175 Đề tài khoa học Xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với ngân hàng Nhà nước
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
: Hà nội, ngày/Z tháng // năm 1998
QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Thành lập Hội đông khoa học chuyên ngành
để đánh giá để tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Căn cứ quyết định số 382/QÐ ngày 20/2/1980 của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa
học và Kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa học công nghệ và môi trường) quy định
vẻ thể thức đánh giá và nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học và công
nghệ;
Căn cứ kế hoạch nghiên cứu khoa học năm 1997 của Bộ;
Theo đề nghị của Thường trực Hội đồng Khoa học Tài chính và Viện trưởng Viện Nghiên cứu tài chính;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Thành lập Hội đồng khoa học chuyên ngành để đánh gid dé tài cấp Bộ:
“Xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước” do
đ/c Nguyễn Quang Dũng, Phó vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và
tổ chức tài chính - Bộ Tài chính làm chủ nhiệm
Điều 2: Chỉ định các thành viên sau đây vào Hội đồng đánh giá để tài:
1/ Đíc Tào Hữu Phùng - GS.TS - Thứ trưởng Bộ Tài chính - Chủ tịch Hội đồng
2/ Đ/c Định Thị Diên Hồng - PTS - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng - Phó tổng biên tập Tạp chí ngân hàng, Học viện Ngân hàng - Phản biện
Trang 33/ Đ/c Vũ Văn Hoá - PGS.PTS - Phó hiệu trưởng Trường Đại bọc Tài chính
Kế toán Hà nội, Bộ Tài chính - Phản biện
4/ Đ/c Trương Mộc Lâm - GS.TS - Tổng giám đốc Tổng công ty Bảo hiểm
Việt Nam, Bộ Tài chính - Thành viên
5/ Đ/c Nguyễn Công Nghiệp - PGS.PTS - Viện trưởng Viện Nghiên cứu tài
chính, Bộ Tài chính - Thành viên
6/ Đ/c Nguyễn Duệ - PTS - Giám đốc Học viện Ngân hàng, Ngân hàng Nhà
nước - Thành viên
7/ Đ/c Le Văn Hưng - PTS - Vụ trưởng Vụ Huy động vốn, Kho bạc Nhà
nước Trung ương - Thành viên
§/ Đ/c Đặng Văn Thanh - PGS.PTS - Vụ trưởng Vụ Chính sách tài chính, Bộ
Tài chính - Thành viên
9/ Đc Đình Văn Nhã - PTS - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu tài chính,
Bộ Tài chính - Thư ký Hội đồng
Điều 3: Thường trực Hội đồng Khoa học Tài chính và các đồng chí có tên ở điều 2
chịu trách nhiệm thi hành quyết định này /
Nơi nhận: BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH “%
Thường trực HĐKH
Trang 4CONG HOA XC HOI CHU NGHIA VIET NAM
Độc lập - tr đo - hạnh phúc
BẢN NHẬN XÉT
_ Đề tài khoa học “Xây dung co’ chế quản lý tải chín!
đổi với ngân hàng nhà nướtc”
1) Đây là một để tài khoa học cấp bộ, vừa có tính khái quát lý luận, vừa có
tính thực tiễn Là một để tài cần thiết, gốp phần đáp ứng đồi hoi của những vấn dé cấp bách đạt ra phải có phương ấn phù hợp giải đáp sớm -
Tuật ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam mới ban hành đã đành một
chương để qui định về “Tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo của NHNN”, nhưng
chỉ mới là những vấn để chung về vốn pháp định, thu chỉ tài chính, chênh lệch thu
chỉ, lập quĩ, hạch toán kế toán, kiểm toán năm tài chính và: báo cáo tài chính đối với
NHNN Điều 44 trong Luật này qui định “Thu chỉ tài chính của NHNN về nguyên tắc thực hiện theo qui định của Luật Ngân sách Nhà nước Chính phủ gui định những
riội đung thu chỉ tài chính đặc thò phù hợp với hoạt động nghiệp vụ của NHNN” Như vậy để luật đi vào được cuộc sống cân phải có “chế độ tài chính áp dựng cho NEINN” và đồng thời cũng phải có cơ chế quản lý việc chấp hành chế độ này sao cho phù hợp với hoạt đông nghiệp vụ của NHNN với những đặc thù của nó
2) Chế độ tài chính áp đụng cho một tổ chức và cơ chế quản lý việc chấp hành
Mì độ đó phụ thuộc trước tiên vào chức năng, nhiệm vụ cơ bản của chính tổ chức
ó Các tác giả để tài với góc độ nhìn từ tài chính cũng đã để cập đến chức năng
‘hier vụ cơ bản của NHNN (NHTW) để làm cơ sở lý luận giải quyết vấn đề là rất
đúng Những chức năng, nhiệm vụ cơ bản này của NHNN đã đân đến những đặc thù
về tổ chức, hoạt động và nội đưng liên quan đến tài chính áp dụng cho chính NHNN
Như chứng ta đã biết, Ngân bàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam thực chất vừa 1à cơ quan của Chính phủ, vừa là ngân hàng trung ương @IW) của đất nước Với
tự cách là cơ quan của Chính phủ, NHNN làm chức nang: quản lý nhà nước về tiên
tạ, về tổ chức và hoạt động ngân hàng (NH) của các tổ chức tín đụng (TCTD), về hoạt động NH của các tổ chức khác Với tư cách là NHNN của đất nước, NHNN làm vai trò của NH phất hành tiên; NH của các TCTD và NH làm địch vụ riền tệ, thanh
toán cho Chính phủ Để làm chức năng là NHTW, NHNN trước tiên phải là một NH
Trang 5lời, mặc dù NHTW không phải là doanh nghiệp, NHTW không theo đuổi Tnục tiêu lợi nhuận, Nên kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa NHNN Việt Nam cũng như các bộ khác đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Nhưng
khác với các bộ khác, NHNN quản lý nhà nước trong lĩnh vực của mình không phải chỉ bằng biện pháp hành chính, cưỡng chế, mà chủ yếu thông qua các công cụ kinh
tế vĩ mô và hoạt động nghiệp vụ sinh lời Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, hoàn thiện và đi vào chiều sâu, nên kinh tế Việt Nam được xác định là nên kinh tế
mở, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước và thực iế nên kinh tế Việt Nam dang trên đường hội nhập Do gắn với đặc thù của kinh tế thị trường, hoạt động nghiệp vụ và hoạt động tài chính của NHNN hết sức lĩnh hoạt và khó dự báo trước; NHNN phải lấy thụ bù chỉ hàng ngày, lấy các khoản thu nghiệp vụ và dịch vụ để trang trải các chỉ phí hoạt động, nhất là trong các trường hợp can thiệp của thị trường
để thực hiện chính sách tiên tệ Mặt khác, là NHNN của đất nước, NHNN có tính độc lập tương đối trong hoạt động, đặc tính này vừa biển hiện trong việc hoạch định
và thực thị chính sách tiền tệ, vừa đồi hỏi tính chủ động của NHNN về thu chỉ tài
chính
Không ít chuyên gia nước ngoài lưu ý là nên tạo cho NHNN được chủ động
hơn, thậm chí được quyết định trong thu chỉ tài chính, Theo ông S Sakata, chuyên gia ca IMF tai Việt Nam, nêu rằng: NHNN Việt Nam cần có quyền tư quyết trong
việc lập ngân sách cho mình
Thực tiên, ở nước ta cũng đã không cơi NHNN là một cơ quan hành chính sự
nghiệp, các văn bản pháp qui của nhà nước lâu nay qui định đã thể hiện nội dung
này, Chẳng hạn: - Thông tr 72/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/2/1961 đã qui
định “NHNN được ấp dụng chế độ hạch toán kinh tế toàn ngành từ 1/1/1961”: - Pháp lệnh NHNN Việt Nam ban hành ngày 24/5/1990 qui định “NHNN có vốn pháp
định thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động theo nguyên tấc hạch toán kinh tế”; - Thông
tư của Bộ Tài chính sé 72-TC/CDTC ngay 25/11/1992 qui định “NHNN được nhà nước cấp vốn pháp định, có quyền tự chủ về tài chính theo pháp luật"
Ở đê tài này, các tác giả đã khái quát được một số đặc thù của NHTW nói
chung và NHNN Việt Nam nói riêng, đã đưa ra được một số lý luận làm cơ sở cho việc xây đựng cơ chế quản lý tài chính đối với NHTTW và kinh nghiệm trong lĩnh vực
nầy của một vài nước để tharn khảo vận dụng cho Việt Nam; đã khái quất được thực trang và những tổn tại để thấy được sự cân thiết của việc xây đựng cơ chế quản lý tài
chính đối với NHNN hiện nay Chúng ta đồng tình với các tác giả khi viết rằng:
“Đánh giá chung, trong những năm qua NHNN hoạt động có lãi tăng nhanh, đủ bù
dp chi phí hoạt động và có số nộp vào ngân sách nhà nước lớn” NHNN Việt Nam
nộp ngân sách năm ¡994 là 243 tý VNĐ,và từ năm 1995 bình quân mỗi năm nộp
khoảng 500 tỷ VND
“Về nguyên tắc, chế độ quân lý tài chính đối với một ngành, một tổ chức kinh
Trang 6triển, vừa thể hiện được yêu cầu quản lý thống nhất nến tài chính quốc gia, đảm bao được quyền và trách nhiệm quản lý theo phân cấp và lợi fch cla Nha nude, đơn vị và thành viên của tập thể theo Luật pháp Từ một chế độ quản lý tài chính chung cho
toàn ngành Ngân hàng, chế độ quản lý tài chính đối với NHNN được tách ra qui
định riêng theo Pháp lệnh, NHNN đã góp phần đáng kể vào việc thức đẩy và hỗ trợ
sự lớn mạnh của NHNN, tăng cường tích luỹ cho Ngân sách Nhà nước, tăng cường
kỷ luật tài chính và bước đầu tạo điểu kiện khuyến khích, động viên người lao động
trong NHNN Tuy nhiên, thực tiễn phát triển của công cuộc đổi mới nên kinh tế cùng với việc đổi mới và lành mạnh hoá hệ thống tài chính, tiền tệ đã làm cho chế độ tài chính đối với NHNN tô ra bất cập, cần được sửa đổi để phù hợp với những yêu
cầu mới Những tồn tại cơ bản của chế độ tài chính đối với NHNN hiện hành cần
được nghiên cứu sửa đối là:
© Chế độ quản lý tài chính của Bộ Tài chính chưa a phần ánh được toàn bộ hoạt động tài chính của NHNN và yêu cầu quản lý đối với các hoạt động
46, méi chi để cập đến việc quản lý các hoạt động thu chỉ đơn thuần của NHNN Đến nay NHNN cùng với sự phát triển của hệ thống NH ở Việt
nam các hoạt động nghiệp vụ ngày càng phức tạp và mở rộng như: Hoạt động thị trường mở, thị trường liên ngân hàng, kinh doanh ngoại bối,
quản lý Quï dự trữ ngoại hối do vậy đời hỏi phải có một chế độ quản lý
tài chính mới bao hàm đầy đủ các hoạt động tài chính của NHNN
s Trong khi Nhà nước đã có nhiều văn bản điển chỉnh nhiều qui định về quản lý tài chính hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước cho phù hợp với yên câu phát triển mới (Chế độ quản lý tài sản, khấu hao tài sản
cố định; Chế độ quản lý vốn đầu nr xây dựng cơ bản; Chế độ chỉ tiêu cho công tác, hội nghị điện thoại ) thì nhiền qui định của Chế độ quản lý
tài chính đối với NHNN trong thực rế đã không còn hiệu lực thị hành,
din đến tình trạng chấp vá trong thực biện và quản lý quá trình thực
hiện;
© Cbưa giải quyết thoả đáng yêu cẩu khách quan về đổi mới công nghệ ngân hàng đối với NHTW trên cả 2 phương, điện tạo lập nguồn vốn và
quản lý sử đựng vốn có hiệu quả;
e Chưa giải quyết thoả đáng mối quan hệ hài hoà về chế độ đãi ngộ đối với
người lao động làm việc tại NHNN với người lao động tại các ngân hang
thương mại trên cơ sở vị thế pháp lý của NHNN với tư cách là cơ quan của Chính phủ đồng thời là NHTW
« Chế độ quản lý tài chính đối với NHNN chưa giải quyết hài hoà quyền chủ động, tự chịu trách nhiệm của Thủ trưởng NHNN với quyển quản lý của Nhà nước về phương diện tài chính theo Luiật Ngân sách Nhà nước;
« Pháp lệnh Ngân hang Nhà nước đến nay đã được thay thế bằng Luật
Trang 7pháp qui hướng đãn Luật đồi hỏi Qui chế quản lý tài chính đối với NHNN cần phải được sửa đổi cho phù hợp với thực tế hiện nay và cần
được nâng cao hiệu lực pháp lý dưới hình thức một Nghị định của Chính
phủ” (xem trang 56 và 57 toàn văn để tài)
3) Kết cấu của đẻ tài gôm 3 chương về cơ bản là tương đối phù hợp Ca
- Chuong I: Co so lý luận xây dung cơ chế quản lý tài chính đối với NHTW
và kinh nghiệm của một số nước
- Chương II: Thực trạng quản lý tài chính của nhà nước đối với NHNN hiện
nay
- Chương HT: Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp đổi mới cơ chế
quản lý tài chính đối với NHNN Việt nưm trong giai đoạn tới Tuy nhiên, theo tôi, hợp lý hơn nếu xếp mục TH thuộc chương 1ï: “Địa vị pháp
lý và tính đặc thù trong hoạt động tài chính của NHNN được xác định sau khi luật
NHNN ban hành” và mục I thuộc chương HI “Các quan điểm chung” vào cuối
chương Ï vì nội đưng này đều là cơ sở lý Inận giúp giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra
(từ đồng 23 trang 6Í đến trang ó5 và từ dòng 5 trang 66 đến dòng ló trang ó9; trên xuống, bản toàn văn đề tài)
4- Nội dung đã được các tác giả để cập đến nhiều vấn để liên quan cẩn thiết, súc tích Tuy nhiên còn đôi chỗ trùng lặp và số liệu cần kiểm tra lại cho hợp lý, chính xác hơn (ví đụ, trang 55, số nộp ngân sách nhà nước 1994 để tài đưa ra là 243
tỉ VNĐ, 536 tỉ VNĐ cho 1995 tầng so với 1994 là 147%, những nếu chia 536 cho
243 thì được 220% và số tăng được là 120% )
5- Phương pháp nghiên cứu phù hợp và các tác gid đã thể hiện sự nghiêm tức, tim tồi độc lập trong khi đưa ca những ý kiến để xuất giải quyết có căn cứ lý luận và
Trang 8Ha noi, ngdy 25 thang II nam 1998
Đề tài " Xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước”
được trình bày trong 98 trang đánh máy Bố cục gồm ba phần : mở đầu, kết luận và
ba chương Về nội dung của để tài này chúng tôi có một số nhận xét và đánh giá như sau :
I- Nhận xét khái quát
1- Tính cấp thiết của đề tài -
Ngân hàng Nhà nước (NHNÑ) là một tác nhân kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong nên kinh tế thị trường Việc hoạch định và quá trình thực thi chính sách tiền tệ của nó, có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội Là
cơ quan cấp bộ, trực thuộc chính phủ, so với các Bộ khác, NHNN có tính đặc thù : có
nhiều khoản thu, trong đó có những khoản thu lớn, trong quá trình thực hiện chức
năng và nhiệm vụ của mình Cơ chế quan lý tài chính đối với NHNN đã có và được
thực hiện từ khi thành lập NH Cơ chế này được đổi mới phát triển và từng bước được hoàn thiện phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của Việt nam
Nhưng trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển nên kinh tế
VN sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời từng bước hội nhập với kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới, thì cơ chế quản lý tài chính đối với NHNN, có nhiều vấn đề còn bất cập Chính vì thế mà Đề tài nghiên cứu "Xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với NHNN", theo chúng tôi là rất
cần thiết, phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung của nên
KTQD Đông thời đây cũng chính là một nội dung quan trọng trong việc thực hiện Luật ngân hàng Nhà nước, Luật Ngân sách, Pháp lệnh kế toán :hống kê
2- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Nội dung của để tài đã phác hoạ khá toàn diện về sự hình thành và phát triển
của NHNNVN từ khi thành lập (1951) cho đến nay Về chức năng và vai trò của
NHTW về mô hình tổ chức NHTW của một số nước Đặc biệt dé tài đã để cập và phân tích khá chỉ tiết về cơ chế quản lý tài chính (thông qua các văn bản pháp quy) đối với NHNN Phân tích rõ những nội dung đã đạt được và rihhững vấn để còn tồn tại trong cơ chế quản lý tài chính đối với NHNH Từ đó tác già ca; để tài đã có một s6
đối với NH¡vI! phù hợp với điều kiện
Trang 9
- ¿6ayHúng tôi cho rằng, tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng sưu tâm tài liệu, đối
tr chiu gið lý luận với thực tiễn, có bề đày thực tế và có chiều sâu trong nghiên cứu, Jhì mới: ạt được kết quả nêu trên Vì vậy để tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tuy nhiên cần lưu ý những vấn đề sau :
1s) - Hình thức trình bày đề tài cần trang trong hơn (vì đây là đề tài cấp Bộ quản ý)-
Số liệu của các bảng biểu cần nêu xuất sứ -
Các văn bản (mặc dù nhắc lại) nhưng phải ghi rõ ngày lưu hành văn bản :
Những kết quả đạt được ở chương này theo chúng tôi là :
Thứ nhất , đề tài đã khái quát được về mặt lý luận sự ra đời và chức năng của
NHTW Đồng thời nêu lên được mô hình tổ chức NHTW ở một số nước Nội dung trên bao hàm phạm vi rộng, vừa có tính chất khoa học vừa mang tính chất thực tiễn
Nội dung tác giả đề cập như trên là vừa đủ ,
Thứ hai, nêu rõ được tính đặc thù trong hoạt động của NHTW, từ đó đòi hỏi
cơ chế quản lý tài chính đối với nó cũng phải mang tính đặc thù : từ quản lý vốn và tài sản; quản lý thu nhập và chỉ phí, đến quản lý phân phối chênh lệch thu lớn hơn chi
sự phân tích của tác giả như vậy là đủ và rõ nghĩa
Thứ ba, Nêu lên được kinh nghiệm quản lý tài chính đối với NHTW các nước
và vận đụng kinh nghiệm này vào mô hình Ngân hàng Nhà nước VN Chúng tôi đánh
giá cao những kết luận của tác giả ở cuối trang 36 và trang 37 về 3 nguyên tắc cần
phải đảm bảo của một cơ chế tài chính, tạo điều kiện đề NHTW hoạt động có hiệu
quả, đồng thời đảm bảo được lợi ích quốc gia và quyền chủ động của NHNN
Tuy nhiên ở chương này tác giả cũng còn một số hạn chế sau : Tên để cần phải nói rõ và đúng là NHNN Việt nam
Trang 10gm lẫn giữa chức năng và nhiệm vụ của NHTW Về mặt lý luận và thực
ÿ/chỉ có 3 chức năng sau : :
+ Là Ngân hàng của các ngân hàng (NHTW)
+ Phát hành và điêu hoà tiền trong lưu thông
+ Là ngân hàng của Chính phủ
Tùy theo yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội, NHTW sẽ được giao những nhiệm
vụ khác nhau trong các thời kỳ
Chưa làm rõ nghĩa cụm từ "cơ chế quản lý tài chính" (từ tr.14 ~18), vì vậy
mà vấn đề nêu lên ở đây mang tính chất liệt kê công việc, chưa thể hiện được tính hệ thống và kết nối giữa các chính sách và biện pháp quản lý
Chương 11 - Thực trạng quản lý tài chính của Nhà nước đối với Ngân hàng Nhà nước hiện nay
Chương này được trình bay tir trang 38 đến hết trang 68 (tổng số 31 trang) Những kết quả đạt được ở chương này theo chúng tôi là :
Thứ nhất, tác giả đã hệ thống hoá các văn bản pháp quy về quản lý thu chỉ tài chính đối với NHNNVN từ giai đoạn trước khi có pháp lệnh NH cho đến nay Đồng thời phân tích một cách logic sự tiến bộ trong quá trình thực hiện quản lý tài chính
đối vơí NHNNVN Chúng tôi đánh giá cao công sức của tập thể tác giả đã đầu tư ở
phần này Nhưng điều quan trọng hơn là thấy được vai trò và năng lực quản lý của tập thể tác giả thông qua ý kiên phân tích các chính sách và chế độ quản lý tài chính
cụ thể hoá kèm theo thì chưa đồng bộ (tr.65)
Bản thân NHNNVN tự đặt ra một số chế độ thu chỉ tài chính không phù hợp
hoặc trái với quy định của CP (tr.60-6L) : chỉ XDCB, chuyển giao tài sản ( Nhà nghỉ,
Nhà khách ) cho công đoàn, nhưng Bộ TC không kiểm tra, hoặc biết mà không xử
lý
Đây là lý kiến khách quan và mạnh dạn của tập thể tác giả Theo chúng tôi
đây là vấn để lớn trong quản lý tài chính không phảt chỉ đối với ngành NH, mà còn đối với nhiều bộ ngành khác
Thứ ba, tác giả đã nêu lên sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế quản lý tài
chính đối với NHNNVN, xuất phát từ hai lý đo đó là từ những tồn tại của Pháp lệnh
NH liên quan đến hoạch định chế độ tài chính (tr.63) và xuất phát từ những tồn tại trong chế độ quản lý tài chính đối với các NH Sự phân tích của tác giả ở đây có tính thuyết phục Chúng tôi đồng tình với những ý kiến này
Nhưng ở chương này tác giả cần làm rõ thêm vấn để sau đây : Những tồn tại trong quản lý TC của NHNN :
1- Chỗ nào đo cơ chế chính sách chưa đúng?
Trang 11
chế chính sách đúng, nhưng NHNN thực hiện chưa đúng
sa “ Những tồn tại nào trong quản lý tài chính của NHNN được phát hiện nhưng đến nay :
Đã sửa và
Chưa sửa
4- Những tồn tại trên là lớn hay nhỏ?
Chương HII - Quan điển phương hướng và một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt nam trong giai đoạn tới
Nội đung chương này được tác giả trình bày từ trang 69 đến trang 94 (tổng
số 26 trang) Nhận xét của chúng tôi về nội dung chương này là :
Thứ nhất, tác giả trình bày hai phương pháp cân đối tài chính cho hoạt
động của NHNN Trên cơ sở đó nêu lên hai quan điểm để thiết lập cơ chế chính sách
quản lý tài chính đối với NHNN Tác giả tán thành quan điểm thứ 2 (tr.72) Dựa trên
cơ sở Luật NHNNVN (điều 44 chương IV) Chúng tôi cho rằng quan điểm của tác giả ở đây là đúng Vấn đề đặt ra ở đây là : Cụ thể hoá Luật bằng những văn bản pháp
quy phù hợp, có tác đụng điều chỉnh và khuyến khích sự hoạt động của NHNNVN
Thứ hai, tác giả đã nêu lên những định hướng đúng (4 định hướng tr.74) để thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với NHNN Các giải páhp cụ thể mà tác giả để
xuất về : quản ty và sử dụng vốn, quỹ và tài sản Nhà nước tại NHNN; quản lý thu chỉ tài chính; quy định về phân phối chênh lệch thu chỉ (tr.83) chúng tôi cho rằng là
hợp lý, đúng với chế độ quản lý tài chính hiện hành và có khả năng thực hiện được
Thứ ba, tác giả trình bày chỉ tiết các điều kiện để thực hiện các giải pháp (tr86) chúng tôi đánh giá đây chính là những kiến nghị đúng hướng, có ý nghĩa thực tiễn và khả thi Vấn đề đặt ra ở đây là : từng bước nhưng phải kịp thời cụ thể hoá những kiến nghị trên bằng những văn bản pháp quy Đặc biệt là phải chỉ rõ cấp nào
đưa ra những văn bản nào và phạm vi áp dụng của nó đến đâu
Chúng tôi đánh giá cao những kết quả đạt được ở chương HI Qua đây cũng chứng tỏ được sự am hiểu thực tế về hoạt động NH của tập thể tác giả
Tuy nhiên tại chương này tác giả cần làm rõ hơn một số vấn đề sau đây:
1- Hoạt động của NHNNVN : tổng hợp, đặc thù, đa dạng và phức tạp, nếu
tất cả các hoạt động này đều được điều chỉnh bằng những văn bản dưới luật của
những cơ quan quản lý (Quốc hội, Chính phủ, Bộ TC) thì qưa chỉ tiết khó thực hiện Theo chúng tôi nên chăng :
- Những hoạt động thuộc về chức năng của NHNNVN thì các văn bản được quy định bởi : Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng CP, Bộ trưởng Bộ Tài chính
- Những hoạt động thuộc nhiệm vụ của NHNNVN : các văn bản được quy định bởi : Bộ Tài chính, NHNNVN
2- Xác định rõ cơ chế về : giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động của NHNNVN, để tránh chồng chéo không bỏ sót nhưng lại có hiệu quả cao
Trang 12a Abe khai hoá từng bước tài chính của NHNN là cần thiết và phải được
_ thực hiệm ñ gáy, nhưng nên bắt đầu từ chức năng hay nhiệm vụ nào của NHNNVN?
#5 Văn bản pháp quy đưới luật để hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động của NHNNVN hiện nay nhiều,cẩn phải nghiên cứu sắp xếp cho gọn, chống trùng lắp và
sơ hở, phù hợp với thực tiễn, đồng thời đễ quản lý
Nếu tập thể tác giả cụ thể hoá được những vấn để chúng tôi để xuất trên, thì
giá trị khoa học và thực tiễn của công trình sẽ cao hơn
Trang 13ĐỀ TAL KHOA HOC
Xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với
gan hang Rha mroc
HÀ NỘI - 1998
Trang 14
Lời mở Đầu
Cùng với sự phát triển của nền kính tế trong tiến trình đổi mới, hệ
thống ngân hàng Việt nam cũng từng bước được hoàn thiện và phát triển Từ
hệ thống ngân hàng một cấp, với sự ra đời của hai Pháp lệnh Ngân hàng ( Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước; Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín
dụng và công ty tài chính ), hệ thống ngân hàng Việt nam bước sang một giai đoạn mới, hoạt động theo mô hình của hệ thống ngân hàng hai cấp với sự
phân định rõ ràng chức năng quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước và chức năng kinh doanh của các ngân hàng thương mại Sau gần 8 năm hoạt động dưới sự điều chỉnh của hai Pháp lệnh ngân hàng, hệ thống ngân hàng
đã đạt được những thành tựu đáng kể, đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi Ngân hàng Nhà nước với vai trò, vị trí mới đã thực hiện tốt hơn nhiệm vụ ổn định tiền tệ, kiểm chế lạm phát và góp phần
tăng trưởng kinh tế, từng bước đưa hệ thống Ngân hàng Việt nam hội nhập
với khu vực và thế giới
Một nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự đổi mới của Ngân hàng Nhà nước là vai trò điều hành ở tầm vĩ mô của Nhà nước thông qua việc ban hành
kịp thời các văn bản chế độ, tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng Ngay sau khi hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời và có hiệu lực,
hàng loạt các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh được ban hành, tạo điều kiện để Pháp lệnh nhanh chóng đi vào cuộc sống Các quy định về quản lý tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước oũng được cải tiến và hoàn
thiện từng bước Cơ chế quản lý tài chính theo nguyên tắc lấy thu bù chỉ phù hợp với đặc thù của Ngân hàng Nhà nước là một cơ quan quản lý Nhà nước
có các hoạt động sinh lời trên cơ sỏ tuân thủ các quy định trong Pháp lệnh
ngân hàng Nhà nước và các quy định của pháp luật hiện hành Cơ chế này,
về cơ bản, đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng Nhà
nước, tăng cường tích luỹ cho Ngân sách nhà nước, góp phần tích vào việc
đổi mới và lành mạnh hoá hệ thống tài chính - tên tệ
- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hoạt động về tài chính, tiền
tệ, tín dụng, ngân hàng ngày càng trở nên sôi động Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước cùng với cơ chế quản lý tài chính cũ đã bộc lộ những điểm bất cập, không phù hợp với hệ thống ngân hàng hiện đại: Sau hai năm chuẩn bị, ngày 12/12/1997 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam thay thế Pháp lệnh ngân
hàng Nhà nước, là văn bản pháp lý cao nhất từ trước đến nay điều chỉnh hoạt
động Ngân hàng Nhà nước Xuất phát từ yêu cầu thực tế, từ tháng 10/1998
khi Luật Ngân hàng bắt đầu có hiệu lực thí hành, phải có một hệ thống văn
Trang 15bản pháp quy đồng bộ hướng dẫn thực hiện, Bộ Tài chính với chức năng quản lý Nhà nước về mặt tài chính cần có những chuẩn bị thích hợp để đưa
ra một cơ chế quản lý tài chính phù hợp với địa vị pháp lý, chức năng, vai trò
của Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn mới Vì lẽ đó, Ban chủ nhiệm Đề
tài trong gần một năm nay đã tập trung nghiên cứu hoàn thiện Đề tài nghiên
cứu khoa học “Xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Nhà
nước Việt nam” Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển của hệ
thống ngân hàng, những yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý tài chính giai đoạn mới và kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến trên thế giới nhằm đề xuất ý kiến với Các nhà quản lý một cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân ˆ hàng Nhà nước Việt nam trên cơ sở kế thừa những kết quả đã đạt được và
phù hợp với quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Ngân hàng Nhà nước
Đề tài gồm 3 chương:
Chương l : Cơ sd lý luận xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với
Ngân hàng TW và kinh nghiệm của một số nước
Chương II : Thực trạng quản lý tài chính của Nhà nước đối với Ngân
hàng Nhà nước hiện nay
ˆ Chương ll| : Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp đổi mới
cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng nhà nước việt nam trong giai đoạn tới
Đề tài được hoàn thành với sự quan tâm, giúp đỡ của Lãnh đạo Vụ Tài chính Ngân hàng, Viện nghiên cứu Tài chính ( Bộ Tài chính ) và các chuyên
gia về tài chính tiền tệ thuộc Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt nam Ban chủ nhiệm Đề tài khoa học xin chân thành câm ơn các nhà khoa học, các đơn vị và cá nhân đã tận tỉnh giúp đỗ Ban chủ nhiệm hoàn thiện Đề tài này
Hà nội, tháng 9 năm 1998 Chủ nhiệm đề tài
Nguyễn Quang Dũng
Phó Vụ trưởng Vụ tài chính các Ngân hàng
và Tổ chức tài chính - Bộ Tài chính
Trang 16CHUONG I
Cơ sở lý luận xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Trung : _ ương và kinh nghiệm của một số nước
-J MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRƯNG ƯƠNG
1/ Ngân hàng Trung ương
Nhà Kinh tế học người Mỹ Samuelson đã từng có một câu nói nổi tiếng: “Ngân hàng trung ương là một trong ba phát minh lớn của loài người bên cạnh lửa và bánh xe” Samuelsson đã không cường điệu vai trò của Ngân hàng trung ương, thực tiễn lịch sử hình thành và phát triển của các quốc gia đã khẳng định vai trò tất yếu và hết sức quan trọng của Ngân hàng trung ương trong nên kinh tế
Lịch sử ngân hàng bắt đâu từ xa xưa và khởi nguồn từ phương Đông Vào khoảng 3000 năm trước công nguyên các ngôi đến tại xứ Chaldee (thuộc nước lraq ngày nay) đã giữ vai trò có tính cách ngân hàng Các tín
đồ dâng lễ vật và gửi tài sản cho dén thờ, những người giữ đến đã dùng các tài sản ký gửi này để cho công chúng vay và được hưởng lãi suất Thời kỳ ngành ngân hàng thực sự có quy mô, hoạt động đúng chức năng và tổ chức
có hệ thống phải kể đến thời kỳ cận đại từ thế kỷ thứ 17 trở lại đây Từ thời
kỳ này, hàng loạt ngân hàng Ở các nước trên thế giới được thành lập và phát
triển với các chức năng ngày càng đa dạng và phức tạp Khi hệ thống tín
đụng thương mại phát triển, các loại công cụ lưu thông tín dụng như kỳ phiếu thương mại, kỳ phiếu ngân hàng xuất hiện ngày càng nhiều Kỳ phiếu ngân hàng với những ưu điểm của nó trở nên thông dụng và đã dần dần thay thế kỳ phiếu thương mại Lúc đầu kỳ phiếu ngân hàng do nhiêu ngân hàng thương mại phát hành, những kỳ phiếu này chỉ lưu thông trong từng địa phương nên không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế Nền kinh tế hàng hoá đòi hỏi có những kỳ phiếu lưu thông trên thị trường toàn quốc và quốc tế Chỉ có những ngân hàng lớn, có uy tín rộng rãi mới phát hành được _ loại kỳ phiếu này
Ở một số nước kinh tế phát triển hơn, đã xuất hiện một vài ngân hàng
thương mại lớn nhất, tách ra khỏi hệ thống ngân hàng thương mại, chuyên phát hành kỳ phiếu ngân hàng để cho các doanh nghiệp và các ngân hàng thương mại khác vay vốn Những ngân hàng này gọi là ngân hàng phát hành Trong một thời gian khá dài, ở nhiều nước, mặc dù đã có ngân hàng phát hành nhưng các ngân hàng thương mại vẫn tiếp tục sử dụng quyền
phát hành kỳ phiếu ngân hàng tại địa phương vì kỳ phiếu này là một trong
những nguồn vốn để cho vay, nhưng về sau do không cạnh tranh nổi với kỳ
Trang 17phiếu ngân hang phát hành nên phạm vi sử dụng thu hẹp và cuối cùng bị loại ra khỏi lưu thông Sau này cùng với sự phát triển của nên kinh tế, xu hướng chuyên môn hoá các ngân hàng ngày càng rõ rệt đến mức hình thành
xu hướng tập trung nghiệp vụ phát hành kỳ phiếu vào tay các ngân hàng
phát hành
Để dễ dàng vay được nhiều tiền hệ trợ cho ngân sách, các Nhà nước
tư sản trước đây ủng hộ và khuyến khích thành lập các ngân hàng phát hành Nhiều Nhà nước đã ban hành những đạo luật hạn chế, đình chỉ việc phát hành kỳ phiếu của các ngân hàng thương mại; cho phép ngân hàng phát hành được độc quyền phát hành kỳ phiếu ngân hang
Ngân hàng phát hành giảm dần và đi đến ngừng hẳn việc giao dich cho vay vốn đối với các doanh nghiệp Ngân hàng phát hành chỉ nhận tiền gửi của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, của ngân sách Nhà nước và phát hành kỳ phiếu ngân hàng, một loại tiền tín dựng để cho các ngân hàng thương mại vay và cho Nhà nước vay Dần dần ngân hàng này trở thành ngân hàng phát hành trung ương của Nhà nước Việc chuyển hoá này được tiến hành bằng nhiều con đường, trong đó có con đường quốc hữu hoá Tất nhiên việc quốc hữu hoá được thực hiện bằng cách Nhà nước bỏ tiền ra mua lại ngân hàng phát hành
Ngân hàng trung ương là một ngân hàng được luật pháp tách ra khỏi các ngân hàng khác thành ngân hàng đứng đầu trong hệ thống ngân hàng Ngân hàng trung ương không giao dịch, trực tiếp với các nhà kinh doanh và công chúng, mà giữ vai trò ngân hàng của các ngân hàng, bảo quản quỹ dự trữ tiền của các ngân hàng, cho các ngân hàng vay vốn khi cần thiết, thực
hiện chính sách tiền tệ tín dụng của Nhà nước, làm nghiệp vụ thanh toán và
tín dụng quốc tế với Ngân hàng trung ương các nước khác, làm cơ quan cấp tiền cho Ngân sách khi cần và làm một số nghiệp vụ cho Kho bạc Nhà
nước
2/ Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của Ngân hàng trung trơng :
Tuy thuộc vào địa vị pháp lý mà Ngân hàng trung ương ở các nước có những chức năng và nhiệm vụ cụ thể Nhìn chung đù theo mô hình tổ chức
nào, Ngân hàng trung ương đều thực hiện nhiệm vụ cơ bản: thực thi chính
sách tiền tệ quốc gia, phát hành tiền, giữ vai trò là ngân hàng của các ngân hàng thương mại, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động thông suốt và đóng vai trò ngân hàng của Chính phủ, chịu trách nhiệm cung ứng tiền tệ
và hỗ trợ bằng tín dụng cho thâm hụt ngân sách của Chính phủ
Ngân hàng trung ương của các quốc gia đều có các chức năng cơ ban sau :
Trang 182.1/ Thực thí chính sách tiền tệ : Đây là chức năng cơ bản của Ngân
hàng trung ương Tuỳ thuộc vào mức độ độc lập của Ngân hàng trung ương mỗi nước mà Ngân hàng trung ương chủ động trong việc thực thi chính
sách tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ chủ yếu, gồm:
* Nhóm công cụ trực tiếp: bao gồm dự trữ bắt buộc và hạn mức tín dụng
- Dự trữ bắt buộc: Trong hoạt động tín dụng và thanh (oán, các ngân hàng thương mại có kha nang biến những khoản tiền gửi ban đầu thành những khoản tiền gửi mới cho cả hệ thống, khả năng sinh ra bội số tín dụng, tức là khả năng tạo tiền
Để điều tiết khả năng này, Ngân hàng trung ương buộc các ngân hang thương mại phải trích một phần tiền huy động được, theo một tỷ lệ quy định, gửi vào Ngân hàng trung ương không được hưởng lãi hoặc lãi suất thấp Do đó cơ chế hoạt động của công cụ dự trữ bắt buộc nhằm khống chế khả năng tạo tiên, hạn chế mức tăng bội số tín dụng của các ngân hàng thương mại Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện thanh toán cần khống chế (bị vô hiệu hoá về mặt thanh toán) trên tổng số tiễn gửi, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán và khả năng tín dụng của các ngân hàng thương mại Nếu Ngân hàng trung ương nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại sẽ
bị thu hẹp, khối lượng tín dụng trong nền kinh tế sẽ bị thu hẹp Ngược lại, nếu Ngân hàng trung ương hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tức tăng khả năng tạo tiền thì cung về tín dụng của các ngân hàng thương mại cũng tăng lên, khối lượng tín dụng và khối lượng thanh toán có xu hướng tăng, đồng thời tăng xu hướng mở rộng khối lượng tiền
Do tính chất và tác dụng như vậy nên tại các nước Ngân hàng trung ương có quy định, phân biệt tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho từng loại tiền gửi theo nguyên tắc : tiên gửi tiết kiệm - tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp nhất, sau đó là tiên gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn tỷ lệ cao nhất ˆ
- Hạn mức tín dụng: Trong chính sách tiền tệ, hạn mức tín dụng là mức cung cấp tín dụng tối đa mà Ngân hàng trung ương ấn định cho mỗi tổ chức tín dụng được phép cung cấp cho khách hàng trong một thời hạn nhất định, thường là một năm.Chính sách này thường được áp dụng trong thời kỳ thắt chặt tín dụng Mức tín dụng này được xác định căn cứ vào số lượng tín dụng đã cung cấp và chưa được hoàn trả trong một thời hạn nhất định Hạn mức tín dụng có thể được tăng giảm với những tỷ lệ nhất định và có phân | biệt đối với từng nhóm đối tượng vay
* Nhóm công cụ gián tiếp:
Trang 19- Tai chiét khấu:
Tái chiết khấu là phương thức để Ngân hàng trung ương đựa tiễn vào lưu thông, thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng Thông qua việc tái chiết khấu, Ngân hàng trung ương đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thống ngân hàng thương mại thực hiện việc tạo tiền, đồng thời khai thông thanh
; Trong hoạt động của các ngân hàng thương mại, những nguồn vốn huy động được thường được sử dụng vào các khoản tín dụng cho các doanh nghiệp có thể bằng hình thức chiết khấu (mua lại) thương phiếu; mua ngoại
tệ, mua tín phiếu kho bạc Vì vậy đến khi có những nhu cầu trước mắt về vốn, ngân hàng thương mại phải đến Ngân hàng trung ương xin tái cấp vốn dưới hình thức tái chiết khấu các kỳ phiếu, các giấy tờ có giá Tái: chiết khấu là đầu mối tăng tiên trung ương, tăng khối lượng tiền tệ vào lưu thông,
do đó, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điêu khiển khối lượng tiền và điều hành chính sách tiền tệ Tuỳ theo tình hình từng giai đoạn, tuỳ thuộc yêu cầu của việc thực hiện chính sách tiến tệ trong từng giai đoạn, cần thực hiện chính sách thất chặt hay nới lỏng tín dụng mà Ngân hàng trung ương quy định lãi suất tái chiết khấu cao hay thấp Lãi suất tái chiết khấu đặt ra từng thời kỳ phải có tác dụng hướng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng của nền kinh tế trong giai đoạn đó Khi Ngân hàng trung ương nâng lãi suất tái chiết khấu, buộc các ngân hàng thương mài cũng phải nâng lãi suất tín dụng để không bị lỗ vốn hoặc hạn chế vay vốn Ngân hàng nhà nước dẫn đến thu hẹp phạm vi tín dụng Do lãi suất tín dụng tăng lên dẫn đến giảm cầu về tín dụng và đương nhiên kéo theo giảm cầu tiền tệ Trong trường hợp ngược lại, tức là Ngân hàng trung ương kích thích tăng về cung sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu xuống Ở nhiều nước, công cụ nghiệp vụ trực tiếp để thực hiện tái chiết khấu là thương phiếu, hoặc các loại tín phiếu, trái phiếu là những công cụ rất thông dụng trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn
- Hoạt động thị trường mở
Nếu như công cụ lãi suất tái chiết khấu là công cụ thụ động của Ngân hàng trung ương, tức là Ngân hàng trung ương phải chờ ngân hàng thương mại đang cần vốn đưa thương phiếu, kỳ phiếu đến để xin tái cấp vốn thì nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chủ động của Ngân hàng trung ương để điều khiển khối lượng tiền Qua nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng trung ương chủ động phát hành tiên vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách mua bán các loại trái phiếu ngân hàng Bàng cách này Ngân hàng trung ương điều khiển cả khối lượng tiền tệ và lãi suất tín dụng thông qua số lượng, giá cả mua và bán trái phiếu.
Trang 20Trình độ kinh tế của mỗi quốc gia càng phat triển thì nhóm công cụ gián tiếp càng được Ngân hàng trung ương sử dụng để thực thi chính sách tiên tệ Khi đó, Ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường thông qua các chính sách kinh tế, không phải bằng các mệnh lệnh hành chính theo đánh giá chủ quan của Ngân hàng
2.2/ Thiết kế, in ấn và phát hành các loại tiên giấy, tién kim loại
Ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyển trong lĩnh vực thiết kế,
in ấn và phát hành các loại tiền giấy, tiền kim loại Ngân hàng trung ương phải công bố công khai loại giấy bạc và những đặc điểm phân biệt các tờ giấy bạc mà Ngân hàng trung ương phát hành Một điều kiện cơ bản để thực hiện chức năng này là Ngân hàng trung ương phải phát hành những đồng tiền theo kỹ thuật đặc biệt, ngăn ngừa nguy cơ làm giả để đảm bảo nguyên tấc chỉ Ngân hàng trung ương phát hành tiên quốc gia Ngân bàng trung ương đồng thời có chức năng thu hồi, tiêu huỷ các loại tiền hư hỏng
hoặc không còn giá trị lưu hành Chính chức năng phát hành tiền tệ là một
dấu hiệu quan trọng bậc nhất để phân biệt Ngân hàng trung ương với ngân
hàng thương mại
` 2.3/ Điều tiết lượng tiền cung ứng
Trong quá trình cung ứng tiền tệ có 4 tác nhân chính tác động đến lượng tiền cung ứng, đó là: Ngân hàng trung ương, các ngân hàng (các tổ
chức nhận tiền gửi), những người gửi tiền và những người vay tiền từ các ngân hàng Trong đó, Ngân hàng trung ương có vai trò quan trọng nhất tác động đến lượng tiền cung ứng và quyết định việc điều tiết lượng tiền cung
ứng
Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng này thông qua chính sách chiết khấu, chính sách tín dụng và chính sách thị trường mở - các công cụ của chính sách tiền tệ (đã được trình bày cụ thể tại phần trên) ,
2.4/ Ngăn ngừa những biến động gây ảnh hưởng đến tỷ giá hối
đoái
Ngân hàng trung ương là cơ quan có chức năng quản lý ngoại hối và
sự ngang giá của đồng tiền theo hướng ổn định và bảo vệ sức mua trong và ngoài nước của đồng tiền quốc gia Một sự biến động tỷ giá dù không lớn cũng ảnh hưởng đến kinh tế trong nước tuỳ theo mức độ hoà nhập với kinh
tế thế giới, đồng thời, những biến động về tỷ giá cũng tác động đến mối tương quan giữa tiền tệ trong nước và tiền tệ nước ngoài Ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ hối đoái và quỹ dự trữ ngoại tệ nhằm ổn định giá trị đồng tiền trong nước so với các ngoại tệ mạnh, tránh biến động về tỷ giá
Trang 21hối đoái Đây là chức năng đối ngoại quan trọng của Ngân hàng trung ương
2.5/ Nắm giữ và quản Lý dự trữ ngoại tệ
Mỗi nước đều có một lượng ngoại hối dự trữ quốc gia, thể hiện mức
độ hưng thịnh về kinh tế của quốc gia đó Khối lượng này tuỳ thuộc khả năng, tiểm lực của nên kinh tế có thể tạo lập được Dự trữ ngoại hối là kết quả của tổng số thu và tổng số chỉ ngoại tệ của một nước trong suốt thời kỳ nhất định, thường là một năm Dự trữ ngoại hối tăng khi thu ngoại hối lớn hơn chỉ, được thể hiện ở mức tăng dự trữ Ngân hàng trung ương Khi Ngân hàng trung ương mua ngoại hối, khối lượng tiển tệ tăng thêm, khi Ngân hàng trung ương bán ngoại hối, khối lượng tiền tệ trong lưu thông giảm
Dự trữ ngoại hối là một yếu tố quan trọng góp phần ổn định tiền tệ vì trong khối lượng ngoại hối dự trữ có một bộ phận được dành để thực hiện nhiệm vụ bình ổn tỷ giá Khi có biến động về tỷ giá, Ngân hàng trung ương
đùng lượng ngoại hối dự trữ để can thiệp thông qua nghiệp vụ mua vào
hoặc bán ra Ở nhiều nước, trước đây Chính phủ quy định tỷ lệ quan hệ giữa ngoại hối dự trữ và khối lượng tiên trong lưu thông chính là do phần lớn dự trữ ngoại hối đảm nhiệm chức năng bình ổn tỷ giá Ngoại hối dự trữ thường là các ngoại tệ mạnh
2.6! Là Ngân hàng của các ngắn hang
Ngân hàng thương mại là tổ chức có quan hệ với công chúng mật thiết và chịu sự tác động mạnh mẽ nhất của thị trường Thị trường là yếu tố quyết định sự tồn tại hay phá sản của một ngân hàng thương mại thông qua một cơ chế đơn giản, đó là tác động vào tâm lý đám đông Khi xuất hiện một tin đồn về nguy cơ mất khả năng thanh toán của một ngân hàng, ngay lập tức các chủ nợ của ngân hàng - những người gửi tiền sẽ đổ xô đến ngân hàng rút tiền nhằm bảo toàn số vốn của mình, lúc này họ sẵn sàng hy sinh
số tiên lãi đáng lẽ ra đợi đến khi đến hạn thanh toán họ sẽ được hưởng Bất
kỳ một ngân hàng thương mại nào dù hoạt động rất tốt cũng không thể thoát khôi tình trạng mất khả năng thanh toán trong trường hợp khách hàng
để xô đến rút tiền, do những khoản đầu tư của họ có thời hạn, không thể thu hồi vốn để đáp ứng chỉ trả kịp thời cho các nhu cầu rút tiền của dân cư Lúc này Ngân hàng trung ương chính là cứu cẩnh cho vay cuối cùng cho ngân hàng thương mại Vai trò của Ngân hàng trung ương là cứu cánh cho vay cuối cùng không chỉ đơn thuân duy trì sự tổn tại của một hay một vài ngân hàng mà nhằm đảm bảo sự an toàn của cả hệ thống vì sự thất bại của một ngân hàng sẽ kéo theo sự sụp đồ của nhiều ngân hàng khác Với vai trò
là người đứng sau các ngân hàng thương mại, Ngân hàng trung ương có thể duy trì sự tỉn tưởng vào hệ thống ngân hàng, có thể ngăn chặn được xuất
Trang 22hiện các cơn hoảng loạn tài chính Các khoản cho vay của Ngân hàng trung
ương luôn là các khoản cho vay ngắn hạn nhằm giúp ngân hàng thương mại
vượt qua cơn khủng hoảng, sau đó Ngân hàng trung ương áp đặt một hệ thống kiểm soát thận trọng nhằm giúp các ngân hàng thương mại hoạt động bình thường quản lý tốt các khoản cho vay, bảo đảm tốt các nguồn vốn
2.7! Ngân hàng của Chính phủ, cung cấp tín dụng tam thời cho Chính phủ
Trong những trường hợp đặc biệt Ngân hàng trung ương có thể cấp tín dụng cho Chính phủ (Ngân sách Trung ương) để đáp ứng các nhu cầu chỉ của ngân sách với thời hạn tương đối ngắn Việc cấp tín dụng tạm thời cho Chính phủ thường đi kèm những điều kiện khá nghiêm ngặt nhằm hạn chế việc Ngân hàng trung ương phát hành tiền để Chính phủ chỉ tiêu Đây
là chức năng quan trọng của Ngân hàng trung ương nhằm đảm bảo cho công tác điều hành của Chính phủ linh hoạt, trôi chảy đáp ứng kịp thời các nhu cầu đầu tư phát triển, đặc biệt đối với nên kinh tế đang bước đầu phát triển
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho Chính phủ dưới hình thức mua tín phiếu Kho bạc, trái phiếu Chính phủ có thời hạn (hoặc có cả trường hợp cấp tín dụng trực tiếp) Đối với những trái phiếu Ngân hàng trung ương nấm giữ, Ngân hàng trung ương có thể đem bán lại cho các tổ chức tài chính tuỳ thuộc tình hình lưu thông tiền tệ
Ngoài ra Ngân hàng trung ương còn có thể cấp tín dụng cho Chính
phủ qua ngân hàng đầu tư của Chính phủ Ở nhiều nước đang phát triển, Ngân hàng trung ương vẫn thường mua trái phiếu Chính phủ và cung cấp tín dụng cho ngân hàng đầu tư của Chính phủ Tuy nhiên chức năng này của Ngân hàng trung ương chỉ có thể đem lại hiệu quả khi được thực hiện trong môi trường lạm phát thấp, Ngân hàng trung ương có năng lực điều hành cao vừa duy trì ổn định giá cả vừa không bỏ qua những cơ hội đầu tư công cộng của Chính phủ
2.8! Làm đại lý về ngân sách cho Chính phủ
Ngân hàng trung ương thông qua các chỉ nhánh hoặc uỷ thác cho một
số Ngân hàng thương mại của Nhà nước đâm nhiệm dịch vụ cho Kho bạc Nhà nước (nhận thu, chỉ, thanh toán, điều hoà quỹ cho Kho bạc Nhà nước trong đối nội và đối ngoại)
Ngân hàng Trung ương cố thể đóng vai trò của một cơ quan đại lý tài chính cho Chính phủ trong phát hành các công cụ nợ của Nhà nước (hoặc
Bộ Tài chính, các cơ quan Nhà nước khác) và thực hiện vai trò của tổ chức
2
đại lý trong quá trình chuyển nhượng Thực hiện nghiệp vụ thu hồi, trả lãi
Trang 23cũng như tiến hành các hoạt động giao dịch khác đối với những công cụ nợ
này như phát hành công cụ nợ, lập số sách theo doi, đại lý thanh toán nợ _2.9/ Thanh tra, cấp và rút giấy phép hoạt động các ngân hàng
Việc quản lý tiền tệ, việc sử dụng tiễn tệ cho toàn xã hội đều phải
được kiểm tra nghiêm ngặt, thường xuyên Các ngân hàng hoạt động theo
hướng đa năng đa thành phần, đa sở hữu trong điều kiện nền kinh tế hoạt động theo quy luật thị trường luôn luôn tiém ẩn các rủi ro, chứa đựng các nguy cơ tác động day chuyền ío lớn, vì lẽ đó công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hết sức quan trọng Việc đó là trách nhiệm, là chức năng nhiệm
vụ của Ngân hàng trung ương với tư cách là người quản lý, điều chỉnh vĩ
mô trong lĩnh vực thanh tra về hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng Mặt khác công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát trong hệ thống ngân hàng trên nhiều lĩnh vực, nhiều phạm vi, thực hiện bằng nhiều phương pháp nên phải được phân công, phân nhiệm và phải được hoạch định hết sức rõ ràng Ngân hàng trung ương thực hiện tốt chức năng thanh tra hệ thống ngân hàng sẽ là một trong các điều kiện tiên quyết để hệ thống ngân hàng hoạt động trôi chảy Một nên kinh tế ổn định chỉ khi có một hệ thống tài chính - ngân hàng tiền tệ lành mạnh có hiệu quả, chính vì vậy, Ngân hàng Trung ương với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng phải thực biện tốt chức năng thanh tra, giám sát hệ thống ngân hàng Tất nhiên, bên cạnh sự thanh tra kiểm tra của Ngân hàng Trung ương còn có sự kiểm tra, thanh tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước khác theo chức năng để duy trì tính lành mạnh của nền kinh tế
Một chức năng khác nữa của Ngân hàng Trung ương là cấp giấy phép hoạt động cho các ngân hàng Cấp giấy phép hoạt động chính là Ngân hàng Trung ương đã thực hiện chức năng giám sắt, nhằm đảm bảo cho các ngân
hàng thương mại, các Tổ chức tín dụng hoạt động và duy trì khả năng cạnh
tranh lành mạnh trên thị trường Ngân hàng Trung ương là cơ quan xem xét các điều kiện quy định của Pháp luật để thành lập ngân hàng có được đảm bảo hay không Thông qua hoạt động cấp giấy phép Ngân hàng Trung ương nắm được chính xác số lượng, quy mô, lĩnh vực hoạt động của từng ngân
hàng nhằm phục vụ cho công tác quản lý cả hệ thống của mình
Tuy nhiên tại nhiều nước, Ngân hàng Trung ương thông qua chức năng cấp giấy phép hoạt động ngân hàng để điều tiết số lượng các tổ chức tham gia vào hoạt động ngân hàng Việc cấp giấy phép hoạt động ngân hàng của một tổ chức không chỉ phụ thuộc vào tổ chức đó có đáp ứng được các điểu kiện để thành lập ngân hàng hay không mà còn phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế của từng quốc gia trong giai đoạn đó Thường
cơ chế này được áp dụng ở những quốc gia đang phát triển
Trang 24Bên cạnh chức năng cấp giấy phép hoạt động, Ngân hàng Trung ương cũng thực hiện chức năng rút giấy phép hoạt động ngân hàng Các ngân bàng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, những vị phạm của các tổ chức
này tuỳ theo mức độ sẽ có những hình phạt tương ứng mà hình phạt cao
nhất là bị thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng
2.101 Giảm sát hệ thống thanh toán
Bất kỳ một Ngân hàng thương mại nào đều có ba chức năng chính, đó là: huy động tiền gửi, cho vay và thanh toán Hoạt động thanh toán qua ngân hàng của nền kinh tế phản ánh trình độ phát triển kinh tế của quốc gia
đó Các quốc gia càng phát triển việc thanh toán qua ngân hàng càng phát triển, tất yếu đòi hỏi phải có một hệ thống giám sát để đảm bảo cho công tác thanh toán qua ngân hàng được trôi chảy, tạo sự lưu thông trong nên kinh tế Ngân hàng Trung ương thực hiện vai trò giám sát các nội dung chủ yếu: giấm sát quá trình tác nghiệp thanh toán đảm bảo quyển lợi cho kkhách hàng và cho chính các ngân hàng; giám sất việc chấp hành các quy định của Ngân hàng Trung ương về chứng từ, thủ tục và phương tiện thanh
toán
- 3/ Mô hình tổ chức Ngân hàng trung ương các nước
Hiện nay trên thế giới phố biến 4 kiểu mô hình Ngân hàng trung ương :
3.1 Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ
Mô hình này được ấp dụng Ở các nước phát triển như Mỹ, Đức Theo
mô hình này Ngân bàng trung wong mang tính độc lập rất cao, không bị ảnh hưởng bởi các quyết định của Chính phủ Tuy nhiên mô hình này chỉ phù hợp với các nước có trình độ phát triển kinh tế và mức độ tư nhân hoá kinh
tế cao Theo mô hình này, Ngân hàng trung ương sẽ thuận lợi trong công tác điều hành chính sách tiền tệ nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định giá trị đồng tiên hay sức mua của đồng tiền trong nước
3.2 Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ và độc lập với Bộ Tài chính
Theo mô hình này Ngân hàng Trung ương cũng không hoàn toàn là một Bộ nhưng là một cơ cấu đặc biệt trực thuộc Chính phủ Tuy độc lập với
Bộ Tài chính nhưng chịu sự giấm sat của Bộ Tài chính như giám sát một pháp nhân kinh tế công cộng ( ở một số nước chức năng giám sát này thuộc Vụ Tài chính Quốc Vụ Viện như Trung Quốc ) và các chức năng quản lý Nhà nước ngoài lĩnh vực quản lý tiên tệ được chuyển sang Bộ Tài chính đảm nhiệm
Trang 25Mô hình này phù hợp với các nước có nên kinh tế đang phát triển, trong đó Nhà nước: còn có vai trò can thiệp tương đối sâu vào nền kinh tế
Mô hình này có ưu điểm vừa đảm bảo được tính độc lập tương đối của Ngân hàng trung ương vừa đảm bảo sự giám sát của Chính phủ đối với Ngân hàng trung ương và cả hệ thống ngân hàng
Theo Luật Ngân hàng nhà nước, Ngân hàng nhà nước Việt nam được
tổ chức theo mô hình này
3.3 Ngan hàng trung wong là một cơ cấu đặc biệt thuộc Bộ Tài ˆ
Ngân hàng trung ương nằm trong Bộ Tài chính nhưng độc lập với các
bộ phận khác của Bộ Tài chính, do vậy không bị lệ thuộc hoàn toàn bởi chính sách tài chính Bộ trưởng Bộ Tài chính đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Ngân hàng trung ương, một thứ trưởng Bộ Tài chính làm Thống đốc Ngân hàng trung ương Bộ máy Bộ Tài chính giám sát Ngân hàng trung ương về thu, chỉ, kết qua thu chi Ngan hang Trung ương Malaysia được tổ chức theo mô hình này
Ưu điểm của mô hình này là thống nhất được chính sách tài chính và chính sách tiền tệ quốc gia vào một đầu mối là Bộ Tài chính Nhưng mô hình này làm giảm tính độc lập trong việc thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
3.4 Ngân hàng trung wong là một bộ phận thuộc Bộ Tài chính
Ngân hàng trung ương chỉ là một bộ phận như các Vụ, Cục khác của
Bộ Tài chính, hoàn toàn chịu sự chỉ phối của Bộ Tài chính Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ vẻ chính sách tiền tệ, in tiền,
phát hành tiền, điều hành hệ thống tín dụng, quản lý ngoại hối Theo mô
hình này tính độc lập của Ngân hàng trung ương rất thấp, vì vậy chính sách tiên tệ dễ bị ảnh hưởng và lệ thuộc vào chính sách tài chính quốc gia
Trong xu thế phát triển của nên kinh tế thị trường, mô hình này hầu như
tổ chức độc lập với Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng trung ương được quyền
tự quyết định mọi hoạt động của Ngân hàng và phải chịu trách nhiệm
trực
+
tiếp trước Quốc hội thì vai trò quản lý Nhà nước của Chính phủ, Bộ
Tài
Trang 26chính không thể hiện rõ nét, tuy nhiên Bộ Tài chính vẫn có một vai trò nhất định trong việc giám sát về mặt tài chính Ngân hàng trung ương Trong
trường hợp Ngân hàng trung ương được tổ chức theo mô hình trực thuộc
Chính phủ hay là một đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính sẽ chịu sự quản lý Nhà nước của Chính phủ, Bộ Tài chính, được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Có quyển hoặc được tham khảo ý kiến trong việc bố nhiệm, bãi nhiệm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
- Điều hành hoặc có ý kiến trong công tác thực thi chính sách tién tệ của Ngân hàng trung ương
- Giám sất hoạt động tài chính của Ngân hàng trung ương nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu kế hoạch đã đặt ra, tạo điều kiện cho Ngân hàng trung ương thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
- Nhận báo cáo, báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán của Ngân hàng trung ương trên cơ sở đó có các biện pháp hỗ trợ kịp thời cho hoạt động của
- Yêu cầu Ngân hàng trung ương báo cáo đột xuất nhằm phục vụ công tác điều hành kinh tế, xã hội chung của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước khác
ly CO CHE QUAN LY TAI CHÍNH ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG TRUNG ƯỠNG Ngân hàng trung ương là cơ quan có chức năng quản lý, giám sát về tiền tệ, tín đụng, ngân hàng trong nền kinh tế Trong quá trình thực hiện các chức năng này đã phát sinh những khoản thu và các khoản chi, do vậy hoạt động của Ngân hàng trung vong mang tính đặc thù, song mục tiêu của Ngân hàng trung ương là ổn định tiền tệ chứ không phải vì lợi nhuận, bởi
vậy không thể coi Ngân hàng frung ương như một doanh nghiệp để áp dụng
một cơ chế quản lý tài chính như đối với doanh nghiệp Vì vậy, cơ chế quản
lý tài chính đối với Ngân hàng trung ương là một cơ chế đặc thù xuất phát
từ hoạt động của Ngân hàng trung ương
1/ Quản lý về vốn và tài sản
Thông thường Ngân hàng trung ương các nước là một tổ chức của
Nhà nước do đó vốn và tài sản của Ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước
và phải tuân theo chế độ quản lý vốn và tài sản của Nhà nước Tuy nhiên trong một số trường hợp Ngân hàng trung ương được tổ chức theo mô hình
công ty cổ phần thì vốn và tài sản của Ngân hàng thuộc các cổ đông và Nhà
nước là một cổ đông lớn của Ngân hàng này Vốn của Ngân hàng Trung
Trang 27ương thường được quy định một mức vốn pháp định nhất định Tuy nhiên mức vốn pháp định của Ngân hàng Trung ương không phản ánh quy mô của Ngân hàng trung ương trong nên kinh tế, dường như tất cả công chúng đều cho rằng đứng đằng sau Ngân hàng Trung ương là Nhà nước và không bao giờ có 1 Ngân hàng trung ương phá sản Chẳng hạn như Nhật bản mức vốn pháp định của Ngân hàng trung ương là 100 triệu yên Nhật (chưa đến 1 triệu đôla Mỹ) được duy trì trên 50 năm nay và Nhật bản cho rằng không cần thiết phải thay đổi điều quy định này Hay như Ngân hàng Trung ương Hàn quốc được tổ chức theo mô hình một pháp nhân đặc biệt không vốn
Quan lý tài sản của Ngân hàng Trung ương phải tuân theo các quy định về quản lý tài sản Nhà nước hiện hành, nhưng lĩnh vực hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực có mức độ hiện đại hoá cao, đòi hỏi phải thường xuyên đổi mới, nâng cấp do đó Ngân hàng trung ương các nước có thể được
áp dụng chế độ khấu hao tài sản nhanh, nhằm tạo nguồn đầu tư, đổi mới trang thiết bị trong hoạt động ngân hàng Thông thường công tác quản lý tài sản của Ngân hàng trung ương đều phải tham khảo ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tài chính °
2/ Quan lý thu nhập, chỉ phí
Thông thường có 2: phương thức chủ yếu sau được áp dụng trong
công tác quản lý thu chỉ tài chính của Ngân hàng trung ương:
Phương thức thứ nhất: quản lý theo đơn vị dự toán ngân sách, tất ca các khoản thu đều phải nộp vào Ngân sách Nhà nước, các khoản chi được
chỉ ra từ ngân sách theo dự toán Thu chi của Ngân hàng trung ương được
lập dự toán và quyết toán trong dự toán và quyết toán Ngân sách Nhà nước Đây là phương thức quản lý chặt, thường bị động khi Ngân hàng Trung ương phải chủ động thực hiện chính sách tiên tệ
Phương thức thứ 2: theo nguyên tác lấy thu bù chỉ, số chênh lệch thừa phải nộp Ngân sách Nhà nước, nếu thiếu thì được Chính phủ cấp bù
Mô hình quản lý này có ưu điểm đáp ứng được kịp thời nhu cầu chủ động chỉ tiêu của Ngân hàng trung ương đặc biệt là trong việc thực thi chính sách tiên tệ, nhưng cũng đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường quản lý giám sát
Dù theo mô hình nào thì việc quản lý thu chỉ tài chính đều nhằm tới một mục đích tạo điều kiện tối ưu cho Ngân hàng trung ương chủ động trong công tác điều hành, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, đủ tiềm lực
về tài chính để can thiệp vào thị trường khi cần thiết, trên cơ sở tuân thủ các quy định về quản lý tài chính Chính vì vậy, trên thế giới phương thức quản lý tài chính đựa trên nguyên tắc lấy thu bù chỉ thường được các nước
Trang 28lựa chọn Tại một số nước, kế hoạch thu chỉ tài chính của Ngân hàng trung
ương phải do một cơ quan có thẩm quyên xác định và phải tuân thủ các nguyên tắc thanh tra và quản lý tài chính của quốc gia
Khi lựa chọn mô hình quấn lý tài chính theo nguyên tắc lấy thu bù chi thì đồng thời cũng có một cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng giám sát các hoạt động thu chỉ tài chính của Ngân hằng trung ương,
có thể là Vụ Tài chính Quốc vụ viện (Trung quốc), Uỷ ban tài chính của
Đại hội quốc gia và Nghị viện (Pháp) hoặc Bộ Tài chính (Nhật)
Thông thường các khoản thu, chi của Ngân hàng trung ương thường bao gồm các khoản sau:
_- Thu nhập của Ngân hàng trung ương là toàn bộ các khoản thu từ
hoạt động của Ngân hàng trung ương, gồm những khoản chính sau:
+ Thu nhập về hoạt động tiên tệ: đây là các khoản thu phát sinh từ
chức năng thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương như thu lãi cho vay, thu lãi tiền gửi, thu lãi góp vốn các tổ chức quốc tế, thu về
nghiệp vụ ngoại hối, thu về phát hành tiêu huỷ tiền
+ Thu về dịch vụ ngân hàng: thu về dịch vụ thanh toán, các khoản
thu về phí và lệ phí, các khoản thu khác về dịch vụ ngân hàng
+ Các khoản thu khác trong hoạt động ngân hàng
- Chỉ phí của Ngân hàng trung ương là toàn bộ các khoản chỉ phát
sinh để duy trì hoạt động của Ngân hàng trung ương, gồm:
+ Chi phí cho hoạt động tiền tệ, tín dụng: như chỉ trả lãi tiên gửi, trả lãi tiên vay, chỉ vẻ nghiệp vụ ngoại hối, chỉ phát hành tiêu huỷ tiền
+ Các khoản chỉ phí về tài sản ngân hàng
+ Chi cho nhân viên
3/ Quản lý phân phối chênh lệch thu lớn hơn chỉ
Ngân hàng trung wong là cơ quan có mục tiêu hoạt động là ổn định giá trị đồng tiền, góp phần ổn định giá cả nhằm tạo một môi trường kinh tế
Trang 29vĩ mô ổn định cho phat triển kinh tế - xã hội Ngân hàng trung ương không
phải là một tổ chức kinh doanh, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận
nhưng trong quá trình hoạt động Ngân hàng trung ương có phát sinh một số nghiệp vụ sinh lời Xuất phát từ việc phát sinh các nghiệp vụ sinh lời nên thông thường vào cuối mỗi năm tài chính Ngân hàng trung ương đều có một khoản chênh lệch thu lớn hơn chỉ Việc xử lý khoản chênh lệch thu lớn hơn chi phụ thuộc rất lớn vào mô hình tổ chức, địa vị pháp lý của Ngân hàng trung ương, yêu cầu đảm bảo chính sách tiên tệ và mức độ lành mạnh hoá nên kinh tế Thông thường khoản chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng trung ương trước hết được dùng để hình thành các quỹ:
Quỹ dự trữ: là quỹ được thành lập để nhằm phục vụ mục tiêu thực thi chính sách tiền tệ của Ngan hang trung ương Hầu hết tỷ lệ trích quỹ dự trữ được quy định cụ thể trong luật, trong trường hợp không được quy định trong luật sẽ do Chính phủ, Hội đồng quản trị Ngân hàng trung ương hoặc
Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định
Quỹ dự phòng: được thành lập để bù đắp các khoản nợ khó đòi và các khoản rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng (rung ương Trích lập quỹ dự phòng là một hình thức tạo nguồn để bù đấp khi xảy ra rủi ro nhằm lành mạnh hoá về mặt tài chính của Ngân hàng trung ương
Các quỹ khen thưởng và phúc lợi: Thông thường các quỹ này không được quy định trong Luật Ngân hàng trung ương các nước Trong trường hợp được quy định cụ thể trong Luật thì thường không được quy định theo
tỷ lệ phần trăm mà được quy định trong mối quan hệ tương quan với quỹ lương bình quân khu vực ngân hàng
Các quỹ dự trữ khác cũng được luật định như quỹ ngoại hối, quỹ đầu
tư
Việc sử dụng các quỹ trên thường do chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng trung ương quyết định sau khi có sự tham khảo ý kiến của Bộ Tài chính, các cơ quan có liên quan và tự chịu trách nhiệm
Trong trường hợp Ngân hằng trung ương được tổ chức đưới hình thức công ty cổ phần thì một phần trong chênh lệch thu chi của Ngân hàng trung ương được dùng để trả lãi cổ phần cho các cổ đông của ngân hàng Lãi cổ phần trả cho các cổ đông của Ngân hàng trung ương được tính toán trên mức chênh lệch thu chỉ đạt được trong năm của Ngân hàng trung ương
Phần chênh lệch thu lớn hơn chỉ còn lại sau khi trích lập các quỹ trên phải được chuyển vào Ngân sách Nhà nước
Trang 30* Nhiều trường hop, do những biến động trong nền kinh tế và ảnh hưởng khu vực có.tác động mạnh mẽ đến việc thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương đã dẫn đến thu nhập của Ngân hàng trung ương không bù đắp được chỉ phí hoạt động Trong trường hợp này, phần chênh lệch thiếu sẽ được Ngân sách Nhà nước bù đắp nhằm đảm bảo cho hoạt động của Ngân hàng trung ương được vận hành bình thường, có hiệu quả Trên thực tế trường hợp này chỉ xảy ra khi có biến động về tỷ giá hối đoái, khủng hoảng kinh tế, tài chính, tiền tệ hay nền kinh tế phải gánh chịu hậu quả thiên tai khác nghiệt
4/ Các vấn đề về chế độ kế toán, báo cáo, quyết toán, kiểm toán,
và kiểm tra giám sát về tài chính của Nhà nước đối với Ngân hàng
trung ương
* Hiện nay, đa số các nước đều quy định việc hạch toán kế toán của Ngân hàng trung ương thực hiện theo luật về kế toán tài chính và có tính đến đặc thù riêng của Ngân hàng trung ương Đồng thời các quy định về hạch toán, kế toán phải phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế
Quy định về chế độ kế toán ngân hàng bao gồm các nội dung cơ bản: ˆ- Tài khoản kế toán, hệ thống tài khoản kế toán Ngân hàng trung ương được qui định áp dụng riêng cho Ngân hàng Trung ương
- Chứng từ kế toán ngân hàng: Hệ thống chứng từ kế toán ngân hàng ngoài những đặc trưng chung của chứng từ kế toán còn phải đáp ứng được yêu cầu: phù hợp với tính chất đa dạng của công nghệ ngân hàng, kiểm soát - được nội bộ ngân hàng, thoả mãn yêu cầu ghi số ở đơn vị như giấy báo nợ báo có, đầy đủ các yếu tố của chứng từ gốc và chứng từ ghỉ số Chứng từ kế toán là khâu phần ánh đâu tiên nguồn vốn và sử dụng vốn của ngân hàng,
vì vậy, chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý cho ghi chép số sách trong ngân hàng nên chứng từ kế toán phải được lập một cách trung thực, khách quan, chính xác và kịp thời các nghiệp vụ kinh tế nhằm bảo vệ an toàn tài sản, cung cấp thông tin nhanh nhạy và chính xác Ngoài ra do đặc thù ngân hàng mà khi lập chứng từ phải sử dụng mẫu chứng từ do Ngân hàng trung ương phát hành quy định cho từng loại nghiệp vụ ngân hàng
- Báo cáo kế toán:
* Công tác kiểm tra, thanh tra ngân hàng: thông thường có một cơ quan của Nhà nước thực hiện chức năng thanh tra, giám sát đối với Ngân hàng trung ương Cơ quan này có thể giám sát toàn bộ hoạt động của Ngân hàng trug ương hoặc giám sát từng lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng Cơ
quan thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra Ngân hàng trung ương về mặt
Trang 31tài chính thông thường là Bộ Tài chính, Tổng kiểm tra tiền tệ hay Cơ quan thanh tra về tín dụng
- Nhiệm vụ chính của cơ quan thực hiện chức năng giám sắt ngân hàng :
+ Đưa ra các nguyên tắc trong hoạt động ngân hàng nhằm đảm bảo
an toàn tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng
+Đánh giá, giám sát hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn, hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế -
+ Đưa ra các kiến nghị về cơ cấu tổ chức giám sát ngân hàng , chuẩn
bị các tài liệu cho các hoạt động giám sát này
* Báo cáo và kiểm toán
Định kỳ Ngân hàng trung ương phải đệ trình các báo cáo tài chính cho Quốc hội hoặc Chính phủ và Bộ Tài chính Báo cáo tài chính bao gồm bảng tổng kết tài sản ngân hàng, báo cáo thu nhập - chỉ phí, báo cáo về tài khoản kế toán Riêng báo cáo tài chính năm của Ngân hàng trung ương phải có ý kiến của kiểm toán đính kèm Các công ty kiểm toán độc lập là các công ty kiểm toán được phép kiểm toán Ngân hàng trung ương khi được
ký hợp đồng kiểm toán Tuy nhiên có một số nước chỉ có một số ít công ty kiểm toán được chỉ định để kiếm toán Ngân hàng trung ương
II1/ KINH NGHIEM QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG TRƯNG UONG CÁC NƯỚC
1/ Kinh nghiệm cụ thể
Ngân hàng Liên bang Đức
Ngân hàng Liên bang Đức là một pháp nhân mang hình thức công pháp trực thuộc trực tiếp Liên bang Vốn cố định của Ngân hàng Liên bang Đức là 290 triệu Mác Đức và thuộc về tài sản Liên bang Ngân hàng Liên bang Đức có nhiệm vụ điều tiết hoạt động lưu thông tiền tệ và cung ứng tín dụng cho nên kinh tế với mục đích ổn định tiền tệ trong đối nội và đối
Trang 32ngoại và đảm nhận nhiệm vụ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng đối với hoạt động thanh toán trong nước và với nước ngoài
* Quản lý tài chính đối với Ngân hàng Liên bang Đức
- Năm tài chính của ngân hàng Liên bang được tính theo năm dương
lịch
- Hoạt động kế toán của Ngân hàng Liên bang Đức phải phù hợp với các nguyên tắc kế toán theo luật định Bản quyết toán năm (bao gồm bản cân đối, bản hạch toán 16-14i) phải được phân định và giải trình dưới góc độ những nhiệm vụ của ngân hàng Liên bang Đức Không cần chỉ dẫn về các quan hệ trách nhiệm Việc lập những khoản mục tài sản nợ trong khuôn khổ xác định kết quả, kể cả những khoản thua lỗ trong hoạt động đối nội và đối ngoại, những khoản thua lỗ này được coi là tất yếu trong hoạt động tất yếu nếu xét trên góc độ thực hiện nhiệm vụ của Ngân hàng trung ương
Bản quyết toán năm phải được một hoặc nhiều chuyên viên kiểm toán kinh tế đo Hội đồng Ngân hàng trung ương bổ nhiệm và được sự nhất trí của thẩm kế viện Liên bang Bản quyết toán năm phải được Hội đồng Ngân hàng trung ương thông qua và sau đó phải được Ban giám đốc công bố
trước công luận
Đối với Thẩm kế viện Liên bang, thì bản báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên kinh tế được coi là cơ sở cho sự kiểm định do Thẩm kế viện tiến hành Bản báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên kinh tế cũng như những nhận xét của Thậm kế viện Liên bang phải được thông báo cho Bộ trưởng
Bộ Tài chính Liên bang
- Phân bể lợi nhuận
Lợi nhuận thuần tuý của Ngân hàng Liên bang Đức được sử dụng
20% lợi nhuận với mức thấp nhất là 20 triệu Đức Mác, phải được bố sung cho quỹ dự trữ theo luật định cho tới khi nào đạt tới mức 5% khối lượng tiền giấy lưu hành trong lưu thông Quỹ dự trữ theo luật định chỉ được phép sử dụng để cân bằng sự giảm giá trị và tạo nguồn bù lỗ những khoản thua lỗ khác
Được phép sử đụng tối đa 10% lợi nhuận thuần tuý còn lại để lập các quỹ dự trữ khác Tổng giá trị các quỹ dự trữ này không được vượt quá mức
Số còn lại phải nộp cho Ngân sách Liên bang
~ Thông báo tổng hợp
Trang 33Ngân hàng Liên bang Đức công bố vào những ngày 7, 15, 23 và ngày
cuối cùng của tháng một thông báo tổng hợp bao gồm những số liệu sau:
Tài sản có:
+ Vàng
+ Tài sản có trên các tài khoản nằm tại các ngân hàng nước ngoài và các khoản đầu tư trên thị trường tiền tệ nước ngoài
+ Ngoại tệ tiền mặt, hối phiếu và séc nước ngoài
+ Hối phiếu nội địa
+ Các khoản cấp tín dụng cầm chứng
+ Các khoản tín dụng Quỹ cấp cho: Liên bang và các tổ chức đặc trách của Liên bang; Các bang: chứng khoán, tiến kim loại giá trị thấp, tài sản có bằng séc bưu điện, các khẩn có điều hoà, những tài sản có khác
Tai san ng ©
+ Khối lượng tiền giấy lưu thông
-+ Tiên gửi của: Các TCTD, các tổ chức công cộng, những người nội địa, người ngoại quốc
+ Các khoản nợ phải trả từ nghiệp vụ đối ngoại
+ Các khoản dự phòng
+ Vốn cố định
+ Quy du tri
+ Những tài sản nợ khác
Ngân hàng nhân dân Trung Quốc `
Ngân hàng Nhân dân Trung quốc là Ngân hàng trung ương Trung quốc, trực thuộc Chính phủ (Quốc Vụ viện) Trung quốc có chức năng xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ, thực hiện thanh tra và kiểm soát toàn bộ
Quản lý tài chính đối với ngân hàng Nhân dân Trung quốc
- Vốn: Toàn bộ vốn của ngân hàng Nhân đân Trung quốc do Nhà nước cấp và thuộc sở hữu Nhà nước
Ngân hàng Nhân dân Trung quốc thực hiện quản lý độc lập ngân sách tài chính của mình Ngân sách của Ngân hàng Nhân dân Trung quốc
21
Trang 34được hợp thành Ngân sách Trung ương sau khi đã được Vụ tài chính Quốc
vụ viện xem Xét, kiểm tra phù hợp với yêu cầu quản lý ngân sách và thanh tra của Vụ tài chính Quốc vụ viện
- Ngân hàng Nhân dân Trung quốc sẽ nộp vào Kho bạc Nhà nước toàn bộ lợi nhuận ròng từ thu nhập hàng năm sau khi đã trừ chi phí, trích quỹ dự trữ theo tỷ lệ đã được Vụ Tài chính Quốc Vụ viện quy định
Những thiếu hụt của Ngân hàng Nhân đân Trung quốc do Ngân sách
_~ Ngân hàng Nhân dân Trung quốc phải tuân thủ theo pháp luật và các thể chế hành chính về chế độ kiểm toán thống nhất về quản lý thu và chi theo sự kiểm toán và giám sát của các cơ quan kiểm toán và Vụ tài chính của Quốc vụ viện ˆ
Ngân hàng Nhân dân Trung quốc trong vòng 3 tháng sau khi kết thúc năm tài chính phải hoàn thành bảng cân đối, báo cáo 16 lãi, báo cáo kế toán khác có liên quan, chuẩn bị báo cáo hàng năm và ban hành phù hợp với các quy định của Nhà nước
‘Nam tài chính của Ngân hàng Nhân dân Trung quếc bắt đầu từ ngày
1/1 và kết thúc vào ngày 31/12 năm dương lich
* Quản lý tài chính Ngân hàng Hàn quốc
- Vốn : Ngân hàng Hàn quốc là 1 pháp nhân đặc biệt không vốn pháp
- Lợi nhuận ròng hàng năm của Ngân hàng Hàn quốc sau khi trừ chi phí và khấu hao tài sản được phân bổ như sau:
10% lợi nhuận ròng được chuyển vào quỹ dự trữ hàng năm
Chính phủ Hàn quốc có thể chấp thuận cho thành lập các quỹ dự trữ khác cho các mục đích đặc biệt ngoài quỹ dự trữ đã được quy định ở trên
Phần lợi nhuận ròng còn lại phải nộp vào ngân sách của Chính phủ
Trang 35- Bất kỳ khoản lỗ phát sinh nào của Ngân hàng Hàn quốc trong bất
kỳ năm tài chính nào được bù đắp bằng cách sử dụng quỹ dự trữ và nếu quỹ
dự trữ không đủ thì được Chính phủ cấp bù
Ngân hàng Nhát bản
Ngân hàng Trung ương của Nhật bản chịu trách nhiệm phát hành giấy bạc ngân hàng và kiểm soát tiền tệ Ngân hàng Nhật bản đảm bảo việc thanh toán trôi chảy giữa các ngân hàng và tổ chức tài chính, kiểm soát tiền
tệ, đóng góp vào sự ổn định của hệ thống tài chính và sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế quốc gia Trước năm tài chính 1998 Ngân hàng trung ương Nhật bản là một bộ phận trực thuộc Bộ Tài chính, nhưng nay đã tách
ra thành một cơ quan độc lập
Quản lý tài chính Ngân hàng Nhât bản
- Năm tài chính bắt đầu từ ngày 1/4 va kết thúc vào ngày 31/3 năm sau
- Nguồn chi phí hoạt động của ngân hàng:
Hàng năm Ngân hàng Nhật bản phải dự toán chỉ phí hoạt động và đệ trình lên Bộ trưởng Bộ Tài chính theo thẩm quyên trước khi bắt đầu một năm tài chính mới Nếu như Bộ trưởng Bộ Tài chính cho rằng bản đệ trình này của Ngân hàng Nhật bản không xác đáng, ngay lập tức Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ thông báo cho ngân hàng, chỉ rõ lý do và thông báo chỉ tiết bản dự toán chỉ phí hoạt động do ngân hàng gửi đến và những lý do trên ra công chúng Sau khi nhận được bản ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhật bản có thể trình bày lại ý kiến của mình và nếu cần thiết
có thể trình bày trước công chúng
- Các báo cáo tài chính
Ngân hàng Nhật bản phải chuẩn bị báo cáo nửa năm, báo cáo thu nhập chỉ phí nửa năm và cả năm, phải gửi những báo cáo này (đã có ý kiến xác nhận của các kiểm toán viên) lên Bộ trưởng Bộ Tài chính để được thông qua trong vòng 2 tháng kể từ khi kết thúc 6 tháng và năm tài chính
Khi gửi báo cáo tài chính năm lên Bộ trưởng Bộ Tài chính, Ngân hàng phải đính kèm báo cáo cân đối của các tài khoản đã có ý kiến của kiểm toán viên
Cho đến khi được Bộ trưởng Bộ Tài chính chấp thuận, Ngân hàng không được chậm chế công khai các báo cáo tài chính, báo cáo về thanh toán của tài khoản, các ý kiến của kiểm toán viên tại trụ sở chính và các chỉ
Trang 36nhánh của mình và đưa ra công chúng vào thời điểm thích hợp theo quyết định của Hội đồng chính sách
- Phân phối chênh lệch thu chỉ
Ngân hàng Nhật bản trích 5% từ phân chênh lệch thu chỉ của mỗi năm tài chính để chuyển vào quỹ dự trữ
Bộ Tài chính Nhật bản có thể chấp thuận cho Ngân hàng Nhật bản
được trích lại tỷ lệ cao hơn để chuyển vào quỹ dự trữ trong trường hợp đặc
biệt
Bộ Tài chính có thể chấp thuận cho ngân hàng thanh toán cổ tức cho các cổ đông từ chênh lệch thu chỉ của mỗi năm kinh doanh Lãi thanh toán
cổ tức không được phép vượt quá 5%/năm
Phần chênh lệch còn lại ngân hàng phải chuyển vào Kho bạc Nhà nước chậm nhất 2 tháng sau khi kết thúc năm tài chính
Bộ trưởng Bộ Tài chính có thể yêu cầu ngân hàng báo cáo về hoạt động ngân hàng khi thấy cần thiết
‘Ngan hang trung wong Malaysia
Ngân hàng trung ương Malaysia được tổ chức theo mô hình trực thuộc Bộ Tài chính, Thống đốc Ngân hàng trung ương do Nhà vua bổ nhiệm Chính vì vậy, chính sách tiền tệ của Malaysia do Ngân hàng trung ương soạn thảo phải được Chính phủ phê duyệt và chính sách này phụ thuộc nhiều vào chính sách phát triển kinh tế do Uỷ ban Kinh tế Chính phủ soạn thảo và kế hoạch ngân sách do Bộ Tài chính soạn thảo Tuy nhiên trong lĩnh vực quản lý vĩ mô Ngân hàng trung ương có tính độc lập tương đối và phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội
Những chức năng chủ yếu của Ngân hàng trung ương Malaysia
Phát hành tiên và quản lý dự trữ để bảo vệ giá trị của đồng tiền
Thúc đẩy ồn định tién tệ và cơ cấu tài chính lành mạnh
Tác động tới tình hình tài chính có lợi cho đất nước
* Quản lý tài chính đối với Ngân hàng trung ương Malaysia
Về vốn: Ngân hàng trung ương Malaysia có vốn pháp định là 200 triệu Ringgit Khi thành lập ngân hàng, Chính phủ cấp 20 triệu ringgit, trong quá trình hoạt động phần đóng góp vào vốn pháp định có thể tăng lên theo sự phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Tài chính vào từng thời điểm
Trang 37Phân phối lợi nhuận: Vào cuối mỗi năm tài chính, lợi nhuận ròng của Ngân hàng sẽ được xác định sau khi đã tính các chi phí hoạt động và sau khi đã trích lập quỹ dự phòng các khoản nợ khó đòi và đáng nghi ngờ, khấu hao tài sản, trích quỹ hưu trí và các quỹ khác Lợi nhuận ròng của Ngân hàng được sử dụng như sau: một phần được Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định trích vào Quỹ dự phòng chung; phần còn lại nộp hết vào Ngân sách Nhà nước
- Hàng năm Hội đồng quản trị Ngân hàng phải báo cáo cho Bộ trưởng
Bộ Tài chính về:
Chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Các chính sách đối với những tổ chức mà Ngân hàng quản lý
Các chính sách về quản lý ngoại hối
Tóm lại: Qua nghiên cứu mô hình quan lý tài chính của Ngân hàng trung ương các nước có thể thấy về cơ bản chế độ tài chính đối với Ngân hàng trung ương có tính đặc thù, phù hợp với vai trò, vị trí và chức năng của một cơ quan quản lý và điều hành về chính sách tiền tệ - tín dụng - 'ngân hàng, đồng thời là một tổ chức có sinh lời Ngân hàng Trung ương có các khoản thu được bù đắp chỉ phí và được trích các quỹ dự trữ, dự phòng
và các quỹ khác tuỳ điều kiện hoạt động, trình độ phát triển của nên kinh tế
và yêu cầu tự chủ, tự chịu trách nhiệm về mặt tài chính Việc kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính đối với Ngân hàng Trung ương của các nước đều do Bộ Tài chính đảm nhận theo quy định của luật pháp
2/ Vận dụng kinh nghiệm Ngân hàng Trung ương các nước và mô
hình Ngân hàng Nhà nước Việt nam
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam vừa được Quốc hội nước Cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt nam Khoá X kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt nam
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nảm được xây dựng trên cơ sở các quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam năm
1992 là “Quản lý Nhà nước bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”, “phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
“Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tỉnh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát triển mọi tiểm năng
Trang 38của các thành phần kinh tế”, “Quốc hội quyết định chính sách tiền tệ quốc gia ”
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam được xây dựng trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt nam, về hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo môi trường pháp lý ổn định, phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng các chuẩn mực pháp lý về tiên
tệ, tín dụng và ngân hàng trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội
Xuất phát từ nên tảng các quy định và quan điểm xây dựng Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam, xuất phát từ đặc thù nên kinh tế Việt nam dang trong quá trình phát triển hội nhập quốc tế, Ngân hàng Nhà nước Việt nam được khẳng định là Ngân hàng trung ương của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam nhưng có những nét đặc thù riêng, phân biệt với Ngân hàng trung ương các nước
- Ngan hàng Nhà nước Việt nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam Như vậy
- Ngân hàng Nhà nước Việt nam được tổ chức theo mô hình Ngân hàng trung ương là cơ quan trực thuộc Chính phủ, hoạt động của Ngân hàng Nhà nước độc lập với Bộ Tài chính
Trong những năm gần đây, trên thế giới xuất hiện xu hướng tăng cường tính độc lập của Ngân hàng trung ương trước Chính phủ Lý do là Chính phủ và Quốc hội thường có khuynh hướng tập trung vào các mục tiêu ngắn hạn, trong khi đó việc hoạch định và thực hiện chính sách tiền tệ phục
vụ cho mục tiêu lâu dài Mô hình Ngân hàng trung ương hoàn toàn độc lập với Chính phủ, chịu trách nhiệm trực tiếp trước Quốc hội phổ biến ở các nước đã phát triển như Đức, Mỹ Thực tế điều kiện của Việt nam trong những năm qua, Ngân hàng Nhà nước Việt nam hoạt động theo sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, nếu Ngân bàng Nhà nước Việt nam hoạt động độc
- lập không thể thực hiện được tốt nhiệm vụ của mình Trực thuộc Chính phủ nhưng đứng trên giác độ là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, Ngân hàng Nhà nước Việt nam có đầy đủ chức năng của một Ngân hàng trung ương, có tính độc lập tương đối và chịu trách nhiệm trước Chính phủ và trước Quốc hội
- Ngân hàng Nhà nước Việt nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiên tệ cho Chính phủ Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước mang tính đặc thù, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước không đơn thuần bằng các biện pháp hành chính,
Trang 39mà chủ yếu bằng các chính sách và công cụ kinh tế vĩ mô gắn liền với hoạt động thị trường tiền tệ Thông qua các hoạt động trên thị trường tiền tệ, với
tư cách là Ngân hàng trung ương, hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm
ổn định giá trị đồng tiền, thực hiện được các mục tiêu của chính sách tiền
tệ, vừa góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ
chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội
chủ nghĩa
Ngân hàng Nhà nước Việt nam có những nhiệm vụ và quyền han :
Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của Nhà nước
Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ xem xét trình Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này; xây dựng chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng Việt nam; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền
Cấp và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng (trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết định), cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác, quyết định giải thể, chấp thuận chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng theo quy định của
pháp luật
Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng, kiểm soát tín dụng, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền
Quản lý hoạt động ngoại hối và quản lý hoạt động kinh doanh vàng
Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền, thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế, tiêu huỷ tiền
Thực hiện tái cấp vốn nhằm cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế, tạm ứng cho Ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ Ngân sách Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng
Điều hành thị trường tiên tệ, thực hiện nghiệp vụ thị trường mở
Kiểm soát dự trữ quốc tế, quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước
Tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng, làm dịch vụ thanh toán, quản lý việc cung ứng các phương tiện thanh toán
Trang 40Lam dai lý va thực hiện các địch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước
Tổ chức hệ thống thông tin và làm các dịch vụ thông tin ngân hàng
Với các chức năng này Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã thể hiện được vai trò là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam Chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt nam cũng đã phù hợp với chức năng của Ngân hàng trung ương các nước, thể hiện khuynh hướng hội nhập quốc tế của Việt nam trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng
* Về lĩnh vực tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo của Ngắn
hang nha nude Viét nam:
Về vốn: cũng như Ngân hàng trung ương các nước, vốn pháp định của Ngân hàng Nhà nước Việt nam do Nhà nước cấp Ngân hàng trung ương có vốn của Nhà nước nhằm khẳng định vị thế của Ngân bàng trung ương, tạo sự ổn định về tâm lý Nhà nước đứng đằng sau Ngân hàng trung ương, không bao giờ xuất hiện trường hợp một Ngân hàng trung ương bị phá sản, Nhà nước sẽ có những can thiệp thích hợp khi cần thiết Mức vốn pháp định là khác nhau giữa Ngân hàng trung ương các nước và không có một chuẩn mực nào, nhưng mức vốn cần thiết ở một mức độ tương đối lớn Tuy nhiên trên thế giới có một số nước Ngân hàng trung ương được tổ chức
là một pháp nhân đặc biệt không vốn như Ngân hàng trung ương Hàn quốc hay có vốn nhưng chỉ là tượng trưng như Ngân hàng trung ương Nhật bản -
có vốn pháp định là 1 triệu yên Vì thực tế vấn để quan trọng là khả năng chỉ trả của Ngân hàng trung ương, bên cạnh đó là nhiệm vụ của Chính phủ
áp dụng các biện pháp kịp thời để bảo toàn vốn cho Ngân hàng trung ương _
để tránh bất kỳ sự suy giảm nào, đảm bảo khả năng thanh toán của Ngân hàng trung ương Hiện nay Luật ngân hàng Nhà nước Việt nam giao cho Chính phủ quyết định mức vốn pháp định của Ngân hàng Nhà nước
Thu chỉ tài chính: thu chỉ tài chính của Ngân hàng Nhà nước Việt nam về nguyên tắc thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước Chính phủ quy định những nội dung thu chỉ tài chính đặc thù phù hợp với hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ, được Chính phủ giao nhiệm vụ quản lý tài chính trên phạm vi
cả nước sẽ là người có trách nhiệm quản lý, giám sát thu chỉ tài chính của Ngân hàng Nhà nước từ khâu kế hoạch đến khâu thực hiện và quyết toán thu chỉ tài chính của Ngân hàng Nhà nước Hàng năm Ngan hang Nha nước phải lập kế hoạch thu chi tài chính trình Bộ Tài chính thẩm định, tổng hợp |
để báo cáo Chính phủ Trong khuôn khổ kế hoạch tài chính được duyệt hàng năm, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có quyển quyết định việc chỉ tiêu một cách chủ động, phù hợp với kế hoạch và tuân thủ những quy định