1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015

63 468 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Chiến Lược Phát Triển Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu Giai Đoạn 2006-2015
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 493,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015

Trang 1

MỤC LỤC Mở đầu

Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản trị chiến lược

1.1 Khái niệm và vai trò và phân loại chiến lược kinh doanh 1

1.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh 1

1.1.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh 2

1.2 Quá trình quản trị chiến lược 2

Tóm tắt chương 1 9

Chương 2 : Phân tích hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Aù Châu 2.1 Giới thiệu tổng quát về ACB 10

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ACB 10

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của ACB trong giai đoạn 2000-200513 2.2 Phân tích hoạt động kinh doanh của ACB 14

2.2.1 Phân tích môi trường hoạt động của ACB 14

2.2.1.1 Cơ hội 14

2.2.1.2 Thách thức 17

2.2.1.3 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường 19

2.2.1.4 Phân tích đối thủ cạnh tranh 20

2.2.2 Phân tích nội bộ 22

2.2.2.1 Điểm mạnh 22

2.2.2.2 Điểm yếu 24

2.2.2.3 Ma trận đánh giá nội bộ 28

Kết luận chương 2 29

Trang 2

Chương 3: Xây dựng chiến lược phát triển ACB giai đoạn 2006-2015 30

3.1 Mục tiêu phát triển của ACB giai đoạn 2006-2015 30

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 30

3.1.2 Mục tiêu phát triển cụ thể của ACB giai đoạn 2006-2015 30

3.2 Xây dựng và lựa chọn chiến lược phát triển của ACB giai đoạn 2006-2015 3.2.1 Chiến lược thâm nhập thị trường 32

3.2.2 Chiến lược phát triển thị trường 33

3.2.3 Chiến lược về phát triển SPDV mới 33

3.2.4 Chiến lược khác biệt hoá SPDV 33

3.2.5 Chiến lược mở rộng kênh phân phối 34

3.2.6 Chiến lược phát triển năng lực tài chính 34

3.2.7 Chiến lược hoàn thiện công nghệ 34

3.2.8 Chiến lược tăng cường hoạt động marketing 34

3.2.9 Chiến lược nâng cao năng lực quản lý và chất lượng nguồn nhân lực34 3.3 Các giải pháp thực hiện chiến lược 39

3.3.1 Giải pháp về phát triển vốn 39

3.3.1.1 Tăng vốn từ nội bộ 39

3.3.1.2 Tăng vốn từ bên ngoài 40

3.3.2 Giải pháp mở rộng mạng lưới hoạt động 42

3.3.2.1 Mở rộng mạng lưới hoạt động 43

3.3.2.2 Tăng cường mở các điểm giao dịch tại các siêu thị 44

3.3.2.3 Mở thêm các Quầy dịch vụ ngân hàng 44

3.3.2.4 Thiết lập hệ thống ATM 44

3.3.2.5 Mua lại các ngân hàng khác 45

Trang 3

3.3.3 Tiếp tục đầu tư phát triển công nghệ 45

3.3.4 Đẩy mạnh sự khác biệt hoá và đa dạng hoá SPDV 46

3.3.4.1 Thực hiện dịch vụ quản lý thu chi tiền mặt 47

3.3.4.2 Triển khai sản phẩm dịch vụ ủy thác 48

3.3.5 Hoàn thiện chính sách marketing 48

3.3.5.1 Phân tích đối thủ cạnh tranh 48

3.3.5.2 Khuyếch trương và phát triển thương hiệu ACB 49

3.3.6 Nâng cao năng lực quản trị rủi ro 51

3.3.7 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ACB 52

3.4 Kiến nghị 53

3.4.1 Đối với Nhà nước 53

3.4.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 54

Kết luận chương 3 55

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khủng hoảng tài chính Đông Á 1997-1998 và gần đây là cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ 2001-2002 đã làm rung chuyển toàn cầu và một lần nữa khẳng định vai trò đặc biệt của ngân hàng trong nền kinh tế toàn cầu hoá Đóng cửa ngân hàng hoặc hệ thống ngân hàng suy yếu, giờ đây không chỉ làm rối loạn nền kinh tế trong nước, mà còn nhanh chóng lan tỏa như căn bệnh truyền nhiễm

Mặc dù, nền kinh tế Việt Nam chưa thật sự hội nhập vào nền kinh tế khu vực, nhưng di chứng của khủng hoảng tài chính Đông Aù đã để lại cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, đến nay vẫn tiếp tục phải giải quyết Xu hướng hội nhập là một quá trình khách quan, thời gian hội nhập là rất gần Để hội nhập thành công đòi hỏi các ngân hàng Việt Nam phải nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Hiện nay hệ thống MHTM Việt Nam gồm 6 ngân hàng quốc doanh, 25 ngân hàng cổ phần đô thị, 12 ngân hàng cổ phần nông thôn, 5 ngân hàng liên doanh, và

28 chi nhánh ngân hàng nước ngoài Chắc chắn rằng, với lộ trình nới lỏng và tự do hoá ngân hàng cho các ngân hàng nước ngoài thì mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ ngày càng khốc liệt Như vậy, một thực tế đặt ra cho các NHTM Việt Nam hiện nay là phải tận dụng cho được các cơ hội của quá trình hội nhập, nhanh chóng chuẩn bị và tạo lập hành trang để đối phó với những thách thức của quá trình đó

Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) hiện là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam, vậy ACB phải xây dựng chiến lược kinh doanh như thế nào trong 10 năm tới, một giai đoạn cực kỳ khó khăn của

Trang 5

các ngân hàng Việt Nam khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới Là một cán bộ quản lý của ACB, tôi rất tâm đắc với vấn đề trên nên đã chọn đề tài:

“Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng TMCP Á Châu giai đoạn 2015”

2006-2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Nghiên cứu và hệ thống hoá những lý luận cơ bản về quản trị chiến lược, làm cơ sở để xây dựng chiến lược cho ACB

- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động, môi trường kinh doanh của ACB, từ đó phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược phù hợp cho sự phát triển của ACB trong 10 năm tới

- Xây dựng các giải pháp thực hiện các chiến lược đã lựa chọn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận của quản trị chiến lược

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của ACB Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược phát triển cho ACB trong 10 năm tới

4 Phương pháp nghiên cứu:

Chủ yếu dựa vào kiến thức của các môn học kinh tế như: quản trị chiến lược, lý thuyết tài chính tiền tệ, quản trị marketing, quản trị nhân sự, quản trị tài chính và vận dụng những hiểu biết thực tế

Việc phân tích các số liệu theo phương pháp duy vật lịch sử và thống kê mô tả dựa vào các số liệu thống kê, các số liệu báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và của các Ngân hàng thương mại

Trang 6

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH

1.1 Khái niệm và vai trò của chiến lược kinh doanh

1.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh

Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp Chiến lược không nhằm vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để có thể đạt được những mục tiêu vì đó là nhiệm vụ của vô số các chương trình hỗ trợ, các chiến lược chức năng khác

Chiến lược kinh doanh – liên quan tới việc làm thế nào một doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới…

Cho đến hiện nay, có rất nhiều những khái niệm khác nhau về chiến lược kinh doanh tùy thuộc vào cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau:

- Theo Fred R.David: “Chiến lược kinh doanh là một khoa học nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra”

- Theo các tác giả Garry D Smith, Danny R Arold và Bobby R Bizzell:

“Hoạch định chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện, kiểm tra việc thực

Trang 7

hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai”

1.1.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh

Thứ nhất, chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp thấy rõ những cơ hội và

đe dọa trong kinh doanh, từ đó đưa ra những chính sách phát triển phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Thứ hai, chiến lược kinh doanh giúp các nhà quản trị sử dụng một cách hiệu quả

các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp và phân bổ chúng một cách hợp lý

Thứ ba, chiến lược kinh doanh giúp các nhà quản trị dự báo được một số bất trắc,

rủi ro sẽ xảy ra trong hiện tại cũng như trong tương lai, từ đó dựa trên tiềm lực của doanh nghiệp mình để chủ động đối phó với những tình huống bất trắc này

Thứ tư, chiến lược kinh doanh phối hợp các bộ phận trong doanh nghiệp một cách

tốt nhất; giúp các thành viên phát huy được tính năng động, sáng tạo để đạt được mục tiêu chung

1.2 Quá trình quản trị chiến lược

Quá trình quản trị chiến lược bao gồm ba giai đoạn tạo thành một chu trình khép kín Cụ thể :

- Giai đoạn hình thành chiến lược: Là quá trình thực hiện điều tra, nghiên cứu để xác định các mặt mạnh và mặt yếu bên trong và các cơ hội và nguy cơ bên ngoài, đề ra các mục tiêu dài hạn xây dựng và lựa chọn những chiến lược thay thế

- Giai đoạn triển khai chiến lược: Là quá trình triển khai những mục tiêu chiến lược vào hoạt động của doanh nghiệp

Trang 8

- Giai đoạn đánh giá, kiểm tra chiến lược: Là quá trình kiểm tra các yếu tố, đo lường và đánh giá các kết quả, từ đó điều chỉnh chiến lược cho phù hợp với môi trường

Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sẽ tập trung đi sâu vào giai đoạn hình thành chiến lược Giai đoạn này bao gồm các bước sau :

• Bước 1: Nghiên cứu môi trường

Các yếu tố môi trường có một tác động to lớn vì chúng ảnh hưởng đến toàn bộ các bước tiếp theo của quá trình quản trị chiến lược Chiến lược đưa ra phải được hoạch định trên cơ sở các điều kiện môi trường của doanh nghiệp, môi trường của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố, các lực lượng, các thể chế tồn tại bên ngoài doanh nghiệp mà các nhà quản trị khó hoặc không kiểm soát được nhưng chúng lại ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường của doanh nghiệp bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô

- Nghiên cứu môi trường vĩ mô : Là quá trình nghiên cứu các yếu tố như: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, dân tộc, luật pháp, địa lý, kỹ thuật, công nghệ và các chính sách của Nhà nước……

- Nghiên cứu môi trường vi mô: Là quá trình nghiên cứu các yếu tố như: đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng, nhà cung cấp, sản phẩm thay thế, các đơn vị sắp sát nhập hay rút lui khỏi ngành

Phân tích môi trường vĩ mô và vi mô cho thấy những cơ hội và các mối đe dọa mà các doanh nghiệp sẽ phải gặp phải để từ đó xây dựng các chiến lược nhằm tận dụng các cơ hội và né tránh hoặc làm giảm đi các ảnh hưởng của các mối đe dọa Sau khi phân tích từng yếu tố riêng biệt của môi trường vĩ mô, nhiệm vụ của các nhà quản trị chiến lược là đưa ra một kết luận chung về các yếu tố chủ yếu đem

Trang 9

lại cơ hội và bất trắc của môi trường, theo Fred R David thì cần xây dựng Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE):

Ma trận này cho phép tóm tắt và đánh giá môi trường bên ngoài của doanh nghiệp Đây là ma trận thành phần không thể thiếu trong xây dựng chiến lược Bất kể số cơ hội chủ yếu và mối đe doạ được bao gồm trong ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài, tổng số điểm quan trọng cao nhất mà tổ chức có thể có là 4 và thấp nhất là 1 Tổng số điểm quan trọng trung bình là 2,5 Tổng số điểm quan trọng là 4 cho thấy rằng tổ chức đang phản ứng rất tốt với các cơ hội và mối đe dọa hiện tại trong môi trường của họ Nói cách khác, các chiến lược của công ty tận dụng có hiệu quả các cơ hội hiện có và tối thiểu hoá các ảnh hưởng tiêu cực có thể có của các mối đe doạ bên ngoài Tổng số điểm là 1 cho thấy rằng những chiến lược mà công ty đề ra không tận dụng được các cơ hội hoặc tránh được các mối đe dọa bên ngoài

Một phần quan trọng trong bước 1 là xây dựng Ma trận hình ảnh cạnh tranh:

Trong tất cả các yếu tố có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp thì ảnh hưởng của cạnh tranh thường được xem là quan trọng nhất Ma trận hình ảnh cạnh tranh là sự mở rộng của ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài trong trường hợp các mức độ quan trọng, phân loại và tổng điểm quan trọng có cùng ý nghĩa

Tổng số điểm được đánh giá của các đối thủ cạnh tranh được đem so sánh với doanh nghiệp mẫu Các yếu tố sẽ được liệt kê trong ma trận này bao gồm: thị phần, khả năng cạnh tranh, vị trí tài chính, chất lượng sản phẩm, lòng trung thành của khách hàng

Trang 10

Các mức phân loại cho thấy cách thức mà theo đó các chiến lược của doanh nghiệp ứng phó với mỗi nhân tố của đối thủ cạnh tranh: mức độ quan trọng với 4 là tốt nhất; 3 là trên mức trung bình; 2 là mức trung bình và 1 là kém

• Bước 2: Phân tích nội bộ

Là quá trình phân tích những hoạt động bên trong doanh nghiệp mà các nhà quản trị biết được và chủ động kiểm soát được, thông qua phân tích cho thấy những điểm mạnh và điểm yếu trong kinh doanh của doanh nghiệp để xây dựng chiến lược nhằm phát huy các điểm mạnh và khắc phục các điểm yếu

Việc phân tích môi trường đòi hỏi phải thu thập, xử lý những thông tin về : hoạt động sản xuất, hoạt động quản trị, hoạt động tài chính, nhân sự, nghiên cứu phát triển, tiếp thị và hệ thống thông tin của doanh nghiệp

Bước cuối cùng trong việc thực hiện phân tích nội bộ là xây dựng Ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ (IFE):

Nó là công cụ dùng để tóm tắt và đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của các bộ phận kinh doanh chức năng và nó cũng cung cấp cơ sở để xác định và đánh giá mối quan hệ giữa các bộ phận này

Số điểm quan trọng trong ma trận này được phân loại từ thấp nhất là 1 cho đến cao nhất là 4 và số điểm trung bình là 2,5 Số điểm quan trọng tổng cộng thấp hơn 2,5 cho thấy doanh nghiệp yếu về nội bộ và số điểm cao hơn 2,5 cho thấy doanh nghiệp mạnh về nội bộ

• Bước 3: Xác định mục tiêu của doanh nghiệp

Mục tiêu của doanh nghiệp xác định những kết quả mà doanh nghiệp muốn đạt được sau một số năm nhất định

Trang 11

Mục tiêu phải đảm bảo tính khoa học, tính thống nhất và liên tục, phải đảm bảo tính tiên tiến, tính hiện thực, tính linh hoạt Mục tiêu cần xác định rõ thời gian thực hiện và cần xác định bằng các chỉ tiêu định lượng

Mục tiêu được phân loại theo thời gian gồm: mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn

Mục tiêu được phân loại theo tính chất gồm: mục tiêu tăng trưởng nhanh, mục tiêu tăng trưởng ổn định và mục tiêu tăng trưởng suy giảm

• Bước 4: Xây dựng chiến lược

Quy trình hình thành một chiến lược tổng quát gồm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn nhập vào: Là quá trình thiết lập các ma trận EFE, ma trận IFE, ma

trận hình ảnh cạnh tranh Nếu một yếu tố nào đó xuất hiện hai lần trên ma trận, đó là trường hợp một yếu tố bên trong vừa là điểm mạnh vừa là điểm yếu và trường hợp một yếu tố bên ngoài vừa là cơ hội vừa là đe dọa

- Giai đoạn kết hợp: Kết hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài của doanh

nghiệp để hình thành nên ma trận điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội – đe dọa (SWOT)

Ma trận SWOT có dạng sau (xem bảng 1.1):

Bảng 1.1: Ma trận SWOT

Liệt kê những cơ hội

Các chiến lược SO

Sử dụng các điểm mạnh để tận dụng các cơ hội

Các chiến lược ST

Sử dụng các điểm mạnh để hạn chế ảnh hưởng của các mối đe dọa

W: Những điểm yếu

Liệt kê những điểm

yếu

Các chiến lược WO

Hạn chế những điểm yếu để tận dụng cơ hội

Các chiến lược WT

HaÏn chế những điểm yếu và tránh khỏi những mối đe dọa

Trang 12

Sự kết hợp các yếu tố quan trọng bên trong và bên ngoài là nhiệm vụ khó khăn nhất của việc phát triển ma trận SWOT, nó đòi hỏi phải có sự phán đoán tốt, và sẽ không có một kết hợp tốt nhất Thông thường các doanh nghiệp sẽ theo đuổi các chiến lược WO, WT hay ST để doanh nghiệp có thể ở vào vị trí áp dụng được chiến lược SO

- Giai đoạn quyết định: Sau khi phân tích ma trận SWOT để đưa ra các chiến

lược khả thi có thể được lựa chọn và quyết định hấp dẫn tương đối của các chiến lược khả thi, ma trận hoạch định chiến lược có thể định hướng QSPM (Quantitative Strategic Planning Matrix) sẽ được sử dụng

Ma trận QSPM có dạng sau (xem bảng 1.2):

Bảng 1.2: Ma trận QSPM

Các chiến lược có thể thay thế

Chiến lược 1 Chiến lược 2

Cơ sở số

điểm hấp dẫn Các yếu tố bên trong

Các yếu tố bên ngoài

Cộng tổng số điểm hấp dẫn

Với AS là số điểm hấp dẫn và TAS là tổng số điểm hấp dẫn Phân loại cho các yếu tố cùng mức phân loại trong ma trận EFE và IFE Số điểm hấp dẫn (SA) sẽ từ 1

Trang 13

(không hấp dẫn) đến 4 (rất hấp dẫn) Tính tổng số điểm hấp dẫn (TAS) bằng cách nhân số điểm phân loại với số điểm hấp dẫn

Các chiến lược được xây dựng trên cơ sở phân tích và đánh giá môi trường kinh doanh, trước tiên dựa trên các yếu tố thành công chủ yếu bên trong và bên ngoài, từ đó xác định các chiến lược để đạt được mục tiêu đã đề ra, các chiến lược được lựa chọn đòi hỏi sự phán đoán tốt bằng trực giác

• Bước 5: Lựa chọn chiến lược

1 Chiến lược cấp công ty

Mỗi doanh nghiệp có những chiến lược khác nhau trong những giai đoạn khác nhau nhằm thực hiện mục tiêu của mình

- Chiến lược tăng trưởng chuyên sâu:

+ Chiến lược thâm nhập thị trường: Mục đích là tăng thị phần của sản phẩm dịch vụ hiện tại của doanh nghiệp

+ Chiến lược phát triển thị trường: Mở rộng thêm các thị trường để tiêu thụ sản phẩm dịch vụ hiện tại

- Chiến lược phát triển sản phẩm: Cải tiến hoặc sửa đổi những sản phẩm dịch vụ hiện tại nhằm tăng khả năng cạnh tranh

- Các chiến lược tăng trưởng đa dạng hóa:

+ Đa dạng hóa hoạt động đồng tâm: Thêm vào các sản phẩm hoặc dịch vụ mới có liên hệ với nhau

+ Đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang: Thêm vào những sản phẩm hoặc dịch vụ mơí, không liên hệ gì với nhau cho những khách hàng hiện có

- Đa dạng hóa hoạt động hỗn hợp: Thêm vào những sản phẩm hoặc dịch vụ mới, không liên hệ gì với nhau

Trang 14

2 Chiến lược cấp kinh doanh :

Nền tảng của chiến lược cấp kinh doanh được hình thành từ sự kết hợp về sản phẩm, thị trường và năng lực phân biệt của doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh trước đối thủ

- Chiến lược khác biệt hóa: Là chiến lược nhắm vào sản xuất các sản phẩm dịch vụ có những điểm độc đáo, ưu việt, được xem là riêng có trong ngành và nhằm vào những khách hàng tương đối không nhạy cảm với giá Điều này tạo ra lợi thế lớn cho doanh nghiệp vì những ưu điểm khác biệt này sẽ tạo các đặc tính hấp dẫn, thu hút khách hàng đến với sản phẩm và hơn thế nữa có khi nó còn ghi sâu trong trí khách hàng rất lâu

- Chiến lược trọng tâm hoá: Là chiến lược nhắm vào việc đưa ra các sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu của một nhóm khách hàng chuyên biệt hoặc một bộ phận hàng hoá chuyên biệt hoặc một vùng thị trường nhất định nào đó nhưng có qui mô vừa đủ, có tiềm năng phát triển tốt và không có tính quyết định đối với sự thành công của các đối thủ cạnh tranh chính khác

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong phần này, luận văn giới thiệu một số khái niệm chiến lược kinh doanh đồng thời nêu khái quát quá trình quản trị chiến lược của doanh nghiệp Quá trình quản trị chiến lược thể hiện một phương cách logic, hệ thống và khách quan trong việc xác định chiều hướng tương lai của một doanh nghiệp

Trong các chương tiếp theo, người viết sẽ áp dụng các lý luận đã được nêu trong chương này để xây dựng chiến lược phát triển ACB trong giai đoạn 2006-

2015

Trang 15

Chương 2 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU 2.1 Giới thiệu tổng quát về ACB

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ACB:

Ngân hàng TMCP Á Châu, tên giao dịch là Asia Commercial Bank (ACB), được thành lập ngày 4 tháng 6 năm 1993 Với nguồn lực rất nhỏ bé ban đầu, sau 12 năm liên tục phát triển, đến nay ACB đã vươn lên chiếm thị phần lớn nhất về huy động vốn, dư nợ cho vay và lợi nhuận trong hệ thống NHTMCP tại Việt Nam Một số nét chính về hoạt động kinh doanh của ACB:

Vốn điều lệ ban đầu khi thành lập là 7 tỷ, sau nhiều lần nâng vốn, đến nay vốn điều lệ của ACB là 948,32 tỷ đồng Trong đó cổ đông nước ngoài nắm 30% vốn điều lệ của ACB Các cổ đông nước ngoài bao gồm: Standard Charter Bank (Anh), Connaught Investors (jardine Matheson Group), Dragon Financial Holdings Ltd, Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) của Ngân hàng Thế giới (World Bank)

Đến hết tháng 9/2005, ACB đã có 48 chi nhánh, Phòng giao dịch trên cả nước, bao gồm: 26 tại TP Hồ Chí Minh, 11 ở khu vực phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh), 5 ở miền Trung (Đà Nẵng, Daklak, Khánh Hòa, Hội An, Huế), 3 ở miền Tây (Cần Thơ, An Giang, và Cà Mau), 3 ở miền Đông (Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu) Đồng thời, ACB hiện đã thiết lập được 5.032 đại lý chấp nhận thanh toán thẻ của Trung tâm thẻ ACB và 310 đại lý chi trả của Trung tâm chuyển tiền nhanh ACB-Western Union

Trang 16

Đến 31/12/2004 số lượng nhân viên của ACB là 1.558 người Cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm 87,8% Trong hai năm 1998 và 1999, ACB được Cty Tài chính Quốc tế (IFC) tài trợ một chương trình trợ giúp kỹ thuật chuyên về đào tạo nghiệp vụ cho nhân viên, do Ngân hàng Far East Bank and Trust Company (FEBTC) của Philippines thực hiện

ACB đã thiết lập một cấu trúc quản trị điều hành phù hợp với các tiêu chuẩn về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ và các hướng dẫn về các tổ chức và hoạt động của Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Nhà nước và nhân dân (Quyết định 1087/QĐ-NHNN ngày 27/08/2001 của Ngân hàng Nhà nước) Cụ thể, hệ thống quản trị điều hành của ACB gồm có:

+ Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị của ACB gồm 10 thành viên và

không tham gia điều hành trực tiếp Hội đồng quản trị họp định kỳ hàng quý để thảo luận các vấn đề liên quan đến hoạt động của Ngân hàng, xem xét, phê chuẩn báo cáo thường niên, báo cáo quý Trong trường hợp cấp thiết, Hội đồng quản trị sẽ có phiên họp bất thường Hội đồng quản trị có vai trò xây dựng chiến lược tổng thể và định hướng lâu dài cho Ngân hàng, ấn định mục tiêu tài chính giao cho Ban điều hành Hội đồng quản trị chỉ đạo và giám sát hoạt động của Ban điều hành thông qua một số hội đồng và ban chuyên môn do Hội đồng quản trị thành lập như Ban kiểm toán nội bộ, Hội đồng tín dụng, Hội đồng quản lý tài sản nợ và tài sản có, và Hội đồng đầu tư

+ Ban điều hành: Ban điều hành gồm có Tổng giám đốc điều hành chung và

năm Phó tổng giám đốc giúp việc cho Tổng giám đốc Ban điều hành có chức năng cụ thể hóa chiến lược tổng thể và các mục tiêu do Hội đồng quản trị đề ra, bằng các

Trang 17

kế hoạch, phương án kinh doanh và tham mưu cho Hội đồng quản trị về các vấn đề chiến lược, chính sách, trực tiếp điều hành mọi hoạt động Ngân hàng

+ Ban kiểm toán nội bộ: Được chính thức thành lập ngày 13/3/1996 với

nhiệm vụ là kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống ACB theo đúng pháp luật, các quy định của ngành Ngân hàng và các quy chế, thể lệ, quy trình nghiệp vụ của ACB Qua đó, Ban kiểm toán nội bộ tiến hành đánh giá chất lượng điều hành và hoạt động của từng đơn vị, tham mưu cho Ban điều hành, đề xuất các giải pháp cần thiết

+ Hội đồng tín dụng: Được thành lập từ năm 1995 Hội đồng này là cơ quan

cấp cao nhất về quản lý hoạt động tín dụng Nó thực hiện xét duyệt việc phân phối nguồn vốn tín dụng cho khu vực kinh tế; ấn định hạn mức tín dụng cho các Ban tín dụng chi nhánh; quyết định việc cho vay của Ngân hàng đối với các định chế tài chính trong và ngoài nước; quyết định về chuẩn mực tín dụng, giám sát chất lượng tín dụng và xem xét các vấn đề khác liên quan đến hoạt động tín dụng

+ H ội đồng quản lý tài sản nợ và tài sản có: Được chính thức thành lập vào

ngày 05/7/1997 Hiện nay, Hội đồng này hiện có 12 thành viên đại diện cho Hội đồng quản trị, Ban tổng giám đốc, Giám đốc các khối Hội đồng này có nhiệm vụ xây dựng các chỉ tiêu tài chính để quản lý tài sản nợ và tài sản có hữu hiệu và kịp thời; quản lý khả năng thanh toán và chênh lệch thời gian đáo hạn của từng loại tiền tệ; quy định mức dự trữ thanh khoản; quản lý rủi ro lãi suất, tỷ giá quyết định về cấu trúc vốn và nguồn vốn, chính sách lãi suất; phân tích hiệu quả hoạt động

kinh doanh của các chi nhánh và toàn hệ thống

+ Hội đồng đầu tư: Được chính thức thành lập ngày 11/1/1996 Hiện nay,

Hội đồng đầu tư có tám người là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban điều

Trang 18

hành và Trưởng bộ phận đầu tư Nhiệm vụ của Hội đồng là xem xét tính hiệu quả của dự án đầu tư mà ACB quan tâm, ra quyết định đầu tư, xem xét và quyết định các vấn đề khác liên quan đến hoạt động đầu tư.

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của ACB trong giai đoạn 2000-2005

Sau 12 năm hoạt động, ACB đã có một sự phát triển vượt bậc về qui mô hoạt động và kết quả hoạt động kinh doanh Đặc biệt, năm 2004 đánh dấu một năm hoạt động thành công nhất trong quá trình phát triển của mình Tổng tài sản của ACB tiến gần đến ngưỡng 1 tỷ USD (15.650 tỷ đồng), tăng hơn 44% so với năm 2003, cao hơn rất nhiều so với mức bình quân của ngành (ước tính khoảng 22%) Dư nợ tín dụng đạt 6.760 tỷ đồng, tăng 26% so với đầu năm Lợi nhuận đạt 278 tỷ, tăng 48%

so với năm 2003 (xem bảng 2.1 và phụ lục 1) Với kết quả trên, ACB tiếp tục giữ vững vị trí là NHTMCP chiếm thị phần lớn nhất về huy động vốn, cho vay và lợi nhuận

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của ACB qua các năm 2000-2004

Suất lợi nhuận/vốn tự có

(ROE)

(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2004 của ACB)

Trang 19

Trong năm 2005, ACB tiếp tục phấn đấu phát triển với tốc độ nhanh (xem bảng 2.2)

Bảng 2.2 Các chỉ tiêu hoạt động năm 2005

(Đơn vị tính: tỷ đồng)

Phát triển thêm 28 đơn vị: 5 chi nhánh và 23 phòng giao dịch

2.2 Phân tích hoạt động kinh doanh của ACB

2.2.1 Phân tích môi trường hoạt động của ACB

2.2.1.1 Cơ hội:

- Sự tăng trưởng liên tục với tốc độ cao của kinh tế Việt Nam

Kinh tế Việt Nam trong nhiều năm gần đây có được sự phát triển tốt Trong 5

năm gần đây, tỷ lệ tăng trưởng GDP không ngừng tăng qua các năm (xem Bảng

2.3)

Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2000-2004

Trang 20

(Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam)

Với tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm bình quân khoảng 7% và ổn định trong nhiều năm gần đây đã cải thiện rõ rệt thu nhập của người dân Điều đó đặt nền tảng vững chắc cho triển vọng phát triển thị trường ngân hàng vốn vẫn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác Đồng thời, chủ trương của chính phủ phát triển khu vực kinh tế tư nhân đã tạo sự bùng nổ về số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Chỉ riêng trong năm 2004 đã có hơn 37.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh

đi vào hoạt động Những yếu tố đó tạo ra cơ hội lớn cho phát triển dịch vụ ngân hàng

- Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế khu vực và thế

giới đang diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Hội nhập quốc tế là cơ hội phát triển cho các quốc gia, đồng thời, cũng tạo ra nhiều thách thức mà các quốc gia phải đối mặt để tồn tại và phát triển

Ở nước ta hiện nay, hội nhập quốc tế và tự do hoá kinh tế đã có những lộ trình và không thể đảo ngược, đó là lộ trình về việc xoá bỏ những qui định bảo hộ theo Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (BTA) (xem phụ lục 2), cũng như tiến trình tham gia AFTA, WTO và việc thực hiện các hiệp định song phương với các nước khác như Nhật Bản

Những cơ hội mà các ngân hàng Việt Nam có thể tận dụng khi hội nhập:

+ Hội nhập tạo cơ hội để các ngân hàng đa dạng hoá các dịch vụ kinh doanh

để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và công chúng

+ Cơ hội thu hút đầu tư từ nước ngoài trong các lĩnh vực về vốn, công nghệ, quản lý Sự tham gia về vốn của các doanh nghiệp nước ngoài vào các ngân hàng

Trang 21

Việt Nam là một xu hướng tất yếu Thông qua sự đầu tư vốn, họ cũng đầu tư cho các ngân hàng về mặt công nghệ, quản lý

- Khung pháp lý cho hoạt động ngân hàng ngày càng được hoàn thiện

NHNN đang khẩn trương rà soát lại hệ thống các cơ chế, chính sách trong lĩnh vực ngân hàng để bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với các cam kết hội nhập Luật thanh toán và Luật Giao dịch Điện tử và dự thảo Nghị định qui định về thanh toán bằng tiền mặt sẽ sớm được ban hành để tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động giao dịch, thanh toán của các tổ chức tín dụng Hệ thống cảnh báo những biến động bất thường về tỷ giá, lãi suất và tăng cường tín dụng của các tổ chức tín dụng cũng

đang được NHNN khẩn trương xây dựng

Với những chính sách, văn bản sẽ được ban hành trong thời gian tới sẽ giúp các ngân hàng có được một khung pháp lý giúp hoạt động ổn định và triển khai thêm nhiều các sản phẩm dịch vụ mới như: Home- banking, internet-banking…

- Qui mô dân số và cơ cấu dân số thuận lợi cho sự phát triển dịch vụ ngân hàng Việt Nam với dân số hiện nay là hơn 82 triệu người, đa phần trong độ tuổi

lao động thật sự là một thị trường đầy tiềm năng cho các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

- Sự ổn định về chính trị – xã hội của Việt Nam Ngành Ngân hàng là ngành

hoạt động rất nhạy cảm với yếu tố chính trị Sự ổn định về chính trị giúp các ngân hàng Việt Nam tiếp tục phát triển ổn định Trong khi tình hình thế giới có những chuyển biến phức tạp thì Việt Nam nổi lên như một điểm đến an toàn cho khách du lịch, các nhà đầu tư Sự ổn định về chính trị cũng chính là một nhân tố quan trọng kéo nguồn vốn tích trữ trong dân thành nguồn vốn huy động của các ngân hàng

Trang 22

2.2.1.2 Thách thức

Trong quá trình hội nhập kinh tế, ACB đang gặp phải những thách thức sau:

- Thực hiện những cam kết quốc tế về lĩnh vực ngân hàng: các cam kết

trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ và đàm phán gia nhập WTO đã và đang đặt

ra cho hệ thống ngân hàng Việt Nam những thách thức Đó là:

Thứ nhất , thách thức đối với khách hàng của ngân hàng.

Theo lộ trình thực hiện cam kết Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT/AFTA), đến năm 2003 Việt Nam phải cắt giảm thuế nhập khẩu xuống phổ biến chỉ còn 0-5% để đến 2006 đạt 0% Việc thực hiện những cam kết về cắt giảm thuế quan và xóa bỏ chính sách bảo hộ của Nhà nước sẽ làm tăng sự cạnh tranh hàng hóa của các đối tác trên thị trường Việt Nam Khi hiệu quả kinh doanh và kết quả tài chính của doanh nghiệp xấu đi, rốt cuộc là hệ thống ngân hàng Viêt Nam phải gánh chịu rủi ro, tổn thất lớn hơn, nguy cơ gia tăng nợ quá hạn

Thứ hai, sự gia tăng áp lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Việc mở cửa thị trường tài chính cho các ngân hàng nước ngoài gia nhập thị trường tài chính trong nước, làm tăng thêm các đối thủ cạnh tranh có ưu thế về năng lực tài chính về khả năng cạnh tranh, trình độ công nghệ và quản trị kinh doanh so với các ngân hàng của Việt Nam

Đầu những năm 1990, bốn ngân hàng quốc doanh chiếm lĩnh gần như toàn bộ thị trường tiền gửi và cho vay ở Việt Nam, nhưng 15 năm sau, hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm 6 ngân hàng quốc doanh, 25 ngân hàng cổ phần đô thị, 12 ngân

Trang 23

hàng cổ phần nông thôn, 5 ngân hàng liên doanh, và 28 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, như vậy tổng cộng có 76 ngân hàng Ngoài ra còn có 906 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, 1 quỹ tín dụng nhân dân trung ương và 23 chi nhánh

Với con số trên đây cũng đủ để khẳng định môi trường cạnh tranh về các dịch vụ tài chính đang diễn ra sôi động như thế nào giữa các ngân hàng

- Cạnh tranh giữa NH và các định chế tài chính khác ngày càng gay gắt

Từ năm 1992 trở về trước cả nước chỉ có 02 công ty tài chính, 02 công ty bảo hiểm thì đến nay đã có 5 công ty tài chính, 9 công ty cho thuê tài chính, 24 công ty bảo hiểm, 8 công ty chứng khoán Ngoài ra còn có các công ty đầu tư, quỹ đầu tư và quỹ tiết kiệm bưu điện Chính các định chế tài chính này cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng về huy động vốn và đầu tư

Sự ra đời và phát triển của Trung tâm giao dịch chứng khoán cũng sẽ làm thay đổi vai trò của ngân hàng trên thị trường tài chính Các Trung tâm chứng khoán sẽ tạo ra một phương thức đầu tư mới cho nền kinh tế – phương thức đầu tư trực tiếp, tức là quan hệ trực tiếp giữa chủ thể thặng dư tiết kiệm và chủ thể thiếu hụt tiết kiệm Với sự ra đời của phương thức đầu tư này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến qui mô tín dụng của các tổ chức trung gian tài chính

- Thói quen sử dụng tiền mặt còn rất phổ biến tại Việt Nam

Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt ở nước ta còn chiếm khá cao Tại thời điểm năm 1997, tỷ lệ này chiếm 30,8% Đến nay tuy đã giảm xuống (khoảng 25%) song vẫn còn rất cao so với nhiều nước trong khu vực Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, nước ta vẫn là nền kinh tế tiền mặt Khối lượng tiền mặt trong lưu thông còn rất lớn Điều này kéo theo nhiều tiêu cực, như: Tăng chi phí phát hành (in ấn, bảo quản, vận chuyển, tiêu huỷ tiền); nạn tiền giả; tham nhũng; hối lộ; trốn thuế; đầu cơ và hoạt động mạnh của các thị trường ngầm

Trang 24

- Khách hàng ngày càng trở nên khó tính hơn và mong đợi nhiều hơn ở dịch vụ ngân hàng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nhu cầu về tài

chính, đầu tư, ngân hàng của người dân sẽ ngày càng tăng Khách hàng ngày càng có một đòi hỏi cao hơn về dịch vụ ngân hàng Và do đó, thách thức cải thiện khả

năng phục vụ khách hàng đang đè nặng trên vai các ngân hàng Việt Nam

2.2.1.3 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường (EFE) (xem bảng 2.4)

Bảng 2.4: Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường kinh doanh của ACB

Yếu tố bên ngoài chủ yếu Mức quan

trọng

Phân loại Số điểm

quan trọng

1 Sự tăng trưởng liên tục với tốc độ cao của

kinh tế Việt Nam

0,15 4 0,6

2 Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 0,2 3 0,6

3 Khung pháp lý cho hoạt động ngân hàng

ngày càng được hoàn thiện

0,1 4 0,4

4 Qui mô dân số và cơ cấu dân số thuận lợi

cho sự phát triển dịch vụ ngân hàng

0,10 3 0,30

5 Chính trị – xã hội Việt Nam ổn định 0,05 3 0,15

6 sự gia tăng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân

hàng ở Việt Nam

0,2 3 0,6

7 Cạnh tranh giữa ngân hàng và các định

chế tài chính khác

0,05 2 0,1

8 Thói quen sử dụng tiền mặt còn rất phổ

biến tại Việt Nam

0,1 2 0,2

9 Khách hàng ngày càng trở nên khó tính

hơn và mong đợi nhiều hơn ở DVNH

0,05 3 0,15

Trang 25

Qua Bảng đáng giá các yếu tố môi trường, tổng số điểm quan trọng bằng 3,15 (trung bình là 2,5) cho thấy các chiến lược của ACB tận dụng khá hiệu quả các cơ hội hiện có và hạn chế khá tốt các ảnh hưởng tiêu cực có thể có của các mối đe doạ bên ngoài Qua ma trận với mức phân loại là 4, cho thấy ACB tận dụng tốt cơ hội về tiềm năng của thị trường và sự hoàn thiện của khung pháp lý cho hoạt động của ngân hàng Với mức phân loại là 3 cho thấy ACB đã có bước chuẩn bị khá tốt trước khi nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Tuy nhiên, nền kinh tế tiền mặt vẫn còn là thách thức lớn cho ACB nói chung và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng

2.2.1.4 Phân tích đối thủ cạnh tranh

Thuật ngữ đối thủ cạnh tranh được đề cập nhiều nhất trong các vấn đề liên quan đến quản trị doanh nghiệp và marketing doanh nghiệp Đối thủ cạnh tranh của một NHTM (sau đây gọi tắt là đối thủ cạnh tranh) là tập hợp các chủ thể kinh doanh thực hiện cung cấp sản phẩm dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu về ngân hàng – tài chính với những ảnh hưởng làm suy giảm lợi ích của NHTM trong phạm vi không gian, thời gian nhất định Do đó, phân tích đối thủ cạnh tranh trở thành một phần quan trọng và tất yếu trong công tác lập và triển khai kế hoạch chiến lược tại mỗi NHTM

Trên thực tế hiện nay, ACB có 02 đối thủ cạnh tranh trực tiếp là Sacombank và EAB (xem bảng 2.5)

Trang 26

Bảng 2.5: Ma trận hình ảnh các đối thủ cạnh tranh của ACB

ACB Sacombank EAB

TT Các yếu tố thành công Mức

độ quan trọng

Hạng Điểm

quan trọng

Hạng Điểm

quan trọng

Hạng Điểm

quan trọng

Hiểu biết về thị trường

Phân khúc thị trường

Định vị

Hiệu quả K.mãi quảng cáo

Khả năng tài chính

Khả năng cạnh tranh về giá

Mạng lưới phân phối

Sự linh hoạt của tổ chức

Đào tạo – huấn luyện

Chăm sóc khách hàng

Sự đa dạng về sản phẩm DV

Quản lý – điều hành

(Nguồn: Các đánh giá dựa trên các điều tra thị trường do ACB thực hiện Tham khảo

thêm Bảng đánh giá hoạt động các ngân hàng cạnh tranh của ACB tại phụ lục 3)

Trang 27

Qua phân tích ma trận hình ảnh cạnh tranh, có thể thấy ACB hiện đang dẫn đầu với tổng số điểm là 3,17, theo sau là Sacombank là 2,74 và EAB là 2,09 Nếu xét về khía cạnh chiến lược thì hiện nay ACB ứng phó khá hiệu quả với các yếu tố bên trong và bên ngoài Đối thủ cạnh tranh đáng lo ngại nhất của ACB thời điểm này là Sacombank với ưu thế về vốn và mạng lưới đang đuổi bám rất sát ACB về thị phần Một đối thủ khác cũng rất đáng lo của ACB là EAB Do vậy việc xây dựng chiến lược của ACB cần hướng đến việc hoàn thiện điểm yếu so với Sacombank và thực

hiện chiến lược phòng thủ với EAB

2.2.2 Phân tích nội bộ

2.2.2.1 Điểm mạnh

- ACB đã xây dựng được uy tín trong hệ thống ngân hàng Việt Nam

ACB hiện là một trong những Ngân hàng Việt Nam được khách hàng tín nhiệm trong giao dịch tiền tệ Ngoài sự tín nhiệm của khách hàng, ACB còn được các tổ chức quốc tế tín nhiệm chọn làm đối tác phân phối các nguồn vốn phát triển như quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật (JBIC) và EU (SMEDF)…

- Hệ thống kênh phân phối hoạt động có hiệu quả cao

Tuy mạng lưới chi nhánh của ACB chưa rộng khắp so với các ngân hàng quốc doanh hay Sacombank, nhưng, xét về hiệu quả hoạt động của kênh phân phối, ACB có sự nổi trội hơn các ngân hàng thương mại khác Các kênh phân phối thực sự là các trung tâm lợi nhuận của ACB Hầu hết các chi nhánh hoạt động đều có lợi nhuận Mặt khác, việc đầu tư mạng lưới chi nhánh của ACB thời gian qua cũng mang lại hiệu quả cao

Trang 28

- Công nghệ hiện đại so với các ngân hàng khác trong nước

Từ năm 2000, ACB đã đầu tư hệ thống công nghệ mới Hệ điều hành TCBS hiện được áp dụng trong hệ thống ACB có những ưu điểm sau:

+ Toàn bộ dữ liệu sẽ được tập trung tại cơ sở dữ liệu trung tâm Mọi thay đổi được cập nhật trực tuyến và tức thời Điều này cho phép ACB không chỉ nắm chính xác số dư của mọi tài khoản mà còn cho phép ACB thực hiện giao dịch tài khoản tại bất cứ chi nhánh nào trong toàn hệ thống

+ Tất cả nghiệp vụ, dịch vụ đều dùng chung một hệ thống thông tin khách hàng duy nhất, đảm bảo cho việc xác nhận khách hàng được chính xác và thuận tiện, đây là yêu cầu rất quan trọng đối với giao dịch phân tán và tự động như các dịch vụ ngân hàng điện tử

+ Có thể kết nối dễ dàng với các thiết bị giao dịch tự động như máy đọc thẻ từ, máy ATM các hệ thống thông tin công cộng (internet, điện thoại công cộng…)

+ Đảm bảo tính bảo mật, an toàn cao: Hệ thống chính thức có hệ thống dự phòng Bên cạnh hệ thống online, luôn có hệ thống offline để sử dụng trong trường hợp tắc nghẽn hoàn toàn về viễn thông thì chỉ làm ngưng trệ các giao dịch liên chi nhánh, các giao dịch nội bộ chi nhánh vẫn hoạt động bình thường

+ Đảm bảo tính mở rộng

- Chiếm thị phần đáng kể trong thị trường dịch vụ ngân bán lẻ

Với chiến lược tập trung vào thị trường bán lẻ, ACB, thời gian qua được biết đến như là một trong những ngân hàng khai thác thành công thị trường bán lẻ Về huy động, hiện ACB chiếm đến 8% tổng lượng vốn huy động của toàn hệ thống ngân hàng trong đó đa phần là vốn huy động tiết kiệm từ cá nhân Về tín dụng,

Trang 29

ACB đuợc biết đến như là ngân hàng đầu tiên đưa ra các sản phẩm cho vay cá nhân như: Cho vay tiêu dùng, cho vay mua nhà, xe…Chính sự thành công của các sản phẩm cho vay trên đã tạo một bước tiến khá dài cho ACB trong 5 năm gần đây Hiện tại ACB đang có được một vị thế khá vững chắc trong thị trường dịch vụ ngân hàng bán lẻ

- Chất lượng hoạt động tốt được duy trì trong nhiều năm

Xét về chất lượng hoạt động, ACB là một trong những ngân hàng thương mại có chất lượng hoạt động tốt nhất trong hệ thống ngân hàng thương mại Xét các chỉ số hoạt động, như: nợ quá hạn, tỉ lệ an toàn vốn, tỉ lệ sinh lời bình quân trên vốn tự có (ROE), tăng trưởng tổng tài sản…ACB đều đạt cao hơn mức bình quân của ngành Ngân hàng Việt Nam (xem tham khảo phụ lục 4, 5) và gần tiệm cận với các NHTM

ở các nước trong khu vực Ví dụ: chỉ số ROE của ACB trong năm 2004 đạt là 34% trong khi bình quân của ngành Ngân hàng Việt Nam là 6% và các nước trong khu vực là 13-15%

Chất lượng hoạt động tốt đã giúp ACB có nhữngï thuận lợi nhất định khi đương đầu với các thử thách trong quá trình hội nhập

Trang 30

sản phẩm, dịch vụ mới Vốn điều lệ cũng là điều kiện để hút khách hàng và khả năng đối phó với các rủi ro trong hoạt động

Trong năm 2005, ACB đã có hai đợt tăng vốn điều lệ nâng từ mức 481 tỷ đồng đầu năm lên 948,32 tỷ đồng( tức tăng gần 100% vốn điều lệ so với đầu năm 2005) Điều này chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của ACB đối với việc tăng vốn Nhưng mức vốn này vẫn quá nhỏ so với hệ thống NHTM Nhà nước (Incombank 2.940,5 tỷ, Vietcombank 3.428,8 tỷ ; Agribank 5.190 tỷ), và so với mức chung của một NHTM trong khu vực là khoảng 500 triệu USD Nếu so sánh vốn tự có của các NHTMCP

VN với các NHTM trong khu vực Châu Á, mức vốn của một NHTM trung bình ở Châu Á cao hơn khoảng 170 lần, và nếu so sánh với các NHTM Nhật Bản, con số này là 300 lần

- Mạng lưới chi nhánh chưa rộng khắp trên cả nước:

Tính đến tháng 9/2005, ACB đã có 48 chi nhánh và phòng giao dịch trên khắp cả nước Dự kiến đến cuối năm 2005, số lượng chi nhánh, phòng giao dịch của ACB có thể lên đến 60 Nếu so với các ngân hàng khác trong hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, ACB có mạng lưới chi nhánh đứng thứ hai, sau Sacombank Nhưng nếu so sánh với các ngân hàng thương mại quốc doanh (như Agribank có đến 1.800 chi nhánh, phòng giao dịch trong cả nước) mạng lưới kênh phân phối của ACB còn hạn chế

- Dịch vụ ngân hàng còn rất nghèo nàn so với các ngân hàng trên thế giới

Theo thống kê, ở Việt Nam, tổng số lượng dịch vụ do hệ thống ngân hàng thương mại cung cấp vào khoảng 400 Trong khi đó, con số này ở Nhật là 5.000 dịch vụ; Thái Lan là trên 2.200 dịch vụ Như vậy, số lượng dịch vụ của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn rất nhỏ bé và đơn điệu so với các nước trong khu

Trang 31

vực và trên thế giới Riêng đối với ACB, là một ngân hàng đi đầu trong việc đưa ra các SPDV mới, tình trạng “độc canh” tín dụng vẫn còn tồn tại Điều này thể hiện rõ trong cơ cấu lợi nhuận từ 02 hoạt động chính của ACB là cho vay và dịch vụ Trên thế giới, các ngân hàng hiện đại luôn có tỷ lệ lợi nhuận từ dịch vụ chiếm trên 60% tổng lợi nhuận trong khi của ACB hiện chỉ chiếm khoảng 20% Dịch vụ mà ACB đang thực hiện chủ yếu là các nghiệp vụ của một ngân hàng truyền thống như huy động vốn và cho vay, các dịch vụ khác liên quan đến thanh toán, chuyển tiền….Các nghiệp vụ này còn chưa phát triển mạnh Một số các dịch vụ về thẻ, dịch vụ ngân hàng hiện đại, như: E-Banking, internet banking…mới bắt đầu được hình thành Mặt khác, chất lượng của các SPDV của ACB vẫn chưa cao và phạm vi ứng dụng sản phẩm dịch vụ mới còn hạn chế

- Trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, trong khu vực và trên thế giới

ACB là một trong những Ngân hàng đi đầu trong việc nâng chất trong lĩnh vực quản lý (tái cấu trúc) và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, ACB có một xuất phát điểm quá thấp nên việc yếu kém trong nhiều lĩnh vực so với ngân hàng nước ngoài là điều dễ hiểu

Trình độ nhân viên tác nghiệp và điều hành nói chung còn chưa theo kịp với sự phát triển về nghiệp vụ mới và càng bất cập hơn nếu so sánh với trình độ cán bộ của các ngân hàng lớn của các nước trên thế giới

- Hiệu quả công tác marketing chưa cao

ACB là một trong những ngân hàng đi đầu trong việc đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới Tuy nhiên, tỷ lệ sản phẩm dịch vụ mới được khách hàng chấp nhận và có chu kỳ sống lâu chưa nhiều Có nhiều lý do để lý giải vấn đề trên, trong đó hiệu

Ngày đăng: 29/03/2013, 14:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Ma trận SWOT - 160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015
Bảng 1.1 Ma trận SWOT (Trang 11)
Bảng 1.2: Ma trận QSPM - 160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015
Bảng 1.2 Ma trận QSPM (Trang 12)
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của ACB qua các năm  2000-2004 - 160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của ACB qua các năm 2000-2004 (Trang 18)
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu hoạt động năm 2005 - 160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu hoạt động năm 2005 (Trang 19)
Bảng 2.4: Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường kinh doanh của ACB - 160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015
Bảng 2.4 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường kinh doanh của ACB (Trang 24)
Bảng 2.5: Ma trận hình ảnh các đối thủ cạnh tranh của ACB - 160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015
Bảng 2.5 Ma trận hình ảnh các đối thủ cạnh tranh của ACB (Trang 26)
Bảng 2.6: Ma trận đánh giá nội bộ ACB - 160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015
Bảng 2.6 Ma trận đánh giá nội bộ ACB (Trang 33)
Bảng 3.1: Ma trận kết hợp SWOT - 160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015
Bảng 3.1 Ma trận kết hợp SWOT (Trang 36)
Bảng 3.2: Ma trận QSPM nhóm S/O - 160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015
Bảng 3.2 Ma trận QSPM nhóm S/O (Trang 40)
Bảng 3.3: Ma trận QSPM nhóm S/T - 160 Xây dựng chiến lược phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu giai đọan 2006-2015
Bảng 3.3 Ma trận QSPM nhóm S/T (Trang 42)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w