Hiện nay nhiều loại thuốc mới ra đời có tác dụng điều trị thiểu năng tuần hoàn não như: Raobasine Duxil, Piracetam Nootropyl, Centrophenoxin Lucidrin…nhưng các thuốc tân dược cũng có hạn
Trang 1Đặt vấn đề
Thiểu năng tuần hoàn não mạn tính (TNTHNMT) là một tình trạng bệnh lý có nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau, nhưng có cùng một cơ chế bệnh sinh, đó là thiếu máu nuôi não, bệnh phổ biến ở người có tuổi đặc biệt là
ở người lao động trí óc Nguyên nhân thường do vữa xơ động mạch làm hẹp dần động mạch nuôi não Bệnh tiến triển nặng dần có thể gây thiếu máu não cục bộ tạm thời, mức độ nặng nhất là nhồi máu não [29][30][31][43]
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ở 12 nước đã và đang phát triển, tỷ
lệ người bị tai biến thiếu máu não cục bộ tạm thời chiếm từ 0,2 - 0,5% dân
số Nhưng do tai biến thiếu máu não cục bộ tạm thời chỉ xẩy ra trong một thời gian ngắn, không để lại di chứng nên nhiều người Ýt để ý tới, khi tai biến tái phát nặng nề hơn gây nhồi máu não thì việc điều trị đã trở nên khó khăn và tốn kém Đa số bệnh nhân trước giai đoạn thiếu máu não tạm thời đã
có biểu hiện TNTHNMT Chẩn đoán sớm và điều trị TNTHNMT kịp thời và tích cực là một vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì có thể hạn chế quá trình tiến triển của bệnh, hạn chế tỷ lệ tai biến mạch máu não [26]
Y học hiện đại (YHHĐ) điều trị TNTHNMT chủ yếu là điều trị nội khoa kết hợp với luyện tập, ăn uống hợp lý và hạn chế nguy cơ làm bệnh nặng thêm Hiện nay nhiều loại thuốc mới ra đời có tác dụng điều trị thiểu năng tuần hoàn não như: Raobasine (Duxil), Piracetam (Nootropyl), Centrophenoxin (Lucidrin)…nhưng các thuốc tân dược cũng có hạn chế là có loại thuốc giá thành cao, không dùng được kéo dài, khó giải quyết được xơ mạch và có những người bệnh không dùng được thuốc tân dược (ví dụ do dị ứng thuốc)
Y học cổ truyền (YHCT) không có bệnh danh của TNTHNMT nhưng những biểu hiện lâm sàng của bệnh đã được các y gia thời xưa mô tả trong
Trang 2các phạm trù: “huyễn vững” (mục huyễn và đầu vựng); “đầu thống” (đau đầu); “thất miên” (mất ngủ); “kiện vong” (hay quên) Nguyên nhân gây ra các chứng này thường do tâm huyết hư, can huyết hư, tỳ khí hư và thận hư kết hợp với đàm Èm, huyết ứ [12]
Phương pháp điều trị chủ yếu là bổ can huyết, kiện tỳ, Ých thận, dưỡng tâm, an thần, hóa đàm, hành khí, hoạt huyết YHCT đã có nhiều công trình nghiên cứu để chữa bệnh như: Chu Quốc Trường, Trần Thị Viển dùng châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt; Trần Minh Vịnh, Phạm Viết Dự, Bùi Xuân Tuyết, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thanh Lâm đã dùng cây, con thuốc Mỗi phương pháp điều trị đều cho kết quả nhất định Nhưng các nghiên cứu này vẫn chưa đựơc sử dụng rộng rãi vì chưa thực sự đáp ứng nhu cầu chữa bệnh của người bệnh
Trên cơ sở nghiên cứu cơ chế bệnh sinh của bệnh lý TNTHNMT, dựa trên những thành tựu nghiên cứu dược lý hiện đại về thuốc thảo mộc kết hợp với biện chứng luận trị y lý YHCT chúng tôi tổ chức bài thuốc "TH-08" nhằm góp phần dự phòng và điều trị an toàn hiệu quả bệnh lý TNTHNMT
Mục tiêu cụ thể là:
1 Xác định độc tính của bài thuốc "TH-08"
2 Đánh giá tác dụng điều trị bệnh lý TNTHNMT của bài thuốc"TH-08" trên lâm sàng
Trang 3Chương 1 Tổng quan tài l ệu
1.1 Y học hiện đại
1.1.1 Giải phẫu, sinh lý tuần hoàn và chuyển hóa ở não
1.1.1.1 Đặc điểm giải phẫu các động mạch não
Não được tưới máu bởi hai hệ thống động: hệ động mạch cảnh trong (A Carotid) và hệ động mạch đốt sống - thân nền (A Vertebro - basi Laris)
Hệ thống động mạch cảnh trong: cung cấp máu cho khoảng 2/3 trước của bán cầu đại não
Các nhánh:
+ Bốn nhánh tận: động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch thông sau và động mạch mạc trước Mỗi động mạch não chia làm 2 ngành: loại ngành nông cung cấp máu cho não, loại ngành sâu đi vào trong não Có hai nhánh sâu quan trọng là: động mạch Heubner (nhánh của động mạch não trước) và động mạch thể vân ngoài còn gọi là động mạch Charcot (nhánh của động mạch não giữa)
+ Các nhánh bên khác: động mạch mắt, động mạch thần kinh sinh ba, tuyến yên, màng não và tai giữa
Hệ thống động mạch sống nền: cung cấp máu cho 1/3 sau của bán cầu
đại não, tiểu não và thân não Hai động mạch não sau là hai nhánh tận cùng của động mạch đốt sống thân nền Qua hai động mạch này, hệ động mạch đốt sống thân nền được nối thông với hệ động mạch cảnh trong
Trang 4Hệ thống tuần hoàn của não được nối thông với nhau bởi nhiều nhánh động mạch ở các mức độ khác nhau có thể chia thành 3 mức chủ yếu[2][15] [23]:
+ Mức thứ nhất nối thông giữa các động mạch lớn trước não với nhau: động mạch cảnh trong, cảnh ngoài và động mạch đốt sống
+ Mức thứ hai là đa giác Willis, nó giữ vai trò chủ yếu trong việc lưu thông máu giữa các động mạch não Đây là hệ thống nối độc đáo, duy nhất trong cơ thể, nối các động mạch lớn ở não với nhau, ĐM cảnh trong được nối với ĐM đốt sống thân nền bằng các động mạch thông trước và ĐM thông sau
+ Mức thứ ba ở quanh vỏ não tạo ra do 3 vòng tuần hoàn phụ:
Tuần hoàn não được chia thành hai khu vực tuới máu:
- Tuần hoàn ngoại vi: do nghành nông sâu của các nhánh tận thuộc động mạch não giữa, não trước, não sau tạo thành, tưới máu cho vỏ não và lớp chất trắng dưới vỏ
- Tuần hoàn trung tâm: do nghành sâu của các nhánh tận đi sâu vào trung tâm não tưới máu cho hệ nhân xám trung ương, sau đó đi ra nông và tận cùng ở lớp chất trắng dưới vỏ
Đặc điểm: hệ thống sâu và nông độc lập nhau, các nhánh nông có nối thông với nhau, nhưng trong hệ thống sâu các nhánh có cấu trúc chức năng của các nhánh tận Các nhánh thuộc hệ thống trung tâm tận cùng ở lớp nông dưới vỏ còn các nhánh nông đi vào sâu tận cùng ở lớp chất trắng dưới vỏ- Tại nơi tiếp giáp không có mạch nối quan trọng nên hình thành vùng “ranh giới “,
Trang 5ở vùng này sự cung cấp máu kém hơn Khi có biến cố giảm áp lực dòng máu đến não một cách đột ngột thì vùng “ranh giới” dễ bị tổn thương nhũn não, ngược lại khi huyết áp cao đột ngột thì vùng dễ gây xuất huyết ở các nhánh
động mạch xuyên sâu [3][15]
Trang 6Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống nối thông của tuần hoàn não (theo Frank Netter)
Trang 71.1.1.2 Đặc điểm sinh lý tuần hoàn và chuyển hóa ở não
+ Lưu lượng tuần hoàn não: Là lượng máu qua não trong một đơn vị
thời gian (phút), bình thường khoảng 750 ml máu qua não trong một phút (bằng 14% cung lượng tim) cho cả chất xám và chắt trắng [15]
- Lưu lượng tuần hoàn não thay đổi theo tuổi Trẻ em < 15 tuổi có lưu ượng máu não 100 ml/100g/phút Tuổi càng tăng thì lưu lượng máu não càng giảm, đến 60 tuổi lưu lượng máu não chỉ còn 36 ml/100g/phút [2][3][15][31])
l Lưu lượng tuần hoàn não phụ thuộc vào hai yếu tố chính là áp lực động mạch và sức cản đối với dòng máu chảy trong mạch não theo công thức [3]:
P D: lưu lượng máu não
D = P: áp lực động mạch
R R: sức cản mạch
Lưu lượng tăng nếu có tăng HA hoặc giãn mạch
Lưu lượng giảm nếu có hạ HA hoặc co mạch
Áp lực ĐM phụ thuộc vào nhiều yếu tố: sức co bóp cơ tim, khối lượng
và độ nhớt của máu
- Lưu lượng tuần hoàn não được ổn định là do sự điều hoà của nhiều yếu tố: Tự điều hoà của tuần hoàn não, điều hoà chuyển hoá đối với lưu lư-ợng tuần hoàn não, điều hoà thần kinh, ảnh hưởng của các chất sinh học và các thuốc đối với lưu lượng tuần hoàn não [3][15]
+ Tốc độ tuần hoàn não: được xác định bằng phương pháp đồng vị
phóng xạ và chụp mạch máu não Tốc độ tuần hoàn qua não rất nhanh, nhất
là tốc độ qua động mạch, ngay từ giây đầu tiên máu từ các động mạch lớn ở
cổ vào đến các động mạch não, giây thứ hai vào hệ thống mao mạch [15]
+ Tiêu thụ oxy và glucose của não: nhu cầu oxy và glucose cần được
đáp ứng liên tục và ổn định Tế bào não không có dự trữ oxy, còn lượng
Trang 8glucose có thể dự trữ trong 2 phót Trung bình khoảng 3,3- 3,8ml oxy /100g não/phút Toàn bộ não tiêu thụ 4,5g glucose/giờ [15]
1.1.2 Nghiên cứu về căn nguyên, bệnh sinh:
Cơ chế bệnh sinh của TNTHN rất đa dạng và phức tạp song nguyên nhân chính hay gặp đó là vữa xơ động mạch và tăng huyết áp
+ Vữa xơ động mạch là nguyên nhân hay gặp nhất làm cho thành mạch
bị vữa xơ trở nên thô ráp tạo điều kiện thuận lợi cho tiểu cầu bám vào, lớn dần (hẹp lòng mạch) và vỡ ra từng mảnh theo dòng máu lên não làm chậm (dòng chảy) gây thiểu năng tuần hoàn não mạn tính, có các mảnh bong ra mà kích thước lớn bịt kín lòng động mạch gây thiếu máu trên chỗ tắc Rối loạn lipit máu đặc biệt tăng LDL - C là yếu tố nguy cơ nghiêm trọng nhất đối với bệnh lya vữa xơ động mạch bởi lượng LDL - C chiếm tới 70% của tổng hợp Cholesterol lưu hành trong máu (Phan Nguyên Vinh, 2006) [29][31][[59]][69]
+ Tăng huyết áp, lâu ngày làm cho động mạch não mất hoặc giảm sự đàn hồi thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch não và làm cản trở tuần hoàn [26][31][55][91]
+ Tác động từ bên ngoài ĐM đốt sống gây TNTHN hệ sống nền:
Theo Dương Văn Hạng (1994) và Hồ Hữu Lương (2003), thoái hoá xương, khớp, đĩa đệm ở cột sống cổ có thể gây TNTHN hệ sống nền [23], [36]
Theo Nguyễn Văn Đăng (2007) và một số tác giả nước ngoài, trong số người cao tuổi có thoái hoá cột sống cổ, khi làm động tác quay cổ đột ngột,
ĐM đốt sống có thể bị kẹt, có thể gây thiếu máu tam thời cho não [19]
Theo một số tác giả nước ngơài, có hơn 80% người trên 55 tuổi có hình ảnh tổn thương trên phim X quang và nhiều người trong số họ có các biểu hiện lâm sàng TNTHNMT [65]
* Theo Hồ Hữu Lương, ngoài ra còn gặp các nguyên nhân sau [19]:
- Hư đĩa đệm cột sống cổ
Trang 9- Các dị dạng bẩm sinh của động mạch não
- Bệnh tim mạch và các bệnh mạn tính gây thiếu ô xy
- Hạ huyết áp
1.1.3 Những nghiên cứu về lâm sàng để chẩn đoán TNTHNMT:
Lâm sàng TNTHN được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau TNTHN được Denny Brown nghiên cứu từ năm 1951 và sau đó được các nhà nghiên cứu Corday và cộng sự (1953) Millikan và Sieekact (1955) tiếp tục nghiên cứu Theo các tác giả trên tất cả các loại thiếu máu não cục bộ, cấp tính cũng như mãn tính, không có tổn th-ương thần kinh khu trú đều có thể gọi là TNTHN Theo tính chất lâm sàng có thể chia ra TNTHNMT và TNTHN cấp tính, Theo định khu có thể chia ra TNTHN hệ động mạch cảnh, TNTHN hệ động mạch sống nền, TNTHN ở toàn thể hệ tuần hoàn não hoặc một khu vực nhỏ của não
Từ năm 1974, được sự khuyến khích của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nhiều nhà y học đã quan tâm tới vấn đề này Năm 1979 Khajiev và cộng sự đã khám và điều tra 250.000 người, từ đó đưa ra bảng tiêu chuẩn chẩn đoán TNTHN Bảng tiêu chuẩn này gồm 20 tiêu chuẩn đánh giá bằng điểm với từng triệu chứng theo mức độ có hoặc không Tổng số điểm nếu trên 23,9 thì được coi là dương tính (có khả năng bị thiểu năng tuần hoàn não)[66]
Theo Phạm Khuê, trong các căn cứ đưa vào để chẩn đoán TNTHN thì những triệu chứng lâm sàng giữ vị trí hàng đầu Chúng rất phong phú và xuất hiện sớm, tiêu biểu giúp chúng ta nghĩ ngay đến TNTHN Các dấu hiệu này nhiều khi hướng cho ta sử dụng các kỹ thuật cận lâm sàng được đúng hơn Nhiều tác giả khác như Dương Văn Hạng, Hồ Hữu Lương, Nguyễn Xuân Thản, cũng có những đámh giá tương tự [23], [36], [43]
Biểu hiện chung:
Trang 10+ Những triệu chứng không đặc hiệu của TNTHNMT:
- Đau đầu: Gặp trên 91% bệnh nhân [30]) Đau đầu thường có tính chất lan tỏa,co thắt, hoặc khu trú ở vùng chẩm gáy, trán, đau tăng lên khi căng thẳng thần kinh Kèm theo đau đầu bệnh nhân có cảm giác nặng nề, u ám trong đầu
- Chóng mặt: Gặp trên 87% bệnh nhân, tính chất rất đa dạng Có thể biểu hiện dưới dạng chóng mặt kiểu tiền đình, kiểu rối loạn phối hợp động tác, rối loạn thăng bằng hoặc có cảm giác bập bềnh như ngồi trên thuyền
- Rối loạn cảm giác: Biểu hiện sớm, cảm giác đau ở tay, chân và toàn thân, đau ở các kẽ liên sườn, chuột rút, các rối loạn thần kinh thực vật Hay
có cảm giác lạnh, kiến bò, tê cóng người Đặc biệt là triệu chứng ù tai, cảm giác nóng ở đầu
- Biểu hiện thần kinh thực thể: Dấu hiệu hay gặp nhất trong giai đoạn đầu là run các ngón tay khi đưa tay thẳng ngang, tư thế đứng không vững khi làm nghiệm pháp Romberg
+ Những triệu chứng tiêu biểu [30]:
- Rối loạn về giấc ngủ: mất ngủ, rối loạn nhịp ngủ, giảm chất lượng giấc ngủ và mọi kiểu phối hợp gữa các yếu tố đó Đa số tác giả thấy rối loạn giấc ngủ hay gặp nhất là mất ngủ, trằn trọc ban đêm, tỉnh giấc không ngủ lại được
- Rối loạn về sự chú ý: Thường bị rối loạn ngay từ giai đoạn đầu của bệnh, là trở ngại đầu tiên của bệnh đối với khả năng làm việc, dần dần nặng hơn và phức tạp hơn, cuối cùng là sự sa sút trí tuệ
- Rối loạn về tri giác: Theo Kehrer, thị giác và thính giác vẫn bình thường nhưng bệnh nhân thấy và nghe được Ýt hơn người trẻ Các chức năng phân tích của não bị rối loạn, rõ nhất với thị giác và thính giác,hay gặp giảm thính lực, hẹp thị trường…
Trang 11- Rối loạn về trí nhớ: Tất cả các tác giả đều cho rối loạn về trí nhớ là một trong những biểu hiện chủ yếu của TNTHNMT Đặc điểm là giảm rõ rệt trí nhớ gần, khó nhớ lại sự việc vừa xẩy ra, có thể nhớ một số việc nhưng không có khả năng sắp xếp lại theo đúng trình tự xuất hiện [5][30]
- Rối loạn về xúc cảm: Rối loạn về xúc cảm gần như bao giờ cũng gặp
và biểu hiện rất đa dạng, phần lớn là tình trạng vừa hay dễ xúc động khóc lóc vừa hay dễ bực mình cáu gắt [30]
- Rối loạn về nhân cách tính tình: Sự thay đổi nhân cách tính tình trong TNTHNMT lệ thuộc rất nhiều vào tình trạng tâm sinh lý trước kia của người bệnh Schneider phân ra 3 loại tiến triển của rối loạn nhân cách hay gặp trong TNTHNMT: Thứ nhất là bệnh sảng khoái, ba hoa, nói nhiều; thứ hai làvô tình cảm, nghèo nàn về tư duy trí tuệ và thứ ba là loại tình cảm thất thường dễ kích động [30]
TNTHN hệ động mạch đốt sống thân nền:
+ Bệnh cảnh lâm sàng được Schott mô tả một cách khá đầy đủ từ năm
1965 Các triệu chứng lâm sàng rất nhiều và đa dạng, lúc thì biểu hiện thần kinh rất phong phú, điển hình nhưng hết nhanh, lúc thì rất nghèo nàn, chỉ đơn độc một triệu chứng
Nổi bật nhất là tam chứng: đau đầu phía sau vùng gáy, chẩm; chóng mặt, mệt mỏi toàn thân [23], [30]
Trên thực tế TNTHN hệ động mạch đốt sống thân nền gặp tới 30% trong rối loạn tuần hoàn não nói chung nhưng chiếm tới 70% trong thể rối
loạn tuần hoàn não tạm thời và thường gặp ở lứa tuổi 40-60 [23], [30]
1.1.4 Nghiên cứu về cận lâm sàng để chẩn đoán TNTHN:
1.1.4.1 Lưu huyết não đồ (Rheo encephalo graphy - REG):
Trang 12W Holzer và K Polzer (1945-1946) là những người đầu tiên sử dụng phương pháp ghi lưu huyết não đồ (REG) vào mục đích lâm sàng; V.G Shershnev (1965) đã nghiên cứu sâu hơn và đặt nền móng cho phương pháp ghi lưu huyết não Đây là phương pháp ghi sù thay đổi điện trở của não theo
sự tuần hoàn của máu qua não Qua đường ghi REG ta có thể đánh giá được mức độ mền mại, khả năng đàn hồi của thành mạch, có thể tính một cách tuơng đối về lưu lượng tuần hoàn não ở mỗi bên bán cầu đại não hoặc khu vực tuần hoàn của động mạch đốt sống thân nền từng bên, nhờ đó giúp ta chẩn đoán TNTHN, thiếu máu cục bộ Qua nhiều công trình nghiên cứu của Phạm Khuê, Đào Phong tần và cộng sự, Vũ Đăng Nguyên, Dương Văn Hạng thấy ghi lưu huyết não đồ có thể đánh giá khách quan tình trạng thành động mạch, trương lực mạch ở não, thể tích tưới máu/ phút của từng bán cầu, cũng như đánh giá một cách chính xác mức độ tổn thương do vưa xơ mạch não [16][23][40][41]
1.1.4.2 Điện não đồ (Electro encephalo graphy - EEG)
Hans Berger lần đầu tiên ghi thành công EEG của người (1924) sau là Adrian và Mathew (1934)
Ghi điện não là phương pháp nghiên cứu chức năng của não dựa trên việc ghi lại các điện thế phát sinh trong các tế bào thần kinh EEG là đồ thị ghi lại các sóng điện não khi điện cực đặt trên da đầu theo mét qui ước trước
Theo Phạm khuê nghiên cứu EEG ở BN TNTHNMT có vữa xơ động mạch não thấy những biểu hiện có ý nghĩa là nhịp alpha biến đổi và xuất hiện các sóng delta không đều Những dấu hiệu này có liên quan chặt chẽ với mức
độ lú lẫn tinh thần và có giá trị tiên lượng bệnh Theo Vũ Đăng Nguyên dấu hiệu thiếu o xy não trong TNTHN được thể hiện trên EEG dưới dạng các nhịp chậm trên nền mất tổ chức các nhịp Đào Phong Tần và cộng sự cho rằng ghi đồng thời REG và EEG là phương pháp không gây nguy hiểm, Ýt tốn kém,
Trang 13trong nhiều trường hợp rất có giá trị để chẩn đoán TNTHNMT) [5][9][16][20][39][40]
- Phim chụp chếch 3/4 phải, chếch 3/4 trái: để phát hiện các biến đổi của lỗ ghép
Thoái hoá CS cổ ( Gai xương ở mấu bán nguyệt và thân đốt) Dính C4-C5 bẩm sinh
Hình 1.2: Một số hình ảnh X quang thoái hóa cột sống cổ
1.1.5 Những nghiên cứu về điều trị thiểu năng tuần hoàn não mạn tính:
Điều trị TNTHNMT bằng nội khoa là xu hướng chính hiện nay ở Việt Nam còng như trên thế giới Các phương pháp điều trị ngoại khoa (nối mạch, lấy huyết khối, loại bỏ mảng vữa xơ ) chỉ đề cập đến khi BN có tai biến mạch máu não
1.1.5.1 Điều trị thiểu năng tuần hoàn não mạn tính bằng nội khoa Y học hiện đại
Trang 14Có rất nhiều loại thuốc khác nhau và kết quả cũng có khác nhau, có thể chia làm bốn nhóm thuốc chính [30]:
- Nhóm 1: Các chất tổng hợp hữu cơ, các thuốc chính thường dùng là Stugerol, Pipratecol, Sermoin, Firacetam
- Nhóm 2: Các chất giống sinh học hay các chất có họ gần giống với các vitamin: Bradilan, Nicyl, Vasocalm
- Nhóm 3: Các chất có nguồn thực vật như: Tanakan, Rutin
- Nhóm 4: Gồm các thuốc có nguồn gốc khác như: Cavinton Duxil, Vasobral
Các thuốc trên đều nhằm mục đích giãn mạch, tăng cường tuần hoàn, tăng trao đổi chất qua hàng rào máu não
1.1.5.2 Dự phòng thiểu năng tuần hoàn não mạn tính
+ Loại trừ yếu tố nguy hại: điều trị bệnh tăng huyết áp, điều trị tăng cholesterol máu
+ Biện pháp chung giữ gìn sức khoẻ: xây dựng chế độ ăn với người vữa xơ động mạch, tăng huyết áp là hạn chế số lượng calo đưa vào, khuyến khích dùng dầu thực vật, hạn chế muối, mỡ động vật
+ Chế độ luyện tập, vận động thể lực: Người bị TNTHN nên thường xuyên kết hợp đi bộ, chạy chậm nhẹ nhàng, thở sâu, thở bụng theo phương pháp dưỡng sinh khí công
+ Chế độ lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi hợp lý Nên tránh những thói quen có hại như: Thuốc lá, rượu, sinh hoạt tình dục quá mức, những xúc cảm quá mạnh [30]
1.1.6 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng thuốc Pondil (Buflomedil chlorhydrate)
Buflomedil chlorhydrate là thuốc vận mạch có nhiều tính chất dược lực học khác nhau Đặc điểm quan trọng của thuốc là cải thiện được lưu lượng
Trang 15máu nuôi dưỡng cho các tổ chức bị thiếu máu cục bộ ở những BN có bệnh mạch máu ngoại biên và các mạch máu não, tính chất này có được là nhờ sự
ngưng tập tiểu cầu, cải thiện độ biến hình của hồng cầu, Tác dụng ức chế nhẹ calci không đặc hiệu và tác dụng giải phóng Oxygen Buflomedil có những tính chất dược lực học thích hợp nhất để điều trị bệnh mạch máu não và mạch máu ngoại biên, đó là tính chất tác động tới các tổ chức thiếu máu cục bộ mà không ảnh hưởng đến tuần hoàn hệ thống
Buflomedil có tác dụng cải thiện khả năng tưới máu của tuần hoàn vi mạch tại tổ chức thiếu máu Theo hãng lafon, Buflomedil đã được sử dụng trên một số lượng lớn những BN TNTHN và những BN cao tuổi sa sút trí tuệ
do lão hóa Trong một nghiên cứu kéo dài, các tác giả đã công bố uống Buflomedil 450-600mg/ngày làm giảm rõ rệt các dấu hiệu và triệu chứng TNTHNMT hệ sống nền 37/45 BN
Một nghiên cứu của Levison và cộng sự thấy rằng Buflomedil cải thiện
rõ tình trạng rốiloạn nhận thức, rối loạn tâm căn (hồi hộp, choáng váng, bồn chồn) và cải thiện tôt hơn quan hệ giao tiếp
Theo Pignoli và cộng sự, đã so sánh Buflomedil với liều 600mg/ngày theo đường uống với Pentoxiflline 800mg/ngày ở 30 BN xơ vữa động mạch ngoại biêngiai đoạn 2 Buflomedil cải thiện được đáng kể triệu chứng giảm nhiệt và dị cảm sau 90 ngày điều trị, kết quả này có liên quan tới việc tăng lưu lượng máu lúc nghỉ ngơi và tăng lưu lượng máu tối đacho ngón chân Pentoxiflline không làm thay đổi một cách rõ rệt các thông số trên
Buflomedil có tác dụng cải thiện tuần hoàn vi mạch bị suy yếu bằng hai cách: tác dụng với huyết động và huyết lưu biến
Trang 16Năm 1999 Lê Văn Lệ 1999 đã nghiên cứu 52 BN được chẩn đoán TNTHNMT điều trị tại khoa AM4 - Bệnh viện 103 bằng Buflomedil với liều 450mg/ngày thấy có tác dụng cải thiên tình trạng TNTHNMT ở hầu hết các
BN, trong đó có 76% đỡ nhiều Điểm lâm sàng theo Khajiev giảm từ 29,06 xuống còn 13,3% Triệu chứng đau đầu khỏi hoàn toàn 68%, mệt mỏi khỏi hoàn toàn 54%, chóng mặt khỏi hoàn toàn 75,6%, rối loạn giấc ngủ khỏi hoàn toàn 38,1% Tỷ lệ BN có trí nhớ kém sau đợt điều trị giảm rõ, đồng thời
tỷ lệ BN có trí nhớ khá sau đợt điều trị đã tăng lên rõ rệt Các triệu chứng khác của TNTHNMT cũng được cải thiện [34]
Nhìn chung, Buflomedil với liều 600mg/ngày được dung nạp rất tốt và
Ýt khi phải ngừng điều trị do thuốc
Trang 171.2 Y học cổ truyền
1.2.1 Quan niệm Y học cổ truyền về thiểu năng tuần hoàn não
YHCT không có bệnh danh về TNTHN, nhưng những biểu hiện lâm sàng của bệnh đã được YHCT phương đông mô tả trong phạm trù "huyễn vựng" (chóng mặt); "đầu thống" (đau đầu); "thất miên" (mất ngủ); "kiện vong" (hay quên) Nguyên nhân gây ra chứng này thương do tâm huyết, can huyết, tỳ khí và thận khí hư kết hợp với đàm Èm, huyết ứ [6][12][27]
1.2.1.1 Chứng đầu thống:
Sách chứng trị chuẩn thằng nói: “Đầu thống, đầu phong chia hai mà là một: phân ra mới, lâu để chữa” YHCT co rằng đầu là " chủ dương chi hội, thanh dương chi phủ, tủy hải chi sở tại" Nghĩa là đầu là nơi tụ hội của mọi phần dương, là nơi ở của bộ não, khí huyết của ngũ tạng, lục phủ đều hội tụ ở
đó Đau đầu là triệu chứng chủ quan của nhiều chứng bệnh khác nhau, nguyên nhân đau đầu là "ngoại cảm hay nội thương"
- Do Ngoại cảm phong, hàn, thấp, nhiệt mà phong tà là chính: nếu phong hiệp hàn thì hàn ngưng huyết trệ, trở ngại mạch lạc, huyết uất là trong gây đau đầu; nếu phong hiệp nhiệt thì phong nhiệt nhiễu lên, khí huyết nghịch loạn gây đau đầu; nếu phong hiệp thấp làm thanh dương không thăng cũng gây đau đầu
- Do nội thương tình chí, can mất sơ tiết, uất hóa hỏa, hỏa vượng thương âm, can mất nhu dưỡng hoặc thân âm bất túc, thủy bất tư dưỡng mộc, can thân âm hao, can dương thượng cang Thận tinh hao lâu, tủy não hư sinh đau đầu hoặc âm tổn cập dương thận dương suy vi thanh dương không phát, càng sinh đau đầu; mặt khác ăn nhiều chất bổ béo ngọt, tỳ mất kiện vận, đàm thấp nội sinh dẫn đến đau đầu Ngoài ra, bệnh lâu ngày nhập lạc mạch, khí -
Trang 18huyết vận hành bất thông, huyết ứ nội trở, bất thông tắc thống, đều sinh đau đầu
Trang 191.2.1.2 Chứng huyễn vựng:
“Huyễn” là mục huyễn là chỉ trạng thái hoa mắt hoặc trước mắt tối sầm, “ Vùng” là đầu vựng là cảm thấy mọi vật xung quanh xoay chuyển như ngồi trên tàu, xe hoặc trên thuyền Hai triệu chứng này thường đồng thời xẩy
ra nên có tên là huyễn vựng
Sách "Tố vấn chí nhân yếu đại luận" cho rằng: "mọi chứng quay cuồng chao đảo đều thuộc can méc", ý nói do can phong nội động sinh ra, về sách
hà gian lục thư cho là phong và hỏa gây nên, dương thuộc hỏa, dương chủ động nên gây ra chao động Đan khê tâm pháp cho rằng không có đàm thì không “huyễn”, cho nên trước hết cần chữa đờm Sách "cảnh nhạc toàn thư" viết: Không hư thì không thành “huyễn”, không thành “vùng” ý nói là huyễn vựng là do hư hiệp hỏa, phép chữa là bổ hư bình can hỏa
Nguyên nhân bệnh lý:
- Can dương thượng cang: Bình thường can dương khô nóng ở trên gây huyễn vựng, hoặc do tình chí không thư thái, uất ức lâu ngày khiến can âm hao, can dương thăng động gây nhiễu tầng không gây huyễn vựng: có khi thận âm hư tổn không dưỡng được can mộc dẫn đến can âm thiếu, can dương bốc lên gây huyễn vựng
- Đàm trọc trung trở: Do ăn nhiều các thứ béo bổ, hại đến tỳ vị, thức ăn uống không hóa thành tân dịch mà biến thành đờm thấp, khiến dương không thăng, trọc âm không giáng gây huyễn vựng
- Thận tinh bất túc: Do tiên thiên thiếu khiến thận tinh thiếu, tủy thiếu,
không bổ sung cho não gây huyễn vựng
- Khí huyết đều hư: Bệnh lâu không khỏi, hao tổn khí huyết, hoặc sau
khi mất máu, bệnh chưa phục hồi, hoặc tỳ, vi hư nhược không vận hóa thức
ăn được để sinh ra khí huyết đều hư, khí hư thì dương yếu, huyết hư thì não không được nuôi dưỡng đều gây nên huyễn vựng
Trang 201.2.1.3 Thất miên:
Mất ngủ là nói bình thường không ngủ được, nhẹ thì muốn ngủ rất khó, hoặc giấc ngủ không sâu, khi thức tỉnh, nặng thì cả đêm không ngủ, y học cổ đại gọi là “không ngủ được” hoặc là không ngủ Chứng này thường kèm theo chóng mặt, đau đầu, hồi hộp hay quên
Nguyên nhân bệnh lý:
- Do lo nghĩ và lam lò lao động nhiều hại đến tâm tỳ, huyết dịch hao tổn không dưỡng được tâm, dẫn đến tâm thần không yên thành mất ngủ Sách loại chúng trị tài nói: “Lo nghĩ hại tỳ quanh năm mất ngủ” Từ đó thấy tâm tỳ
hư yếu dẫn đến mất ngủ và có quan hệ đến huyết hư
- Do cơ thể suy yếu hoặc bị ốm lâu, thận âm hao tổn, không nuôi dưỡng được tâm, tâm hỏa hun đốt làm thần chí không yên gây mệt, mất ngủ Sách "Cổ kim y thống" viết: do thận tủy thiếu, chân âm không thăng mà tâm hỏa khô nóng làm cho mất ngủ
- Do ăn uống không điều độ, thức ăn đình trệ ở vị, lâu thành đờm nhiệt, trở ngại bên trong, đàm nhiệt nhiều loạn ở trên nên nằm không yên Sách
"Trương thị y thông" viết: mạch hoạt sác hữu lực là mất ngủ, bên trong có đàm hỏa ứ trệ
1.2.1.4 Kiện vong:
Là chứng giảm trí nhớ, hay quên, YHCT cho rằng do chân âm khuy tổn làm cho não thiếu sự nhụân dưỡng dẫn tới não suy nhược, giảm trí nhớ, lú lẫn, quên sự việc đã xẩy ra Chu Đan Khê cho rằng: Chứng này đều do lo nghĩ quá mức thương tổn tâm hỏa, đến nỗi tinh thần không sáng suốt, gặp việc hay quên, vì lo nghĩ quá mức là bệnh ở tâm tỳ Uông ngang viết: “tình
và chí của người ta tàng ở thận, thận tinh không đủ thì tình chí suy, thận khí không thông lên tâm được cho nên mê muội chóng quên”(nhân chi tinh dữ chí giai tàng vu thận, thận tinh bất túc tắc chí suy bất năng thượng thông vu
Trang 21tâm, cố mê hoặc thiện vong dã) Do đó có thể biết hay quên phần nhiều do tâm tỳ và thận suy tổn mà sinh ra
1.2.2 Biện chứng luận trị theo thể bệnh [3]
1.2.2.1 Khí huyết lưõng hư
+ Triệu chứng: hoa mắt, chóng mặt, hồi hộp sợ sệt, mất ngủ hay quên, giấc ngủ không yên, sắc mặt kém tươi nhuận, lưỡi nhợt rêu lưỡi mỏng, mạch
tế sác
+ Phương pháp điều trị: bổ khí huyết, kiện tỳ
+ Phương thuốc thường dùng: Tập toàn đại bổ gia giảm
1.2.2.2 Can thận âm hư
+ Triệu chứng: váng đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, trí nhớ giảm sút, lưỡng mục khô sáp, chi tê mỏi, miệng khô, lưng gối đau mỏi, sắc mặt đỏ, 2
gò má đỏ, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế sác
+ Phương pháp điều trị: tư bổ can thận
+ Phương thuốc thường dùng: kỷ cúc địa hoàng thang gia giảm
1.2.2.3 Đàm trệ huyết ứ
+ Triệu chứng: mất ngủ hay mê, đau đầu cố định không di chuyển, hoa mắt chóng mặt, sắc mặt xanh, chất lưỡi tím bệu trệ nhớt có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp
+ Phương pháp điều trị: kiện tỳ, bổ thận, tiêu đàm, hoạt huyết hóa ứ
+ Phương thuốc thường dùng: huyết phủ trục ứ thang gia giảm
1.2.3 Những nghiên cứu về điều trị
nguồn gốc thực vật có tác dụng tốt trong việc cải thiện tuần hoàn não [53]
- Theo Chu Quốc Trường (1996), phương pháp bấm huyệt có tác dụng cải thiện tuần hoàn não rõ rệt, ngay sau một lần bấm các triệu chứng đau đầu, nặng đầu, chóng mặt, buồn nôn, mệt mỏi được cải thiện nhanh chóng, trương
Trang 22lực thành mạch máu giảm, lưu lượng tuần hoàn não/phút/bán cầu tăng Sau đợt điều trị, tình trạng TNTHN của tất cả BN được cải thiện [50]
- Trần Thị Viển (1996), đã dùng uyển hoài châm điều tri TNTHN thấy đạt hiệu quả tốt 62,5%, triệu chứng đau đầu vùng chẩm gáy giảm rõ rệt [52]
- Nguyễn Việt Bắc (1998) Nghiên cứu tác dụng điều trị thiểu năng tuần hoần não thể can thận âm hư của hoàn “ kỷ cúc địa hoàng” Các triệu chứng lâm sàng đã được cải thiện rõ rệt: đau đầu giảm 67,56%, chóng mặt giảm 56,75%, ù tai giảm 67,74%, rối loạn giấc ngủ giảm 48,64%, mệt mỏi toàn thân giảm ở 56,75% BN [8]
- Trần Thị Hiên (1996), đã dùng laser kích thích các huyệt thấy có tác dụng cải thiện tuần hoàn não ở người cao tuổi bị TNTHN, 61,0% BN hết đau đầu vào ngày thứ 12 [24]
- Phạm Viết Dự (1996), đã dùng "MD" được bào chế từ giun đất để điều trị TNTHN Tác giả thấy các triệu chứng lâm sàng ở BN giảm rõ rệt, chức năng não và tuần hoàn não được cải thiện rõ [18]
nguồn gốc thực vật có tác dụng tốt trong điều trị TNTHNMT: khái 27,7%, đỡ nhiều 63,63% [44]
- Dương Trọng Nghĩa (2001), Dùng bài thuốc: Ých khí điều vinh thang
để điều trị 35 BN TNTHNMT Thấy kết quả tốt 5,71%, khá 60%, trung bình 34,28% [37]
- Trần Kim Dung (2004), nghiên cứu tác dụng điều trị thiểu năng tuần hoàn não mạn tính của viên Cracetin Thuốc Cracetin có tác dụng cải thiện tốt các triệu chứng lâm sàng nh-: nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, dị cảm; với tỷ lệ trên 90% [17]
Trang 23- Nguyễn Thanh Lâm (2006), dùng bài thuốc DN để điều trị TNTHN
hệ động mạch đốt sống thân nền có kết quả tương đối tốt: khái 25,8%, đỡ nhiều 64,52% [32]
- Bùi Thị Thủy (2008), dùng bài thuốc "Tứ vật đào hồng thang" để điều trị TNTHNMT có kết quả: đỡ nhiều 71,43%, đỡ Ýt 28,57%, không có
trường hợp nào không đỡ hoặc nặng thêm [46]
1.2.4.Tổng quan các vị thuốc trong bài thuốc "TH-08"
1.2.4.1 Hoàng kỳ (Radix astragali)
Hoàng kỳ là rễ phơi khô của cây
hoàng kỳ Astagalus membranaceus
(Fisch) Bge, thuộc họ đậu Fabaceae
dương, Ých vệ cố biểu, lợi niệu tiêu
thũng, thác sang sinh cơ
+ Tác dụng dược lý: thử nghiện
trên in vitro với polysacharit hoàng kỳ
sẽ làm tăng hoạt tính miễn dịch, điều
chỉnh lại chức năng tế bào T đã bị suy nghiên cứu sâu thấy hoàng kỳ làm tăng hoạt tính interleukin-2 Trên lâm sàng hoàng kỳ có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch lợi liệu, chống não suy, dưỡng can, hạ áp., tăng sức co bóp cơ tim, ngoài ra còn có tác dụng kháng khuẩn, ổn dịnh màng tế bào hồng
Trang 24cầu, nâng cao hàm lượng C - AMP, tăng cường tái sinh DNA, diều tiết hàm lượng đường máu
+ Nghiên cứu của YHHĐ, truyền mỗi ngày 250 ml dịch triết từ 4 vị hoàng kỳ, đan sâm, xuyên khung, xích thược vào tĩnh mạch mỗi đợt 10 ngày, nghỉ 4 ngày lại truyền đợt khác kết hợp với uống bài "thông mạch" gồm hoàn
kỳ, hồng hoa, xuyên khung, đan sâm, sơn tra, ngưu tất, địa long, quế chi đã điều trị 110 ca nhồi máu não: khỏi 52, kết quả tốt 36, tiến bộ 20, tỷ lệ đạt 98,2% [54]
1.2.4.2 Đương qui (Radix Angelicae Sinensis):
Đương qui là rễ phơi khô của cây
đương qui Augelica sinensis (Oliv)
Diels, thuộc họ hoa tán Umbellafera
[13][33][54]
+ Thành phần hoá học: trong
đương qui Trung Quốc có: tinh dầu (có
C , màu vàng sẫm, trong; tỷ lệ acid tù do trong tinh dầu chiếm 40%; coumarin;
Trang 25Tác dụng trên huyết áp và hô
hấp: liều nhỏ huyết áp hơi hạ thấp, hô
hấp hơi bị kích thích hoặc ảnh hưởng
rất Ýt, liều trung bình huyết áp hạ thấp nhiều hơn, hô hấp khó khăn liều lớn huyết áp hạ rất nhanh, hô hấp khó khăn rõ rệt, cuối cùng hô hấp ngừng lại gây chết
+ Đương qui có ngọt, cay, Êm, qui kinh tâm - can - tỳ, tác dụng bổ huyết
- hoạt huyết - điều kinh, thông kinh, dưỡng gân, tiêu sưng - nhuận tràng
Bài thuốc tứ vật thang trong đó có đương qui Trung Quốc đã nghiên cứu trên bệnh thiếu máu thực nghiệm gây bằng acetat chì, có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu và tỷ lệ huyết sắc tố của động vật gây thiếu máu Trên lâm sàng bài thuốc tứ vật thang là bài thuốc cổ phương chữa thiếu máu, suy nhược cơ thể, kinh nguyệt không đều Đưong qui là một vị thuốc thường có ở trong rất nhiều bài thuốc cổ phương cũng như nghiệm phương, được chỉ định trong rất nhiều đơn thuốc bổ và thuốc trị bệnh như thuốc chữa thiếu máu, đau đầu, suy nhược cơ thể, suy tim, đau ngực, viêm khớp, chân tay tê bại, đau lưng
Nhiều nghiên cứu cơ bản đã chứng minh có mối liên quan giữa công năng tăng cường tuần hoàn não và điều trị ứ trệ máu của đương qui theo YHCT với việc điều trị những bệnh chẩn đoán theo YHHĐ như bệnh tim mạch, bệnh viêm mạch tạo huyết khối nghẽn và bệnh nghẽn mạch não Đương qui (cao cồn) có hoạt tính chống loạn nhịp, đương qui làm tăng hoạt tính thực bào của đại thực bào trên thực nghiệm [54]
1.2.4.3 Đào nhân (Semen Persicae):
Đào nhân là nhân hạt quả đào
phơi khô của cây đào Prunus bersica (L.)
Batsch, thuộc họ hoa hồng Rosaceae [13]
Trang 26+Thành phần hoá học: Hạt đào chứa tới hơn 50% dầu béo, tỷ trọng 0,9114 – 0,9325, chỉ số xà phòng 190
chỉ số iốt 72 – 99 Ngoài ra còn 3,5
amygdalin, Ýt tinh dầu, (0,4 – 07%),
men emunsin Năm 1952 một số tác
giả còn nghiên cứu thấy trong hạt đào
có colin và axetylcolin
+ Đào nhân: Ngoài công dụng chữa ho như nhân hạt mơ, đào nhân còn được dùng làm thuốc điều kinh cầm máu Theo các nhà nghiên cứu ở Đài loan đào nhân được dùng thay chất ecgotin (ergotin) làm co tử cung, tác dụng trên mạch máu của tử cung làm đông máu
Theo tài liệu cổ đào nhân có vị đắng, ngọt tính bình vào hai kinh tâm
và can Có tác dụng phá huyết, hành ứ, nhuận táo, hoạt trường, dùng chữ huyết ứ, huyết bế, chữa ho, thông kinh nguyệt, sát trùng [33]
+ Tác dụng dược lý: co thắt tử cung, kháng ngưng kết, cải thiện tình trạng huyết ứ, tăng tuần hoàn não, trấn tĩnh, nhuận trường
1.2.4.4 Xuyên khung (Rhizoma Chuanxiong):
Xuyên khung là thân rễ phơi khô
của cây xuyên khung Ligusticum
Chuanxiong Hort, thuộc họ hoa tán
Umbelliferae [13][33][95]
Thành phần hoá học: Trong
xuyên khung Ligusticum wallichii có 4
chất chủ yếu sau đây :
- Mét ancaloit dễ bay hơi, công
thức C27H37N3
Trang 27- Mét axit C10H1004 với tỷ lệ
chừng 0,02 gần giống axit ferulic trong
a nguỷ (Ferula asa – foetida L thuộc họ
áp, giảm sự thiếu hụt vitamin E, nâng cao Globulin và tế bào Lumpho T Ngoài ra còn có tác dụng ức chế trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn thương hàn – phó thương hàn
Trên lâm sàng xuyên khung được dùng chữa nhức đầu, hoa mắt, cảm mạo, phong thấp nhức mỏi, ngực bụng đầy trướng, ung nhọt, phụ nữ sau đẻ
bị rong huyết kéo dài Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, thuốc bột hay rượu thuốc Trong YHCT Trung Quốc, xuyên khung được dùng chữa rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, đau bụng kinh, đau bụng, đau nhói ở ngực và vùng xương sườn, viêm vàđau do tổn thương chấn thương, nhức đầu, đau khớp dạng thấp, ngày
dùng 3-9g [54]
Trang 281.2.4.5 Cam thảo (Radix Glycyrrhizae):
Cam thảo là rễ phơi khô của cây
cam thảo Glycyrrhiza uralensis Fisch,
thuộc họ cánh bướm Papilionaceae
[13][33][95]
+ Thành phần hoá học:
Glycyrrhiza glabra L (chất vô cơ 4 -
6%, carohydrat 3 - 5%, manitol, tinh
bảo vệ niêm mạc hầu họng và khí quản khi bị viêm nhiễm
1.2.4.6 Bạch thược (Radix Paconiae Alba):
Bạch thược là rễ phơi khô của
cây bạch thược Plonia lactiflora Pall,
thuộc họ mao lương Ranunculaceae
Trang 29+ Tác dụng dược lý: ức chế cơ thắt cơ trơn tử cung đại tràng, trấn tĩnh, giảm đau, giãn mạch hạ huyết áp, điều tiết khả năng đáp ứng miễn dịch, tăng lưu lượng tuần hoàn, ức chế một số loại vi khuẩn
+ Bạch thược vị đắng, chua, ngọt, hơi hàn, vào kinh can, tỳ, tác dụng:
- Bình can, tiềm dương: Dùng trong trường hợp can dương xung thịnh hoặc âm hư, dương xung dẫn đến đầu thống, huyễn vựng, mặt đỏ, cáu gắt
- Dưỡng huyết liễm âm: Dùng trong trường hợp âm huyết bất túc dẫn đến kinh nguyệt thất điều, động thai, thống kinh, chân tay co quắp, âm hư đạo hãn, âm huyết bất túc, can phong nội động
Nhu can chỉ thống: Dùng trong trường hợp can khí hoành nghịch hoặc can khí bất hòa, ngực sườn đau, đau bụng, là thuốc điều hòa trung tiêu
Trang 301.2.4.7 Đan sâm (Radix Salviae miltiorrhizae):
Đan sâm là rễ phơi khô của
cây đan sâm Salvia multiorrhiza Bge,
thuộc họ hoa môi Labiatae
[13][33][54][95]
+ Thành phần hoá học:
Phenol, acid phenolic, các hợp chất
diterpen và các thành phần khác
+ Đan sâm vị đắng, hơi hàn,
vào kinh tâm, can, tâm bào, tác dụng an thần, tán ứ kết, thông điều các kinh mạch khứ huyết ứ, sinh huyết mới
+ Tác dụng dược lý: Giãn động mạch vành, tăng lưu lượng hoàn vành, cải thiện thiếu máu cơ tim, điều chỉnh nhịp tim, giãn mạch ngoại vi, chống ngưng kết, ức chế tụ tập tiểu cầu, ức chế hình thành cục máu đông, giảm mỡ máu, giảm biến tính tế bào gan xúc tiến tái sinh tế bào gan chống lại fibrin hóa, nâng cao khả năng chịu thiếu oxy của cơ thể, nhanh liền xương, tăng sinh tế bào võng, ức chế một số loại trực khuẩn, tăng cường khả năng miễn dịch, giảm đường máu và chống ung thư
Những nghiên cứu lâm sàng cho thấy có mối liên quan giữa tác dụng tăng cường tuần hoàn máu, trị ứ máu của đan sâm trong YHCT với sự chẩn đoán của YHHĐ về tác dụng điều trị bệnh tim mạch, viêm mạch tạo huyết khối nghẽn và huyết khối tắc mạch não, cơ chế có thể là do sự cải tạo vi tuần hoàn [54]
Trang 311.2.4.8 Ngải tượng (Radix stephania Rotunda):
Ngải tượng (bình vôi hay củ
+ Ngải tượng vị đắng, hơi ngọt,
tính mát, vào kinh tâm, phế tác dụng:
dưỡng huyết, điều hoà đối với tim, hô hấp, an thần, chống co quắp
+ Tác dụng dược lý: trấn kinh rõ rệt trên nhu động vị tràng, điều hòa đối với tim và bổ tim nhẹ, còn có tác dụng điều hòa hô hấp có thể dùng chữa hen hay chữa nấc, tác dụng an thần, gây ngủ, chống co quắp, hạ huyết áp
1.2.4.9 Thạch quyết minh (Concha
Haliotidis):
Thạch quyết minh là vỏ phơi khô
của ốc cửu khổng Haliotis diversicolor
Reeve, thuộc họ Haliotidae, ngành
nhuyễn thể Mollusca [13] 33] 54] 95]
+ Thành phần hoá học: chứa
nhiều chất carbonat calci
+ Thạch quyết minh vị mặn
hàn, vào kinh can, tác dụng bình can
tiềm dương, thanh can minh mục
+ Tác dụng dược lý: Trấn tĩnh, trung hòa dịch vị dạ dày
+ Trong lâm sàng thạch quyết minh dùng để điều trị chứng can dương thượng cang gây đau đầu chóng mặt thường dùng với sinh địa, mẫu lệ, bạch
Trang 32thược Điều trị chứng can hỏa cang thịnh, đau đầu, dễ cáu, phiền táo thường dùng với hạ khô thảo, câu đằng, cúc hoa Điều trị chứng âm hư huyết thiếu gây mắt mờ, hoa mắt thường dùng với địa hoàng, câu kỷ tử, thỏ ty tử
+ Liều dùng: 15-30g
1.2.4.10 Sơn tra (Fructus Crataegi):
Sơn tra là quả chín thái mỏng sấy
khô của cây sơn tra Crataegus pinnatifida
Bge var major N.E.Br, thuộc họ hoa
hồng Rosacea [13][33][54][95]
+ Thành phần hoá học: sơ bộ
thấy chứa tanin 2,76%, đường 16,4%,
acid hữu cơ 2,7%
+ Sơn tra vị chua, ngọt, hơi Êm
vào kinh tỳ, vị, can tác dụng: tiêu
thực hoá tích, hành khí tán ứ
+ Tác dụng dược lý: Sơn tra có
tác dụng co tử cung, cường tim, chống lại rối loạn nhịp tim, tăng lưu lượng tuần hoàn vành, giãn mạch, giảm huyết áp, giảm mỡ máu, ức chế trực khuẩn đại tràng
1.2.4.11 Sa nhân (Frutus Amomi):
Sa nhân (Frutus Amomi) là quả
gần chín phơi hay sấy khô của cây sa
nhân Amonum Villosum Lour, thuộc họ
gừng Zingiberaceae [13] 33] 54] 95]
+ Thành phần hoá học: chứa
tinh dầu với hàm lượng khoảng
Trang 330,65% gồm: pinen, camphor, pinen, caren-3 và limonen-borneol
+ Sa nhân vị cay, tính Êm, vào kinh tỳ, vị, thận, tác dụng: hành khí, kiện vị, chỉ thống
+ Tác dụng dược lý: Tinh dầu xa nhân có tác dụng phương hương kiện
vị, tăng tiết dịch vị, bài trừ sự tích trệ ở đường tiêu hóa nên có tác dụng hành
khí tiêu trướng
1.2.4.12 Khương hoạt (Rhizoma Notopteygii):
Khương hoạt là thân rễ hay
thân rễ của cây khương hoạt
Notopterygium incisum Ting ex H.T
Chang, thuộc họ hoa tán Umbellierae
[13][33][54][95]
+ Thành phần hoá học: rễ
khương hoạt chứa các chất coumarin
+ Khương hoạt vị cay đắng
Êm, vào kinh bàng quang - thận, tác
dụng: tán hàn khứ phong , thắng thấp
chỉ thống
+ Tác dụng dược lý: Khương
hoạt chứa nhiều tinh dầu bay hơi
Khương hoạt có tác dụng giảm đau, hạ sốt, ức chế trực khuẩn ngoài da Thực nghiệm chứng minh khương hoạt có tác dụng chống loạn nhịp tim, chống thiếu máu cơ tim, tăng cường tuần hoàn vành
Hiện nay, ở Việt nam, khương hoạt được dùng chữa nhức đầu cảm mạo, phong hàn, sốt không ra mồ hôi, gân xương đau nhức ở Trung Quốc khương hoạt còn chữa phù thũng, mụn nhọt, đầu đinh, mày đay, mẩn ngứa Liều dùng hàng ngày: 4-8g dưới dạng thuốc sắc hoặc rượu thuốc
Trang 351.2.4.13.Trần bì (Pericarpium Citri reticulatae)
Trần bì là vỏ quả quýt chín phơi
khô của cây quýt Citrus reticulata
Blanco, thuốc họ cam quýt Rutaceae
[13][33][54][95]
+ Thành phần hoá học: Theo tài
liệu Ên Độ trần bì chứa tinh dầu với
thành phần chủ yếu là d limonen 91%
và các terpen, caren linalool, anthranilat
methyl lượng nhỏ hơn
+ Trần bì vị cay, đắng, ôn, quy
kinh tỳ, phế, tác dụng: lý khí kiện tỳ,
táo thấp hoá đàm
+ Tác dụng dược lý: liều nhỏ làm tăng sức co bóp cơ tim tăng khả năng tống máu, liều cao gây ức chế, giãn khí quản Trần bì có chứa vitamin P, làm giảm tính thẩm thấu ở vi mạch, ngăn ngừa xuất huyết, tăng cường khả năng tan sợi huyết, ngăng ngừa hình thành cục máu đông, lợi mật
Trong YHCT, trần bì là một vị thuốc thông dụng đối với nam giới, nên
có câu "nam bất ngoại trần bì, nữ bất ly hương phụ" nghĩa là chữa bệnh cho đàn ông không thể thiếu trần bì, cho phụ nữ không thể thiếu hương phụ Theo kinh nghiệm dân gian, trần bì chữa ăn không tiêu, đau bụng, nôn mửa, ho tức ngực, nhiều đờm liều dùng hàng ngày 4-12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột có thể dùng phối hợp với vị thuốc khác
Trang 36để tăng cường bài tiết ra ngoài,
kháng viêm, ức chế tiết dịch dạ dầy và chống loét, giảm co thắt, giảm đau, trấn tĩnh, giảm đường máu…
Trang 37Chương 2 chất l ệu, Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Chất liệu nghiên cứu:
2.1.1 Bài thuốc "TH-08": Dạng thuốc sắc, thành phần gồm:
Dược liệu được khoa dược Bệnh viện 103 bào chế và cung cấp theo tiêu chuẩn dược điển Việt nam Thuốc được sắc bằng máy chiết, đúng tỳi tự động (Electric Herb Extractor Machine-Korea) của Hàn Quốc Đóng tói: 120ml/1 tói
2.1.2 Thuốc Pondil:
+ Viên Pondil, viên nén 150mg do hãng Inbionet-Korea sản xuất
Trang 382.2 Đối tượng nghiên cứu:
2.2.1 Động vật thử nghiệm:
mạnh, không phân biệt giống, được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn uống đối với động vật thực nghiệm do trung tâm nuôi dưỡng động vật thử nghiệm Học viện Quân y cung cấp
2.2.2 Bệnh nhân:
Chọn trên 64 BN được chẩn đoán TNTHNMT và tình nguyện uống thuốc nghiên cứu, được điều trị nội trú tại Khoa YHCT và khoa Nội thần kinh – Bệnh viện Quân y 103
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Nghiên cứu tính an toàn của bài thuốc:
Độc tính cấp và bán cấp của thuốc “TH-08” được nghiên cứu tại la bô của trung tâm nhiễm độc – Học viện Quân y theo phương pháp của Abrahm và Turner (1965)
2.3.2 Nghiên cứu trên lâm sàng:
Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu so sánh trước sau điều trị giữa hai nhóm BN
+ BN nghiên cứu được phân làm hai nhóm:
- Nhóm 1 (uống thuốc "TH-08"): mỗi BN uống 2 túi/ngày, uống 2
- Nhóm 2 (uống thuốc Pondil): mỗi BN dùng 4 viên/ngày (sáng 2 viên,
Trang 39Trong thời gian điều trị, ở cả hai nhóm BN không dùng đồng thời với thuốc tăng tuần hoàn não khác nhưng được áp dụng điều trị nền bằng thuốc
2.3.2.1 Tiêu chuẩn chọn BN:
+ Tiêu chuẩn lâm sàng: Chọn BN có triệu chứng theo bảng tiêu chuẩn chẩn đoán TNTHN của Khajiev (1979) Chọn những BN có tổng số điểm từ 23,9 điểm trở lên [35][67]
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán TNTHN của Khajiev (1979)
Trang 4017 Thần kinh luôn căng thẳng, mệt mỏi 2,6 0
+ Tiêu chuẩn cận lâm sàng:
- REG: Có biểu hiện TNTHN trên REG dựa vào tiêu chuẩn lưu huyết não ở người Việt Nam theo lứa tuổi của Đào Phong Tần (1992) và Vũ Đăng Nguyên (1998),[38][41]
- EEG: Giảm chỉ số alpha, tăng chỉ số teta, biên độ thấp lan tỏa không
có ổ bệnh lý khu trú
2.3.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
Không lựa chọn và đưa vào diện nghiên cứu những BN có 1 trong các tiêu chuẩn sau:
+ Tiền sử đột quị não
+ U não, dị dạng mạch não
+ Tăng HA: độ2, độ 3, giai đoạn 2, giai đoạn 3
+ Xơ gan, suy thận, suy tim
+ Đang mắc các bệnh truyền nhiễm
+ Phụ nữ có thai, cho con bó