Để góp phần mô tả thực trạng bệnh răng miệng, sự hiểu biết về chăm sóc sức khoẻ răng miệng ở đối tượng học sinh của trường tiểu học và góp phần đưa ra bằng chứng về xu hướng mắc các bệnh
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh răng miệng là bệnh phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, là những
bệnh dễ mắc từ rất sớm ngay từ khi mọc răng Ở nước ta, theo số liệu điều tra
cơ bản của viện Răng – Hàm - Mặt Hà Nội (2001) tỷ lệ trẻ em bị sâu răng khoảng 65%, viêm lợi, viêm quanh răng chiếm từ 95% đến 99,5% đĐiều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2001 cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh răng miệng (RM) ở học sinh tiểu học cao đặt biệt từ (6- 102 tuổi) cao, tỷ lệ nàytrẻ
Năm 1999-2001 Viện răng hàm mặt Hà Nội kết hợp với trường đại học Nha khoa Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khoẻ răng miệng trên toàn quốc và kết quả là 83.7% trẻ em 6 tuổi sâu răng sữa; 56,6% trẻ em 12 tuổi sâu răng vĩnh viễn; trẻ 6-8 tuổi 25,5% có cao răng, 42,7% có chảy máu lợi; trẻ 12-
14 tuổi 78,4% có cao răng, 71,4% có chảy máu lợi.Trong buổi tổng kết chương trình Nha học đường năm 2005 vừa qua tại Hà Nội, GS.TS Trần Văn Trường (Chủ tịch Hội RHM Việt Nam, Chủ nhiệm chương trình Nha học đường toàn quốc) [.10.] đã đưa ra những số liệu thống kê về tình hình chăm sóc răng miệng của Việt Nam với những con số đáng giật mình cùng với lời khuyến cáo "nếu không chăm sóc dự phòng cho cộng đồng thì sâu răng sẽ là một vấn đề lớn về bệnh tật của xã hội và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng
Trang 2đồng" Theo báo cáo này thì tỷ lệ sâu răng sữa ở trẻ em đang ở tuổi đến trường (từ 6 - 8 tuổi) là 85% Theo kết quả điều tra, các em ở độ tuổi vào lớp
1, trong 10 em thì chỉ giỏi lắm là được 2 em không bị sâu răng Bên cạnh đó, tình hình các loại bệnh quanh răng cũng không sáng sủa gì hơn Trẻ em từ 6 -
8 tuổi có đến 42,7% em mắc bệnh và khi đạt tuổi 15 - 17, con số này là 67% Điều đó cho thấy bệnh sâu răng, viêm lợi ở trẻ em đang ở mức độ báo động, đòi hỏi có những biện pháp cấp thiết trong phòng và điều trị bệnh
Tại sao chúng ta tiến hành nghiên cứu này, ở đối tượng này, tại trường tiểu học Tam Hiệp?
Để góp phần mô tả thực trạng bệnh răng miệng, sự hiểu biết về chăm sóc sức khoẻ răng miệng ở đối tượng học sinh của trường tiểu học và góp phần đưa
ra bằng chứng về xu hướng mắc các bệnh răng miệng học sinh tiểu học Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào chỉ rõ vấn đề này tại trường tiểu học Tam Hiệp – Thanh Trì - Hà Nội, một xã ngoại thành Hà Nội, nơi giáp ranh giữa thành thị và nông thôn Việc xác định thực trạng vệ sinh răng miệng ở trẻ em trước khi thực hiện chương trình NHĐ và đánh giá mức độ tác động của việc giáo dục vệ sinh răng miệng đến tình trạng vệ sinh răng miệng ở học sinh là rất cần thiết
Câu hỏi nghiên cứu;
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng bệnh răng miệng và các yếu tố liên quan của học sinh trường tiểu học Tam Hiệp – Thanh Trì – Hà Nội, năm 2009” với mục tiêu sau :
1 Mô tả thực trạng bệnh răng miệng của học sinh trường tiểu
họcTam Hiệp, năm 2009.
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng và đề xuất một
Trang 3CÂY VẤN ĐỀ
Trang 4CHƯƠNG 1:
Bệnh RM ở học sinh
Không khám RM định kỳ
Vệ sinh RM kém
Chế độ ăn
và thói quen xấu
Trang 51 1 Cấu tạo của răng:
Răng được tạo thành bởi thân răng và chân răng Thân răng là phần lộ ra trong khoang miệng, phần cắm trong xương máng răng gọi là chân răng.Bộ phận giáp ranh giữa thân răng và chân răng gọi là cổ răng.Quan sát theo mặt ngang răng gồm bốn bộ phận: Men răng, chất răng, xương răng và tuỷ răng [12]
- Men răng: Lớp cứng bao phủ trên thân răng có màu trắng sữa hoặc màu vàng nhạt, màu sắc của men răng có liên quan tới độ khoáng chất có trong men răng
- Cement chân răng: phần cứng phủ trên bề mặt của chân răng
- Ngà răng: Phần cứng nằm ở trong men răng và tạo thành chủ thể của răng bảo vệ tủy răng
- Tủy răng: Nằm trong hộp cứng của ngà răng Tuỷ răng là mô liên kết gồm mô thần kinh, mạch máu, bạch huyết và ít tổ chức sợi.Tuỷ răng là trung tâm dinh dưỡng, cảm giác và miễn dịch của răng
Trang 6Hình 1.1: Cấu tạo giải phẫu răng
1 2 Thời kỳ mọc răng:
Mỗi người trong cuộc đời sẽ trải qua hai lần mọc răng đó là thời kỳ mọc răng sữa và thời kỳ mọc răng vĩnh viễn Có 20 răng sữa, mỗi hàm 10 răng, được chia làm 3 nhóm: 8 răng cửa, 4 răng nanh, 8 răng hàm Quá trình canxi hóa răng sữa bắt đầu từ tháng thứ 4 của thời kỳ bào thai, tới cuối tháng thứ 6 thì tất cả 20 răng sữa đã bắt đầu canxi hóa Răng số 6 vĩnh viễn bắt đầu được hình thành và canxi hóa từ lúc trẻ lọt lòng, tới 2 tuổi rưỡi thì tất cả các mầm răng vĩnh viễn đã được hình thành và bắt đầu canxi hóa Tuổi mọc răng sữa tùy từng trẻ, có trẻ 4 tháng đã bắt đầu mọc răng cửa dưới nhưng có trẻ 15 tháng mới bắt đầu mọc răng Từ 6-12 tuổi là thời kỳ thay răng, răng sữa dần dần tự rụng đi và thay răng, trẻ mọc răng vĩnh viễn số 6 lúc 6 tuổi, sau đó các răng sữa lần lượt được thay, bắt đầu từ răng cửa giữa hàm dưới, răng cuối cùng được thay là răng số 5, (khoảng 12 tuổi) cho tới khi răng hàm mọc lần thứ hai thì trong khoang miệng có tổng cộng 28 răng, từ 18-25 tuổi mới mọc răng hàm lần thứ ba
Trang 71 3 Chức năng của răng:
Chủ yếu là chức năng nhai giúp tiêu hoá thức ăn,.Các răng khác nhau có chức năng khác nhau: răng cửa dùng để cắt thức ăn, răng nanh nằm ở góc miệng có chức năng xé thức ăn, răng hàm có tác dụng nghiền nát thức ăn
pPhát âm: Răng có liên quan mật thiết đến ngôn ngữ và phát âm.Răng nằm giữa môi và lưỡi, khi phát âm chúng phối hợp với nhau không thể thiếu bộ phận nào.Các răng phía trước có ảnh hưởng rất lớn đối với ngôn ngữ và phát âm, khi bị mất răng cửa do không thể khống chế tốt các luồng hơi phát ra, khi nói sẽ thoát hơi, nếu hoạt động của lưỡi mất
đi sự hạn chế của răng trước cũng ảnh hưởng tới độ chính xác của việc phát âm Đối với trẻ nhỏ nếu răng sữa bị hỏng sớm, phải nhổ, trẻ
có thể nói ngọng Hơn nữa răng còn có ảnh hưởng quan trọng đến vẻ đẹp của khuôn mặt của mỗi người
Thêm vào đó răng sữa có công dụng giúp răng vĩnh viễn mọc đều hơn, không chen chúc Thông thường, một răng sữa mọc lên và đứng trên cung hàm Sau vài năm, chân răng bắt đầu tiêu dần, chuẩn bị nhường chỗ cho một mầm răng vĩnh viễn sẽ trồi lên ngay đúng vị trí đó Nếu răng sữa bị hỏng và phải nhổ sớm, mầm răng vĩnh viễn bên dưới chưa lớn kịp nên không mọc ngay được,
lỗ nhổ răng đó bị bít lại và cứng chắc Mầm răng vĩnh viễn mọc âmlên sẽ gặp khó khăn, mọc chậm và đôi khi mọc lệch và thẩm mỹ
1 4 Các bệnh về răng miệng
Các bệnh răng miệng phổ biến nhất là sâu răng, viêm tuỷ răng,
vviêm lợi., viêm quanh răng Những bệnh này thường không nguy
Trang 8hiểm đến tính mạng nhưng gây đau đớn khiến mất ăn, mất ngủ, ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động hoặc gây ảnh hưởng đến tâm lý trong những trường hợp răng vẩu, răng bị lệch lạc
Trang 91 4.1 Bệnh sâu răng:
Sâu răng là bệnh đặc thù tại chỗ liên quan đến sự phá huỷ của mô răng
do các sản phẩm chuyển hoá từ vi khuẩn làm cho tổ chức cứng của răng bị phá huỷ tạo thành lỗ sâu trên răng
Sâu răng là bệnh rất phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi
Trang 101.4.1.1 Phân loại sâu răng:
Sâu răng được chia làm 2 loại: sâu men, sâu ngà
- Sâu men: Có điểm đen ở răng, không đau, tiến triển chậm
1.4.1.2 Nguyên nhân gây sâu răng:
- Vi khuẩn: vi khuẩn gây sâu răng chủ yếu là các loại vi khuẩn có thể gây chua: Streptococcus mutans
- Thực phẩm: những thực phẩm có đường, đặc biệt là mía có tác dụng gây sâu răng rõ rệt nhất Các loại thực phẩm ngọt được tinh chế có độ dính như bánh ngọt, kẹo, đường, mạch nha càng dễ bám đọng lại trên các bề mặt răng, lên men và gây chua thúc đẩy quá trình sâu răng
- Vệ sinh răng miệng kém: Trên 60% trẻ em không bao giờ được đi khám răng miệng (bao gồm cả học sinh tiểu học và trung học), trên 50% người lớn không bao giờ đi khám răng miệng Một nguyên nhân nữa là do người dân thiếu hiểu biết về phòng bệnh răng miệng, thiếu bác sỹ răng hàm mặt, nhiều tuyến huyện-xã còn “trắng”
về bác sĩ răng hàm mặt bên cạnh một thực trạng là nhận thức của mọi người về vấn đề này còn quá đơn giản
- Nhân tố kí chủ:1.4.1.3 Sinh bệnh học sâu răng:
Trang 11∗+ Răng: hình thái, vị trí và kết cấu của răng có liên quan rất nhiều đến sự phát sinh của bệnh sâu răng Sâu răng dễ phát sinh ở các khu vực dễ đóng mảnh vụn nhỏ của thức ăn như các chỗ lõm của mặt trên của răng, phần cổ răng và các kẽ răng.
∗+ Nước bọt: có tác dụng tự làm sạch răng, khi lượng bài tiết của nước bọt ít thì số lượng răng bị sâu tăng lên.
1.4.1.3 Sinh bệnh học sâu răng:
Người ta cho rằng sâu răng là một bệnh đa nguyên nhân, trong đó vi khuẩn đóng vai trò quan trọng.Ngoài ra còn phải có các yếu tố thuận lợi như chế độ ăn nhiều đường, VSRM kém, tình trạng sắp xếp của răng khấp khểnh, chất lượng men răng kém và môi trường tự nhiên- nhất là môi trường nước ăn có hàm lượng fluor thấp (hàm lượng fluor tối ưu là 0,8-0,9 ppm/lit ) đã tạo điều kiện cho răng sâu phát triển
Trước năm 1970, căn nguyên gây sâu răng được giải thích bằng
sơ đồ Key:
Thức ăn Vi
khuẩn Men
răng
Trang 12Sau năm 1975 nguyên nhân của sâu răng được giải thích bằng sơ đồ White như sau:
Trang 13- Răng: tuổi, fluor, dinh dưỡng
Tóm tắt cơ chế sâu răng như sau:
Sâu răng = Hủy khoáng > tái khoáng ( Cơ chế hoá học và vật lý sinh học)
Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng:
- Mảng bám vi khuẩn
- Chế độ ăn nhiều đường
- Nước bọt thiếu hay axít
- Axít từ dạ dày tràn lên miệng
PH< 3
Các yếu tố bảo vệ:
- Nước bọt
- Khả năng kháng axit của men răng
- Flour có ở bề mặt men răng
- Trắm bít hố rãnh
Trang 14- Độ Ca++, NPO4 quanh răng
- PH > 5,5
Trang 151.4.2 Viêm tủy răng :
Viêm tuỷ răng thường xẩy ra khi bị sâu răng mà không được điều tri hợp lý, gồm:
∗- Tiền tủy viêm: Đau buốt khi ăn, uống chua nóng, lạnh, đau buốt kéo dài khi đã ngừng ăn
∗- Tủy viêm cấp: Đau buốt tự nhiên mặc dù không ăn uống gì, đau
dữ dội, đau liên tục, đau lan một nửa mặt, đau nửa đầu
*- Tủy viêm mãn tính: Cơn đau không rõ liên tục kéo dài
*- Tủy viêm hoại thư: Tủy đã chết, không đau, màu răng xám, mùi hôi thối, nếu không được điều trị tích cực và đúng phương pháp sẽ dẫn đến viêm cuống răng, viêm khớp răng và phải nhổ răng
1.4.3 Bệnh viêm lợi::
Viêm lợi là bệnh viêm nhiễm xảy ra ở vùng xung quanh răng gây ra bởi
vi khuẩn tích tụ trong rãnh giữa chân răng và lợi, hình thành cao răng, chúng tiết ra độc tố làm tổn thương lợi cuối cùng dẫn tới viêm lợi
Trang 16INCLUDEPICTURE
"http://nhakhoa.net.vn/userfiles/images/nha-chu-abcess-1.jpg" \* MERGEFORMATINET
Hình 1.3: Một trường hợp viêm lợi
Trang 171.4.2 Viêm tủy răng :
Viêm tuỷ răng thường xẩy ra khi bị sâu răng mà không được điều tri hợp
lý, gồm: Tiền tủy viêm- Tủy viêm cấp- Tủy viêm mãn tính- Tủy viêm hoại tử
1.4.3 Bệnh viêm lợi::
Viêm lợi là bệnh viêm nhiễm xảy ra ở vùng xung quanh răng gây ra bởi
vi khuẩn tích tụ trong rãnh giữa chân răng và lợi, hình thành cao răng, chúng tiết ra độc tố làm tổn thương lợi cuối cùng dẫn tới viêm lợi
INCLUDEPICTURE
"http://nhakhoa.net.vn/userfiles/images/nha-chu-abcess-1.jpg" \* MERGEFORMATINET
Hình 1.3: Một trường hợp viêm lợi
1 4.3.1 Phân loại:
* Bệnh viêm lợi bao gồm:
- Viêm lợi mạn tính: Lợi đỏ tươi hoặc đỏ đậm, đầu lợi chảy máu, phù, tổ chức lợi mềm yếu, khám thấy chảy máu có thể chảy máu tự phát
Trang 18- Viêm lợi cấp tính: Viêm lợi hoại tử cấp, viêm lợi đa phát cấp tính
* + Viêm lợi hoại tử cấp tính: Phát bệnh nhanh, trong một hai ngày lợi bị hoại tử rộng, lợi đau, chảy máu, miệng hôi, có thể có triệu chứng toàn thân như hạch bạch huyết sưng to, sốt, cơ thể mệt mỏi
* + Viêm lợi đa phát cấp tính: Phát bệnh nhanh, lợi sưng đỏ, hình thành mủ, đau, có thể có các triệu chứng toàn thân như sốt, bạch cầu tăng cao, hạch bạch huyết sưng to
1.4.3.2 Nguyên nhân:
Có nhiều nguyên nhân đưa đến viêm lợi như: Bệnh về máu, bệnh đường tiêu hoá, nhiễm độc, thiếu vitamin, thiếu sinh tố, sang chấn khớp cắn, vi khuẩn và vệ sinh răng miệng kém.Nhưng nguyên nhân chính là do vi khuẩn
và vệ sinh răng miệng kém tạo mảng bám Mảng bám răng được hình thành
và phát triển khi môi trường trong miệng giàu chất dinh dưỡng nhất là đường Saccharose Lúc đầu mảng bám vô khuẩn sau vi khuẩn xâm nhập và phát triển tạo thành cao răng Cao răng đầu tiên là cặn lắng của nước bọt bám vào cổ răng dần dần tách lợi ra khỏi cổ răng gây viêm lợi thể nhẹ, nhìn thấy lợi cổ răng có màu đỏ sẫm, chạm vào dễ chảy máu, máu chảy ra đọng lại ở cổ răng
để lại xác hồng cầu có chất sắt tạo thành cao răng có màu xám bám rất chắc vào cổ răng, tách lợi ra càng nhanh tạo thành các túi mủ Khi túi mủ nông, mủ
có thể thoát ra khỏi cổ răng nhưng khi túi mủ sâu mủ không thể thoát ra được nên tạo thành các ổ mủ cạnh chân răng hoặc cuống răng gây đau nhức, khó chịu, răng lung kay, đôi khi có cảm giác chồi lên nếu không được điều trị kịp thời răng sẽ phải nhổ
5.Thực trạng bệnh răng miệng ở Việt Nam và trên thế giới:
5.1 Thực trạng bệnh răng miệng trên thế giới:
5.1.1 Bệnh sâu răng
Trang 19Ở các nước công nghiệp hoá cao: Từ năm 1940 đến 1960 tình hình sâu răng ở trẻ em các nước này rất nghiêm trọng Ở hầu hết các nước, chỉ số DMFT ở mức rất cao (trong khoảng 7,4- 12) nghĩa là trung bình mỗi trẻ em
có từ 7,4- 12 chiếc răng sâu Đến những năm 1979 đến 1982, chỉ số này đã giảm xuống
Bảng 1 Bảng chỉ số DMFT ở trẻ dưới 12 tuổi ở các nước công nghiệp
Trang 20Bảng 2 Bảng chỉ số DMFT ở trẻ dưới 12 tuổi ở các nước đang phát
triển
DMFT
Bảng 3.Bảng chỉ số DMFT ở trẻ dưới 12 tuổi ở khu vực Đông Nam Á,
Thái Bình Dương năm 1994 và 2000-2003
1994
Năm 2003
2000-Trung Quốc
Triều Tiên
Trang 225.2 Thực trạng bệnh răng miệng ở Việt Nam:
Ở nước ta, bệnh sâu răng có tỷ lệ cao hơn 70% và có khuynh hướng tăng cao trong những năm gần đây.Đã có nhiều điều tra cơ bản về bệnh răng miệng ở các địa phương và trên toàn quốc.
Theo kết quả điều tra của Viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia, ngay ở độ tuổi “đầu đời” từ 6-8 tuổi, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của trẻ đã lên đến 25,4% Các bệnh về răng miệng còn đáng báo động hơn: Tỷ lệ mắc các bệnh về viêm lợi, viêm quanh răng ở trẻ em độ tuổi này đến 42,7%.
Bác sĩ Trương Trọng Hoàng (Phó Giám đốc Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe TP.HCM) cho biết: “Bên cạnh các yếu tố khách quan như độ flour trong nước chỉ bằng một nửa tiêu chuẩn quốc
tế, mạng lưới bác sĩ nha khoa còn mỏng… không thể không nhắc tới một yếu tố làm đau đầu: Ý thức vệ sinh răng miệng của người dân rất thấp Nhiều đợt khảo sát của viện Răng Hàm Mặt và Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe đều mang đến kết quả: Trên 50% người dân không
hề biết đến thói quen đi khám răng định kỳ!”.
Năm 1989 tại thành phố Hồ Chí Minh, trẻ 12 tuổi bị sâu răng 79,9%; chỉ số DMFT là 3,14 thì đến năm 1995 tỷ lệ này là 88,49% và chỉ số DMFT là 2,09.
Năm 1992, Võ thế Quang thông báo tình trạng sâu răng qua điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc cho thấy sâu răng vĩnh viễn ở trẻ em có xu hướng tăng 12 tuổi 57,33%, 15 tuổi 60% Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tăng theo tuổi và tăng theo năm.
Trang 23Tại Cần Thơ năm 1995 tỷ lệ trẻ dưới 12 tuổi bị sâu răng là 83,4%, chỉ số DMFT là 2,7 Ở đồng bằng sông Cửu Long trẻ dưới 6 tuổi bị sâu răng chiếm 97,5%, chỉ số DMFT là 9,96; trẻ 12 tuổi bị sâu răng 64% và chỉ số DMFT là 2,96.
Năm 1999 Đào Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Thắng, Bùi Sỹ Đông, Nguyễn Thị Hương, Đỗ Thị Thuỳ đã thông báo kết quả điều tra răng miệng của học sinh tiểu học các dân tộc Yên Bái, có 41,79% sâu răng, 51,87 mắc bệnh viêm lợi [6] Cũng trong năm này Nguyễn Lê Thanh đã thông báo kết quả điều tra răng miệng của học sinh lứa tuổi 12 tại các trường trung học cơ sở quận Cầu Giấy có 37,9% sâu răng, 77,9% bị bệnh quanh răng Theo số liệu điều tra cơ bản của viện Răng – Hàm - Mặt Hà Nội (2001) tỷ lệ trẻ em bị sâu răng khoảng 65%; viêm lợi, viêm quanh răng chiếm từ 95% đến 99,5% Điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm
2001 cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh RM ở học sinh tiểu học cao đặc biệt từ 6- 12 tuổi, tỷ lệ trẻ 6 tuổi mắc là 83,7%, tỷ lệ trẻ 12 tuổi mắc là 56,6% Tỷ
lệ trẻ có cao răng là 25,5% ở trẻ 6-8 tuổi, trẻ 9-11 tuổi là 56,8%, trẻ 12-14 tuổi là 78,4% Tỷ lệ trẻ có chảy máu lợi: t ừ 6-8 tuổi 42,7%; 9-11 tuổi 69,2%; 12-14 tuổi 71,4%
Năm 2004 Lê Ngọc Tuyến, Nguyễn Quốc Trung, Trần Thị Lan Anh
đã thông báo kết quả điều tra răng miệng của học sinh tiểu học tại Hà Nội có 80% sâu răng sữa, 30,95% trẻ em sâu răng vĩnh viễn Cũng trong năm 2004 theo điều tra của Nguyễn Lê Thanh tại thị xã Bắc Cạn có 62,6
% trẻ bị sâu răng, 78,5% trẻ bị viêm lợi.
Khảo sát của Viện Răng-Hàm-Mặt cho thấy: Năm 2005 nếu ở độ tuổi 6-8, tỷ lệ bị sâu răng vĩnh viễn chiếm khoảng 25% thì đến độ tuổi 9-
10, tỷ lệ này đã tăng lên hơn 54% Và trong tuổi 15-17, con số này đã lên đến mức báo động với hơn 68,6% Tỷ lệ trẻ em mắc bệnh về răng miệng
là 42,7% Với người trên 45 tuổi, tỷ lệ viêm lợi và viêm quanh răng lên đến trên 93% - một tỷ lệ cao vào bậc nhất trên thế giới.
56 Tác hại của bệnh răng miệng:
Trang 24Nếu các bệnh răng miệng không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm như viêm tủy răng, viêm tấy lan rộng, viêm khớp, viêm thận… Hậu quả là gây đau nhức, không ăn uống được và chi phí chữa răng sẽ rất tốn kém Nghiêm trọng hơn sâu răng dẫn đến viêm mô chân răng, đầu răng và lợi, nếu không chữa trị kịp thời viêm có thể lan rộng đến xương hàm, gây viêm tuỷ xương xương hàm nặng có thể dẫn tới tử vong Sâu răng không được chữa trị kịp thời còn làm răng bị khuyết tổ hỏng chân răng dẫn đến gãy răng không những ảnh hưởng tới việc ăn uống mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ và vẻ đẹp của khuôn mặt.Viêm lợi nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây ra viêm tổ chức lợi dẫn đến gãy răng, ảnh hưởng tới chức năng nhai và nói.Khi chức năng nhai bị ảnh hưởng có thể dẫn tới rối loạn chức năng tiêu hoá và chức năng của dạ dày Ngoài ra những người mắc bệnh
về lợi nguy cơ sinh con nhẹ cân hoặc suy dinh dưỡng bào thai tăng gấp 6-10 lần so với những người không bị bệnh này
1.67 Điều trị các bệnh răng miệng:
1 67 1 Bệnh sâu răng, viêm tuỷ răng:
Sâu răng được chia làm 2 loại:
- Toàn thân: Tuỳ theo từng nguyên nhân điều trị theo cách khác nhau
- Tại chỗ:
*+ Với sâu men, sâu ngà: Làm sạch lỗ sâu, khoan tạo lỗ hàn, sát khuẩn
và hàn bằng xi măng, nhựa hoá học, bột bạc
*+ Với viêm tủy cấp giai đoạn đầu: Điều trị bảo tồn thử, nếu bệnh nhân vẫn đau phải đặt thuốc diệt tủy, lấy tủy, làm sạch và hàn
Trang 25+ * Với tủy hoại thư phải điều trị để lấy hết tủy đã thối mủ, làm sạch ống tủy, buồng tủy nhiều lần rồi hàn thử, hàn vĩnh viễn.
1.78 Dự phòng bệnh răng miệng:
Bệnh răng miệng là bệnh có tỷ lệ mắc cao trên thế giới, chi phí để điều trị rất tốn kém Theo báo cáo của WHO 1978, hàng năm nước Mỹ tốn 9 tỷ USD cho việc chữa răng và phí tổn hơn 10 USD cho 1 răng trẻ em Tại Anh chi phí cho điều trị răng 1 năm là 180 triệu bảng Tại Pháp là 8 tỷ Franc và 25 giờ công lao động Vì vậy ở các nước phát triển rất coi trọng công tác phòng chống các bệnh răng miệng Đối với các em học sinh lứa tuổi học đường, để chuẩn bị cho các em có một hàm răng vĩnh viễn khỏe đẹp trong tương lai thực
sự chúng ta phải chăm sóc bộ răng cho các em ngay từ thời kỳ bắt đầu mọc răng vĩnh viễn Vì vậy, chăm sóc răng miệng là một trong những biện pháp thiết thực để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh
1 78 1 Dự phòng sâu răng ,viêm tủy :
Năm 1984, WHO đã đưa ra các biên pháp phòng bệnh sâu răng bao gồm:
- Sử dụng flour:
*+ Flour hoá nguồn nước sinh hoạt với độ tối ưu là 0,7- 1,2 mg F/lit nước tuỳ thuộc vào khí hậu
Trang 26* + Đưa Flour vào muối với độ tập trung là 250 mg F/1kg muối.
Biện pháp phòng bệnh viêm lợi chủ yếu là VSRM, bao gồm:
- Vệ sinh cá nhân : Chải răng đúng cách - mỗi ngày chải 3 lần, mỗi lần chải
3 phút, chải 3 mặt của răng với bàn chải lông mềm Chải răng ngay sau khi ăn
- Vệ sinh tại phòng khám răng như lấy cao răng Khám định kỳ 6 tháng 1 lần để phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời
1 78 3 Can thiệp dự phòng bệnh răng miệng trên Thế giới và ở Việt Nam:
1 78 3.1 Can thiệp dự phòng bệnh răng miệng trên Thế giới:
Ở các nước công nghiệp hoá cao người ta thường áp dụng các biện pháp như flour hoá nước uống, súc miệng nước flour, dùng kem đánh răng có flour, hướng dẫn VSRM đúng, trám bít hố rãnh và xây dựng chế độ ăn hợp lý
Trang 27Ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, chương trình chăm sóc phòng chống các bệnh răng miệng cũng rất được chú trọng Tại Malaysia đã có nhiều dự án đưa flour vào nguồn nước ăn cho cộng đồng, đã xây dựng các phòng chăm sóc răng miệng cố định tại trường tiểu học.Tại Trung Quốc, người ta coi trọng hoạt động tuyên truyền, phát động các chiến dịch truyền thông phòng bệnh rầm rộ trong cả nước.
1 7.3.2 Can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở Việt Nam:
Ở nước ta năm 1960, phòng nha khoa tây bắc thông báo về đợt vận động tuyên truyền phòng bệnh răng miệng 2 tháng trong học sinh và nhân dân của phòng nha khoa Thái Mèo [8] Năm 1968, Nguyễn Dương Hồng đề nghị mô hình dự phòng chăm sóc răng miệng bao gồm tuyên truyền và hướng dẫn cách đánh răng [5] Tới năm 1980 Võ Thế Quang và Nguyễn Văn Cát tổ chức được một số điểm nha học đường lẻ tẻ ở miền Nam và miền Bắc [1] Năm
1991, sau khi tiến hành điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc, Trần Văn Trường và Lâm Ngọc Ân [10] đặt việc chăm sóc răng miệng trẻ em học đường là nhiệm vụ trọng tâm chiến lược của ngành y tế Từ đó đến nay chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng được triển khai rầm rộ đặc biệt là chương trình nha học đường đã được triển khai tích cực Các nội dung của chương trình nha học đường bao gồm:
- Giáo dục nha khoa: tuyên truyền giáo dục kiến thức nha khoa giúp học sinh hiểu biết về các bệnh răng miệng cách phòng chống Hướng dẫn học sinh chải răng đúng cách
- Súc miệng bằng dung dich flour 0,2% trong thời gian 2 phút, 1 tuần 2 lần tại trường
- Dự phòng lâm sàng: Khám định kỳ, phát hiện sớm và điều trị kịp thời sâu răng và viêm lợi Trám bít hố rãnh, mặt nhai phòng sâu răng Nhổ thay răng sữa
Trang 28CHƯƠNG 2 :
Trang 29ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2 1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm: Trường tiểu học Tam Hiệp - Xã Tam Hiệp - Thanh Trì - Hà Nội
- Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành tháng 12 năm 2009
2 2 Đối tượng nghiên cứu:
- Toàn bộ 630 học sinh trường tiểu học Tam Hiệp- Thanh Trì- Hà Nội
- Các phụ huynh học sinh lớp 1 tổng số 140
Tiêu chuẩn lựa chọn:
• Tất cả học sinh có mặt thuộc biên chế của Trường tiểu học có danh sách chính thức theo lớp học bao gồm cả nam và nữ có độ tuổi từ 6 - 10 tuổi
• Những trường hợp ốm do tất cả các nguyên nhân phải nghỉ học sẽ được khám tại nhà
• Người chăm sóc trực tiếp học sinh khối lớp 1 (Bố mẹ, ông bà…)
Tiêu chuẩn loại trừ:
Không thuộc biên chế là học sinh chính thức của trường
Không phải là người chăm sóc trực tiếp học sinh
2 3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1.Thiết kế nghiên cứu:
Áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hai phương pháp định lượng và định tính
2.3.2 Mẫu nghiên cứu:
Trang 30Toàn bộ 630 học sinh của trường sẽ được chọn vào mẫu nghiên cứu Mẫu và phương pháp chọn mẫu của nghiên cứu ngang
Áp dụng theo công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu ngang mô tả như sau:
2
2 ) 2 / 1 (
) 1 (
d
p p Z
Thay vào công thức trên ta có cỡ mẫu là n = 217
2 4 Nội dung nghiên cứu:
- Phân bố giới tính, tuổi của các em học sinh trường tiểu học Tam Hiệp
- Tình trạng mắc bệnh răng miệng của hoc sinh trường tiểu học Tam Hiệp
Trang 31- Các yếu tố liên quan đến tình trạng mắc bệnh răng miệng của học sinh tiểu học Tam Hiệp
2 - Tình trạng mắc bệnh răng miệng của hoc sinh trường tiểu học Tam Hiệp
5 Phương pháp thu thập số liệu:
Qúa Quá trình thu thập số liệu được tiến hành qua 2 bước
Bước 1: Thu thập số liệu qua phỏng vấn như sau:
Số liệu thu thập được thông qua bộ câu hỏi tự điền và khám phát hiện
* Bộ câu hỏi sẽ được phát cho các em học sinh, có hướng dẫn cách trả lờiSau khi phát bộ câu hỏi cho các em học sinh nhóm nghiên cứu cùng với
cô giáo chủ nhiệm hướng dẫn các em cách trả lời ngay trên lớp
Riêng đối với các em học sinh lớp 1 vì các em còn nhỏ nên nhóm nghiên cứu chỉ phát bộ câu hỏi phỏng vấn phụ huynh
Giám sát viên là các Cô giáo chủ nhiệm và nhóm giám sát viên của nghiên cứu sẽ thu lại bộ câu hỏi đã được trả lời
Trước khi nhận lại bộ câu hỏi, Giám sát viên cùng cô giáo chủ nhiệm kiểm tra lại bộ câu hỏi về các thông tin đã được trả lời Nếu phát hiện sai sót hoặc thiếu thông tin, giám sát viên và cô giáo sẽ phải gặp lại học sinh để các
em tiếp tục hoàn thiện bộ câu hỏi phỏng vấn đó
• Đối với các bậc phụ huynh, nhóm nghiên cứu viên gửi bộ câu hỏi và hướng dẫn điền thông tin, lợi ích của việc điều tra này đối với con họ qua học sinh và hẹn sau 2 ngày sẽ nộp theo yêu cầu của giáo viên chủ nhiệm lớp
• Thảo luận nhóm Phu huynh và Y tế học đường : 3 nhóm x 8 = 24 người
Trang 32Bước 2: Thu thập số liệu qua Khám lâm sàng như sau:
* Tổ chức:
Tiếp xúc ban giám hiệu trường để họ tạo điều kiện cho việc khám
Thành lập nhóm cán bộ chuyên ngành RHM gồm các Bác sĩ, y tá và các kỹ thuật viên, các điều tra viên
Tập huấn cán bộ khám bệnh là các bác sỹ chuyên khoa đã được tập huấn thống nhất về cách khám, cách ghi phiếu cho thư ký ghi chép hồ
sơ khám bệnh
* Chuẩn bị phương tiện nghiên cứu:
Là các dụng cụ khám răng miệng chuẩn (dụng cụ chuyên ngành khám RHM cho Trẻ em)
Trang 342 7 Hạn chế, sai số và cách khắc phục:
* Hạn chế của nghiên cứu:
Do thời gian, kinh phí và nguồn lực nên chỉ tiến hành nghiên cứu tại một trường tiểu học Thu thập số liệu dưới dạng bộ câu hỏi tự điền nên không quan sát được thực hành do vậy đánh giá thực hành thông qua việc tự trả lời của học sinh và các bà mẹ Nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng, kiến thức, thực hành CSRM của các em học sinh và của một số phụ huynh học sinh mà chưa đề cập tới một số yếu tố liên quan khác như chất lượng nước, hình thái của răng, vị trí kết cấu của răng Do hạn chế về nguồn lực chỉ
có thể dừng lại ở nghiên cứu mô tả cắt ngang mà không thể tiến hành nghiên cứu bệnh chứng để so sánh giữa các nhóm đối tượng với nhau
* Sai số và cách khắc phục:
Thông qua bộ câu hỏi tự điền khó tránh khỏi sai số thông tin ( đối tượng nghiên cứu có thể hiểu lầm câu hỏi hoặc trả lời thông tin không chính xác) Chúng tôi cố gắng tạo bộ câu hỏi đơn giản nhằm khắc phục sai số Bên cạnh
đó chúng tôi điều tra thử để chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp
Trang 352 8.Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
Nghiên cứu chỉ tìm hiểu về kiến thức, thực hành của học sinh và các bà
mẹ trong phòng chống các bệnh răng miệng, không đề cập tới vấn đề nhạy cảm do vậy không ảnh hưởng tới các yếu tố văn hoá, giới và không gây đau đớn hay tâm lý căng thẳng cho đối tượng phỏng vấn Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung của nghiên cứu để tự nguyện tham gia và hợp tác trong quá trình nghiên cứu
của các em học sinh và một số phụ huynh học sinh:
Bộ câu hỏi được thiết kế dựa vào các tài liệu: Nha khoa trẻ em 2001, phòng trị bệnh răng ở trẻ em 2003, sổ tay y tế học đường, hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ học sinh 1998 - Bộ y tế, sổ tay thực hành y tế trường hoc 2001
và một số tờ rơi của sở y tế Hà Nội, của công ty P/S [ ] Chúng tôi đánh giá những câu trả lời đúng theo các tài liệu này
Cách đánh giá kiến thức, thực hành của các em học sinh và của các bà
mẹ về chăm sóc răng miệng chỉ áp dụng trong các nghiên cứu của chúng tôi theo các tiêu chuẩn sau:
* Kiến thức phòng chống bệnh răng miệng:
Nếu trả lời đúng từ 70% câu hỏi về kiến thức trở lên thì được xếp là có kiến thức đạt, nếu trả lời được dưới 70% được đánh giá là chưa đạt Đối với những câu hỏi có một lựa chọn nếu trả lời đúng với đáp án thì đó là câu trả lời đúng, với các câu hỏi nhiều lựa chọn thì câu trả lời đúng phải là câu trả lời có
đầy đủ các phương án (Xem phụ lục).
* Thực hành chăm sóc răng miệng:
Nếu trả lời đúng từ 70% câu hỏi về thực hành trở lên thì được xếp là có kiến thức đạt, nếu trả lời được dưới 70% được đánh giá là chưa đạt Đối với
Trang 36những câu hỏi có một lựa chọn nếu trả lời đúng với đáp án thì đó là câu trả lời đúng, với các câu hỏi nhiều lựa chọn thì câu trả lời đúng phải là câu trả lời có
đầy đủ các phương án (Xem phụ lục).
I.Thông tin chung
theo năm dương lich
từ bộ câu hỏi
II Thực trạng mắc bệnh RM của học sinh trường Tiểu học Tam Hiệp
1 Bệnh SR Theo tiêu chuẩn
của củaWHO [2]
% bệnh/tổng số khám
khám
2 Bệnh viêm tủy Theo tiêu chuẩn
của củaWHO [2]
% bệnh/tổng số khám
khám
3 Bệnh viêm lợi Theo tiêu chuẩn
của củaWHO [2]
% bệnh/tổng số khám
% HS được cung cấp thông tin/ Tổng số HS
% HS hiểu biết/tổng số HS
% HS đạt kiến thức/tổng số HS
Bộ câu hỏi
4 Kiến thức của các
phụ huynh về
Số phụ huynh đạt kiến thức về phòng
% phụ huynh đạt kiến thức
Bộ câu hỏi
Trang 37bệnh răng miệng răng miệng huynh được hỏi
5 Thực hành chăm
sóc răng miệng của
học sinh
Số học sinh đạt về thực hành chăm sóc răng miệng
% SL học sinh đạt/tổng số HS
Số học sinh hiểu biết
về nguyên nhân gây bệnh răng miệng
% HS hiểu biết/tổng số HS
% HS đạt kiến thức/tổng số HS
% phụ huynh đạt kiến thức /tổng số phụ huynh được hỏi
% SL học sinh đạt/tổng
số HS
Bộ câu hỏi
III Thực trạng mắc bệnh RM của học sinh trường Tiểu học Tam Hiệp
1 Bệnh SR Theo tiêu chuẩn của
Trang 38CHƯƠNG 3:
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3 1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3.1: Phân bố giới tính của các em học sinh
Bảng 3 23 : Phân bố tuổi của các em học sinh
Trang 39Nhận xét
Bảng 3.9: Nguồn cung cấp thông tin về phòng chống các bệnh răng miệng
Nguồn cung cấp thông tin Tần số Tỷ lệ (%) p