1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp

48 874 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 540,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn có cái nhìn đầy đủ và khách quan về phương pháp điều trị bảo tồn này, có thêm một lựa chọn cho các bệnh nhân khi muốn điều trị bệnh, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá tá

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sa trực tràng là tình trạng bệnh lý mạn tính tại trực tràng và ống hậu môn khi một hoặc nhiều lớp của trực tràng, ống hậu môn sa ra ngoài hậu môn [2] Bệnh gặp ở cả nam và nữ, ở mọi lứa tuổi, nhưng phần nhiều thấy ở trẻ em

và người già, phụ nữ sau khi chửa đẻ nhiều lần Bệnh tiến triển mạn tính, không ảnh hưởng đến sinh mạng nhưng gây phiền phức trong cuộc sống sinh hoạt Vì vậy điều trị Sa trực tràng để đem lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh là việc nên làm, đặc biệt với trẻ em

Theo y học hiện đại, nguyên nhân của sa trực tràng thường do các nguyên nhân gây nên tăng áp lực trong ổ bụng kết hợp với các bệnh lý tại chỗ, do đó sa trực tràng rất khó tự hồi phục [1], [2] Các phương pháp điều trị của y học hiện đại ngày nay chủ yếu là phẫu thuật kết hợp với việc cải thiện tình trạng tăng áp lực trong ổ bụng, kết quả điều trị khá triệt để Song phương pháp điều trị này cũng gây không ít khó khăn cho bệnh nhân, đặc biệt với các bệnh nhân bị bệnh ở mức độ nhẹ

Với biểu hiện có khối sa ra ngoài liên tục hoặc sau khi gắng sức, sa trực tràng được miêu tả trong chứng “thoát giang” của y học cổ truyền [4] Theo y lý phương Đông, các chứng sa là do tỳ khí hư hạ hãm, pháp điều trị là

“bổ trung ích khí thăng đề”, phương thuốc cổ điển là “bổ trung ích khí thang” Thực tế lâm sàng đã chứng minh y học cổ truyền có nhiều kinh nghiệm, điều trị có hiệu quả chứng bệnh này

Thuốc đắp MB được tạo thành từ việc phối ngũ của hai vị thuốc nam

có tác dụng tại chỗ Bài thuốc này đã được ứng dụng điều trị chứng sa trực tràng, bước đầu thu được kết quả rất khả quan Tuy nhiên, bài thuốc này cũng chỉ dùng lại ở tác dụng tại chỗ, trong khi chứng thoát giang có nguyên nhân

Trang 2

từ sự suy yếu của tỳ khí Mặt khác, chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ

về tác dụng của bài thuốc MP

Với mong muốn có cái nhìn đầy đủ và khách quan về phương pháp điều trị bảo tồn này, có thêm một lựa chọn cho các bệnh nhân khi muốn

điều trị bệnh, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc Bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp MP” với 2 mục tiêu:

1 Đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia vị kết hợp thuốc đắp MP.

2 Đánh giá tác dụng không mong muốn của phương pháp kh sử dụng trên lâm sàng.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giải phẫu và chức năng trực tràng [7]

Trực tràng dài khoảng 12 cm, tính từ bờ trên ống hậu môn đến nơi giáp với đại tràng xích ma Mặt sau trực tràng có lớp mỡ khá dày, được gọi là mạc treo trực tràng Trực tràng được bao phủ bởi lá tạng của mạc nội chậu (mạc trực tràng) Phía trước, trực tràng liên quan với tiền liệt tuyến, túi tinh, bàng quang (ở nam giới) hay vách sau âm đạo (ở nữ giới) Có một lớp mạc (Denonvillier) ngăn cách giữa tiền liệt tuyến và túi tinh với trực tràng Phía sau, trực tràng liên quan với xương cùng

Mặt trước xương cùng được phủ bởi lá thành của mạc nội chậu (mạc trước xương cùng) Mạc cùng chậu (mạc Waldeyer) nối mạc trước xương cùng với mạc trực tràng Giữa mạc cùng chậu và mạc trước xương cùng có đám rối tĩnh mạch trước xương cùng và các nhánh thần kinh cùng Phúc mạc chỉ phủ 2/3 trước và hai bên trực tràng Nơi mà nếp phúc mạc từ mặt trước trực tràng lật lên để phủ mặt sau bàng quang được gọi là ngách trực tràng-bàng quang Ngách trực tràng-bàng quang cách rìa hậu môn khoảng 7,5 cm (cách bờ trên ống hậu môn 3-4 cm), bằng chiều dài của một ngón tay Khi thăm trực tràng, ngón tay chạm vào khối u có nghĩa là khối u ở 1/3 dưới trực tràng

Dẫn lưu bạch mạch của trực tràng đi theo các cuống mạch chính Dẫn lưu bạch mạch ở đại tràng và 2/3 trên trực tràng chỉ đi theo một hướng Dẫn lưu bạch mạch ở 1/3 dưới trực tràng có thể đi theo nhiều hướng: lên trên (vào nhóm hạch cạnh động mạch chủ), sang bên (vào nhóm hạch chậu trong) hay xuống dưới (vào nhóm hạch bẹn) Hệ mạch của ống hậu môn-trực tràng có hai nguồn gốc: Đoạn bên trong phía sau đường lược: Động và tĩnh mạch mạc

Trang 4

treo tràng dưới Đoạn bên ngoài và phía ngoài đường lược: Động mạch và tĩnh mạch chậu trong Các đám rối tĩnh mạch của đoạn trong và ngoài có thể thông với nhau tạo đám rối trực tràng trong và ngoài Nếu đường tĩnh mạch bị nghẽn có thể gây ra trĩ.

Trang 6

Hình 1 Giải phẫu trực tràng

Trực tràng là nơi chứa phân tạm thời Khi vách trực tràng dãn ra do sự

đổ đầy của phân đến từ đại tràng, các receptor cảm nhận về sức căng (stretch receptor) nằm trên vách trực tràng sẽ gửi thông tin về thần kinh trung ương và gây ra cảm giác muốn đi cầu Nếu khoảng cách giữ 2 lần đi cầu quá lâu, phân

sẽ được tống ngược lên đại tràng, tại đó nước sẽ tiếp tục được tái hấp thu, kết quả gây ra tình trạng táo bón và phân trở nên khô cứng Khi phân trong bóng trực tràng đã đầy, trực tràng sẽ đẩy phân xuống ống hậu môn Và nhờ vào các sóng nhu động của trực tràng mà sẽ đẩy hết phân thông qua hậu môn ra ngoài

 Tăng áp lực trong ổ bụng đột ngột và kéo dài, hoặc phải rặn nhiều:

Trẻ em: ỉa chảy, ho gà, fimossisNgười lớn: táo bón, bí đái, lỵ, viêm đại tràng mãn, polip, sỏi bàng quang, fimossis

Người làm nghề khuân vác nặng

 Sự suy yếu của các phương tiện treo giữ hậu môn trực tràng như cơ thắt, cơ nâng hậu môn, các cân cơ đáy chậu, trùng nhão day chằng Parks, mất liên kết phần niêm mạc và hạ niêm mạc

 Khuyết tật về giải phẫu bẩm sinh hoặc mắc phải:

Mất độ cong sinh lý trực tràng, mất góc gấp giữa trục của ống hậu môn và trục trực tràng

Trang 7

Đại tràng sigma dài quá mức.

Túi cùng Douglas quá sâu và rộng, khi áp lực bụng tăng, túi cùng Douglas đè vào thành trước trực tràng, dần dần đẩy trực tràng ra ngoài hậu môn là thoát vị trượt( Moschcowitz- 1912).Không đầy đủ các cấu trúc giải phẫu cố định trực tràng nhất là phía sau, không dính vào xương cùng nên di động dễ dàng, trượt xuống và sa ra

Doãng rộng hậu môn

Khuyết tật hoặc đứt rách do chấn thương hệ thống cân cơ đáy chậu, cơ nâng, cơ thắt hậu môn và hoành chậu hông

Van trực tràng kém phát triển,giảm độ cản làm trực tràng dễ sa xuống

Hình thành mạc treo trực tràng (Ripstein và Lanter- 1963)

 Sa niêm mạc

Hậu môn có khối lồi lên như quả cà chua màu đỏ tươi, có xuất tiết dịch, các nếp niêm mạc xếp theo hình nan hoa từ trong lỗ hậu môn mở ra ( như núm quả cà chua), không có rãnh ngăn cách giữa khối lồi với rìa hậu môn Đó là do các múi niêm mạc bị sa lòi ra khỏi lỗ hậu môn như kiểu lớp

Trang 8

lót ống tay áo lòi ra khỏi đầu ống tay áo Nếu sa niêm mạc kèm theo trĩ thì có các búi trĩ mầu tím tạo thành một vòng niêm mạc trĩ.

 Sa trực tràng

Bóng trực tràng lộn ra như hình ống hay hình chóp, đáy ở hậu môn

và đỉnh hướng ra sau (thành trước dài hơn thành sau, giống như cái đuôi)

Có nhiều vòng nếp niêm mạc đồng tâm hình vành khăn, hồng bóng ướt,

có thể có loét

Nếu sa trực tràng đơn thuần thì ống hậu môn ở vị trí bình thường, niêm mạc trực tràng sa tiếp giáp với niêm mạc ống hậu môn, ở đây có 3 ống: ống hậu môn ngoài cùng, 2 ống thành trực tràng lồng vào nhau Sờ thấy rãnh giữa khối sa với rìa hậu môn, có thể luồn ngón tay vòng quanh rãnh phân chia này

Nếu sa hậu môn trực tràng: cả trực tràng và ống hậu môn đều lộn ra, ống hậu môn lòi ra tiếp liền với da mép hậu môn, không có rãnh phân chia, chỉ có 2 ống làm thành đoạn sa

Nếu sa trực tràng kèm theo thoát vị: Thấy khối phồng phía trước khối

sa, xác định bằng cách kẹp khối phồng vào 2 ngón tay sẽ thấy căng lên khi gắng sức ( ho hoặc rặn), có tiếng óc ách của quai ruột

Đánh giá tình trạng tầng sinh môn.

Xác định độ dày và trương lực cơ thắt, cơ nâng hậu môn

Phát hiện các bệnh lý kết hợp:

Xem có các thoát vị khác phối hợp không

Khám thần kinh: xem có tổn thương tuỷ sống, dây, rễ thần kinh

Trang 9

Hình 2 Hình ảnh sa trực tràng 1.2.4 Phân loại

 Sa niêm mạc

Là chỉ sa phần niêm mạc, lớp cơ không bị sa Bình thường niêm mạc hậu môn phồng và lộn khi đại tiện để tống phân, sau đó tự co lên, khi bệnh lý không co lên được

Theo mức độ sa chia làm 4 độ:

Độ 1: Sa khi rặn đại tiện, tự co lên

Trang 10

Độ 2: Sa khi rặn đại tiện không tự co, phải đẩy lên.

Độ 3: Sa dễ dàng khi gắng sức nhẹ như đi bộ, ngồi xổm, ho, hắt hơi

Độ 4: Sa thường xuyên liên tục ở ngoài hậu môn

Theo chu vi vòng hậu môn:

Sa cả vòng chu vi

Sa một phần chu vi: 1/2; 2/3 vòng

Theo lứa tuổi:

Sa niêm mạc ở trẻ em: thường là sa niêm mạc đơn thuần do

sự liên kết giữa lớp niêm mạc và cơ chưa được phát triển hoàn chỉnh

Sa niêm mạc ở người lớn: thường kèm theo trĩ hỗn hợp, các búi trĩ liên kết với nhau tạo thành vòng trĩ kéo theo niêm mạc trực tràng sa ra gọi là trĩ vòng ( Cricular hemorrhoids)

Sa niêm mạc ở người già: có thể gặp sa niêm mạc kèm theo trĩ hỗn hợp hoặc sa niêm mạc đơn thuần do rối loạn mối tương quan liên kết giữa lớp niêm mạc và lớp cơ bị lão hoá ở người già

 Sa toàn bộ:

Cả 3 lớp của thành trực tràng sa ra ngoài qua lỗ hậu môn

Theo giải phẫu:

Sa trực tràng đơn thuần: các lớp của thành trực tràng lộn lại và chui ra ngoài qua ống hậu môn, hậu môn ở vị trí bình thường

Sa hậu môn trực tràng: toàn bộ thành trực tràng và thành ống hậu môn- trực tràng lộn lại và chui ra ngoài

Theo mức độ: chia làm 4 độ:

Độ 1: trực tràng chỉ sa khi gắng sức mạnh, khi rặn đại tiện sau đó

tự co lại nhanh chóng Chiều dài của đoạn sa 3 - 5 cm, toàn thân

Trang 11

không có ảnh hưởng gì, các than phiền của bệnh nhân chỉ do đoạn trực tràng sa gây nên.

Độ 2: trực tràng luôn sa khi đại tiện tự co lên rất chậm phải lấy

tay đẩy vào, có các vết trợt ở niêm mạc, phù nề niêm mạc, hậu môn bị lõm vào, cơ thắt có thay đổi ít, toàn thân bình thường, đoạn trực tràng sa dài 6 - 8 cm

Độ 3: trực tràng sa khi gắng sức nhẹ (ho, cười, hắt hơi, đi bộ,

ngồi xổm ) và không tự co vào được Niêm mạc tuyến của trực tràng bị hoại tử từng đám một vài nơi có sẹo, hậu môn mất trương lực cơ thắt nhão Tinh thần bị ức chế, niêm mạc chảy máu, trung tiện mất tự chủ, đoạn ruột sa dài 9 - 12 cm

Độ 4 : ruột sa thường xuyên liên tục khi đi bộ, khi đứng Niêm

mạc tuyến bị loét hoại tử, thành sẹo, cơ thắt mất trương lực, trung đại tiện mất tự chủ Rối loạn cảm giác vùng hậu môn, eczema vùng đáy chậu; đoạn ruột sa dài trên 12 cm

 Sa trực tràng có biến chứng :

Chảy máu: do loét niêm mạc hoặc từ các búi trĩ.

Viêm loét trực tràng: do sa thường xuyên khó đẩy vào nên bị

loét

Thắt nghẹt: do co cứng cơ thắt dẫn đến nghẹt.

Tắc ruột: nếu có ruột non sa theo trực tràng khi bị thắt nghẹt.

Vỡ trực tràng: Sau một gắng sức mạnh hoặc thắt nghẹt, cố đẩy lên.

Sa trực tràng kèm theo sa sinh dục ở phụ nữ: thường kèm theo sa

âm đạo hoặc tử cung - âm đạo

Sa trực tràng kèm theo thoát vị đáy chậu: Khi trực tràng sa kéo

theo túi cùng Douglas và ruột non gây thoát vị hậu môn (hédrocele) hay thoát vị trượt của đáy chậu

Trang 12

1.2.5 Tiến triển và biến chứng

Sa trực tràng mới: chỉ sa khi phải rặn ỉa, vì táo bón, ấn vào dễ dàng Sa trực tràng muộn: khối lượng trực tràng sa tăng lên, thường xuyên không đưa vào được, có đưa vào được nhưng lại sa xuống dễ dàng, đồng thời có các biến chứng (chảy máu hoặc xung huyết vì vỡ tĩnh mạch đã giãn sẵn Đoạn trực tràng sa bị nghẽn vì cơ hậu môn co thắt, phù nề, niêm mạc tím tái dần có các mảng hoại tử gây nên viêm dưới phúc mạc, dẫn tới tử vong)

Sa trực tràng có thể có các biến chứng sau:

Chảy máu: Do viêm niêm mạc hoặc kèm theo có trĩ phối hợp

Nghẹt: Khối sa bị bọp chặt do sự co thắt của cơ hậu môn dẫn tới thiếu máu và có màu thâm tím, thậm chí có thể bị hoại tử

Thoát vị hậu môn nghẹt: Do quai ruột chui xuống khe của túi cùng douglas sa ra ngoài gây nghẹt

1.2.6 Điều trị

Sa trực tràng ở trẻ em thường ít phải điều trị ngoại khoa vì chưa có tổn thương thực thể do yếu nhão cơ thắt hậu môn, cơ tầng sinh môn và phương pháp tiện treo giữ trực tràng, do vậy ở trẻ em khi bị sa trực tràng chỉ việc đẩy lên là được (kể cả người lớn và trẻ em) ta có thể dùng gạc tẩm Adrenalin đắp vào khối trực tràng sa sau đó đẩy lên Thường chỉ đặt vấn đề điều trị ngoại khoa cho người lớn (người già)

Có nhiều phương pháp điều trị ngoại khoa, nhưng việc lựa chọn phươnmg pháp nào là tuỳ thuộc vào tính chất tổn thương giải phẫu bệnh lý và nguyên nhân của nó

Khâu vòng cơ thắt: Tiersch tiến hành lần đầu tiên năm 1891 Áp dụng cho những trường hợp sa niêm mạc đơn thuần do yếu nhão cơ thắt ngoài Nếu sa niêm mạc có kèm theo trĩ thì nên làm phẫu thuật Whitehead

Trang 13

Các phẫu thuật cắt bớt đại tràng xích ma và trực tràng Có thể cắt bớt đại tràng xich ma hoặc trực tràng đơn thuần hay kết hợp cả hai theo đường bụng hay dường tầng sinh môn Các phẫu thuật này thường mang lại kết quả tốt nhưng là phẫu thuật nặng, tỷ lệ tử vong cao và nhiều biến chứng nên ít được áp dụng

Các phẫu thuật tăng cường sức chống đỡ tầng sinh môn: Khâu lại cơ đáy chậu, Khâu tái tạo lại cơ nâng hậu môn, Khâu bít túi cùng Douglas Các phẫu thuật này ít triệt để nên ít khi làm đơn thuần mà thường phối hợp với các phẫu thuật cắt đoạn trực tràng như: Cắt bỏ trực tràng sa và khâu gấp tăng cường cơ thắt trong và ngoài, Cắt bỏ trực tràng sa và khâu gấp tăng cường cơ thắt và túi cùng Douglas

Các phẫu thuật cố định trực tràng: Là những phẫu thuật hợp lý và thường dùng nhất, có thể cố định trực tràng vào nhiều chỗ khác nhau Verneuil là người đầu tiên cố định trực tràng vào tổ chức phần mềm xung quanh (1881) Sau này nhiều tác giả khác đã áp dụng và cải tiến Treo trực tràng vào ụ nhô (phẫu thuật Orr - Loygue) Cố định trực tràng vào thành bụng trước ( phẫu thuật Lahaut) Cố định trực tràng vào túi cùng và xương cùng (phẫu thuật Sick) Cố định trực tràng vào

bờ của hông bé (phẫu thuật Mayo)

1.2.7 Phòng bệnh

Tuyên truyền các phương tiện thông tin đại chúng để người dân biết những nguyên nhân gây sa trực tràng và có ý thức phòng tránh: tránh táo bón, tránh bí đái…

Trang 14

Khi có dấu hiệu bị sa trực tràng, phải đến các cơ sở y tế khám và điều trị kịp thời tránh điều trị không đúng có thể gây ra các biến chứng đáng tiếc.Tránh đẻ nhiều, xử trí tốt các tai biến sau đẻ như: rách tầng sinh môn phải được khâu phục hồi ngay.

1.3.3 Biện chứng luận trị

Sa trực tràng là môt trong những chứng thoát giang đều thuộc trung khí không đầy đủ, khí hư hãm xuống, hình thành một khối sa lồi ra ngoài hậu môn Bệnh mới mắc có thể tự co lên, bệnh mạn tính kéo dài không thể tự co lên được tại chỗ do cọ xát gây loét chợt viêm xuất tiết, chảy dịch, ngứa xung quanh hậu môn khó chịu

Chứng trạng: Toàn thân: tinh thần mệt mỏi, người yếu, hụt hơi, ngại

nói, tự hãn, cơ nhục mềm nhẽo

Trang 15

Sài hồ 06g Bạch truật 10g

Chích cam thảo 10g Tiên hạc thảo 30g

Phân tích bài thuốc:

Hoàng kỳ ích khí; Bạch truật, Hoài sơn, Chích cam thảo kiện tỳ; Sài

hồ, Trần bì, Thăng ma thăng đề: Tiên hạc thảo dưỡng huyết

Thuốc dùng ngoài:

Chủ yếu dùng các vị thuốc có dụng thu liễm cố sáp thăng đề

Thuốc ngâm rửa:

Sắc kỹ được 100ml, ngâm rửa 10 phút x 2 lần/ngày

Thuốc đắp tại chỗ: "Thăng đề tán":

Ngũ bội tử 10g Ngũ hoa long cốt 60g

Tán bột mịn trộn đều với cao sinh cơ, bôi và đẩy dần lên sau khi ngâm rửa

Châm cứu: Châm bổ Bách hội, Thứ liêu, Túc tam lý Cứu Quan nguyên, Khí hải

Một số tác giả còn chia bệnh theo từng mức độ:

Giai đoạn đầu (độ 1)

Chứng trạng:

Trực tràng sa xuống khỏi vị trí ra khỏi hậu môn sau mỗi lần đại tiện, tự

co lên được, hoặc lên xuống thất thường, khi thấy người mệt mỏi thì trực tràng sa xuống, khi cơ thể bình thường thì không thấy trực tràng sa ra ngoài hậu môn

Pháp điều trị: Bổ trung ích khí thăng đề.

Bài thuốc:

Trang 16

Sài hồ 12g Bạch truật 12gCách dùng: Hoàng kỳ mật sao, cam thảo chích, nhân sâm bỏ cuống, đương quy tửu tẩy, trần bì khứ bạch Các vị trên cho vào 1800ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 200ml Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần.

Châm cứu: tả các huyệt: bách hội, đại chùy, khúc trì, đản trung, đại

tràng du, thạch môn Châm bổ các huyệt: túc tam lý, nội quan, tam âm giao, huyết hải

Giai đoạn thứ 2 (độ 2, 3)

Chứng trạng:

Trực tràng sa xuống khỏi vị trí, ra khỏi hậu môn sau mỗi lần đại tiện, không tự co lên được, phải dùng tay ấn mới vào được và lại tụt xuống ngay trước hoặc trong khi đại tiện hoặc lao động nặng Bệnh nặng không thể ấn vào bên trong được mà ở ngoài hậu môn gây sưng đau, khó chịu

Pháp điều trị: Bổ trung ích khí thăng đề, thanh nhiệt trừ thấp.

Bài thuốc:

Bài thuốc nam:

Rễ vú bò( sao vàng) 30g;

Trang 17

Vỏ cây ngái (sao vàng) 30g

Rễ cây mấu (sao vàng) 30g

Xơ trái mướp già (sao vàng) 30gSắc uống ngày 1 thang Uống liên tục từ 5-10 thang Có thể tán bột mịn, uống lần 2 thìa canh, ngày 3 lần

Bài thuốc rửa: Dùng lá vông nem hay lá rau sam nấu nước ngâm rửa

trực tràng bị sa để chống nhiễm trùng, rửa ngày 3 lần, rửa đến khi khỏi bệnh thì thôi

Châm cứu: tả các huyệt: nhị bạch, bách hội, thính cung, trường cường,

hợp cốc; bổ các huyệt: túc tam lý, nội quan, tam âm giao, khúc trì, huyết hải, đại tràng du, quan nguyên

1.4 Bài thuốc nghiên cứu

1.4.1 Cơ sở xây dựng bài thuốc

Các bệnh nhân Sa trực tràng được mô tả trong chứng Thoát giang, nguyên nhân chính là do tỳ khí hư hạ hãm Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn bài thuốc “Bổ trung ích khí thang“ với mục đích:

Đảng sâm, Bạch truật, Chích thảo ích khí bổ tỳ kiện vị

Trần bì lý khí hóa trệ

Thăng ma, Sài hồ hợp với Sâm Kỳ để ích khí thăng đề

Đương qui bổ huyết hòa vinh

Chỉ xác để hành khí tiêu trệ; Sơn dược để tăng tác dụng kiện tỳ

Thảo quyết minh cùng Đại hoàng để nhuận táo tán kết

Các vị thuốc hợp lại thành bài thuốc có tác dụng bổ trung ích khí, thăng dương cố biểu làm cho tỳ vị được cường tráng, trung khí được đầy đủ Khi tỳ

Trang 18

khí khỏe mạnh, dương khí thăng, khí huyết lưu thông trong kinh mạch bệnh

Tên khoa học: Codonopsis pilosula Franch

Bộ phận dùng: rễ (vẫn gọi là củ) Thứ to (đường kính trên 1cm), khô nhuận, thịt trắng ngà, vị dịu ngọt, không sâu không mốc mọt là tốt.Tính vị: vị ngọt, tính bình

Quy kinh: Vào kinh Phế và Tỳ

Tác dụng: bổ Phế Tỳ, ích khí, sinh tân dịch, chỉ khát

Chủ trị: trị Tỳ hư, ăn vào trướng đầy, tay chân mỏi mệt, Phế hư sinh

ho Dùng thay Nhân sâm với liều cao

Liều dùng: Ngày dùng 6 - 12g đến 40g

 Hoàng kỳ

Trang 19

o Tên khoa học: Astragalus membranaceus (Fisch) Bge Thuộc họ Cánh Bướm (Fabaceae).

o Phần dùng làm thuốc: Rễ (Radix Astragali)

o Thành phần hóa học: Theo Sở dược thuộc Viện nghiên cứu y học Bắc kinh: trong Hoàng kỳ có Cholin, Betain, nhiều loại Acid Amin và Sacarosa Theo Lý Thừa Cố (Sinh dược học 1952): trong Hoàng kỳ

có Sacarosa, Glucosa, tinh bột, chất nhầy, gôm, hơi có phản ứng Alcaloid Trong Hoàng kỳ có Sacarosa, nhiều loại Acid Amin, Protid (6,16- 9,9%), Cholin, Betain, Acid Folic, Vitamin P, Amylase (Trung Dược Học)

o Tác dụng dược lý: Tăng cường chức năng miễn dịch, Thúc đẩy quá trình chuyển hóa,Tác dụng lợi tiểu, Hạ áp, Kháng Khuẩn

o Tính vị: Vị ngọt, tính hơi ôn (Bản Kinh)

o Quy kinh: Vào kinh thủ thái âm (Phế), túc thái âm (Tỳ), thủ thiếu âm (Tâm) (Trung Dược Học)

o Tác dụng: Dùng sống: Ích vệ, cố biểu, lợi thủy, tiêu thủng, thác độc, sinh cơ Dùng nướng: bổ trung ích khí (Trung dược đại tự điển ).Bổ khí, cố biểu, lợi thủy, thác độc, bài nùng, lâu lành các vết thương, sinh

cơ (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển )

Trang 20

o Chủ trị: Dùng sống:Trị mồ hôi tự ra, mồ hôi trộm, huyết tý, nhũ ung, ung thư (mụn nhọt) không vỡ mủ hoặc vỡ mủ mà không gom miệng Dùng nướng: Trị nội thương lao quyện, tỳ hư, tiêu chảy, thoát giang, khí hư, huyết thoát, băng đới, các chứng khí suy, huyết hư (Trung Dược Đại Từ Điển)

Liều dùng: 12-20g, có khi tới 80g

o Kiêng kỵ: Ghét vị Miết giáp (Bản Thảo Kinh Tập Chú) Ghét vị Bạch tiễn bì (Nhật Hoa Tử Bản Thảo) Không có khí hư mà biểu lý có thực

tả thì cấm dùng Thực chứng, hư chứng có âm hư hỏa vượng cấm dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển)

 Đương quy

Tên thuốc: Radix Angelicae Sinensis Họ Hoa Tán (Umbelliferae)

Tên khoa học: Angelica sinensis (Oliv.)Diels

Bộ phận dùng: rễ (vẫn gọi là củ) Quy có thịt chắc, trắng, hồng, củ to, nhiều dầu thơm không mốc mọt là tốt

Thành phần hoá học: có tinh dầu (0,2%), chất đường và sinh tố B12.Tính vị: vị cay, hơi ngọt, đắng, thơm, tính ấm

Quy kinh: Vào ba kinh Tâm, Can và Tỳ

Tác dụng: bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường

Chủ trị: Kinh nguyệt không đều, đau bụng, chấn thương, ứ huyết, tê nhức, huyết hư, sinh cơ nhục, đại tiện bí (dùng sống hay tẩm rượu)

Trang 21

Táo bón do khô ruột: Dùng Đương qui với Nhục thục dung và Hoả ma nhân

a-Tác Dụng Dược Lý: Bổ Ích Cường Tráng, Chống Loét, Lợi Niệu, tác dụng hạ đường huyết

o Tính vị: Vị đắng, ngọt, tính ấm

o Quy Kinh: Vào kinh Tỳ và Vị

o Tác dụng: Bổ Tỳ, ích Vị, táo thấp, hòa trung

Trang 22

o Chủ trị: Trị phù thũng, đầu đau, đầu váng, chảy nước mắt, tiêu đàm thủy, trục phong thủy kết thủng dưới da, trừ tâm hạ cấp hoặc mạn, hoắc loạn thổ tả (Biệt Lục) Chủ phong hàn thấp tý, hoàng đản (Bản Kinh) Trị Tỳ hư, ăn ít, bụng đầy, tiêu chảy, đờm ẩm, thủy thủng, chóng mặt, tự ra mồ hôi, thai động không yên Sao với đất (thổ sao) có tác dụng kiện Tỳ, hòa Vị, an thai Trị Tỳ hư, ăn uống kém, tiêu chảy, tiểu đường, thai động không yên (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển)

o Kiêng kỵ: Phòng phong; Địa du làm sứ (Bản Thảo Đồ Kinh Chú).Phàm uất kết, khí trệ, trướng bỉ, tích tụ, suyễn khó thở, bao tử đau

do hỏa, ung thư (mụn nhọt) có nhiều mủ, người gầy, đen mà khí thực phát ra đầy trướng, không nên dùng

Thành phần hoá học: chứa Cimitin, Tanin, acid béo v.v

Tính vị: vị ngọt, cay, hơi đắng, hơi hàn

Quy kinh: Vào kinh Tỳ, Vị, Phế và Đại trường

Tác dụng: tán phong, giải độc, làm cho dương khí thăng lên, thấu ban, sởi

Trang 23

Chủ trị: trị chứng dịch thời khí, nhức đầu, đau cổ Họng lên ban sởi, sang lở, tiêu chảy kéo dài, lòi đuôi trê, phụ nữ băng huyết, bạch đái.Liều dùng: 8-12g.

Kiêng ky: trên thịnh, dưới hư, âm hư hoả vượng kiêng dùng Không dùng dược liệu này cho bệnh nhân khó thở, ban sởi mọc hoàn toàn hoặc người mắc hội chứng âm hư kèm nhiệt

 Sài hồ

Tên thuốc: Radix Bupleuri Họ Hoa Tán (Umbellferae)

Tên khoa học: Bupleurum sinense DC

Bộ phận dùng: rễ Rễ thẳng, vỏ vàng đen, chắc, ít rễ con và ít thơm so với rễ cây Lức

Tính vị: vị đắng, tính bình

Quy kinh: Vào Can, Đởm, Tâm bào và Tam tiêu

Tác dụng: thuốc phát biểu, hoà lý

Công dụng: Dùng sống: trị ngoại cảm, giải nhiệt, lợi tiểu tiện, ra mồ hôi Tẩm sao: trị hoa mắt, ù tai, kinh nguyệt không đều, trẻ con bị đậu, sởi.Liều dùng: Ngày dùng 12 - 24g

Kiêng ky: hư hoả không nên dùng

 Trần bì

Trang 24

Tên thuốc: Pericarpium Citri Reticulatae Họ Cam Quít (Rutaceae) Tên khoa học: Citrus deliciosa Tonore

Bộ phận dùng: vỏ quả quít Vỏ càng lâu năm càng tốt (giàn bếp), ngoài

vỏ sù sì là vỏ quít hôi, khô có mùi thơm, vỏ màu vàng hay nâu xám, không mốc mọt, vụn nát, không lẫn vỏ cam là thứ tốt

Thành phần hoá học: có tinh dầu, (3,8% khi còn tươi), Hesperidin, vitamin A, B

Tính vị: vị đắng, cay, tính ôn

Quy kinh: Vào phần khí của kinh Vị và Phế

Tác dụng: điều lý phần khí, hoá đờm, táo thấp, hành trệ Làm thuốc thơm để kiện Vị, trừ đờm và phát hãn

Chủ trị: trị mửa và ho, trị khí xông lên ngực, hoắc loạn, tiêu thực, chỉ tiết tả, trừ nhiệt đọng ở bàng quang, trừ nước ứ đọng

Liều dùng: Ngày dùng 4 - 12g

Kiêng ky: không thấp, không trệ, không đờm thì ít dùng

 Cam thảo

Ngày đăng: 13/01/2015, 16:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Hình ảnh sa trực tràng 1.2.4. Phân loại - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Hình 2. Hình ảnh sa trực tràng 1.2.4. Phân loại (Trang 9)
Sơ đồ nghiên cứu: - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Sơ đồ nghi ên cứu: (Trang 38)
Bảng 1.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Bảng 1.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi (Trang 40)
Bảng 1.2. Phân bố bệnh nhân theo giới - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Bảng 1.2. Phân bố bệnh nhân theo giới (Trang 40)
Bảng 1.5. Phân bố bệnh nhân theo mức độ bệnh - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Bảng 1.5. Phân bố bệnh nhân theo mức độ bệnh (Trang 41)
Bảng 1.8. Tiến triển mức độ viêm theo thời gian ở nhóm điều trị MB - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Bảng 1.8. Tiến triển mức độ viêm theo thời gian ở nhóm điều trị MB (Trang 42)
Bảng 1.10. Tiến triển mức độ đau theo thời gian ở nhóm điều trị MB - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Bảng 1.10. Tiến triển mức độ đau theo thời gian ở nhóm điều trị MB (Trang 42)
Bảng 1.9. Mức độ đau của khối sa tại các thời điểm - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Bảng 1.9. Mức độ đau của khối sa tại các thời điểm (Trang 42)
Bảng 1.11. Kích thước của khối sa tại các thời điểm - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Bảng 1.11. Kích thước của khối sa tại các thời điểm (Trang 43)
Bảng 1.12. Tiến triển kích thước khối sa theo thời gian ở nhóm điều trị MB - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Bảng 1.12. Tiến triển kích thước khối sa theo thời gian ở nhóm điều trị MB (Trang 43)
Bảng 1.15. Các chỉ số công thức máu - đánh giá tác dụng điều trị sa trực tràng trẻ em bằng bài thuốc bổ trung ích khí gia vị và thuốc đắp
Bảng 1.15. Các chỉ số công thức máu (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w