1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhận xét mối liên quan giữa thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11

67 816 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc điều trị sớm lệch lạc răng do các thói quen răng miệng xấu như thói quen mút ngón tay, cắn môi, đẩy lưỡi và thở miệng là dùng các loại khí cụ đơn giản phòng ngừa không để các thói q

Trang 1

mỹ và chức năng nhai cho bệnh nhân, muốn vậy phải xắp xếp các răng lệch lạc trở nên ngay ngắn và ăn khớp đều đặn nhau [4], [12] Việc điều trị sớm lệch lạc răng do các thói quen răng miệng xấu như thói quen mút ngón tay, cắn môi, đẩy lưỡi và thở miệng là dùng các loại khí cụ đơn giản phòng ngừa không để các thói quen răng miệng xấu đó tác động vào làm mất cân bằng hệ thống nhai, vì vậy việc thăm khám phát hiện sớm là cần thiết [6], [8], [9], qua

đó Nha sỹ sẽ phân biệt được các nguyên nhân gây lên sự lệch lạc và từ đó sẽ

có một kế hoạch can thiệp hữu hiệu Các thói quen răng miệng xấu sẽ tạo những di chuyển về răng ngoài ý muốn gây ra những lệch lạc về răng và hàm mặt, một thói quen răng miệng xấu có thể làm di chuyển lệch lạc răng trầm trọng nếu thời gian tác động đủ dài [10], [16] Tuy nhiên, nếu các thói quen răng miệng xấu đó được chấm dứt ở một thời điểm thích hợp thì dưới áp lực của môi, má và lưỡi sẽ tự đưa các răng trở về vị trí bình thường và sự cân xứng được tái lập, nhưng khi những thói quen xấu đó kéo dài sang đến thời kỳ răng vĩnh viễn thì cần phải CHRM can thiệp để giải quyết những vấn đề sai

lệch [5], [8, [15] Yếu tố “Tăng trưởng” và yếu tố “ Thời gian” là những yếu

tố chủ yếu trong sự phát triển của lệch lạc răng mặt, vì vậy các sự bất cân xứng cần phải được phát hiện sớm, từ đó có một kế hoạch cùng phương pháp

Trang 2

can thiệp thích hợp ngăn ngừa những lệch lạc hoặc thay đổi sự tăng trưởng nhằm cải thiện sự bất cân xứng [4], [10]

Các thói quen xấu về răng miệng là vấn đề đã được các Bác sỹ Răng Hàm Mặt bàn luận và nghiên cứu rộng rãi từ nhiều năm qua Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về tình trạng thói quen răng miệng xấu trong trẻ em lứa tuổi học đường Trước những vấn đề cấp thiết

nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận xét mối liên quan giữa

thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11 tại Trường tiểu học Tân Mai, Hà Nội” nhằm hai mục tiêu sau:

1 Mô tả tình trạng lệch lạc khớp cắn ở học sinh tiểu học lứa tuổi 7 đến 11 tuổi

2 Nhận xét mối liên quan giữa thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 đến 11 tuổi

Trang 3

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sự phát triển khớp cắn hệ răng sữa sang hệ răng vĩnh viễn

Quá trình hình thành và phát triển bộ răng sữa là giai đoạn đầu tiên đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của toàn bộ hệ thống nhai sau này, khoảng 3 tuổi khớp cắn bộ răng sữa được thiết lập hoàn chỉnh Khớp cắn này được duy trì và phát triển liên tục cho đến khoảng 5 tuổi Ở thời điểm này các răng vĩnh viễn bắt đầu mọc, khoảng từ 3 đến 5 tuổi là giai đoạn tương đối ổn định nhất của bộ răng sữa và đây cũng là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đối với sự mọc và phát triển của các răng vĩnh viễn thay thế [7], [ 9]

1.1.1 Thời kỳ mọc và thứ tự mọc của răng vĩnh viễn:

* Thời kỳ mọc răng vĩnh viễn [1]

Việc thành lập bộ răng vĩnh viễn gắn liền với sự tồn tại của của bộ răng

sữa trước đó, thời gian diễn ra sự rụng răng sữa và mọc răng vĩnh viễn có thể kéo dài từ 5 – 6 tuổi đến 10 – 12 tuổi

* Thứ tự mọc răng [1]

Hàm trên: Răng số 6 – 1 – 2 – 4 – 5 – 3 – 7

Hàm dưới: Răng số 6- 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 7

1.1.2 Sự thay đổi của cung hàm trong thời kỳ răng hỗn hợp:

* Sự thay đổi khi răng cửa sữa được thay bằng răng cửa vĩnh viễn

Do thay đổi kích thước giữa răng sữa và răng vĩnh viễn dẫn đến những thay đổi về tình trạng răng, khớp cắn nhiều nhất Sự biến đổi chiều hướng mọc răng, sự mòn răng theo thời gian và ảnh hưởng của cơ trong giai đoạn từ

Trang 4

6 đến 12 tuổi có nhiều thay đổi nhất, sau 12 tuổi thường ít thay đổi, gần như

là ổn định [9]

* Sự thay đổi khi thay răng nanh, răng hàm

Ta đã biết khoảng “ Leeway space” là khoảng chênh lệch kích thước

gần xa của các răng hàm sữa lớn hơn so với các răng hàm nhỏ vĩnh viễn, giá trị này trung bình ở hàm trên là 1,5mm, hàm dưới là 2,5mm, vì thế nói chung

sự thay thế diễn ra dễ dàng [6], [7], [9]

* Sự thay đổi cung hàm theo chiều ngang

Từ lúc sinh tới lúc 2 tuổi khoảng cách giữa hai răng cửa tăng 5mm ở hàm trên và 3mm ở hàm dưới Lúc 12 tuổi khoảng cách tăng thêm 5mm và không thay đổi từ đó

* Sự thay đổi cung hàm theo chiều đứng

Từ răng sữa đến răng vĩnh viễn được thực hiện bởi xương ổ răng và sự mọc răng

1.2 Khớp cắn bình thường

1.2.1 Tương quan giữa các răng trong một hàm

1.2.1.1 Chiều trước sau: Tất cả các răng đều tiếp xúc nhau ở cả mặt gần

và xa, trừ răng khôn chỉ có một điểm tiếp xúc

1.2.1.2 Độ nghiêng ngoài trong của răng

+ Hàm trên: Các răng sau hơi nghiêng về phía ngoài

+ Hàm dưới: Các răng sau hơi nghiêng về phía trong

Đường cong Wilson: là đường cong lõm lên trên đi qua đỉnh múi ngoài

và trong các răng sau hàm dưới

1.2.1.3 Độ nghiêng gần xa của răng

Đường cong SPEE: là đường cong lõm lên trên, đi qua đỉnh múi răng

nanh và đỉnh múi ngoài các răng hàm nhỏ, hàm lớn hàm dưới [14]

Trang 5

1.2.2 Tương quan giữa các răng hàm trên và hàm dưới

1.2.2.1 Độ cắn chìa: là khoảng cách giữa bờ cắn răng của hàm trên và hàm dưới theo chiều trước sau Trung bình ở người Việt Nam là 2,79 ± 1,29 mm

1.2.2.2 Độ cắn phủ: là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa hàm trên và hàm dưới theo chiều đứng khi hai hàm cắn khớp Trung bình ở người Việt Nam là 2,89 ± 1,45 mm

1.2.2.3 Đường cắn khớp: là đường nối các múi ngoài của răng sau và bờ cắn các răng trước hàm dưới hoặc là đường nối trũng giữa các răng sau và cingulum các răng trước hàm trên Đường cắn khớp là một đường cong đối xứng, liên tục và đều đặn, khi hai hàm cắn khớp chúng chồng khít lên nhau [13], [14]

1.3 Quan niệm khớp cắn bình thường của ANDREWS:

Gồm 6 đặc tính và nó là mục tiêu của điều trị Chỉnh hình răng mặt [14]

1.3.1 Tương quan ở vùng răng hàm:

gần răng 7 hàm dưới

dưới

1.3.2 Độ nghiêng gần – xa của thân răng: bình thường có góc độ dương và

độ nghiêng này thay đổi theo từng răng [14] (Hình 1.1)

1.3.3 Độ nghiêng ngoài – trong của thân răng: tương quan này ảnh hưởng

đến độ cắn phủ [14] (Hình 1.2)

Trang 6

Hình 1.1: Độ nghiêng gần, xa Hình 1.2: Độ nghiêng ngoài, trong

1.3.4 Không có răng xoay:

1.3.5 Không có khe hở giữa các răng:

1.3.6 Đường cong SPEE phẳng hoặc cong ít: Không sâu quá 1.5 mm

Hình 1.3: Đường cong SPEE [1]

Mục đích của điều trị chỉnh hình răng mặt là tạo ra 1 khớp cắn tối ưu có thể đạt được ở mỗi bệnh nhân và tiêu chuẩn khớp cắn thực sự cho mỗi bệnh

Trang 7

nhân chỉ có thể xác định sau khi quá trình điều trị và duy trì đã được hoàn tất [2], [14], [16]

1.4 Phân loại lệch lạc khớp cắn chiều trước – sau theo Angle: Có 4 loại [13] 1.4.1 Khớp cắn bình thường: múi ngoài gần răng 6 hàm trên khớp với

rãnh ngoài gần răng 6 hàm dưới và các răng sắp xếp theo một đường cắn khớp đều đặn

1.4.2 Sai khớp cắn loại I: như khớp cắn bình thường nhưng đường cắn khớp

không đúng do các răng trước mọc sai chỗ, xoay

1.4.3 Sai khớp cắn loại II: múi ngoài gần răng 6 hàm trên khớp về phía gần

so với rãnh ngoài gần răng 6 hàm dưới Loại II gồm 2 tiểu loại:

Tiểu loại 1: Cung hàm trên hẹp hình chữ V, nhô ra trước, răng cửa

trên ngả môi, môi đóng không kín, môi dưới thường chạm mặt trong các răng cửa trên

cửa bên nghiêng ngoài Độ cắn phủ tăng, cung răng trên thường rộng, loại này thường do di truyền

1.4.4 Sai khớp cắn loại III: Múi ngoài gần răng 6 hàm trên khớp về phía xa

so với rãnh ngoài gần răng 6 hàm dưới, các răng cửa dưới có thể ở phía ngoài các răng cửa trên Cần phân biệt sai khớp cắn loại III thật và giả

Ngày nay phân loại Angle được dùng rộng rãi để mô tả các loại sai khớp cắn, tương quan răng cối 2 hàm, tương quan 2 xương hàm, kiểu tăng trưởng

và phương pháp điều trị [13], [26]

Trang 9

1.5.1 Tác động của sự cân bằng lên răng:

Khi chúng ta quan sát tác động của nhiều loại lực lên răng thì thấy rằng thời gian kéo dài của lực quan trọng hơn độ lớn của chúng Lực nhai dù rất lớn nhưng chỉ xảy ra trong một thời gian rất ngắn nên không đủ kéo dài để di chuyển răng tới vị trí mới, trong khi đó lực ép của môi, má, lưỡi lên răng rất nhẹ nhàng hơn lực nhai nhưng có thể làm thay đổi sự cân bằng do có độ bền gấp nhiều lần Các thí nghiệm cũng đã cho thấy thậm chí lực rất nhẹ cũng gây

ra di chuyển răng nếu lực này kéo dài đủ lâu và giới hạn độ bền lực của con người xấp xỉ 6 giờ/ngày

Một yếu tố nữa cũng có thể tác động lên sự cân bằng là áp lực từ bên ngoài như hàm chỉnh nha, thói quen răng miệng xấu, vào thế kỷ đầu tiên sau công nguyên Celsus đã mô tả một trường hợp em bé có một chiếc răng mọc ngoài cung răng, em bé này đã đặt áp lực ngón tay lên chiếc răng đó để di chuyển chiếc răng đến vị trí thích hợp Từ sự am hiểu về khái niệm cân bằng,

ta thấy rằng có thể di chuyển răng nếu đứa trẻ giữ ngón tay ép vào răng khoảng 6 giờ hoặc hơn trong một ngày, nói một cách khác nếu thói quen này xảy ra trong một thời gian ngắn thì lực dù có mạnh tác động cũng làm di chuyển răng rất ít hoặc không có

1.5.2 Tác động của sự cân bằng lên kích thước và hình dạng xương hàm:

Những ảnh hưởng của quá trình cân bằng lên xương hàm theo nguyên tắc giống như ảnh hưởng của chúng lên răng, có nghĩa là: độ lớn của lực không quan trọng bằng thời gian mà nó tác động, những ảnh hưởng chức năng của môi trường sẽ dẫn tới sự thay đổi của cấu trúc xương do phản ứng và vị trí răng sẽ thay đổi chúng

Trang 10

1.6 Các thói quen răng miệng xấu [8], [19]:

1.6.1 Mút ngón tay:

Khớp cắn ban đầu của trẻ trước khi có thói quen xấu quan trọng trong chẩn đoán để xác định những lệch lạc gây ra bởi thói quen xấu hay có sự tham gia của yếu tố di truyền Rakosi đã nghiên cứu trên 693 trẻ em có thói quen mút ngón tay và thấy rằng khoảng 60% trẻ đã dừng thói quen xấu này trước 2 tuổi và phần lớn trong nhóm trẻ này có khớp cắn bình thường, trong khi đó

413 trẻ kéo dài thói quen xấu này qua 4 tuổi đều có lệch lạc khớp cắn và từ đó ông ta đưa ra kết luận rằng mút ngón tay kéo dài là nguyên nhân gây ra lệch lạc khớp cắn ở những trẻ em này Graber cũng có kết luận tương tự là mút ngón tay được coi như là hiện tượng bình thường ở trẻ em dưới 2 tuổi và lệch lạc răng miệng vĩnh viễn sẽ xảy ra khi mà trẻ kéo dài thói quen xấu này qua 4 tuổi Những nghiên cứu về tỉ lệ thói quen xấu này ở trẻ em cho thấy xuất hiện nhiều nhất ở trẻ 6 – 7 tháng tuổi và giảm tới 0 ở trẻ 14 tuổi Mút ngón tay cho

dù chỉ xuất hiện một thời gian ngắn ở trẻ nhỏ cũng đều ảnh hưởng đến sự phát triển của răng, xương ổ răng, Theo Graber lệch lạc vĩnh viễn sẽ xảy ra khi trẻ qua 4 tuổi do mút ngón tay không chỉ trực tiếp gây ra lệch lạc răng mà nó còn làm tăng thêm những rối loạn chức năng của hệ thống cơ quanh miệng, đặc biệt là cơ cằm và gây ra hoạt động bù trừ dẫn đến đẩy lưỡi, và tác động lâu dài các hoạt động mất cân bằng của hệ thống cơ lên răng và xương ổ răng liên quan gây ra những biến dạng ngay cả khi các thói quen xấu đó đã chấm dứt Tác động của mút ngón tay bao gổm tác động trực tiếp và tác động gián tiếp:

- Tác động trực tiếp:

+ Đẩy răng cửa trên ra phía ngoài

+ Đẩy răng cửa dưới vào trong

Trang 11

+ Khớp cắn hở

+ Hạn chế sự phát triển theo chiều đứng của các răng trước, các răng hàm mọc thụ động do có khoảng trống lâu ngày dẫn tới thay đổi hướng phát triển của XHD lên trên và ra sau quá mức tạo khớp cắn hở do xương

+ Hàm trên bị hẹp dẫn tới khớp cắn chéo phía sau 1 hoặc 2 bên

- Tác động gián tiếp:

+ Tăng trương lực cơ môi dưới

+ Nuốt đẩy lưỡi, dẫn tới làm tăng khớp cắn hở do mút ngón tay gây ra + Mức độ lệch lạc răng miệng do mút ngón tay gây ra còn phụ thuộc vào

vị trí đặt ngón tay do lực đòn bẩy của ngón tay chống lại răng và xương ổ răng, và còn phụ thuộc vào sự phát triển của cơ môi, mức độ thường xuyên cũng như sự kéo dài của thói quen xấu này

Hầu như trẻ em có thói quen mút ngón tay kéo dài đều đưa đến sai khớp cắn Mút ngón tay trong thời kỳ răng sữa không có ảnh hưởng lâu dài đến hàm răng, nhưng nếu kéo dài sang thời kỳ răng vĩnh viễn bắt đầu mọc dẫn đến sai khớp cắn với các biểu hiện (Hình 1.5):

- Răng cửa trên thưa và nghiêng về phía môi

- Răng cửa dưới nghiêng về phía lưỡi

- Cắn hở vùng răng trước, hẹp cung răng trên (cung răng hình chữ V) Răng di chuyển ít; nhiều phụ thuộc vào thời gian tác động của thói quen, nếu trẻ mút ngón tay với áp lực mạnh nhưng không liên tục và thời gian không đủ lâu thì các răng di chuyển ít [30] Ngược lại, trẻ mút ngón tay nhẹ nhàng nhưng kéo dài hơn 6giờ/ngày, đặc biệt là những trẻ mút ngón tay suốt đêm thì sẽ bị sai khớp cắn trầm trọng, mút ngón tay có thể gây sai khớp cắn nếu thói quen này kéo dài đến thời kỳ răng hỗn hợp và nếu thói quen kéo dài

Trang 12

sau khi răng cửa vĩnh viễn đã mọc lên cần phải điều trị chỉnh hình để giải quyết vấn đề sai vị trí của răng [21], [26], [28]

Hình 1.5: Thói quen mút tay và lệch lạc khớp cắn [22]

1.6.2 Thói quen xấu của môi:

Mút môi dưới có thể là nguyên nhân chính trực tiếp gây ra lệch lạc răng, hàm hoặc là hậu quả do hoạt động bù trừ của cơ khi có lệch lạc làm tăng them lệch lạc vốn có Thói quen xấu mút môi dưới có thể được coi là thứ phát trong trường hợp bệnh nhân có lệch lạc khớp cắn loại II Angle tiểu loại 1 hoặc có

độ cắn chìa lớn, hoạt động của cơ môi lúc này là hoạt động thích nghi hoặc bù trừ khi môi trên và dưới khó khăn trong việc đóng kín trong lúc nuốt, do đó trẻ sẽ phải cố đưa môi dưới lên để đóng kín miệng Nhưng việc đóng kín được thực hiện dễ dàng hơn đối với trẻ khi chúng đẩy môi dưới vào mặt trong của răng cửa trên, điều này làm tăng thêm độ cắn chìa do tạo lực đẩy răng cửa trên ra phía trước đồng thời tạo áp lực quá mức về phía lưỡi ở phần trước của XHD Khi lệch lạc tăng lên, hoạt động của cơ tăng theo tạo vòng xoắn bệnh lý

Trang 13

làm lệch lạc ngày càng tăng, thói quen xấu này thường dẫn đến tăng hoạt động và tăng trương lực của cơ cằm dẫn đến cản trở sự phát triển của xương ổ răng vùng răng cửa dưới nơi tiếp xúc trực tiếp với cơ và do đó ảnh hưởng cả các răng cửa dưới Mút môi dưới là thói quen thường gặp, biểu hiện lâm sàng thường gặp là (Hình 1.6):

- Làm tăng độ cắn chùm

- Rãnh môi cằm hằn rõ, tăng hoạt động cơ cằm, trên lâm sàng thấy nhiều nếp nhăn ở vùng cằm khi bệnh nhân nuốt

- Viền môi đỏ có thể phì đại nhìn rõ ở tư thế nghỉ

- Dấu các răng cửa trên môi dưới; ở một số bệnh nhân có thể thấy xuất hiện các tổn thương mạn tính do virus tại những vùng môi bị sang chấn hoặc kích thích

- Tăng trương lực cơ cằm

- Cắn hở vùng răng trước, răng cửa dưới nghiêng phía lưỡi, răng cửa trên chen chúc và nghiêng phía môi

- Thói quen mút môi dưới làm tăng độ cắn chìa [8], [22], [27]

Hình 1.6: Thói quen mút môi và dấu răng trên môi dưới [8]

Trang 14

1.6.3 Đẩy lưỡi:

Khái niệm đẩy lưỡi không có nghĩa là lưỡi tạo một lực đẩy ra phía trước

mà chỉ ngụ ý rằng lưỡi nằm quá về phía trước và ở giữa các răng cửa hàm trên và răng cửa hàm dưới, có nhiều tác giả phân loại đẩy lưỡi theo các cách khác nhau:

+ James và Townsend mô tả các loại đẩy lưỡi khác nhau dựa trên những biến dạng do nó gây ra để giúp cho việc điều trị do các tác giả cho rằng nguyên nhân gây đẩy lưỡi không thể xác định được

+ Tulley lại cho rằng đẩy lưỡi là thói quen nội sinh hoặc hành vi thích nghi, việc phân loại dựa vào hình thái học của mặt hoặc hoạt động nuốt

+ Theo Proffit và Mason, đẩy lưỡi có khả năng là là một sự thích nghi đối với khớp cắn hở, và việc điều trị mục đích là để thay đổi kiểu nuốt không được chỉ định Sự di chuyển răng trong trường hợp này không phải là do đẩy lưỡi mà vị trí đặt lưỡi mới đóng vai trò quan trọng là nguyên nhân của khớp cắn hở Quan điểm của Proffit và Mason phù hợp với thuyết cân bằng Hơn nữa, các tác giả này gợi ý rằng việc điều trị vị trí của của lưỡi có hiệu quả nhất khi phối hợp với điều trị chỉnh nha, điều trị về phát âm và điều trị chức năng cơ có thể phối hợp với điều trị chỉnh nha khi cần thiết

+ Theo Bahr và Holt, dựa trên đặc điểm lâm sàng khớp cắn hở phân chia hoạt động đẩy lưỡi làm 4 loại sau:

dù có bất thường về mặt chức năng

hẹp hàm 2 bên và khớp cắn chéo phía sau Moyers gọi đây là khớp cắn

hở đơn giản

Trang 15

 Đẩy lưỡi gây ra khớp cắn hở phía sau, hoạt động đẩy lưỡi bên có thể tạo ra khớp cắn sâu chức năng, khớp cắn hở phía sau, một vài trường hợp khớp cắn loại II Angle tiểu loại 2 thấy ở loại này

Moyers gọi đây là khớp cắn hở phúc tạp, khó điều trị hơn các loại khác Chức năng và vị trí lưỡi bất thường có thể là nguyên nhân của sai khớp cắn, nhưng cũng có thể là sự đáp ứng của lưỡi đối với sai khớp cắn có từ trước, lưỡi có thể nằm về trước, sang hai bên, vừa sang bên Tùy theo vị trí của lưỡi mà ta có các kiểu sai khớp cắn (Hình 1.7):

- Cắn hở vùng răng trước: Do vị trí lưỡi nằm về trước và đẩy lưỡi ra trước khi nuốt

- Cắn hở vùng răng sau và cắn sâu: Do vị trí nghỉ của lưỡi nằm về phía sau và tràn lên mặt nhai vùng răng sau, làm lún các răng sau

- Cắn đối đầu vùng răng trước và khớp cắn múi – múi vùng răng sau do

vị trí lưỡi nằm cả vùng răng trước và răng sau [18], [20]

Trang 16

1.6.4 Thở miệng: Thật ra là thở “Mũi – Miệng” vì hiếm gặp thở miệng đơn

thuần, dù là thuật ngữ nào thì thói quen này cũng vẫn cần phải bàn luận Thở miệng được coi là thói quen xấu khi đường thở không còn bị tắc nghẽn nhưng việc thở vẫn tiếp tục được thực hiện chủ yếu qua miệng, để xác định một người nào đó thở qua miệng nhiều hơn là qua mũi, cần thiết phải có dụng cụ

để đo lượng thông khí qua miệng và qua mũi cùng một lúc, nếu lớn hơn 1/2 thì có thể khảng định là người này có hiện tượng thở miệng

1.6.4.1.Nguyên nhân:

+ Đường mũi bị cản trở: Vẹo vách ngăn, dị ứng

+ Thói quen dù đường mũi không bị cản trở

+ Cấu tạo giải phẫu: Trẻ thở bằng mũi nhưng do môi trên quá ngắn nên miệng vẫn hở khi trẻ thở mũi

1.6.4.2 Lâm sàng:

- Khuôn mặt dài, hẹp

- Răng cửa hàm trên nhô trước

- Khi miệng hở: Môi dưới nằm sau răng cửa hàm trên

- Có sự bất cân xướng giữa cơ lưỡi và cơ thổi, cơ vòng miệng, cung hàm trên hình chữ V, vòm khẩu cao

- Mô lợi ở cung răng phía trước hàm trên thường bị kích thích và viêm

1.7 Điều trị các thói quen răng miệng xấu [8], [23], [27]

1.7.1 Mút ngón tay: Phần lớn trẻ 4 – 5 tuổi tự bỏ thói quen mút tay, nếu trẻ

không bỏ được thói quen xấu này thì:

Trang 17

- Nha sỹ nói chuyện trực tiếp với những trẻ lớn, trẻ sẽ dần dần từ bỏ thói quen xấu này

- Dùng biện pháp “nhắc nhở” cùng với những lời giải thích:

+ Một miếng băng keo không thấm nước dán ở ngón tay trẻ thường mút

Trang 18

1.7.2.Thói quen xấu của môi: Loại bỏ thói quen xấu này bằng cách

- Chỉnh hình làm giảm cắn chìa đến mức có thể chấp nhận được

- Tấm chặn môi được mang ban đêm và 2 – 3 giờ vào ban ngày khi trẻ ở nhà (Hình 1.10)

Hình 1.10: Tấm chặn môi [12]

Trang 19

1.7.3 Đẩy lưỡi:

- Dùng tấm chặn lưỡi tháo lắp; cố định để ngăn chặn vị trí bất thường của lưỡi

- Tấm chặn lưỡi được làm bằng thép không gỉ có ф o.8 mm (Hình 1.11)

- Có thể dùng thêm tấm chặn môi để ngăn chặn sự tiếp xúc giữa lưỡi và môi trong trường hợp trẻ có kiểu nuốt đẩy lưỡi ra trước [8], [29]

Hình 1.11: Tấm chặn lưỡi [18]

1.7.4 Thở miệng: Khi đã loại trừ các trở ngại đường mũi mà trẻ vẫn tiếp tục

còn có thở miệng, điều trị bằng cách: Dùng tấm chặn môi là một vật cản cứng thụ động được đặt vào miệng, tựa lên răng và niêm mạc, cho trẻ mang vào ban đêm Tấm chặn môi có khoét 3 lỗ nhỏ ở phía trước (Hình 1.12), các lỗ này được thu hẹp từ từ khi BN đã quen với khí cụ để kích thích BN thở bằng mũi [17], [24]

Hình 1.12: Tấm chặn môi [12]

Trang 20

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh Trường tiểu học Tân Mai, Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội có độ tuổi từ 7 đến 11 tuổi

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn lựa:

- Cha, Mẹ, Ông, Bà nội ngoại là người Việt Nam

- Tình trạng sức khỏe bình thường

- Chưa bao giờ được điều trị nắn chỉnh răng

- Không có tiền sử chấn thương hàm mặt, dị tật bẩm sinh

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Học sinh không có đầy đủ các điều kiện trên

- Học sinh có bệnh lý toàn thân

- Học sinh không hợp tác

2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

- Địa điểm: Trường Tiểu học Tân Mai, Quận Hoàng Mai, Thành phố

Hà Nội

- Thời gian: Từ tháng 3 năm 2009 đến tháng 12 năm 2009

Trang 21

2.1.4 Các bước tiến hành nghiên cứu: Được mô tả theo sơ đồ sau đây:

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Chuẩn bị đối tượng NC

Gặp gỡ đại diện Thầy, Cô giáo và Phụ huynh học sinh

Hẹn học sinh ngày, giờ, địa điểm khám

Thu thập thông tin

Báo cáo kết quả

Trang 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1 Phương pháp: Mô tả cắt ngang

.

d

q p Z

Trong đó:

- Khoảng tin cậy 1 – α/2 là 95%

- σ: độ lêch chuẩn theo một số nghiên cứu trong nước, giá trị khoảng σ= 0,5

-Z 12: hệ số tin cậy Với = 0,05 ta có Z 12= 1,962

- d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ lệch lạc thu được từ mẫu và

tỷ lệ của quần thể = 5%

- p: Tỉ lệ lệch lạc khớp cắn (ước đoán ) = 50%

- q = 1 – p: Tỉ lệ không lệch lạc khớp cắn

- n: Cỡ mẫu nghiên cứu

Áp dụng vào công thức, tính được n = 384 người

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 10 lớp của 5

khối trường Tiểu học Tân Mai là 421 em học sinh (trong đó đã loại khỏi mẫu

10 em đang điều trị chỉnh nha, bị dị tật bẩm sinh hàm mặt và 2 em học sinh bị bệnh tim bẩm sinh)

2.2.3 Phương pháp khám:

* Cách tổ chức khám:

+ Lấy danh sách số đối tượng điều tra theo khối, lớp

+ Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn theo mẫu của WHO (Phụ lục 1)

Trang 23

+ Thiết kế mẫu phiếu khám thu thập thông tin (Phụ lục 2)

+ Khám xác định khớp cắn theo 3 chiều trong không gian:

Chiều trước – sau:

Chiều đứng:

Chiều ngang:

Trang 24

 Tình trạng khớp cắn: rộng, hẹp cung hàm, số lượng răng, răng chen chúc, thưa, nghiêng lệch, mặt phẳng cắn bình thường hay nghiêng, tình trạng của lưỡi

+ Khám tình trạng răng miệng:

2.2.4 Thu thập thông tin: Thông tin của mẫu nghiên cứu được thu thập

bao gồm:

2.2.4.1 Từ bảng phỏng vấn học sinh và Phụ huynh:

- Tuổi, giới

- Tiền sử toàn thân

- Tiền sử Nha khoa:

và thở miệng Thời gian kéo dài/ngày

- Tình trạng bệnh lý đường hô hấp liên quan đến lệch lạc khớp cắn

2.2.4.2 Từ khám lâm sàng:

- Tình trạng răng:

- Tình trạng cung răng:

- Tình trạng khớp cắn:

Trang 25

- Các dấu chứng lâm sàng để xác định thói quen răng miệng xấu: Mút ngón tay:

+ Ngón tay dẹt, ướt

+ Răng cửa trên thưa và nghiêng lệch về phía môi

+ Hẹp cung răng trên, cung răng có hình chữ V

+ Răng cửa dưới nghiêng lệch về phía lưỡi

+ Cắn hở vùng răng trước

Cắn môi dưới:

+ Dấu của các răng cửa in trên môi dưới

+ Răng cửa trên chen chúc, nghiêng về phía môi, độ cắn chìa tăng

+ Răng cửa dưới nghiêng về phía lưỡi

+ Cắn hở vùng răng trước

Đẩy lưỡi:

+ Cắn hở vùng răng trước do lưỡi nằm về phía trước

+ Cắn hở vùng răng sau và cắn sâu do vị trí lưỡi nằm ở phía sau

+ Cắn đối đầu vùng răng trước và khớp cắn múi – múi ở vùng răng sau

do lưỡi nằm cả vùng răng trước và răng sau

+ Nghiêng lệch răng trước hàm trên và hàm dưới

+ Nghiêng lệch răng sau hàm dưới

Thở miệng:

+ Trẻ thường có khớp cắn hạng II, hẹp hàm trên, cắn hở răng trước, cắn chéo răng sau một hoặc hai bên

+ Răng chen chúc trên cả hai hàm, mặt dài, đầu hơi ngửa ra sau

+ Hai môi khép không kín, lưỡi nằm thấp

+ Nghiêng lệch răng trước hàm trên và hàm dưới

+ Các bệnh lý về đường hô hấp trên

Trang 26

2.2.4.3 Từ chụp ảnh trong miệng: để xác định tình trạng khớp cắn vùng

răng trước và răng sau những trường hợp lệch lạc điển hình (Phụ lục 3)

2.2.4.4 Từ lấy dấu, đổ mẫu hàm thạch cao nghiên cứu: để xác định tình

trạng khớp cắn những trường hợp lệch lạc điển hình (Phụ lục 3)

2.3 Xử lý số liệu:

2.4 Sai số và khống chế sai số:

- Các sai số gặp phải trong nghiên cứu:

 Sai số chọn

- Để tránh sai số trên, chúng tôi sẽ:

kỹ năng thu thập thông tin không đồng nhất giữa các người khám

thể và dễ hiểu

 Quá trình nhập số liệu vào máy tính được thực hiện cẩn thận, kiểm tra kỹ bằng đối chiếu phiếu điều tra và lập trình để phát hiện lỗi bằng máy tính

2.5 Đạo đức trong nghiên cứu:

- Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo rõ mục đích của nghiên cứu

- Nghiên cứu chỉ tiến hành khi được các Học sinh, Ban Giám hiệu, Giáo viên và các gia đình tự nguyện chấp nhận

- Mọi thông tin về đối tượng nghiên cứu sẽ được đảm bảo bí mật

Trang 27

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới tính.

Bảng 3.1 Các đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 421 học sinh có lứa tuổi từ 7 đến 11 tuổi,

chọn ngẫu nhiên mỗi khối hai lớp, tổng cộng là 10 lớp của 5 khối, số học sinh được phân bố khá đều theo nhóm tuổi

Trang 28

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tiền sử Y và Nha khoa

+ Bệnh lý đường hô hấp có ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng của các

em, trong đó tỉ lệ viêm mũi là 22,6% , hen phế quản là 8,6% và VA là 23,3%

Trang 29

Bảng 3.3 Phân bố tình trạng thói quen răng miệng xấu theo tuổi

sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê với P > 0,05

Trang 30

Bảng 3.4 Phân bố tình trạng lệch lạc khớp cắn theo giới

Giới tính

Tình trạng khớp cắn

P

Bình thường (90)

Lệch lạc (331)

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

% Nam

Trang 31

Bảng 3.5 Phân bố tình trạng thói quen răng miệng xấu theo giới

Giới tính

Thói quen răng miệng xấu

P

Có (85)

Không (335)

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

% Nam

+ Kết quả nghiên cứu trong 205 Nam học sinh có 45 em có thói quen xấu

về răng miệng chiếm 21,9%, trong 216 Nữ học sinh có 40 em có thói quen

răng miệng xấu chiếm 18,5%

+ Tỉ lệ có thói quen răng miệng xấu ở Nam (21,9%) cao hơn ở Nữ (18,5%) nhưng sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê với P > 0,05

Trang 32

3.2 Tình hình thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn:

Trong mẫu nghiên cứu 421 em học sinh thì có 331 em học sinh lệch lạc

khớp cắn chiếm 78,6%, khớp cắn bình thường chỉ có 90 em chiếm 21,4%

Trang 33

Bảng 3.7 Phân bố tình trạng lệch lạc khớp cắn theo Angle

+ Trong mẫu nghiên cứu 421 em học sinh có 90 em khớp cắn bình

thường (chiếm 21,4%), 331em học sinh sai khớp cắn chiếm 78,6% Trong đó

tỉ lệ phân bố lệch lạc khớp cắn loại I có 222 em chiếm 52,7%, loại II có 88

em chiếm 20,9%, loại III có 21 em chiếm 5,0%

+ Tỉ lệ lệch lạc khớp loại I theo Angle lớn hơn loại II và lệch lạc loại II lớn hơn lệch lạc loại III theo Angle nhưng sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê với P > 0,05

Ngày đăng: 13/01/2015, 16:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3: Đường cong SPEE [1]. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 1.3 Đường cong SPEE [1] (Trang 6)
Hình 1.4: Khớp cắn bình thường và các loại  sai khớp cắn theo Angle [13]. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 1.4 Khớp cắn bình thường và các loại sai khớp cắn theo Angle [13] (Trang 8)
Hình 1.5: Thói quen mút tay và lệch lạc khớp cắn [22]. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 1.5 Thói quen mút tay và lệch lạc khớp cắn [22] (Trang 12)
Hình 1.6: Thói quen mút môi và dấu răng trên môi dưới [8]. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 1.6 Thói quen mút môi và dấu răng trên môi dưới [8] (Trang 13)
Hình 1.7: Thói quen đẩy lưỡi [8]. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 1.7 Thói quen đẩy lưỡi [8] (Trang 15)
Hình 1.8: Băng dính ngón tay [8]. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 1.8 Băng dính ngón tay [8] (Trang 17)
Hình 1.9: Khí cụ Hawley [12]. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 1.9 Khí cụ Hawley [12] (Trang 18)
Hình 1.10: Tấm chặn môi [12]. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 1.10 Tấm chặn môi [12] (Trang 18)
Hình 1.11: Tấm chặn lưỡi  [18]. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 1.11 Tấm chặn lưỡi [18] (Trang 19)
Hình 1.12: Tấm chặn môi [12]. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 1.12 Tấm chặn môi [12] (Trang 19)
Hình 2.1: Bộ dụng cụ khám vô khuẩn. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Hình 2.1 Bộ dụng cụ khám vô khuẩn (Trang 23)
Bảng 3.1. Các đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Bảng 3.1. Các đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu (Trang 27)
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tiền sử Y và Nha khoa. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tiền sử Y và Nha khoa (Trang 28)
Bảng 3.3. Phân bố tình trạng thói quen răng miệng xấu theo tuổi. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Bảng 3.3. Phân bố tình trạng thói quen răng miệng xấu theo tuổi (Trang 29)
Bảng 3.4. Phân bố tình trạng lệch lạc khớp cắn theo giới. - nhận xét mối liên quan giữa  thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 7 – 11
Bảng 3.4. Phân bố tình trạng lệch lạc khớp cắn theo giới (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w