốn tự có của NHTM 10
1.2.1 Quy định chung về chế độ an toàn vốn 13 1.2.2 Những thay đổi về các chuẩn mực đánh giá an toàn vốn 17 1.2.3 Các quy định pháp luật điều chỉnh các chuẩn mực đánh giá an toàn vốn 21 1.2.4 Các yếu tố tác động đến các chuẩn mực đánh giá an toàn vốn 30 1.2.5 Xu hướng đổi mới các chuẩn mực đánh giá an toàn vốn 33
1.3 NHIỆM VỤ, NỘI DUNG, MÔ HÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN QUẢN LÝ VTC TRONG HĐKD CỦA NHTM 351.3.1 Nhiệm vụ quản lý vốn tự có của NHTM 36 1.3.2 Nội dung quản lý vốn tự có của NHTM 36 1.3.3 Các mô hình quản lý vốn tự có của NHTM 37 1.3.4 Điều kiện quản lý vốn tự có của NHTM 46
1.4 VAI TRÒ QUẢN LÝ RỦI RO VÀ THU NHẬP TRONG QUẢN LÝ VTC CỦA NHTM 471.4.1 Vai trò của quản lý rủi ro 47
Trang 51.4.2 Vai trò của quản lý thu nhập 51
1.4.3 Vai trò của quản lý tổng hợp rủi ro và thu nhập 52
1.5 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ NGÂN HÀNG Ở
CÁC
1.5.1 Những kinh nghiệm quản lý vốn tự có ngân hàng ở tầm vĩ mô 56
1.5.2 Những kinh nghiệm quản lý vốn tự có ngân hàng ở tầm vi mô 61
1.5.3 Bài học kinh nghiệm quản lý vốn tự có cho hoạt động ngân hàng tại Việt Nam 63
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ
TẠI CÁC NHTMCP TP.HCM 65
2.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 65
2.1.1 Bối cảnh kinh tế trước yêu cầu chuẩn hoá an toàn vốn tự có 65
2.1.2 Đặc thù hoạt động của các NHTM tại Việt Nam 67
2.1.3 Đánh giá chung tình hình đầu tư vốn vào các NHTM tại Việt Nam 68
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ TẠI CÁC NHTMCP TP.HCM 71
2.2.1 Thực trạng chung về quản lý vốn tự có tại các NHTMCP TP.HCM 71
2.2.2 Phân tích năng lực tài chính của các NHTMCP TP.HCM 83
2.2.3 Phân tích hiệu quả áp dụng các chuẩn mực đánh giá vốn tự có an toàn
theo quy định của BIS tại NHTMCP Á Châu (ACB) 100
2.3 NHỮNG KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ TRONG QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ TẠI CÁC NHTMCP
2.3.1 Những kết quả đạt được 104
2.3.2 Những hạn chế trong quản lý vốn tự có tại các NHTMCP TP.HCM 105
2.4 NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU CỦA TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ TẠI
CÁC
CHƯƠNG 3: ĐỔI MỚI QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ TẠO MÔI TRƯỜNG
CẠNH TRANH LÀNH MẠNH CHO CÁC NHTMCP TP.HCM 115
Trang 63.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ ĐỐI VỚI CÁC NHTMCP
3.2 GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ ĐỐI VỚI CÁC NHTMCP TP.HCM 127
3.2.1 Sửa đổi thể chế, xác định mô hình và định vị thị trường mục tiêu 127 3.2.2 Đổi mới cơ chế quản trị rủi ro theo công nghệ quản trị hiện đại 132 3.2.3 Đổi mới cơ chế quản lý an toàn vốn phù hợp với yêu cầu của BIS 141 3.2.4 Tái cấu trúc sở hữu vốn cổ phần theo hướng bền vững 153
3.3 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ, GIÁM SÁT AN TOÀN VỐN TỰ CÓ. 1613.3.1 Đổi mới cơ chế chính sách giám sát, đánh giá an toàn vốn 161 3.3.2 Mở rộng khung tỷ lệ đánh giá vốn tự có an toàn 164 3.3.3 Aùp dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá vốn tự có an toàn đa dạng 166 3.3.4 Thực hiện cơ chế đa phân tầng trong quản lý, giám sát an toàn vốn 168 3.3.5 Xây dựng chế độ kỷ luật an toàn vốn chặt chẽ, nghiêm minh 169 3.3.6 Hoàn thiện cơ chế thanh tra, giám sát an toàn vốn 171
3.4 KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ. 173
3.4.1 Kiến nghị với Nhà nước Việt Nam 173 3.4.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 176 3.4.3 Kiến nghị với UBND Thành phố Hồ Chí Minh 180
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại Cổ phần
NHTMNN : Ngân hàng thương mại Nhà nước
NHTMLD : Ngân hàng thương mại Liên doanh
NHTMNNg : Ngân hàng thương mại Nước ngoài
NHTP : Ngân hàng Thành phố
NHTMVN : Ngân hàng thương mại Việt Nam
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTTQT : Ngân hàng Phục vụ Thanh toán Quốc tế (BIS)
NHTMTNc : Ngân hàng thương mại trong nước
TCTC, TCTD : Tổ chức Tài chính, Tổ chức Tín dụng
HTXTD : Hợp tác xã Tín dụng
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
DNNNg : Doanh nghiệp Nước ngoài
DNCP : Doanh nghiệp Cổ phần
DNTN : Doanh nghiệp Tư nhân
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
HĐKD : Hoạt động kinh doanh
HĐLS, HĐGD : Hợp đồng lãi suất, Hợp đồng giao dịch
HĐQT : Hội đồng quản trị
KTTĐPN : Kinh tế trọng điểm Phía Nam
Vốn Csh : Vốn chủ sở hữu
DTBS VĐL : Dự trữ Bổ sung Vốn điều lệ
TSC, TSN : Tài sản Có, Tài sản Nợ
CPHĐ : Chi phí Hoạt động
BCĐTS : Bảng Cân đối Tài sản
KNTT : Khả năng Thanh toán
CV TDH : Cho vay Trung Dài hạn
TP, CP : Trái phiếu, Cổ phiếu
ADB, WB, WTO,…: Tên viết tắt thông dụng của các tổ chức tài chính quốc tế
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng (1.1) : Tỷ lệ nắm giữ Sở hữu Cổ phần của các NHNNg ở các nước Asean 59 Bảng (1.2) : Tỷ lệ nắm giữ tổng Tài sản có của các NHNNg ở các nước Asean 59 Bảng (1.3) : Số lượng các NHNNg và NHTMTNc ở các nước Asean 59 Bảng (2.1) : Cơ cấu vốn điều lệ của các NHTM tại Việt Nam tính đến 31/12/2006 69Bảng (2.2) : Cơ cấu nắm giữ Nguồn tài chính các NHTM TP.HCM tính đến 31/12/2006 71 Bảng (2.3) : Tăng trưởng Hoạt động của các NHTM TP.HCM năm 06/05 72 Bảng (2.4) : Biến động Hệ số Hoạt động của các NHTM TP.HCM năm 06/05 72 Bảng (2.5) : Cơ cấu Vốn và các Quỹ của các NHTM TP.HCM tính đến 31/12/06 73 Bảng (2.6) : Tình hình an toàn Vốn của các NHTM TP.HCM tính đến 31/12/06 75 Bảng (2.7) : Khả năng Thanh toán của các NHTM TP.HCM tính đến 31/12/06 76 Bảng (2.8) : Cơ cấu Dư nợ của các NHTM TP.HCM tính đến 31/12/06 78 Bảng (2.9) : Cơ cấu Nguồn thu của các NHTM TP.HCM năm 2006 79 Bảng (2.10): Kết quả Tài chính của các NHTM TP.HCM năm 2006 80 Bảng (2.11): Cơ cấu Sử dụng Chi phí của các NHTM TP.HCM năm 2006 81 Bảng (2.12): Tình hình Phát triển theo Quy mô vốn của các NHTMCP TP.HCM 85 Bảng (2.13): Mạng lưới Hoạt động của các NHTMCP TP.HCM tính đến 31/12/06 88 Bảng (2.14): Xếp loại Chất lượng hoạt động các NHTMCP TP.HCM từ 02-05 88 Bảng (2.15): Tình hình Sáp nhập, Hợp nhất các NHTMCP TP.HCM từ 97 - 06 89 Bảng (2.16): Tình hình bán Cổ phần cho các Đối tác Chiến lược nước ngoài 90 Bảng (2.17) : Phân tích Tình hình tăng trưởng và Cơ cấu Vốn các NHTMCP TP.HCM 91 Bảng (2.18): Tỷ lệ cấu phần VTC/TSC rr của 5 NHTMCP dẫn đầu tại TP.HCM 92 Bảng (2.19): Phân tích tình hình Trích lập dự phòng tại các NHTMCP TP.HCM 94 Bảng (2.20): Biến động Cơ cấu Tài sản sinh lợi/TSC của các NHTMCP TP.HCM 95
Trang 9Bảng (2.21): Biến động Cơ cấu Vốn huy động các NHTMCP TP.HCM từ 02-06 96 Bảng (2.22): Tình hình Đảm bảo Khả năng Chi trả của các NHTMCP TP.HCM 97 Bảng (2.23): Phân tích Chung tình hình Tài chính của các NHTMCP TP.HCM 98 Bảng (2.24): Biến động Hệ số tài chính của các NHTMCP TP.HCM từ 03 - 06 99 Bảng (3.1) : Dự đoán Nhu cầu Vốn tối thiểu cho HĐNH từ năm 2007 -2015 116 Bảng (3.2) : Xác định Mục tiêu quá trình tăng trưởng VTC trung bình cho các NHTMCP TP.HCM từ năm 2007 - 2010 119 Bảng (3.3) : Dự kiến Kế hoạch Tài chính tổng thể theo các mục tiêu hoạt động trung bình cho các NHTMCP TP.HCM từ năm 2007 - 2010 121 Bảng (3.4) : Dự kiến Nhu cầu bổ sung VTC trung bình từ các nguồn nội lực cho các
NHTMCP TP.HCM từ năm 2007 - 2010 122 Bảng (3.5) : Dự kiến Nhu cầu bổ sung VTC trung bình từ các nguồn vốn bên ngoài
cho
các NHTMCP TP.HCM từ năm 2007 - 2010 123 Bảng (3.6) : Mô phỏng Kỹ thuật hoán đổi Vốn theo phương pháp tỷ trọng rủi ro 149 Bảng (3.7) : Mô phỏng Kỹ thuật hoán đổi Lãi suất TSC rủi ro theo SWAP 152
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu (1.1) : Quy định về Tỷ lệ Vốn tối thiểu của Basel I 24 Biểu (1.2) : Quy định chi tiết áp dụng Tỷ lệ Vốn tối thiểu của Basel I 24 Biểu (1.3) : Xác định các Chỉ tiêu Sinh lợi theo Hệ số ROIF và ROFL 43 Biểu (1.4) : Phân tích tác động của Đòn cân nợ và Mức sinh lợi đến ROFL 43 Biểu (1.5) : Quy định Tỷ lệ Vốn tự có tối thiểu đối với các NHTM tại Hoa Kỳ 62 Biểu (1.6) : Bảng đánh giá điểm số Vốn an toàn tại các NHTM Hoa Kỳ 62 Biểu (2.1) : Phân tích Phương pháp xác định Vốn tự có để tính Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo cách tính cũ và mới 100 Biểu (2.2) : Phân tích Phương pháp xác định rủi ro nội bảng theo cách tính cũ và mới 101 Biểu (2.3) : Phân tích Phương pháp xác định rủi ro ngoại bảng theo cách tính cũ và mới 102 Biểu (2.4) : Phân tích Phương pháp xác định Hợp đồng giao dịch lãi súât, Hợp
đồng giao dịch ngoại tệ theo cách tính cũ và mới 102 Biểu (2.5) : Phân tích chung hiệu quả của Phương pháp xác định Vốn tự có an
toàn tối thiểu theo cách tính cũ và mới 103 Biểu (3.1) : Dự kiến Hệ thống khung Tỷ lệ đánh giá Vốn tự có an toàn 165
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HOẠ
Hình (1.1) : Mô hình quản lý Vốn tự có tổng quát 37 Hình (1.2) : Mô hình quản lý Vốn tự có truyền thống 38 Hình (1.3) : Mô hình quản lý Vốn tự có theo Hệ số ROIF và ROFL 42 Hình (1.4) : Mô hình xu thế phát triển hoạt động của các NHTM 56 Hình (2.1a): So sánh Tỷ lệ Vốn điều lệ bình quân giữa các NHTM 69 Hình (2.1b): So sánh Mức Vốn điều lệ bình quân giữa các NHTM 70 Hình (2.2) : Tỷ lệ nắm giữ các nguồn tài chính của các NHTM TPHCM 71 Hình (2.3) : So sánh Hệ số Tài sản có/Vốn chủ sở hữu của các NHTM TPHCM 72 Hình (2.4) : So sánh Cấu trúc Vốn tự có giữa 5 NHTMCP dẫn đầu và NHNNg 74 Hình (2.5) : So sánh Chất lượng Tín dụng giữa các NHTM tại TP.HCM 75 Hình (2.6) : So sánh Khả năng Thanh khoản giữa các NHTM tại TP.HCM 77 Hình (2.7) : So sánh Cơ cấu nguồn thu giữa 5 NHTMCP dẫn đầu và NHNNg 79 Hình (2.8) : So sánh Cơ cấu Chi phí giữa 5 NHTMCP dẫn đầu và NHNNg 82 Hình (2.9) : Cơ cấu Sử dụng vốn của các NHTMCP TP.HCM năm 2006 95 Hình (2.10): So sánh Cơ cấu Vốn huy động các NHTMCP TP.HCM năm 05-06 96
DANH MỤC CÁC CÔNG THỨC TÍNH TOÁN
Phương trình (1.1) : Các Chỉ tiêu xác định Vốn tự có đầy đủ của Uûy ban Basel 27 Phương trình (1.2) : Mô hình quản lý Vốn truyền thống 38 Phương trình (1.3) : Mô hình xác định Hệ số ROIF và ROFL 41 Phương trình (1.4) : Mô hình tổng hợp Hệ số ROIF và ROFL 42 Phương trình (1.5) : Mô hình tăng trưởng Tích sản 45 Phương trình (1.6) : Mô hình tổng hợp Hệ số ROA và ROE 45
Trang 12MỞ ĐẦU
l TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong nền kinh tế thị trường, vốn tự có là cơ sở hình thành pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, đồng thời cũng là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảm bảo các khoản nợ đối với khách hàng Trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, vốn tự có còn là yếu tố có ý nghĩa quyết định sống còn đến sự hình thành và phát triển lâu dài của ngân hàng
Duy trì quy mô vốn tự có hợp lý, đảm bảo khả năng tăng trưởng vốn tự có mạnh mẽ phù hợp với chiến lược phát triển có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực tài chính của ngân hàng Nói khác đi, khi vốn tự có của ngân hàng được quản lý hữu hiệu theo công nghệ hiện đại bằng những tiêu chuẩn an toàn tiên tiến thì năng lực tài chính của ngân hàng sẽ được nhân lên nhiều lần Năng lực tài chính cao và lành mạnh là điều kiện cơ bản để ngân hàng mở rộng khả năng huy động vốn, tăng cường năng lực cạnh tranh, tăng cường khả năng tự bảo vệ trước các rủi ro và phát triển ổn định, bền vững
Tuy nhiên, một trong số những điểm yếu của hệ thống NHTMCP Việt Nam hiện nay đó là quy mô vốn tự có quá thấp và trình độ quản lý an toàn vốn vẫn còn quá yếu kém Điểm yếu này đã và đang có những ảnh hưởng xấu đến khả năng cạnh tranh, uy tín, vị thế và mức độ an toàn trong kinh doanh của các NHTMCP Khắc phục điểm yếu này càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa hội nhập kinh tế toàn cầu Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các NHTMCP có đủ khả năng để chống đỡ với những áp lực cạnh tranh từ sự “đổ bộ” của các NHNNg, và vượt qua những ràng buộc khắt khe bởi
Trang 13các đạo luật giám sát an toàn vốn ở đẳng cấp cao của cơ quan giám sát ngân hàng quốc tế mà vẫn đạt được các mục tiêu sinh lợi của mình
Mặc dầu, các quy định về an toàn vốn tự có trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam gần đây đã được cải thiện theo các quy định của quốc tế, nhưng các NHTMCP vẫn chưa thể thực thi được do còn có quá nhiều yếu kém về trình độ, công nghệ, chuẩn mực và điều kiện pháp lý Mặt khác trong quá trình triển khai, nhiều bất cập giữa các ngân hàng đã phát sinh, nhiều vấn đề khó khăn đặt ra,… Nhằm giúp các NHTMCP TP.HCM nhanh chóng hiện đại hóa, phù hợp với sự phát triển của các chuẩn mực quốc tế về an toàn vốn và thực tiễn của Việt Nam, qua đó đẩy mạnh tăng trưởng, mở rộng khả năng sinh lợi, từng bước xác lập được vị thế cạnh tranh bền vững trên thị trường trong nước và quốc tế, tác giả đã chọn đề tài “Đổi mới quản lý vốn tự có tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các NHTMCP TP.HCM” để thực hiện luận án tiến sĩ của mình
ll MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm làm sáng tỏ các luận cứ khoa học cả về lý luận và thực tiễn quản lý vốn tự có trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Khảo cứu thực trạng quản lý vốn tự có và đề xuất hệ thống các giải pháp đổi mới toàn diện quản lý vốn tự có phù hợp với yêu cầu chuẩn hóa an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng quốc tế, tạo điều kiện để các NHTMCP TP.HCM phát
triển hiệu quả, ổn định và bền vững
lll ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống lý luận về quản lý vốn tự có, hệ thống pháp luật, hệ thống các chuẩn mực đánh giá, giám sát an toàn vốn tự có Trọng tâm nghiên cứu là các vấn đề về kỹ năng quản trị vốn tự có của các NHTM và phương thức quản lý vốn của cơ quan giám sát ngân hàng theo yêu cầu quản lý an toàn vốn tự có hiện đại của BIS,… tại các NHTMCP TP.HCM
Trang 14lV PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp với các phương pháp thống kê, so sánh, xử lý hệ thống, mô hình hoá kinh tế vĩ mô, có đối chứng với các phương pháp nghiên cứu khoa học khác Luận án đã tiếp thu ý kiến phản biện của nhiều chuyên gia, cán bộ quản lý, điều hành có liên quan để hoàn thiện các giải pháp
V NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Sửa đổi thể chế quyền sở hữu vốn cổ phần phù hợp với những đổi mới từ Luật Doanh nghiệp Phát triển hoạt động của ngân hàng theo mô hình tập đoàn tài chính
đa năng, định vị lại thị trường mục tiêu;
Đổi mới cơ cấu vốn tự có an toàn, xây dựng chiến lược tái cấu trúc sở hữu vốn cổ phần bền vững; Đổi mới chương trình, nội dung, cơ chế, chính sách quản lý, giám sát, đánh giá an toàn vốn phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế và lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế;
Đổi mới quản lý, đánh giá vốn tự có an toàn theo hướng mở rộng khung tỷ lệ theo khả năng đáp ứng vốn và mức độ rủi ro, áp dụng hệ thống chỉ tiêu đa dạng có điều kiện, thực hiện cơ chế quản lý đa phân tầng
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án dài 184 trang, với 12 Biểu; 34 Bảng; 15 Hình minh hoạ, 6 phương trình Nội dung chính của luận án được thể hiện ở ba chương (I, II và III)
Trang 15
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN TỰ CÓ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái quát về vốn tự có của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Các khái niệm về vốn tự có của ngân hàng thương mại
Nguồn vốn chủ sở hữu của một ngân hàng thương mại (NHTM) đang hoạt động kinh doanh trên thị trường thường được phân chia thành bốn loại:
− Vốn của NHTM gồm vốn điều lệ và vốn xây dựng cơ bản;
− Các quỹ của NHTM;
− Lợi nhuận chưa phân phối của NHTM;
− Các khoản chênh lệch đánh giá lại tài sản, tỷ giá hối đoái, vàng bạc,… Nguồn vốn chủ sở hữu của NHTM còn được gọi là vốn tự có của NHTM Đứng ở góc độ rủi ro kinh doanh, vốn tự có của NHTM được xem là “sức mạnh và đệm” an toàn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng
Theo Luật các TCTD Việt Nam đã sửa đổi và bổ sung năm 2004 [25 ], vốn tự có của NHTM bao gồm: giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác, gồm các khoản vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro, lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản cố định, vốn Nhà nước cấp để cho vay dài hạn, các loại vốn, quỹ khác,
Theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN [25] ngày 19/4/2005 của Thống đốc NHNNVN, vốn tự có của NHTM Việt Nam gồm hai loại vốn cấp 1 và vốn cấp 2
Trang 16− Vốn cấp 1, gồm vốn điều lệ (bao gồm vốn đã được cấp và vốn đã góp) và các
quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia, trừ đi khoản giá trị chênh lệch lợi thế thương mại;
− Vốn cấp 2, gồm những khoản nợ có tính chất như vốn có thể được sử dụng
ngay để bù đắp trong hoạt động kinh doanh, bao gồm: 50% phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định được định giá lại; 40% phần giá trị tăng thêm của các chứng khoán đầu tư; trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do TCTD phát hành có thời gian còn lại tối thiểu là 5 năm trước khi chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông; các công cụ nợ thứ cấp khác có kỳ hạn ban đầu tối thiểu trên 10 năm; và quỹ dự phòng chung được giới hạn tối đa bằng 1,25% tổng tài sản có rủi ro;
− Các quy định khác, cấu phần của vốn cấp 2 được giới hạn tối đa bằng 100% vốn cấp 1, giới hạn đối với trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi và các công cụ nợ thứ cấp khác tối đa không quá 50% vốn cấp 1 Đối với các khoản khấu trừ khỏi vốn tự có, gồm: toàn bộ giá trị tài sản cố định và chứng khoán đầu
tư bị giảm đi khi định giá lại theo quy định của pháp luật; toàn bộ số vốn đã đầu
tư vào TCTD khác dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần; phần góp vốn liên doanh, mua cổ phần của các quỹ đầu tư, doanh nghiệp khác và các khoản lỗ kinh doanh bao gồm cả các khoản lỗ lũy kế
Theo Quy chế Basel II của Ngân hàng Phục vụ Thanh toán quốc tế (BIS) [1 ],
vốn tự có của NHTM gồm ba lọai vốn cấp 1, vốn cấp 2 và vốn cấp 3
− Vốn cấp 1 (hay vốn cốt lỏi), là vốn chất lượng cao, gồm: vốn trên sổ sách
của cổ phần thường, cổ phần ưu đãi tích lũy không thường xuyên và các quỹ dự trữ từ những thu nhập tích lũy sau thuế;
− Vốn cấp 2 (hay vốn bổ sung), là vốn có chất lượng thấp bao gồm các khoản
vốn liên quan đến những điều kiện biến đổi, như: dự trữ tổn thất cho vay nói chung, nợ phụ thuộc dài hạn và các cổ phần ưu đãi tích lũy hoặc tái khả dụng;
Trang 17− Vốn cấp 3 (được dự trù nhằm mở rộng định nghĩa vốn), gồm các khoản nợ
phụ thuộc ngắn hạn được dùng để bù đắp các rủi ro thị trường
Theo khía cạnh chuyên môn, vốn tự có của NHTM được diễn giải, như sau:
- Về khía cạnh kế toán, vốn tự có của một ngân hàng là giá trị tài sản ròng,
hay là hiệu số giữa giá trị ghi sổ của tài sản có và giá trị ghi sổ của tài sản nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất định[10 ] Với cách diễn giải này, vốn tự có không được xem là một loại tài sản nợ của ngân hàng như quan niệm truyền thống, nhưng dựa vào mối quan hệ tương quan giữa vốn tự có với các chỉ tiêu tài chính khác ngân hàng có thể xác định được vốn tự có thực chính xác hơn;
- Về khía cạnh kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở
hữu đóng góp và vốn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận được giữ lại và các hình thức thu hút khác[10 ] Theo quan điểm này, vốn tự có là
cơ sở để ngân hàng chủ động định hướng các chính sách phân phối tài chính, thực hiện chiến lược thu hút vốn, mở rộng hợp tác, phát triển kinh doanh;
- Về khía cạnh pháp lý, vốn tự có của ngân hàng là điều kiện pháp lý căn bản
để ngân hàng được thành lập và là yếu tố tài chính chủ yếu để đảm bảo các khoản nợ đối với khách hàng, đảm bảo sự an toàn cho hoạt động[10 ] Việc luật hóa từng loại vốn tự có góp phần làm rõ hơn trách nhiệm pháp lý của ngân hàng đối với những người gửi tiền và khả năng đảm bảo năng lực hợp tác đầu tư;
- Về khía cạnh quản trị, vốn tự có của ngân hàng được chia thành hai loại vốn
cốt lỏi và vốn bổ sung[10 ] Việc phân biệt vốn tự có theo cấu trúc làm tăng thêm tính linh hoạt cho hoạt động quản lý, chi phí vốn sẽ được tiết giảm và vốn cốt lỏi sẽ được bảo vệ tốt hơn Ngân hàng có thể nâng cao chất lượng tổng nguồn vốn bằng chính sách quản lý vốn tự có tích cực để gia tăng khả năng cạnh tranh Nhìn chung, khái niệm về vốn tự có của NHTM bao hàm cả vốn điều lệ và vốn lợi nhuận không chia thuộc nguồn vốn chủ sở hữu mà ngân hàng phải tổ chức
Trang 18huy động, và các loại vốn được hình thành thông qua kỹ thuật xác định vốn tự có
an toàn theo quy chế giám sát của NHNN mà bản thân ngân hàng không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan
1.1.1.2 Một số thuật ngữ về vốn liên quan đến vốn tự có của NHTM
Sử dụng vốn tự có trong quá trình hoạt động kinh doanh của các NHTM thường gắn liền với một số thuật ngữ vốn khác có liên quan như:
Vốn khả dụng của ngân hàng, là vốn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh theo kế hoạch, như cho vay, đầu tư, thanh toán tiền gửi và tiền vay đến hạn, thanh toán ngoại bảng,… Cơ cấu vốn khả dụng của ngân hàng bao gồm: tiền mặt tồn quỹ nghiệp vụ, tiền gửi thanh toán, các loại chứng khoán thanh khoản cao (tối đa 30 ngày) do NHTM nắm giữ [10 ] Về lý thuyết vốn khả dụng của ngân hàng được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn tự có của NHTM, nhưng trong thực tiễn việc phân định cơ cấu vốn khả dụng rất khó do tính lưu hoạt của từng
nguồn vốn trong tổng nguồn vốn;
Vốn đầu tư của ngân hàng, là khoản vốn bằng tiền được ngân hàng sử dụng vào các hoạt động đầu tư ngắn và dài hạn [10 ]
Tóm lại, vốn tự có của NHTM là một phạm trù kinh tế có ý nghĩa khá rộng phản ánh tất cả các giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu nắm giữ của chủ ngân hàng dưới nhiều hình thức tài sản khác nhau có thể quy ra giá trị Trong quá trình hoạt động, vốn tự có của NHTM được sử dụng chủ yếu để đầu tư phát triển các nghiệp vụ kinh doanh nhằm mang lại lợi ích cho các chủ sở hữu ngân hàng và đảm bảo yêu cầu an toàn cần thiết cho hoạt động kinh doanh
1.1.2 Cấu thành vốn tự có của ngân hàng thương mại
Vốn tự có của NHTM có thể được cấu thành theo nhiều cách khác nhau, tùy loại hình sở hữu của ngân hàng có ba dạng tồn tại chính,
Trang 19Vốn cổ phần của ngân hàng, là số vốn do các cổ đông đóng góp trực tiếp
hoặc mua cổ phiếu được ghi vào điều lệ hay hợp đồng khi thành lập ngân hàng, hay là tổng giá trị của số cổ phần chưa thanh toán của các cổ đông sáng lập và cổ đông thường Theo Luật các TCTD Việt Nam, vốn cổ phần của NHTM chỉ được hình thành khi có ít nhất từ 35 cổ đông trở lên, trong đó cổ đông là DNNN phải có số cổ phần sở hữu ít nhất 10% hoặc cổ đông là các pháp nhân, thể nhân nước ngoài nhưng tổng số cổ phần sở hữu chiếm không quá 30% vốn điều lệ[25 ];
Các quỹ của ngân hàng, là những khoản vốn được hình thành khi có sự
tăng giá trị tài sản, bao gồm: thặng dư vốn cổ phần; lợi nhuận không chia bổ sung vốn điều lệ; chênh lệch đánh giá lại tài sản; các quỹ chưa sử dụng, Theo Nghị định Chính phủ số 146/2005/NĐ-CP ngày 23/11/2005, quy định hàng năm trên cơ sở lợi nhuận ròng các ngân hàng phải trích 5% để lập quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ (số dư của quỹ không được vượt quá mức vốn điều lệ) Phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ các khoản lỗ năm trước và các khoản do vi phạm pháp luật sẽ được trích 10% để lập quỹ dự phòng tài chính (số dư của quỹ không được vượt quá 25% mức vốn điều lệ) và trích 50% lập quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ và 5% cho quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm (số dư của quỹ không được vượt quá 6 tháng lương thực hiện)… Đối với các NHTMCP các tỷ lệ này do HĐQT quyết định [25 ];
Trái phiếu bổ sung và giấy nợ của ngân hàng, là các khoản tiền gửi không
chịu yêu cầu dự trữ bắt buộc, có kỳ hạn dài, có chi phí thu hút tương đối thấp và không làm giảm lợi tức trên mỗi cổ phần khi phát hành thêm cổ phiếu mới [3 ] Các chứng khoán nợ là nguồn vốn quan trọng được NHTM sử dụng để bổ sung vốn và thường được xếp loại sau các tài sản kê biên khi thanh toán nợ Hiện nay Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật các công cụ chuyển nhượng nhưng do còn thiếu các văn bản hướng dẫn nên các NHTM vẫn chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý để
khai thác các công cụ này
Trang 201.1.3 Các đặc trưng của vốn tự có của ngân hàng thương mại
Vốn được sử dụng có kế hoạch, có mục tiêu, vốn tự có luôn vận động và
tham gia thường xuyên vào toàn bộ quá trình kinh doanh của ngân hàng Mọi quyết định tăng thêm vốn luôn gắn liền với yêu cầu phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới, mở rộng hoạt động,… Sử dụng vốn có kế hoạch sẽ làm tăng tính chủ động cho ngân hàng trong việc đưa ra các quyết sách tài chính;
Vốn mang tính xã hội, vốn tự có được hình thành từ các nguồn vốn hợp
pháp được phép lưu chuyển rộng rãi trên thị trường Trong điều kiện hội nhập, vốn tự có của ngân hàng mang tính quốc tế gắn với môi trường cạnh tranh cao Việc thu hút vốn qua thị trường tài chính bằng các công cụ tài chính đa dạng mở
ra nhiều hướng liên thông, liên kết để ngân hàng có thể phân tán bớt rủi ro;
Vốn có giá trị và giá cả riêng, giá trị của vốn tự có gắn liền với uy tín, năng
lực, vị thế của chủ sở hữu vốn và quan hệ cung cầu vốn trên thị trường Năng lực nội tại của vốn được quyết định bởi khả năng quản trị, chất lượng sản phẩm dịch vụ, vị thế rủi ro, lợi thế và tiềm năng phát triển của ngân hàng;
Vốn có phí tổn, mức độ phí tổn của vốn bị chi phối bởi đặc điểm của kênh
thu hút, mỗi kênh chỉ thích ứng nhất định với cơ chế quản lý, mục tiêu và vị thế của từng nhà đầu tư và của từng ngân hàng sử dụng vốn Quan hệ cung cầu vốn đầu tư rất đa dạng và có tính thời cơ rất cao, định vị chính xác chuẩn bị tốt các điều kiện căn bản và quyết định kịp thời là điều kiện để ngân hàng lựa chọn được nguồn vốn đầu tư phù hợp, đem lại lợi ích cao;
Vốn có tính kinh tế, hiệu quả sử dụng vốn chỉ phát huy khi vốn tự có được
tích lũy và tập trung đến một mức độ cần thiết, đủ để đáp ứng được yêu cầu phát triển của tổ chức trong từng thời kỳ và trên từng thị trường cụ thể Tính kinh tế của quy mô vốn sẽ tăng dần theo bậc thang lợi thế cạnh tranh, vốn tự có càng cao ngân hàng càng có nhiều điều kiện để lựa chọn được những thị trường thuận lợi hơn
Trang 21Ở các nước đang phát triển, hoạt động ngân hàng đang trong quá trình đổi mới, hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách chưa hoàn thiện, nên việc quản lý vốn tự có
ở các NHTM thường gặp nhiều khó khăn Nhận thức đầy đủ thuộc tính của vốn tự có các ngân hàng có thể tìm kiếm phương thức phát triển vốn phù hợp hơn
1.1.4 Các chức năng cơ bản của vốn tự có của ngân hàng thương mại
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn tự có của NHTM thực hiện ba chức năng: chức năng trách nhiệm, chức năng hoạt động và chức năng điều chỉnh
1.1.4.1 Vốn tự có làm chức năng chịu trách nhiệm về tài sản đối với người gửi tiền
Với tư cách là một công ty trách nhiệm hữu hạn, trước tiên các NHTM phải thể hiện được đầy đủ trách nhiệm về tài sản của người kinh doanh đối với những khoản tiền gửi nhằm tạo ra sự tin cậy và an tâm cho khách hàng Bảo vệ quyền lợi cho những người gửi tiền thực chất cũng chính là bảo vệ sự an toàn cho ngân hàng Khi thực hiện chức năng này, ngân hàng phải có đủ vốn tự có để bảo đảm được khả năng thanh toán trong mọi trường hợp, đồng thời ngân hàng còn phải cung cấp được một khoản vốn dự trữ đủ để duy trì được khả năng trả nợ tránh khỏi mọi sự đe dọa do thua lỗ
Kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực hoạt động có tính nhạy cảm cao, thường xuyên gắn liền với các rủi ro Một ngân hàng vẫn có thể gánh chịu những tổn thất bất ngờ, mặc dù mọi hoạt động đang diễn ra rất tốt đẹp và đã chuẩn bị đầy đủ các biện pháp hữu hiệu để làm giảm thấp những rủi ro ở mức độ tối thiểu Chính vì vậy trong quá trình quản trị, các ngân hàng luôn phải cân nhắc đồng thời giữa các dự kiến về lợi nhuận với các dự kiến về rủi ro Đây cũng là lý do khiến NHTW ở các nước đều rất quan tâm đến việc thiết chế những quy định an toàn đặc biệt để giám sát chặt chẽ vốn tự có của các NHTM, nhằm tránh những ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế bảo vệ quyền lợi cho xã hội
Nói chung khi thực hiện chức năng trách nhiệm về tài sản đối với người gửi tiền, vốn tự có của ngân hàng phải được chuẩn bị đầy đủ với tư cách là nguồn vốn
Trang 22thường xuyên sẳn sàng bù đắp mọi rủi ro có thể xảy ra Một NHTM có vốn tự có lớn sẽ có một trách nhiệm tài sản lớn hơn các NHTM có vốn tự có nhỏ, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là vốn tự có lớn thì hoạt động của ngân hàng sẽ an
toàn hơn Do đó, “số vốn tự có cần có cho một NHTM không hoàn toàn chịu sự
quyết định của quy mô hoạt động kinh doanh, mà chủ yếu phải gắn với mức độ mạo hiểm thực tế mà ngân hàng đã và đang chấp nhận”
1.1.4.2 Vốn tự có làm chức năng đầu tư đáp ứng các yêu cầu HĐKD ngân hàng
Vốn tự có không chỉ được dùng làm “lá chắn” và “đệm” an toàn mà còn được dùng để đầu tư đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng Khi làm chức năng đầu tư, vốn tự có của ngân hàng được sử dụng cho mục đích đầu tư vào tài sản cố định và đầu tư ngắn hạn và dài hạn để sinh lời
Tài sản cố định là điều kiện về vật chất và công nghệ có ý nghĩa quyết định đến tầm cở, quy mô của một ngân hàng Khả năng hiện đại hóa tài sản cố định tùy thuộc vào ngân hàng có đủ quy mô nguồn vốn tự có cần thiết và chiến lược đầu tư có được sử dụng đúng mức không Theo Luật các TCTD Việt Nam, các NHTM chỉ được phép đầu tư vào tài sản cố định tối đa bằng 50% vốn tự có [25 ]
Khi đầu tư vào tài sản ngắn hạn và dài hạn, vốn tự có của NHTM được dùng để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ,… một mặt vừa để sinh lời, mặt khác nhằm duy trì mức vốn khả dụng cho ngân hàng
1.1.4.3 Vốn tự có làm chức năng xác lập các giới hạn cho HĐKD ngân hàng
Khi thành lập hoặc phát triển các chi nhánh mới cũng như khi triển khai các hoạt động mới, các nghiệp vụ mới, hoặc khi quyết định đầu tư, cho vay, mua sắm tài sản, hay khi quyết định mua lại, sáp nhập,… để có đủ khả năng thực hiện các quyết định trên và có đủ cơ sở pháp lý để được cấp giấy phép kinh doanh, số vốn tự có của ngân hàng cũng cần thiết phải được xác định lại sao cho tương ứng với các yêu cầu thực tế có thể phát sinh
Trang 23Các cơ quan giám sát ngân hàng thường quyết định số vốn tự có cần có bằng cách đưa ra các quy định giới hạn mức vốn tối thiểu cụ thể cho từng hoạt động của ngân hàng Các giới hạn này được luật hóa bằng các tiêu chuẩn pháp lý cụ thể với hàng loạt các quy định ràng buộc có liên quan, dựa trên cơ sở phân loại mức độ rủi ro của các tài sản đầu tư, mức độ gặp khó khăn, sự khác biệt giữa các ngân hàng
Ở nhiều quốc gia, cơ quan quản lý, giám sát ngân hàng sử dụng các quy định về tỷ lệ giới hạn vốn tự có như một công cụ vĩ mô để điều tiết hoạt động của các NHTM Chính sự ràng buộc khắt khe này đã khiến các ngân hàng phải quan tâm nhiều hơn đến đổi mới cơ cấu danh mục đầu tư và quản lý rủi ro, đến xây dựng chiến lược khai thác và sử dụng vốn tự có sao cho có hiệu quả cao như các nguồn vốn đầu tư dài hạn khác
Tóm lại, việc thực thi đầy đủ các chức năng của vốn tự có sẽ là điều kiện cần thiết để ngân hàng tạo ra một khuôn khổ lành mạnh cho công tác quản trị, giảm bớt các hành vi mạo hiểm với rủi ro Tuy nhiên, các ngân hàng cũng cần phải có quan điểm đổi mới quản lý vốn tự có tích cực và phù hợp hơn để thực sự đem lại sự gia tăng lâu dài và ổn định cho lợi nhuận, duy trì sự phát triển bền vững, đồng thời ngăn chặn các chính sách bảo thủ cực đoan nguy hiểm hoặc mạo hiểm quá đáng
1.2 YÊU CẦU ĐẢM BẢO AN TOÀN VỐN TRONG HĐKD NGÂN HÀNG
Tăng vốn là điều kiện cơ bản để ngân hàng thực hiện đầy đủ các chức năng, nhưng tăng vốn cũng sẽ làm tăng phí tổn và làm giảm lợi nhuận Để đạt được lợi nhuận mong muốn các ngân hàng thường hạ thấp tỷ lệ giới hạn vốn hoặc giữ mức vốn tự có cao, nhưng đồng thời cũng tăng thêm các phương thức kinh doanh mạo hiểm Nhằm buộc các NHTM phải đi vào hoạt động cẩn trọng, ở các nước NHTW đều chú trọng tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn vốn, với nội dung chính là xây dựng và hoàn thiện các quy định về chế độ an toàn vốn
Trang 241.2.1 Quy định chung về chế độ an toàn vốn trong HĐKD ngân hàng
1.2.1.1 Quy định các khái niệm an toàn vốn
Theo công bố của Ủy ban Basle năm 1989, các NHTM phải thường xuyên dự trữ đủ các nguồn quỹ dự phòng cần thiết, sẳn sàng bù đắp được mọi tổn thất có thể xảy ra để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh Tùy theo tính chất của từng loại tổn thất, ngân hàng được sử dụng những nguồn vốn tương thích để bù đắp:
− Đối với các tổn thất đã lường trước được rủi ro, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn từ quỹ dự phòng rủi ro nợ xấu đã được xếp loại theo tiêu chuẩn để bù đắp Mặc dầu nguồn vốn này được trích lập từ chi phí kinh doanh nhưng nếu tỷ lệ trích lập quá cao có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và quyền lợi của cổ đông làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường;
− Đối với các tổn thất không lường trước được rủi ro, ngân hàng phải dùng vốn tự có làm nguồn dự phòng để bù đắp Nếu khả năng quản trị rủi ro yếu kém gây
ra mức tổn thất cao vốn tự có của ngân hàng sẽ bị hao mòn, quy mô tài chính và khả năng cạnh tranh của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng
Từ căn cứ lý luận trên, BIS đã đưa ra một số định nghĩa để đo lường mức độ vốn tự có an toàn cho một NHTM như sau:
Vốn tự có an toàn, là mức vốn tự có tối thiểu cần thiết mà một NHTM cần phải
có để thực hiện được chức năng chủ yếu là “dự phòng những tổn thất không thể lường
trước” nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và người cho vay[18 ];
Mức vốn tự có tối thiểu, là số vốn tự có tối thiểu mà một NHTM buộc phải có để đảm bảo được yêu cầu kinh doanh Mức độ vốn tự có tối thiểu tùy vào từng đối tượng cụ thể, luật pháp của từng quốc gia và yêu cầu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ [18 ] Các chuẩn tắc này được quy định như sau:
- Đối với các ngân hàng mới đi vào hoạt động, mức vốn tự có tối thiểu là một
giá trị danh nghĩa được NHTW quy định;
Trang 25- Đối với các ngân hàng đã đi vào hoạt động, mức vốn tự có tối thiểu là tỷ lệ
vốn dựa trên cơ sở rủi ro;
- Đối với các cơ quan giám sát ngân hàng, mức vốn tự có tối thiểu là sự tuân
thủ của các ngân hàng về các giới hạn đảm bảo cần thiết trên cơ sở có cân nhắc đến từng hoàn cảnh cho phép
Tỷ lệ vốn tự có dựa trên cơ sở rủi ro, là một chỉ tiêu số tương đối biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giữa vốn tự có của ngân hàng so với giá trị tài sản có chứa đựng rủi ro được hạch toán ở nội bảng và các khoản rủi ro hạch toán ở ngoại bảng Các hệ số xác định này được quy định bằng những mức độ rủi ro khác nhau, tùy theo tính chất của từng loại tài sản[18 ]
Nói chung, thuật ngữ vốn tự có an toàn được dùng để chỉ số vốn tự có tối
thiểu mà một ngân hàng hoạt động cần phải có để đáp ứng được yêu cầu bù đắp các khoản tổn thất bất ngờ ngoài dự kiến, tương ứng với mức độ rủi ro hiện có mà ngân hàng có thể phải gánh chịu trên những thị trường cạnh tranh cụ thể
1.2.1.2 Quy định chế độ xác định số vốn tự có an toàn
Theo BIS, chế độ xác định số vốn tự có an toàn cần thiết cho một NHTM về
cơ bản được quy định gồm ba yếu tố là: cấu phần, quy chế và nguồn hình thành vốn tự có an toàn Mặc dầu chế độ xác định số vốn tự có an toàn cụ thể ở từng quốc gia có một số quy định khác nhau, song đều tôn trọng nguyên tắc cơ bản
chung là “Mọi nguồn vốn tự có an toàn đều phải đặt trọng tâm vào các yếu tố sẳn
sàng bù đắp được các khoản tổn thất ngoài dự kiến” [18 ]
Quy chế về cấu phần của vốn tự có an toàn[18], quy định vốn tự có an toàn của một NHTM phải được tạo lập từ các yếu tố có khả năng bù đắp cho những khoản tổn thất bất ngờ Các yếu tố này được sắp xếp theo tính chất của từng loại vốn Về cơ bản vốn tự có an toàn được xếp thành hai loại:
Trang 26− Loại thứ nhất gọi là vốn cốt lỏi, gồm các loại vốn có chất lượng cao như vốn
cổ phần và các quỹ dự trữ cơ bản;
− Loại thứ hai gọi là vốn thứ cấp hay vốn bổ sung, cũng gồm các yếu tố có thể
trang trãi được các khoản tổn thất bất ngờ nhưng xét về tính chất mức độ vững chắc của các yếu tố này thấp hơn
Quy chế về vốn tự có an toàn[18], quy định rõ về các thành phần trên BCĐTS được xem là vốn của bản thân ngân hàng, trong đó các yếu tố được xem là nền tảng của vốn cốt lỏi và những thành phần của vốn được xem là vốn bổ sung Và quy định những khoản phải khấu trừ vào vốn tự có an toàn gồm những tích sản có khó khăn và những tích sản có giá trị hữu hình thấp Quy chế còn quy định, các ngân hàng phải thiết lập đầy đủ các quỹ dự trữ và sử dụng các nguồn vốn bổ sung nhằm tăng thêm khả năng chống đỡ rủi ro, bảo vệ an toàn cho vốn cốt lỏi, đồng thời làm đòn bẩy để mở rộng quy mô hoạt động làm tăng khả tăng sinh lợi
Quy chế về nguồn hình thành vốn tự có an toàn[18 ] quy định,
- Nguồn vốn cơ bản, hay còn gọi là vốn cốt lỏi gồm các yếu tố vốn có liên
quan trực tiếp đến lợi nhuận ròng và khả năng mở rộng khối lượng tài chính của ngân hàng Việc xác định vốn cơ bản gắn với đánh giá chất lượng tổng nguồn vốn là cơ sở để xác lập tiêu chuẩn vốn tự có an toàn tối thiểu Vốn cơ bản gồm:
+ Cổ phiếu thường, được hình thành từ hai nguồn, một phần từ nguồn lợi nhuận
giữ lại được dùng để cung cấp thêm vốn cho cổ phiếu và một phần từ nguồn phát hành cổ phiếu mới được dùng để tăng vốn cổ phần;
+ Các quỹ dự trữ cơ bản, là các quỹ được lập hay được xác định tỷ lệ với lãi
lưu giữ hoặc các khoản thặng dư khác được trích lập từ lợi nhuận sau khi đã nộp thuế, như: tiền thưởng cổ phần, lợi nhuận không chia sau khi trả lãi cổ phần, quỹ dự trữ tổng hợp, quỹ dự trữ pháp định để bổ sung vốn, lợi nhuận từ các khoản hùn vốn cổ phần ở các chi nhánh…
Trang 27- Nguồn vốn bổ sung, hay còn gọi là vốn thứ cấp, các NHTM có thể lập các
khoản vốn bổ sung sau tùy vào sự cho phép của cơ quan giám sát:
+ Các quỹ dự trữ ngầm, gồm các phần thặng dư tích lũy sau thuế từ lợi nhuận
tích lũy Các quỹ này có thể được tạo lập bằng nhiều cách tùy theo quy chế và chế độ hạch toán của từng quốc gia;
+ Quỹ dự trữ do đánh giá lại tài sản, tùy chế độ hạch toán ở từng quốc gia
Thông thường có hai cách, đánh giá chính thức tài sản của ngân hàng có trong quyết toán theo sự biến động của thị trường và đánh giá lại các chứng khoán đầu
tư của ngân hàng đã được hạch toán trong BCĐTS so với giá thành trước đó;
+ Quỹ dự trữ chung, là các quỹ dự trữ tổng hợp phòng mất vốn cho vay được
tạo lập để phòng những thua lỗ cho vay chưa xác định được trong tương lai, không liên quan đến những tích sản đã được xếp loại Mức tối đa của quỹ này được lập là 1,25% hoặc cao nhất là 2% của tích sản có chứa đựng rủi ro;
+ Các phương tiện vốn pha trộn (Nợ - Vốn cổ phần), gồm các công cụ vốn mang tính
chất phối hợp của cả nợ và vốn cổ phần nhưng phải thỏa mãn được một số yêu cầu: Thứ nhất, chưa được đảm bảo, không quan trọng và chịu sự đóng góp hoàn toàn; Thứ hai, người giữ đầu tiên không được bán lại nếu chưa được thanh tra cho phép; Thứ ba, sẳn sàng bù đắp những thua lỗ mà ngân hàng không buộc phải tạm ngừng công việc kinh doanh (khác với các khoản nợ phụ); Thứ tư, được chi trả theo lãi suất cố định Hiện nay xếp vào loại này có các cổ phần ưu đãi có tích lũy và các phương tiện vốn, như: cổ phần ưu đãi dài hạn ở Canada; chứng chỉ góp vốn và phiếu trái khoán phụ với thời hạn không xác định ở Pháp, Gensscheine ở Đức; các khoản nợ phụ vĩnh viễn như cổ phần ưu đãi ở Anh; các phương tiện nợ có thể chuyển đổi, ủy thác ở Hoa Kỳ,….;
+ Các khoản nợ phụ thuộc có kỳ hạn (tín phiếu vốn và các giấy nợ), gồm các
khoản nợ phụ thuộc chưa được bảo đảm Theo thông lệ chung, các công cụ này phải có thời hạn gốc tối thiểu là 7 năm kể từ ngày phát hành, nếu ngắn hơn sẽ
Trang 28phải chịu mức dự trữ theo yêu cầu pháp định và phải có giới hạn thời hạn có thể bù vào các cổ phần ưu đãi Quy định chung, trong thời hạn 5 năm cuối cùng các khoản nợ này sẽ phải chịu hệ số chiết khấu tích lũy là 20% năm nhằm thể hiện sự sụt giảm giá trị dưới tư cách là một nguồn lực liên tục Các phương tiện này thường được giới hạn ở mức tối đa là 50% vốn cơ bản do không có sẳn để bù lỗ
1.2.2 Những thay đổi về các chuẩn mực đánh giá an toàn vốn
Tăng vốn tự có tối thiểu đến mức an toàn cần thiết là yêu cầu cơ bản để bù đắp các tổn thất bất ngờ xảy ra Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để đánh giá chính xác mức độ rủi ro hiện có của một ngân hàng nhằm xác định được số vốn tự có an toàn cần có Cơ quan giám sát ngân hàng ở các nước đã đưa ra nhiều biện pháp, Quy chế Basel là một trong những bộ tiêu chuẩn đánh giá an toàn vốn gần đây có ảnh hưởng toàn diện nhất đến hoạt động kinh doanh ngân hàng Mặc dầu được áp dụng rộng rãi, các chuẩn mực Basel cũng không hẳn đã phù hợp đối với tất cả các quốc gia, các loại hình ngân hàng Nghiên cứu toàn diện quá trình phát triển các chuẩn mực an toàn vốn là điều kiện để tìm kiếm phương thức quản lý vốn tốt hơn cho các ngân hàng
1.2.2.1 Các chuẩn mực đánh giá an toàn vốn trước khi có Quy chế Basel
Trước khi có Quy chế Basel, vấn đề xác định vốn tự có an toàn tối thiểu cũng đã được pháp luật ngân hàng ở nhiều quốc gia quan tâm Ở mỗi quốc gia, NHTW đều xây dựng các chỉ tiêu quản lý vốn riêng để ràng buộc hoạt động của
các NHTMTNc Nhìn chung, hầu hết đều cho rằng “số vốn tự có an toàn của một
ngân hàng cần có phải đảm bảo được khả năng sẳn sàng chi trả và khả năng thanh toán cuối cùng đối với người gửi tiền và những người thứ ba nói chung, đồng thời góp phần tạo ra sự cân bằng thường xuyên của cơ cấu tài chính” [3 ]
Các chỉ tiêu xác định vốn tự có an toàn thường được thể hiện dưới dạng tỷ lệ, phản ánh số vốn tự có tương đối của ngân hàng được tính theo tỷ lệ phần trăm
Trang 29so với tổng tài sản có hoặc tổng tài sản nợ, hoặc bằng số vốn tự có của ngân hàng nhân với một hệ số nhất định Một số chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn vốn của ngân hàng đã được sử dụng khá phổ biến [37 ], như:
− Hệ số vốn tự có so với tài sản có và vốn tự có so với tổng số tiền gửi;
− Hệ số vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro, trong đó mức độ chênh lệch của các hệ số rủi ro dựa vào tỷ lệ sai hẹn thanh toán của trái phiếu chính phủ Vào thập niên 1950 hệ số này được quy định tối thiểu là 20%;
− Hệ số vốn khả dụng, quy định ít nhất phải đạt 100% giữa một bên là tổng số vốn khả dụng không kỳ hạn (hoặc tối đa là một tháng) cùng với các yếu tố khác, với một bên là tổng số tiền khả chi không kỳ hạn hoặc trong một tháng;
− Hệ số vốn và nguồn vốn thường xuyên, ở Pháp NHTW quy định các NHTM phải đạt ít nhất 60% giữa tổng số nguồn vốn có thời hạn còn lại hơn 5 năm, với tổng số sử dụng vốn cũng có thời hạn còn lại trên 5 năm;
Nhìn chung, các hệ số đánh giá an toàn vốn trước khi có Quy chế Basel mới chỉ phản ánh được số vốn tự có ban đầu của một ngân hàng cần có để được hoạt động mà chưa chỉ ra được những mối liên hệ giữa vốn tự có với các yếu tố rủi ro Trong thị trường tương đối phát triển các tiêu chuẩn đánh giá an toàn vốn rất cao, nếu sử dụng các hệ số này kết quả đánh giá sẽ không chính xác Tuy nhiên, đối với các thị trường tính cạnh tranh còn thấp các khoản vay nợ chưa được hình thành, hoặc đối với các ngân hàng mà hoạt động cho vay lệ thuộc phần lớn vào số tiền gửi huy động, việc sử dụng các hệ số trên vẫn còn mang lại một số ý nghĩa nhất định
Ơû nhiều nước, luật ngân hàng hiện vẫn cho phép duy trì các hệ số này nhằm thúc đẩy ngành ngân hàng trong nước có điều kiện phát triển, đặc biệt trong thời gian đầu cạnh tranh hội nhập Trong đó tập trung trọng yếu vẫn là các chỉ tiêu hệ số vốn tự có so với tổng số tài sản có và so với tổng số tiền gửi Đây cũng là
Trang 30nguyên nhân đã khiến nhiều NHTMTNc chủ quan trong vấn đề quản lý vốn tự có
dẫn đến những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn khó lường
1.2.2.2 Các chuẩn mực đánh giá an toàn vốn tự có theo Quy chế Basel
Năm 1988, tại Basle (Thụy Sĩ) dưới quyền phán quyết của BIS, NHTW của các quốc gia trong nhóm G10 gồm Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hà lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh và hai cơ quan giám sát của Hoa Kỳ đã gặp nhau để lập ra một ủy ban giám sát ngân hàng gọi tắt là Basel Uûy ban Basel đã thoả thuận đưa
ra hệ thống các quy tắc chuẩn mực chung, mà trọng điểm là các định nghĩa về vai trò của các quy tắc vốn trong những tình huống pháp lý cụ thể Mục tiêu của Ủy ban Basel nhằm giám sát các ngân hàng có hoạt động thương mại quốc tế và các ngân hàng sở hữu công ty, đồng thời khuyến khích sự đồng nhất thực hiện yêu cầu vốn tự có an toàn tối thiểu để ngân hàng ở tất cả các quốc gia đều có thể cạnh tranh với nhau trên một sân chơi bình đẳng
Mặc dầu, Ủy ban Basel không có quyền chế tài pháp lý nhưng trước sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động thanh toán quốc tế, tất cả các quốc gia dự phần đều thấy có trách nhiệm cần phải nhanh chóng áp dụng các quy tắc Basel Bước đầu, Ủy ban Basel cho phép một số nước được áp dụng các tiêu chuẩn một cách linh hoạt phù hợp với chế độ sở tại nhằm khắc phục sự khác biệt về luật lệ giữa các nước Tuy nhiên, đến năm 2007 sự phân biệt này sẽ không còn và Basel sẽ trở thành bộ tiêu chuẩn thống nhất đối với tất cả các ngân hàng có tham gia vào hoạt động thương mại toàn cầu
Về cơ bản, các chuẩn mực Basel hình thành và phát triển theo hai giai đọan:
Giai đọan từ năm 1992 đến 1998 (còn gọi là Basel I), Ủy ban Basel đưa ra hệ số Cooke quy định các ngân hàng phải có tỷ lệ vốn tự có an toàn tối thiểu phải lớn hơn 8% và phải đảm bảo được chất lượng quản lý rủi ro Tuy nhiên, quy chế Basel I mới chỉ đề cập đến những rủi ro về tín dụng mà chưa bàn đến các rủi ro khác, như: rủi ro
Trang 31hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, Trong khi thực tế chính các rủi ro này lại đang là tác nhân chủ yếu gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính;
Giai đọan từ năm 1998 đến nay (còn gọi là Basel II), nhằm đáp ứng yêu cầu
an toàn vốn cho các tổ chức tài chính khổng lồ, tăng cường quản trị toàn cầu hóa tài chính cũng như khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận và hạn chế rủi ro cho các ngân hàng, Ủy ban Basel đã bổ sung thêm các quy định về tiêu chuẩn đánh giá rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, đồng thời đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của thanh tra trong công tác quản lý ngân hàng Basel II đã đưa ra hệ số CAR, quy định các ngân hàng phải đảm bảo số tiền vốn cơ bản chia cho số tiền cho vay không được dưới 8%, đồng thời khuyến khích nâng cao khả năng tự quản lý bằng việc hướng dẫn các phương pháp đánh giá nội bộ về nhu cầu sử dụng vốn Ngoài ra, Basel II còn bổ sung thêm các yếu tố thị trường vào hệ thống chỉ tiêu đánh giá để tập trung làm rõ hơn tình trạng rủi ro và mức độ vốn hoá thực sự, nhằm buộc các ngân hàng phải công khai hóa thông tin và tạo điều kiện cho các đối tác dù ở thể chế nào cũng đều có thể đánh giá được rủi ro
Nói chung, các chuẩn mực Basel đã tập trung vào việc phân chia vốn tự có
an toàn ra thành nhiều loại nhằm phù hợp với mức độ bù đắp cho từng loại rủi ro khác nhau Việc phân định rõ cấu thành và xây dựng nguyên tắc xác định cho từng loại vốn đã tạo điều kiện để các ngân hàng tự hình thành các quỹ dự phòng thích hợp và tìm kiếm thêm các nguồn vốn bổ sung bảo vệ an toàn cho vốn cốt lỏi, cũng như phát triển thêm các công cụ nợ mới tham gia sâu hơn vào thị trường tài chính tiền tệ Mặt khác, Basel cũng buộc các ngân hàng phải xây dựng quy trình, chính sách kiểm soát nội bộ về tín dụng với các quy định chặt chẽ và các tiêu chí cụ thể hơn, đồng thời cũng đưa ra các phương pháp giúp các ngân hàng tự quản trị rủi ro, tự xác định được giá trị thực của vốn tự có
Trang 321.2.3 Các quy định pháp luật điều chỉnh các chuẩn mực đánh giá an toàn vốn
1.2.3.1 Các quy định pháp luật điều chỉnh các chuẩn mực đánh giá an toàn vốn quốc tế
Trên thế giới, hệ thống các chuẩn mực điều chỉnh các quy định về an toàn vốn có một quá trình phát triển khá dài và cùng tồn tại với nhiều quan điểm khác nhau trước khi xuất hiện hệ thống chuẩn mực Basel [1]
1- Giai đoạn trước chiến tranh thế giới lần thứ hai
Đầu những năm 1900, hầu hết NHTW ở các nước phát triển đều sử dụng
quy tắc ngón tay cái với chỉ tiêu tỷ lệ vốn trên tổng số tiền gửi bằng 10%, nhưng
từ năm 1940 – 1945 lại áp dụng chỉ tiêu tỷ lệ vốn trên tổng tài sản có bằng 8%
Thực tế cả hai chỉ tiêu đã không phản ánh được sự tác động của các loại rủi ro tín dụng khác nhau trong cơ cấu tài sản có của ngân hàng, trong khi tỷ lệ các khoản cho vay này chiếm tới hơn 85% tài sản có
2- Giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
Nhằm giới hạn số vốn của các NHTM, NHTW ở các nước phát triển đã đưa
ra chỉ tiêu tỷ lệ vốn trên tài sản có rủi ro giản đơn (xác định bằng cách lấy giá trị
tài sản có trừ đi ngân quỹ và chứng khoán chính phủ) Năm 1950, NHTW các nước
lại triển khai chỉ tiêu tỷ lệ vốn trên tài sản có rủi ro đã được điều chỉnh với mức độ
rủi ro của từng loại tài sản có đã được điều chỉnh tương ứng với 6 loại: 0%, 5%, 12%, 20%, 50%, 100% Năm 1956, nhằm bổ sung thêm cho việc đánh giá mức vốn
an toàn và mở rộng giám sát khả năng thanh khoản phù hợp với việc mở rộng
thêm nghiệp vụ ARBIT, NHTW các nước lại đưa ra Phương trình ABC quy định
“ngân hàng càng ít thanh khoản thì vốn tối thiểu phải càng tăng”
3- Giai đoạn từ năm 1960-1981
Từ năm 1960, để đánh giá tính đầy đủ của vốn an toàn tốt hơn đồng thời giảm bớt các phê phán về sự lệ thuộc vào các hệ số an toàn NHTW các nước phát triển đã
đưa ra thể thức phân tích vốn tự có theo chất lựơng từng loại, như: chất lượng quản lý,
Trang 33thanh khoản của tài sản có, lịch sử lợi nhuận và tích lũy lợi nhuận của ngân hàng, chất lượng và đặc điểm của vốn chủ sở hữu, gánh nặng của các chi phí kinh doanh gộp, tiềm năng của cơ cấu tiền gửi nhạy cảm với lãi suất, chất lượng chiến lược quản trị kinh doanh, khả năng của ngân hàng trong việc phối hợp các nhu cầu tài chính hiện tại và tương lai tại các lĩnh vực kinh doanh khác nhau,… Với nguyên tắc chung là
“nếu ngân hàng không đảm bảo chất lượng của một trong những yếu tố trên thì yêu cầu về vốn tự có tối thiểu của ngân hàng sẽ phải tăng thêm”
Sau năm 1970, khi nền kinh tế trên toàn cầu bị suy thoái và lan nhanh, môi trường kinh tế thế giới biến động mạnh NHTW các nước đã bổ sung thêm một số tỷ lệ mới, như: vốn hợp lý trên tổng tài sản có, tổng số vốn trên tổng tài sản có, tổng số vốn cho vay trên tổng số vốn, tài sản có đã xếp loại trên tổng số vốn, tài sản có nhạy cảm với lãi suất thuần trên tổng tài sản có, dự phòng cho tổn thất trên tổn thất thuần, tổn thất thuần trên tổng số cho vay, tỷ lệ tăng trưởng tài sản có trên tỷ lệ tăng trưởng vốn, Các tỷ lệ này cũng là cơ sở để hình thành phương trình đánh giá tính đầy đủ của vốn tự có gọi tắt là “CAMEL” (vốn, tài sản có, quản lý, lợi nhuận, thanh khoản)
4- Giai đoạn từ năm 1981-1988
Sau năm 1981, cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang Hoa Kỳ (FDIC) lại đưa
ra các mức quy định mới để đánh giá an toàn vốn đối với các ngân hàng thành viên, như: tỷ lệ vốn hợp lý trên tổng tài sản có phải bằng 6%, tỷ lệ vốn cơ bản trên tổng tài sản có phải bằng 5% Trong đó quy định: vốn hợp lý bao gồm 100% dự trữ vốn, dự trữ cho tổn thất cho vay, cổ phần ưu đãi không được phép bán lại và các khoản nợ phụ thuộc; Vốn cổ phần thường phải tối thiểu bằng 100% khoản cho vay có nghi ngờ và 50% khoản cho vay đã được xếp loại
Năm 1985, các cơ quan giám sát ngân hàng và FDIC lại bổ sung thêm quy định giới hạn tỷ lệ vốn hợp lý trên tài sản có mở rộng từ 6% - 7% tùy vào quy mô
Trang 34và sự lành mạnh tài chính của từng NHTM Với những hướng dẫn cụ thể về tỷ lệ vốn trên tài sản có rủi ro đã được điều chỉnh, như: đối với vốn cấp (I) tối thiểu phải bằng 5,5%; đối với tổng vốn tự có phải bằng 6%
Từ năm 1985 đến 1988, FDIC lại bổ sung thêm bộ tiêu chuẩn vốn đầy đủ với các quy định chặt chẽ hơn về tỷ lệ vốn tự có trên tài sản có rủi ro được điều chỉnh, cụ thể: đối với vốn cấp (I) tối thiểu là 5,5%, đối với tổng số vốn tự có tối thiểu là 6%; Các tỷ lệ này được áp dụng khác nhau cho từng khu vực, theo đó: Khu vực (I) ít nhất là 7%, Khu vực (II) ít nhất từ 6% đến 7%, Khu vực (III) dưới 6%; Đối với các món nợ phụ thuộc có hạn kỳ còn lại ít nhất là 5 năm, tỷ lệ đánh giá trên giá trị của mệnh giá được quy định chi tiết như sau: từ 4 - 5 năm là 80%, từ 3 – 4 năm là 60%, từ 2 – 3 năm là 40%, từ 1- 2 năm là 20%; Riêng đối với vốn cấp (II) FDIC quy định không được vượt quá 50% vốn cấp (I)
5- Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1999
Năm 1988, Ủy ban Basel đưa ra một bộ quy tắc về yêu cầu vốn tự có tối thiểu và quy chế khung vốn tự có đầy đủ, bộ quy tắc này được xây dựng dựa trên
cơ sở nghiên cứu các rủi ro căn bản hợp lý (theo phương pháp thống kê kinh nghiệm của Cooke) Năm 1992, bộ quy tắc này đã được đưa vào áp dụng tại các quốc gia G10 với mục đích ràng buộc các ngân hàng về những khoản ký gửi và cho vay nhạy cảm nhằm kiểm soát các rủi ro tín dụng
Quy tắc Basel quy định rõ tỷ lệ tài sản có rủi ro cơ bản được tóm tắt thành bốn loại tùy vào các khoản mục nằm trong hoặc ngoài BCĐTS, cụ thể: không có rủi ro (0%), rủi ro thấp (20%), rủi ro vừa (50%); rủi ro tiêu chuẩn (100%) Basel cũng quy định áp dụng chi tiết cho từng giai đoạn và cụ thể theo từng loại vốn tự có Tuy áp dụng bắt đầu vào cuối năm 1990 nhưng ở giai đoạn đầu tiên Basel vẫn cho phép một số nước được hưởng một kỳ hạn nhất định để chuyển đổi Nguyên
Trang 35tắc chung “nếu rủi ro càng cao thì tổng tài sản có được điều chỉnh rủi ro càng tăng
và tỷ lệ vốn an toàn sẽ bị giảm thấp đi”
Biểu (1.1): Quy định về tỷ lệ vốn tự có tối thiểu của Basel I
Tỷ Lệ tối thiểu Khởi điểm 31/12/1990 31/12/1992
- Vốn cấp (I)
- Tổng số vốn
- Vốn cổ phần (RAA)
Biểu (1.2): Quy định chi tiết áp dụng tỷ lệ vốn tự có tối thiểu của Basel I
Tỷ Lệ tối thiểu Khởi điểm 31/12/1990 31/12/1992
- Vốn cấp (I) (trừ tài sản vô hình)
- Vốn bổ sung cho vốn cấp (I)
Tổng hợp
0
Trừ Tối đa 25%
Trừ Không bao gồm
Tháng 4/1995, Ủy ban Basel công bố một chương trình rà soát mới, đòi hỏi vốn tối thiểu phải gắn với chức năng quản lý rủi ro và các quy định về an toàn mà ngân hàng hiện đang chấp nhận mạo hiểm Nhằm tránh tai tiếng về sự lệ thuộc vào các hệ thống đo lường rủi ro Ủy ban đã mở rộng thêm giới hạn để xác
Trang 36định rủi ro với tỷ lệ 99% trong phạm vi 10 ngày trên cơ sở lựa chọn ngẫu nhiên Nhận thấy tác động của việc phân tán rủi ro trong phạm vi danh mục không được thể hiện qua danh mục tài sản có, Ủy ban yêu cầu vốn cấp II phải làm thêm chức
năng bù đắp cho cả rủi ro thị trường trên cơ sở giới hạn xác định trong phạm vi
không quá 60 ngày;
Năm 1996, phát hiện các ngân hàng đi thuê mượn vốn thu được nhiều lợi nhuận khi khai thác các khiếm khuyết của hệ thống tỷ lệ rủi ro vốn chỉ trọng, điều này có thể gây ra tổn thất gắn liền với các hình thức gian lận, rủi ro đạo đức,… Ủy
ban đã bổ sung thêm rủi ro hoạt động vào tiêu chuẩn tính vốn an toàn dựa vào các
quy định trong mua bán chứng khoán Ngoài ra, để mở rộng thêm định nghĩa vốn Ủy ban cũng đề nghị bổ sung thêm vốn cấp III bao gồm các khoản nợ phụ thuộc
ngắn hạn được dùng chủ yếu nhằm bù đắp các rủi ro thị trường
6- Giai đoạn từ năm 1999 đến nay
Tháng 01/1999, Ủy ban đề xuất một quy định vốn mới với tên gọi là Basel II Sau hai đợt mở rộng hoạt động giám sát, tham vấn tháng 1/2001 và tháng 4/2003 nhằm chỉ đạo cho việc nghiên cứu định lượng chính xác các nhân tố tác động, tháng 5/2004 đạo luật Basel II đã được chính thức công bố dựa trên ba vấn đề chủ yếu là: yêu cầu vốn tối thiểu, giám sát toàn diện và kỷ luật thị trường Khung vốn mới của Basel II được quy định theo ba nội dung:
Nội dung thứ nhất, tăng thêm tính nhạy cảm của khung vốn, gắn yêu cầu vốn
tối thiểu với những rủi ro, tổn thất kinh tế thực tế Các ngân hàng được chọn lựa quan điểm đánh giá rủi ro phù hợp và cam kết đã thực hiện các hình thức bảo hiểm cho vay và bảo hiểm tiền gửi ít phức tạp, cũng như sử dụng cơ chế kiểm soát đơn giản phù hợp với các quy tắc về mục đích vốn cho phép dễ dàng đánh giá chính xác chất lượng tín dụng Nếu phát hiện hoạt động của ngân hàng chứa đựng nhiều nguy cơ rủi ro tiềm ẩn cơ quan giám sát có thể yêu cầu phải xây dựng
Trang 37thêm hệ thống đo lường rủi ro tín dụng nội bộ (IRB) Ngoài ra, các ngân hàng cũng được quyền lựa chọn cách đánh giá rủi ro phù hợp khi xếp loại rủi ro tín dụng nhưng phải xác lập rõ trách nhiệm pháp lý nếu gây ra các tổn thất Đối với các rủi ro hoạt động, tùy chất lượng quản lý rủi ro các nhà giám sát có thể tiến hành tổ chức kiểm soát nội bộ ở một số khu vực có những rủi ro cá biệt;
Nội dung thứ hai, tăng cường chương trình giám sát thường xuyên các đánh giá nội bộ về toàn bộ các rủi ro Việc quyết định mức vốn tối thiểu cần thiết, điều chỉnh lĩnh vực hoạt động phải dựa trên đánh giá danh mục các hoạt động và các rủi ro theo từng ngân hàng riêng biệt Basel II khuyến nghị các nhà giám sát và các NHTM nên mở những cuộc đối thoại, cũng như mở rộng thêm sự tham gia của các tổ chức kiểm soát có uy tín để thống nhất các đánh giá nội bộ trong quá trình
đo lường và quản lý các rủi ro;
Nội dung thứ ba, thúc đẩy các ngân hàng quản lý thận trọng, Basel II yêu cầu các cơ quan giám sát ngân hàng phải chú ý: xác định chính xác và công bố các điểm giới hạn khả năng thị trường nhằm hạn chế đầu tư tín dụng tràn lan; Nâng cấp độ thời gian chuyển giao các tài liệu tài chính nhằm loại bỏ khả năng cố tình tạo ra các khoản cho vay tiềm ẩn lớn hơn vào trong vốn đầy đủ; Mở rộng thêm sự nhận thức của công chúng và sự tham gia toàn diện của các tổ chức thị trường vào các hoạt động của ngân hàng và kiểm soát rủi ro;
Nói chung, mục tiêu của Basel II nhằm khuyến khích các ngân hàng giới hạn các thước đo, đồng thời đề phòng động cơ cố tình mở rộng hình thái vốn thấp hơn yêu cầu Mặt khác dựa theo hệ thống đo lường rủi ro tín dụng nội bộ IRB, tùy vào độ chính xác của dữ liệu, phương pháp đánh giá và yêu cầu hoạt động, Basel
II tạo điều kiện để mỗi ngân hàng đều có thể xây dựng được hệ thống đo lường riêng để tự xác định yêu cầu vốn chính xác cho mình
Trang 38Tổng hợp tiến trình phát triển các tiêu chuẩn đánh giá an toàn vốn trên cơ sở rủi ro chỉ trọng theo các chuẩn mực Basel của BIS, có ba quy định cơ bản là:
Phương trình (1.1): Các chỉ tiêu xác định vốn tự có đầy đủ của Uûy ban Basel
− Theo hiệp ước Basel I
%8dụng)(tínchỉnhđiềuđã ro rủiTSC
cótựvốn
Tổng ro
rủisởcơtrên
cótựvốn lệ
vàdụng(tínchỉnhđiềuđã ro rủiTSC
cótựvốn
Tổng ro
rủisởcơ
trên
cótựvốn
động, hoạt dụng,(tínchỉnhđiềuđã ro rủiTSC
cótựvốn
Tổng ro
rủisởcơ
trên
cótựvốn
1.2.3.2 Các quy định pháp luật điều chỉnh các chuẩn mực đánh giá an toàn vốn trong nước
Ngay từ những năm 1991, khi Pháp lệnh Ngân hàng Việt Nam được ban hành NHNNVN đã rất quan tâm đến vấn đề đảm bảo an toàn vốn của các NHTM Một chương trình cải tổ khá toàn diện về các tiêu chuẩn an toàn vốn tự có đã được xây dựng, một số văn bản pháp lý đã được ban hành với các quy định khá chi tiết, như: Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/8/1999 và Quyết định số 381/2003/QĐ-NHNN ngày 23/4/2003 quy định tỷ lệ tối đa các nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, Quyết định số 492/2000/QĐ-NHNN5 ngày 28/11/2000 quy định về việc góp vốn mua cổ phần của TCTD, Quyết định số 296/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/8/1999 quy định về giới hạn cho vay đối với một khách hàng,…
Mặc dầu có nhiều tiêu chuẩn an toàn vốn tự có đã được xây dựng nhưng hầu hết đều chưa rõ ràng, khoảng cách so với các thông lệ quốc tế vẫn còn lớn Gần đây nhất, ngày 19/4/2005 Thống đốc NHNNVN đã ban hành Quyết định số 457/2005/QĐ-
Trang 39NHNN và Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, quy định rõ hơn về các tỷ lệ bảo đảm
an toàn trong hoạt động của các NHTM[25], trong đó tập trung chính vào 5 tỷ lệ là: 1- Về yêu cầu đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn, quy định các NHTM phải duy trì tỷ lệ vốn tự có tối thiểu trên tài sản có rủi ro đã được điều chỉnh là 8%;
2- Về yêu cầu đảm bảo giới hạn tín dụng, quy định tất cả các khoản cho vay, bảo lãnh nếu vượt quá 5% vốn tự có của NHTM đều phải được theo dõi, nếu vượt quá 10% phải được HĐQT thông qua; Đối với các khách hàng có quan hệ kinh tế phụ thuộc các khoản cho vay phải được đánh giá thận trọng; Quy định giới hạn trên vốn tự có của NHTM cụ thể: đối với một khách hàng tổng dư nợ cho vay không được vượt quá 15%, tổng mức cho vay và bảo lãnh không được vượt quá 25%ù; đối với một nhóm khách hàng tổng dư nợ cho vay không được vượt quá 50%, tổng mức cho vay và bảo lãnh không được vượt quá 60%; Quy định giới hạn cho thuê tài chính trên vốn tự có của NHTM, tổng mức cho thuê tài chính không được vượt quá 30% đối với một khách hàng và không được vượt quá 80% đối với một nhóm khách hàng;
3- Về yêu cầu đảm bảo khả năng chi trả, quy định:
+ Đối với khả năng thanh toán chung, quy định tỷ lệ tối thiểu giữa giá trị các
tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và các tài sản “Nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong 1 tháng tiếp theo là 25%; tỷ lệ tối thiểu chung trong thời gian 1 tháng là 1;
+ Đối với tài sản “Có” dùng thanh toán ngay, quy định chứng khoán chính phủ
dưới 1 năm là 100% nếu trên 1 năm là 95%, chứng khoán của TCTD dưới 1 tháng là 100% nếu trên 1 tháng là 95%, còn nếu trên 1 năm là 90%, các hối phiếu có thời gian còn lại chấp nhận thanh toán dưới 1 tháng là 100%; Cho vay có bảo đảm và cho thuê tài chính trong thời hạn 1 tháng là 80%, nếu không có bảo đảm là 75%; Đối với tiền mặt và các chứng khoán khác dưới 1 tháng bằng 100%, từ 1 tháng đến 1 năm là 90%, trên 1 năm 85%;
Trang 40+ Đối với tài sản “Nợ” phải thanh toán, quy định đối với các khoản tiền gửi
không kỳ hạn của tổ chức, cá nhân được tính bằng 15%;
+ Ngoài ra các NHTM còn phải xây dựng bảng phân tích các tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và các tài sản “Nợ” phải thanh toán đối với từng loại đồng tiền theo từng chặng thời gian: trong ngày hôm sau, từ 2-7 ngày, từ 8 – 30 ngày, từ 1 – 3 tháng, từ 3 – 6 tháng
4- Về tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, quy định chung đối với các NHTM tối đa là 40% Trong đó nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay bao gồm: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, vốn phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn, phần chênh lệch dương giữa số tiền vay và cho vay các TCTD khác có kỳ hạn dưới 12 tháng; 5- Về giới hạn góp vốn mua cổ phần, quy định mức đầu tư vào một khoản đầu tư thương mại không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, của quỹ đầu
tư hoặc của dự án đầu tư; tổng mức đầu tư không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của NHTM Các NHTM cũng có thể cho vay hoặc góp vốn mua cổ phần vượt các mức quy định trên nếu tuân thủ tốt các tỷ lệ khác, như: về bảo đảm an toàn, có tỷ lệ nợ xấu (NPL) dưới 3% tổng dư nợ, có hệ thống quản lý tài sản “Có” và tài sản “Nợ” tốt,… nhưng vẫn phải được NHNN xem xét cho phép;
6- Về xếp loại giá trị tài sản có rủi ro, quyết định 457/2005/QĐ-NHNN quy định các hệ số chuyển đổi và hệ số rủi ro, cụ thể:
+ Đối với tài sản có rủi ro của các cam kết ngoại bảng, quy định:
Đối với các cam kết tài trợ, bảo lãnh cho khách hàng sẽ áp dụng bốn mức hệ số chuyển đổi là: 100%, 50%, 20%, 0%, và áp dụng ba mức hệ số rủi ro là: 0% với tiền mặt, 50% với tài sản có đảm bảo, còn lại áp dụng 100%;
Đối với các hợp đồng giao dịch lãi suất, áp dụng hệ số chuyển đổi từ 0,5% - 1% cho loại dưới 2 năm và cộng thêm 1% cho mỗi năm tiếp theo;