152 Vấn đề quản lý vốn tại Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam Thực trạng và giải pháp
Trang 11.3 Quản lý vốn của doanh nghiệp nhà nước 3
2.1.3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của TCTDKVN 17 2.1.3.2 Bộ máy quản lý của TCTDKVN 19
Trang 22.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của TCTDKVN 21 2.3 Thực trạng quản lý và sử dụng vốn của TCTDKVN 24
2.3.1.1 Các nguồn cung cấp vốn của TCTDKVN 24
2.3.1.2 Cấu trúc vốn của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
3.2.1.1 Đẩy nhanh việc cổ phần hóa một số đơn vị thành viên 37
3.2.1.2 Giải pháp thành lập tập đoàn dầu khí Việt Nam 41
theo mô hình Công ty mẹ-Công ty con 3.2.1.3 Nâng cao vai trò của Công ty Tài chính dầu khí 49
3.2.1.4 Giải pháp huy động vốn thông qua Thị trường chứng khoán 50
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn hiện có
50
3.2.2.1 Giải pháp đối với vốn cố định 50
3.2.2.2 Giải pháp đối với vốn lưu động 53
Trang 33.2.2.3 Giải pháp đối với vốn đầu tư 53
3.2.2.4 Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, kiểm soát quá trình sử dụng
55
vốn sản xuất kinh doanh trong TCTDKVN
3.2.3.1 Cơ chế phân phối tiền lương hợp lý
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TCT : Tổng Công ty
TCTDKVN : Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ : Tài sản cố định
TSLĐ : Tài sản lưu động
VCĐ : Vốn cố định
VLĐ : Vốn lưu động
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Stt
Ký
8 2.8 Chi phí sử dụng vốn bình quân của TCTDKVN 27
9 2.9 Cơ cấu TSCĐ của TCTDKVN năm 2000-2003 29
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
I LÝ DO NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Vốn kinh doanh có một vai trò quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường Một mặt, vốn kinh doanh là tiền đề để các doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình Mặt khác, vốn kinh doanh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục và có hiệu quả Hơn thế nữa, tiềm lực vốn mạnh sẽ giúp doanh nghiệp có một chỗ đứng trên thị trường, tạo lợi thế trong cạnh tranh Ngoài ra, vốn kinh doanh cũng là công cụ để phản ánh, đánh giá sự vận động của tài sản, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh
Để nâng cao vai trò của vốn kinh doanh trong hoạt động của các doanh nghiệp, bên cạnh việc tạo vốn, doanh nghiệp cần có những biện pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đi đôi với việc bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp mình
Ngành dầu khí được xác định là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội mà Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã đề ra Sau gần 10 năm thành lập, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho Ngân sách Nhà nước, góp phần đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế-
xã hội trong những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX và hiện đang dẫn đầu trong đóng góp cho Ngân sách Nhà nước, đang là động lực thúc đẩy phát triển nhiều ngành kinh tế khác Ngành dầu khí cũng là ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn và hiện nay mặc dù Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã vận dụng sáng tạo các đặc điểm của ngành dầu khí – tính quốc tế cao – dùng hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) ký với các công ty dầu khí quốc tế nhằm sử dụng vốn của họ trong tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí nhưng Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam vẫn trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng Bên cạnh đó, việc quản lý vốn tại Tổng Công
ty Dầu khí Việt Nam cũng còn nhiều bất cập Vì lý do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá vấn đề quản lý vốn tại Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam nhằm tìm ra được giải pháp tăng cường vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho Tổng Công
Trang 7ty Dầu khí Việt Nam có ý nghĩa vô cùng to lớn Đây cũng là lý do để tôi lựa chọn
đề tài: "Vấn đề quản lý vốn tại Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam: Thực trạng và
giải pháp"
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đánh giá một cách tổng quát thực trạng quản lý vốn tại Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn tại Tổng Công ty
III PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề về quản lý vốn tại Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam Các vấn đề đưa ra trong luận văn được đánh giá mang tính chất tổng quát từ giác độ Tổng Công ty
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đồng thời kết hợp với phương pháp thống kê và tổng hợp để hoàn thành đề tài
V KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Không kể phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương chính như sau:
Chương I : Tổng quan về vốn và quản lý vốn
Chương II : Thực trạng về quản lý vốn tại Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Chương III : Giải pháp quản lý hiệu quả vốn tại Tổng Công ty Dầu khí
Việt Nam
◙
Trang 8CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN
1.1 Khái niệm về vốn và bản chất của vốn
1.2 Phân loại vốn
1.2.1 Căn cứ theo đặc điểm vận động của vốn
1.2.2 Căn cứ theo nguồn hình thành vốn
1.2.3 Căn cứ theo yêu cầu đầu tư và sử dụng
1.3 Quản lý vốn của doanh nghiệp nhà nước
1.3.1 Vấn đề tạo lập vốn và xây dựng cấu trúc vốn tối ưu
1.3.2 Vấn đề quản lý vốn
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN
1.1 KHÁI NIỆM VỀ VỐN VÀ BẢN CHẤT CỦA VỐN
Trong mọi nền kinh tế, vốn luôn là một yếu tố quan trọng có tính chất quyết định cho hoạt động kinh doanh đối với bất cứ doanh nghiệp nào Tuy nhiên, vốn là một thuật ngữ khó định nghĩa, mỗi tác giả khi đề cập đến vốn đều có một định nghĩa riêng của mình
Hiện nay có nhiều định nghĩa về vốn nhưng có thể khái quát vốn như sau: Vốn là một bộ phận của cải được dùng vào sản xuất khi của cải làm nảy sinh ra của cải nhiều hơn lúc đó được gọi là tư bản (vốn) Việc sử dụng vốn trên quy mô lớn đã tạo điều kiện cho phương thức sản xuất phát triển Sự tách rời lao động và sản xuất với quy mô lớn là không thể có được để tạo thành tư bản
Bản chất của vốn:
- Vốn phải được biểu hiện bằng giá trị thực, nghĩa là nó phải đại diện cho một sức mua nhất định trên thị trường, hay nói cách khác, nó phải đại diện cho một loại tài sản nhất định nào đó chứ không phải những khoản tiền được phát hành không
có giá trị thực, không có khả năng thanh toán
- Vốn phải luôn luôn vận động, luôn luôn sinh lời trong quá trình vận động
- Vốn là một loại hàng hóa và cũng như các loại hàng hóa khác, nó đều có chủ đích thực Chủ sở hữu về vốn chỉ trao quyền sử dụng vốn cho người khác trong một thời gian nhất định, khi đó, người sử dụng vốn phải trả cho chủ sở hữu vốn một khoản chi phí nhất định gọi là chi phí sử dụng vốn
Trang 10để đầu tư mua sắm những tư liệu lao động nói trên Do đó, mỗi DN phải ứng trước một số tiền vốn nhất định về tư liệu lao động Số vốn này luân chuyển theo mức hao mòn của tư liệu lao động Tư liệu lao động của DN bao gồm nhiều loại với giá trị và thời gian sử dụng khác nhau Vì vậy, để thuận tiện cho công tác quản lý tài sản, theo chế độ hiện hành ở nước ta những tư liệu lao động nào hội đủ hai điều kiện sau đây sẽ được coi là tài sản cố định:
- Giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên (tiêu chuẩn này có thể thay đổi theo thời gian)
- Thời gian sử dụng trên 1 năm
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa, TSCĐ của DN không chỉ bao gồm những TSCĐ có hình thái hiện vật gọi là TSCĐ hữu hình mà còn bao gồm cả những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể như bằng phát minh, các bí quyết công nghệ, thương hiệu, thị phần… gọi là TSCĐ vô hình
Đặc điểm chủ yếu của tất cả TSCĐ là tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD mà vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Trong quá trình SXKD, TSCĐ sẽ bị hao mòn dần và được chuyển từng phần vào giá trị của sản phẩm hàng hóa và như vậy vốn đầu tư sẽ được thu hồi dưới hình thức khấu hao tương ứng với giá trị hao mòn của TSCĐ
Trong nền kinh tế thị trường, muốn có TSCĐ thì DN phải bỏ tiền ra để đầu
tư, đó chính là vốn cố định và khái niệm này được phát biểu như sau: Vốn cố định
là giá trị ứng trước về tài sản cố định hiện có của DN Khi đề cập đến quản lý vốn
cố định có nghĩa là chúng ta phải quản lý từ lúc bắt đầu bỏ vốn ra đầu tư cho đến khi thu hồi đủ vốn
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN, hình thái vật chất của VCĐ vẫn giữ nguyên (đối với TSCĐ hữu hình) nhưng hình thái giá trị của nó lại thông qua hình thức khấu hao chuyển dần thành quỹ khấu hao Vì vậy, quản lý VCĐ phải bao gồm hai mặt: Đảm bảo cho TSCĐ được toàn vẹn và nâng cao hiệu quả sử dụng của nó đồng thời phải tính toán chính xác số trích lập quỹ khấu hao tạo điều kiện cho DN có thể tái đầu tư TSCĐ
b) Vốn lưu động:
Trang 11Để tiến hành hoạt động kinh doanh, ngoài tư liệu lao động, các DN còn phải
có đối tượng lao động và sức lao động Khi tham gia vào quá trình SXKD, đối tượng lao động không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu mà chuyển dịch toàn
bộ ngay một lần vào sản phẩm mới và được bù lại khi giá trị sản phẩm được thực hiện Trong thực tế, vốn lưu động thường tồn tại dưới những hình thái vật chất như: Nguyên vật liệu ở khâu dự trữ, sản phẩm đang chế tạo, thành phẩm… Các DN phải dùng tiền để mua nguyên vật liệu và trả lương cho công nhân, nên phải ứng trước một số vốn nhất định cho mục đích trên Mọi tư liệu lao động có thời hạn sử dụng dưới 1 năm và có giá trị thấp hơn 10 triệu đồng thì được coi là TSLĐ (vốn lưu động) Do đó có thể nói: Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ hiện
có của DN
Vốn lưu động vận động không ngừng theo quá trình tái sản xuất của DN Khoảng thời gian để vốn hoàn thành một vòng tuần hoàn dài hay ngắn sẽ nói lên tốc độ luân chuyển của vốn chậm hay nhanh Vì thế các nhà quản lý DN rất quan tâm tới chỉ tiêu tốc độ luân chuyển của vốn lưu động
1.2.2 Căn cứ theo nguồn hình thành vốn
a) Nguồn vốn chủ sở hữu: Là khoản vốn thuộc quyền sở hữu của DN, nói cách
khác, đây là vốn mà DN có quyền sử dụng và sở hữu thuộc về chủ DN Loại vốn này được hình thành từ đầu tư ban đầu của chủ sở hữu và được bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh sau khi đã hoạt động có hiệu quả
b) Nợ phải trả: Là phần vốn mà trong quá trình hoạt động DN huy động của các tổ
chức, cá nhân… qua hệ thống ngân hàng, thị trường vốn Để được quyền sử dụng
số vốn này, DN phải chịu một khoản chi phí nhất định theo sự thỏa thuận giữa DN với đối tượng có quyền sở hữu về vốn
1.2.3 Căn cứ theo yêu cầu đầu tư và sử dụng
a) Vốn bên trong DN: Là toàn bộ tài sản hiện hữu tại DN, được DN trực tiếp quản
lý sử dụng và định đoạt cho mục tiêu phát triển DN
b) Vốn DN đầu tư ra bên ngoài: là số vốn DN không trực tiếp sử dụng bao gồm
toàn bộ tài sản như: Tiền, giá trị quyền sử dụng đất, tài sản được doanh nghiệp góp vốn, liên doanh liên kết, mua các loại cổ phiếu…
Trang 121.3 QUẢN LÝ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.3.1 Vấn đề tạo lập vốn và xây dựng cấu trúc vốn tối ưu
1.3.1.1 Vấn đề tạo lập vốn
So với thời kỳ bao cấp, các nguồn cung cấp vốn trong điều kiện nền kinh tế thị trường rất phong phú, đa dạng Đối với DNNN, ngoài nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp, tự bổ sung từ kết quả kinh doanh của mình, DN có thể huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán và các tổ chức tài chính trung gian, tín dụng thuê mua và một số nguồn tài trợ khác
- Nguồn vốn ngân sách: Theo chế độ quy định hiện nay, DNNN được ngân
sách nhà nước cấp vốn ngay từ khi thành lập Trong quá trình kinh doanh, căn cứ vào hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà nhà nước có thể xem xét đầu tư bổ sung cho DN trong những trường hợp cần thiết và theo nguyên tắc không hoàn trả
- Nguồn vốn tự bổ sung: DN hoạt động kinh doanh có hiệu quả sẽ dùng phần
lợi nhuận thu được sau khi đã nộp thuế TNDN bổ sung cho nhu cầu vốn của mình Mặt khác, DNNN còn sử dụng toàn bộ số khấu hao để tái đầu tư TSCĐ Đây là một nguồn vốn có tính chất ổn định, khi sử dụng nguồn vốn này sẽ phụ thuộc vào kết quả hoạt động SXKD của DN
- Nguồn vốn liên doanh liên kết: Là nguồn vốn mà DN có được thông qua
hình thức hợp tác kinh doanh hoặc liên kết với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước để có thêm một khoản vốn nhất định nhằm đáp ứng cho nhu cầu về vốn của DN
- Huy động vốn trên thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán là nơi
diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán và các loại giấy ghi nợ trung
và dài hạn Thông qua thị trường chứng khoán giúp cho các DN, tổ chức, cá nhân trao đổi với nhau quyền sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi, đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cho các DN, tạo điều kiện cho các nguồn cung và cầu về vốn gặp gỡ nhau thông qua các hình thức trao đổi thích hợp
- Huy động vốn từ các tổ chức tài chính trung gian:
+ Ngân hàng thương mại: Là một tổ chức kinh doanh tiền tệ qua hệ thống ngân hàng Như vậy, các DN nói chung và DNNN nói riêng là khách hàng thường xuyên của ngân hàng thương mại
Trang 13+ Các Quỹ đầu tư: Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian Các quỹ này dùng vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư trung và dài hạn thông qua các hình thức mua cổ phần, góp vốn liên doanh, cho vay… với mục đích tạo ra lợi nhuận
+ Công ty tài chính: Là một trong những định chế tài chính trung gian Công
ty tài chính không nhận tiền gửi thường xuyên như các ngân hàng mà chỉ sử dụng vốn của công ty để cho nhiều đối tượng khác vay khi các đối tượng đó
có nhu cầu về vốn
Ngoài những nguồn vốn trên, DNNN còn có thể huy động vốn từ những nguồn khác như: mua trả chậm các loại máy móc thiết bị, vay từ cán bộ công nhân viên, thuê tài chính Bên cạnh đó, DN còn có thể sử dụng tạm thời nguồn vốn từ những khoản phải trả khác nhưng chưa đến kỳ hạn trả mà DN có thể tạm thời sử dụng không phải tính lãi và theo nguyên tắc có hoàn trả khi đến kỳ hạn chi trả như các khoản phải thanh toán với công nhân viên, nộp thuế cho Nhà nước…
1.3.1.2 Vấn đề xây dựng cấu trúc vốn tối ưu
Sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung hay của một DN nói riêng chịu sự ảnh hưởng rất lớn vào chính sách, cơ chế tạo lập và huy động các nguồn vốn để tạo nên một cấu trúc vốn hợp lý, một cấu trúc vốn tối ưu cho DN Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các DNNN không chỉ trông chờ vào nguồn vốn ngân sách nhà nước mà cần phải xác lập cho mình một cấu trúc vốn hợp lý, mang lại hiệu quả cao nhất
Cấu trúc vốn của DN là sự kết hợp các nguồn vốn theo một tỷ lệ nào đó để tài trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN Cấu trúc vốn của DN bao gồm hai phần là nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu
a) Nợ dài hạn:
Nợ dài hạn là số tiền mà DN đi vay và cam kết thanh toán cho các chủ nợ trong một thời gian nhất định lớn hơn 1 năm Nợ dài hạn có thể là nợ vay ngân hàng, phát hành trái phiếu Công ty Đây là khoản nợ lâu dài và ổn định, tác động trực tiếp đến cấu trúc vốn của DN Khi nợ dài hạn thay đổi, cấu trúc vốn của DN sẽ
bị ảnh hưởng Các khoản nợ vay dài hạn sẽ tạo ra một khoản chi phí trả lãi vay cố định Các khoản chi phí cố định này chính là nguyên nhân gây ra rủi ro tài chính
Trang 14khi DN gặp khó khăn trong việc chi trả nợ Một DN làm ăn rất có hiệu quả ở hiện tại vẫn có thể gặp phải khó khăn trong tương lai khi vay dài hạn Do đó, việc vay (nợ) dài hạn luôn đi kèm với rủi ro tài chính
Nợ dài hạn là thành phần quan trọng trong việc hoạch định chiến lược phát triển cũng như mở rộng hoạt động SXKD của DN Các DN thường xem nợ dài hạn
là một bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc vốn Nợ dài hạn thường được dùng
để đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, cải tiến chất lượng sản phẩm, cải thiện vị trí cạnh tranh của DN trên thị trường
ty cổ phần, vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các DN luôn phải mở rộng quy mô hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh của mình nên đã không ngừng bổ sung, phát triển vốn của DN Vốn chủ sở hữu có thể lấy từ 2 nguồn: nguồn tài trợ bên trong và nguồn tài trợ bên ngoài Nguồn tài trợ bên trong là từ các quỹ chuyên dùng và kết quả hoạt động kinh doanh Nguồn tài trợ bên ngoài là nhận thêm vốn liên doanh, liên kết dài hạn từ các đơn vị khác, huy động thêm vốn cổ phần từ các cổ đông thông qua việc phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Tóm lại, cấu trúc vốn là sự kết hợp theo một tỷ lệ nhất định giữa các nguồn vốn mà DN sẽ sử dụng nhằm đáp ứng cho nhu cầu vốn của mình Một cấu trúc vốn được gọi là tối ưu khi tại điểm đó tối thiểu hóa được chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị của DN
1.3.1.3 Chi phí sử dụng vốn
Vốn là một yếu tố cần thiết của sản xuất, và giống như các yếu tố khác, nó cũng có chi phí Mỗi nguồn vốn sử dụng đều phải trả một khoản cho quyền sử
Trang 15dụng vốn của nguồn đó được gọi là chi phí sử dụng vốn Hay nói cách khác, giá phải trả cho quyền sử dụng vốn chính là lãi suất làm cân bằng giữa nguồn vốn sử dụng và tổng hiện giá các khoản phải chi trả trong tương lai
Chi phí sử dụng vốn vay là tiền lãi phải trả cho khoản nợ vay đó Đối với vốn chủ sở hữu, các DNNN thường sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp và chi phí sử dụng nguồn vốn này gọi là thu sử dụng vốn ngân sách Nếu DN là công
ty liên doanh hoặc công ty cổ phần thì chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là lợi tức cổ phần phải trả cho các cổ đông Ngoài ra, các DN còn sử dụng vốn tự bổ sung, trong trường hợp này, chi phí sử dụng vốn chính là chi phí cơ hội mà DN mất đi trong trường hợp mang số vốn này ra đầu tư ở bên ngoài
Trong đó: Kd : chi phí sử dụng vốn vay
i : lãi suất tiền vay (danh nghĩa) một năm
m : số kỳ tính lãi trong năm
- Chi phí sử dụng vốn vay dài hạn:
V = (1+KA1
d)1 +
A2(1+Kd)2 + … +
An(1+Kd)n Trong đó: Kd: chi phí sử dụng vốn vay
V: khoản nợ vay dài hạn
Ai: số tiền hoàn trả từng năm (lãi và một phần vốn gốc) n: số năm hoàn trả hết nợ vay và lãi
Nếu A1 = A2 = … = An = A thì:
Trang 16V = A ∑
j=1
n1(1+Kd)j
- Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế:
Trong thực tế, chi phí sử dụng vốn vay sau thuế được giảm một khoản =
KdT so với chi phí sử dụng vốn vay trước thuế (đối với các DN có sử dụng vốn vay, sử dụng được yếu tố này còn gọi là sử dụng tốt "lá chắn thuế")
Kd* = Kd (1 – T)
Trong đó: Kd*: chi phí sử dụng vốn vay sau thuế TNDN
Kd: chi phí sử dụng vốn vay trước thuế TNDN T: thuế suất thuế TNDN
b) Chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC: Weighted Average Cost of Capital)
- Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế TNDN:
WACC = Wd.Kd + Wp.Kp + We.Ke
Trong đó: WACC: Chi phí sử dụng vốn bình quân
Wd : Tỷ trọng nguồn vốn vay
Wp : Tỷ trọng nguồn vốn cổ phần ưu đãi (nếu có)
We : Tỷ trọng nguồn vốn cổ phần thường (hoặc vốn chủ sở hữu)
Kd : Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế TNDN
Kp : Chi phí vốn cổ phần ưu đãi
Ke : Chi phí vốn cổ phần thường (hoặc vốn chủ sở hữu)
- Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế TNDN:
WACC = Wd.Kd(1-T) + Wp.Kp + We.Ke
Trong đó: WACC: Chi phí sử dụng vốn bình quân
Wd : Tỷ trọng nguồn vốn vay
Wp : Tỷ trọng nguồn vốn cổ phần ưu đãi (nếu có)
We : Tỷ trọng nguồn vốn cổ phần thường (hoặc vốn chủ sở hữu)
Kd : Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế TNDN
Kp : Chi phí vốn cổ phần ưu đãi
Trang 17Ke : Chi phí vốn cổ phần thường (hoặc vốn chủ sở hữu)
T : Thuế suất thuế TNDN Công thức trên cho thấy, chi phí sử dụng vốn bình quân phụ thuộc vào 2 nhân tố, đó là tỷ trọng của từng nguồn vốn và chi phí sử dụng vốn của từng nguồn tương ứng Chi phí sử dụng vốn bình quân được sử dụng để tính cơ cấu vốn tối ưu của DN, cơ cấu vốn tối ưu, như đã nêu ở trên, là một cơ cấu vốn mà tại đó giá trị của DN đạt lớn nhất
1.3.2 Vấn đề quản lý vốn
Lựa chọn nguồn vốn, xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu là vấn đề phức tạp nhưng một khi đã có vốn thì quản lý và sử dụng như thế nào cũng không hề đơn giản Vì vậy, khi đề cập tới vấn đề quản lý vốn trong DN cần phải có cơ chế quản
lý khoa học, linh hoạt và thích hợp cho từng loại vốn thì mới mang lại hiệu quả cao nhất
1.3.2.1 Quản lý vốn cố định
Như chúng ta đã biết, vốn chi ra thì phải thu về khi kết thúc vòng tuần hoàn, nhưng phải bảo đảm an toàn cả về mặt giá trị lẫn về mặt hiện vật theo mặt bằng giá hiện tại Như vậy, mục đích của khấu hao là nhằm hình thành nên quỹ khấu hao để tái đầu tư TSCĐ, do đó yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý là phải lựa chọn mô hình khấu hao phù hợp và tính khấu hao phải chính xác
a) Các phương pháp khấu hao
Các phương pháp khấu hao được các DN sử dụng phổ biến hiện nay là: phương pháp khấu hao đường thẳng, khấu hao theo số dư giảm dần, khấu hao tổng
số
Phương pháp khấu hao đường thẳng:
Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng như sau:
- Căn cứ các quy định trong Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản
cố định ban hành kèm theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC, doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định:
Trang 18- Xác định mức trích khấu hao trung bình hàng năm cho tài sản cố định theo công thức dưới đây:
Nguyên giá của tài sản cố định
Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng tài sản cố định được xác định là hiệu số giữa nguyên giá tài sản cố định và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của tài sản cố định đó
Đây là phương pháp khấu hao được sử dụng nhiều, khấu hao được tính đều đặn theo thời gian sử dụng của phương pháp này có ưu điểm là dễ tính góp phần làm cho chi phí sản xuất kinh doanh ổn định Nhưng sử dụng phương pháp này chỉ thu hồi vốn dựa trên hao mòn hữu hình của tài sản Mặt khác, tỷ lệ khấu hao thường do các cơ quan có thẩm quyền ấn định vì vậy đôi khi không sát với tình hình thực tế tại DN trong khi nguyên giá của TSCĐ dùng làm căn cứ tính khấu hao trong điều kiện giá cả và tỷ giá luôn luôn biến động, nên có khi dẫn tới tình trạng
số tiền khấu hao không đủ để tái đầu tư
Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh:
Mức trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh được xác định như sau:
- Xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định:
Doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định theo quy định tại Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định ban hành kèm theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC của Bộ Tài Chính
Trang 19- Xác định mức trích khấu hao năm của tài sản cố định trong các năm đầu theo công thức dưới đây:
Thời gian sử dụng của tài sản cố định
Mức trích khấu hao hàng
năm của tài sản cố định
Giá trị còn lại của tài sản cố định
Tỷ lệ khấu hao nhanh
Tỷ lệ khấu hao
nhanh (%)
Tỷ lệ khấu hao tài sản
cố định theo phương pháp đường thẳng
Tỷ lệ khấu hao tài sản
Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t ≤ 6 năm) 2,0
Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp đã dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định, thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định chia cho số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định
- Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho
12 tháng
Trang 20Ở phương pháp này, tỷ lệ khấu hao cố định lớn hơn tỷ lệ khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng và mức khấu hao lại giảm dần theo thời gian
sử dụng và vì vậy vốn thu hồi rất nhanh nên vừa tính được hao mòn hữu hình vừa hạn chế được hao mòn vô hình
Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm:
Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm như sau:
- Căn cứ vào hồ sơ kinh tế - kỹ thuật của tài sản cố định, doanh nghiệp xác định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của tài sản cố định, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế
- Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của tài sản cố định
- Xác định mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định theo công thức dưới đây:
Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm
Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của tài sản cố định
Trang 21Áp dụng phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm, DN có
thể xác định giá trị khấu hao hàng năm tỷ lệ thuận với hao mòn hữu hình của tài
sản cố định, chi phí khấu hao tỷ lệ thuận với sản lượng sản xuất Tuy nhiên,
phương pháp khấu hao này không hạn chế được hao mòn vô hình của tài sản cố
định
b) Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Để đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ của DN, người ta sử dụng chỉ tiêu hiệu
suất sử dụng VCĐ, được xác định bằng công thức sau:
Doanh thu thuần trong kỳ Hiệu suất sử dụng = -
VCĐ VCĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng VCĐ sử dụng trong hoạt động SXKD có thể tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ Chỉ tiêu này càng cao tức là hiệu quả
sử dụng TSCĐ càng cao
1.3.2.2 Quản lý vốn lưu động
Tài sản lưu động và nợ ngắn hạn được gọi là vốn lưu động
- Tài sản lưu động: Là các loại tài sản có thời hạn sử dụng cho tới 1 năm như:
tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao, tồn kho và các khoản phải thu
- Nợ ngắn hạn: Chúng ta thấy rằng trong TSLĐ của DN có cả các hóa đơn
chưa thanh toán Tín dụng của DN bao gồm các khoản phải thu và các khoản phải
trả Như vậy khoản mục nợ ngắn hạn chính của DN là các khoản phải trả - đó là
khoản nợ phải thanh toán cho một DN khác khi đến hạn Các loại nợ ngắn hạn của
DN còn bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng
VLĐ cần phải được quản trị một cách nghiêm túc Có thể thấy rằng, các
khoản phải thu bị ảnh hưởng bởi chính sách tín dụng của DN đối với khách hàng
Nếu DN đặt ra các yêu cầu khắt khe đối với khách hàng về tổng giá trị nợ tối đa,
thời gian thanh toán các khoản nợ… thì các khoản phải thu sẽ giảm nhưng doanh
thu cũng sẽ giảm xuống Ngược lại, nếu DN nới lỏng các yêu cầu nêu trên thì sẽ có
nhiều khách hàng hơn, doanh thu tăng nhưng các khoản phải thu cũng tăng và rủi
ro không thu hồi được nợ cũng tăng theo Vì vậy, giữa các khoản phải thu và doanh
Trang 22thu luôn có sự biến động cùng chiều khi áp dụng các chính sách tín dụng khác nhau
Các nhận xét nói trên cho thấy đầu tư vào VLĐ có cả chi phí và lợi nhuận
Ví dụ, chi phí đầu tư của DN vào khoản phải thu là lãi suất có thể thu được nếu khách hàng thanh toán hóa đơn của họ sớm hơn DN cũng thường hay quên lãi suất thu nhập khi giữ vốn tiền mặt mà không đầu tư vào các loại chứng khoán thanh khoản cao Vì vậy, định kỳ các DN phải dự tính trước một lượng VLĐ cần thiết tối thiểu để không những đảm bảo đáp ứng đủ vốn cho hoạt động SXKD mà còn tránh được tình trạng vốn bị lãng phí, ứ đọng và đó cũng là cơ sở tạo điều kiện cho DN
sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng VLĐ:
* Tốc độ luân chuyển VLĐ: được phản ánh qua 2 chỉ tiêu:
- Số lần luân chuyển VLĐ (số vòng quay vốn): Nói lên sự vận động của vốn nhanh hay chậm, nó phản ánh số vòng quay VLĐ thực hiện được trong một thời kỳ nhất định, thường tính trong một năm
Số lần luân chuyển VLĐ = Số VLĐ bình quân trong kỳ Doanh thu thuần
- Kỳ luân chuyển VLĐ: Phản ánh số ngày của một vòng quay VLĐ Kỳ luân chuyển càng ngắn thì VLĐ quay vòng càng nhanh
Kỳ luân chuyển VLĐ = Số ngày trong kỳ (365 ngày) Số lần luân chuyển VLĐ
* Mức tiết kiệm VLĐ: Do tăng nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ, DN có thể tiết kiệm được một số VLĐ nhất định
Vtk = 365 x (KM1 1 – K0)
Trong đó: Vtk : Mức tiết kiệm VLĐ
M1 : Tổng mức luân chuyển VLĐ năm nay
K1, K0 : Kỳ luân chuyển VLĐ năm nay và năm trước
Trang 23CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ VỐN TẠI TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM (PETROVIETNAM)
2.1 TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM (PV)
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam là một Tổng Công ty 91, được thành lập ngày 29/05/1995 theo Quyết định số 330/1995/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sắp xếp lại Tổng Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam trực thuộc Thủ tướng Chính phủ, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác, xuất nhập khẩu dầu thô và các vật tư, thiết bị dầu khí đến vận chuyển tàng trữ, cung cấp dịch vụ, chế biến và phân phối sản phẩm dầu khí
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam có tên giao dịch với nước ngoài là Vietnam Oil and Gas Corporation (gọi tắt là Petrovietnam)
Tổng Công ty có trụ sở tại số 22 Ngô Quyền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại: 04-8252526 Fax: 04-8265942
Website: www.petrovietnam.com.vn
E-mail: webmaster@hn.pv.com.vn
Chủ tịch Hội đồng Quản trị hiện nay là ông Phạm Quang Dự
Tổng Giám đốc hiện nay là ông Trần Ngọc Cảnh
Kể từ khi được thành lập, hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Tổng Công ty) đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp, mang lại hiệu quả cao từ khâu đầu đến các khâu sau Hiện nay, Tổng Công ty có hơn 40 đơn vị thành viên, triển khai các hoạt động liên quan đến công nghiệp dầu khí không chỉ ở lãnh thổ Việt Nam mà còn cả ở nước ngoài Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam là đơn vị đóng góp một phần hết sức quan trọng vào Ngân sách nhà nước, trong những năm gần đây, tỷ lệ đóng góp của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam vào Ngân sách nhà nước trung bình khoảng 25%
Cho đến nay, Tổng Công ty đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh
tế quốc gia Trong những năm vừa qua, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty liên tục đạt mức phát triển cao Với mức sản lượng khai thác bình
Trang 24quân 50 nghìn tấn dầu thô/ngày và 16 triệu m3 khối khí/ngày, Việt Nam được xếp
vị trí thứ 31 trên thế giới và thứ ba trong khu vực về sản lượng khai thác dầu khí
Năm 2004, Tổng Công ty đã đặt mục tiêu khai thác 17 triệu tấn dầu thô và 5,74 tỉ
m3 khối khí, đồng thời tích cực triển khai các dự án phát triển từ khâu thượng
nguồn đến khâu hạ nguồn, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, các dịch vụ kỹ
thuật, tài chính, thương mại, bảo hiểm… tạo ra các tiền đề cơ bản cho việc xây
dựng Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam trở thành Tập đoàn kinh tế mạnh
Sau gần 10 năm thành lập, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã không
ngừng lớn mạnh về mọi mặt, góp phần vào việc đưa ngành dầu khí trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn hàng đầu của nước ta
Tình hình cơ cấu vốn của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam trong các năm từ
2001-2003 được trình bày qua bảng 2.1 dưới đây:
BẢNG 2.1: CƠ CẤU VỐN CHỦ SỞ HỮU CỦA TCTDKVN NĂM 2000-2003
(Nguồn: Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam)
Qua Bảng 2.1, ta thấy tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu của Tổng Công ty
từ 31/12/2000 đến 31/12/2003 là 65,29% (tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm
là 18,24%), chi tiết như sau:
2.608.344-1.578.0681.578.068 x 100% = 65,29%
Nguồn vốn tăng chủ yếu do bổ sung từ quỹ đầu tư phát triển và vốn điều lệ
do ngân sách nhà nước cấp cho các đơn vị thành viên Tổng Công ty mới thành lập
Nếu tại thời điểm thành lập, Tổng Công ty chỉ có 20 đơn vị thành viên thì đến nay,
Tổng Công ty đã có tới 45 đơn vị thành viên trong đó có 13 đơn vị hạch toán độc
lập, 3 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 4 đơn vị sự nghiệp và 25 đơn vị liên doanh
Trang 252.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
1) Nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến, tàng trữ, vận chuyển, làm dịch vụ về dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị dầu khí, dầu khí, dầu thô, các sản phẩm dầu khí; lưu thông các sản phẩm dầu khí; tiến hành các hoạt động kinh doanh khác theo pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ khác do Nhà nước giao 2) Tiến hành các hoạt động dầu khí trên toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và hải đảo thuộc chủ quyền nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tiến hành các hoạt động dầu khí ở nước ngoài khi Chính phủ cho phép Mọi hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của các tổ chức, cá nhân khác tại Việt Nam chỉ được tiến hành trên cơ sở ký kết hợp đồng với Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
3) Thực hiện quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, vùng biển, tài nguyên và nguồn lực khác của Nhà nước giao theo quy định của pháp luật để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được Nhà nước giao cho Tổng công
ty trong từng thời kỳ
4) Tiếp nhận, sử dụng có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn Nhà nước giao, bao gồm cả phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp khác và tiếp nhận, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đất đai, vùng biển và các nguồn lực khác Nhà nước giao, để thực hiện mục tiêu kinh doanh và những nhiệm vụ đặc biệt khác được Nhà nước giao
Các lĩnh vực kinh doanh chính của TCTDKVN:
- Tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí nhằm xác định tiềm năng và gia tăng trữ lượng dầu khí, phát hiện thêm nhiều mỏ mới, bảo đảm nhu cầu về sản lượng dầu khí cho đất nước
- Khai thác các tiềm năng khí nhằm tận dụng tiềm năng to lớn về khí thiên nhiên của đất nước cũng như đa dạng hóa và mở rộng thị trường tiêu thụ khí
- Tiến hành các hoạt động chế biến dầu khí nhằm đáp ứng cơ bản nhu cầu của thị trường nội địa về sản phẩm lọc, hóa dầu và phục vụ cho xuất khẩu
- Cung cấp các dịch vụ dầu khí nhằm phát triển năng lực các loại dịch vụ, nhất là dịch vụ kỹ thuật cao, đáp ứng được nhu cầu của hoạt động dầu khí trong nước và từng bước gia tăng hoạt động ở nước ngoài
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Trang 262.1.3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Xin xem trang bên
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
Các ban chức năng:
1 Ban Tài chính Kế toán
2 Ban Kiểm toán nội bộ
9 Ban Đổi mới Doanh nghiệp
10 Ban Khoa học - Công nghệ
11 Ban Quản lý dự án Khí - Điện - Đạm
17 Ban Khai thác dầu khí
18 Ban chế biến dầu khí
19 Ban TCNS - Đào tạo
3 Công ty Dịch vụ Kỹ thuật dầu khí
4 Công ty Thiết kế và xây dựng dầu khí
5 Công ty tư vấn đầu tư xây dựng dầu khí
6 Công ty Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí
7 Công ty Khoan và dịch vụ khoan dầu khí
8 Công ty Dịch vụ và du lịch dầu khí
9 Công ty Tài chính dầu khí
10 Công ty Vận tải dầu khí
11 Công ty Thương mại dầu khí
12 Công ty Bảo hiểm dầu khí
13 Công ty Phân đạm và hóa chất dầu khí
Các đơn vị phụ thuộc:
1 Công ty Thăm dò và Khai thác dầu khí
2 Công ty Đầu tư và Phát triển dầu khí
3 Trường đào tạo nhân lực dầu khí
Các đơn vị sự nghiệp:
1 Viện dầu khí
2 Trung tâm An toàn và Môi trường dầu khí
3 Trung tâm nghiên cứu & Phát triển chế biến dầu
khí
4 Trung tâm Thông tin Tư liệu dầu khí
1 Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsovpetro
2 Công ty liên doanh điều hành Hòan Vũ JOC lô 09.2
3 Công ty liên doanh điều hành Hoàng Long JOC
6 Công ty liên doanh điều hành JOC Trường Sơn
7 Công ty liên doanh điều hành Côn Sơn JOC lô
10, 11.1
8 Công ty liên doanh điều hành VRJ 09.3
9 Tổ hợp địa vật lý Thái Bình Dương
10 Công ty liên doanh sản xuất, sửa chữa cần khoan ống chống - Vietubes
11 Công ty liên doanh cơ khí Petro-Summit
12 Công ty liên doanh hóa chất LG VINA
13 Công ty liên doanh khí hóa lỏng Việt Nam
14 Công ty liên doanh khí hóa lỏng Thăng Long
15 Công ty liên doanh khí hóa lỏng Mêkông
16 Công ty liên doanh dầu khí Mêkông
17 Công ty liên doanh xây lắp Việt Nga
18 Công ty liên doanh Nhựa và hóa chất Phú Mỹ
19 Công ty liên doanh MI - Việt Nam
20 Công ty liên doanh Barit Tuyên Quang - DMC
21 Công ty liên doanh chế biến suất ăn dầu khí
22 Công ty liên doanh Petrovietnam-Sông Trà
23 Công ty liên doanh kinh doanh văn phòng dầu khí Petro Tower
24 Công ty liên doanh đá vôi trắng Nghệ An
25 Hợp đồng hợp tác kinh doanh đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn
CÁC ĐƠN VỊ LIÊN DOANH
BAN KIỂM SOÁT
Trang 272.1.3.2 Bộ máy quản lý của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Căn cứ Nghị định số 38/CP ngày 30/05/1995 của Chính phủ về việc phê chuẩn điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, toàn bộ
hệ thống của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam được tổ chức thành:
- Bộ máy quản lý : Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát
- Bộ máy điều hành : Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc, Kế toán
trưởng và các phòng ban chức năng chuyên môn nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp việc Hội đồng Quản trị và Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành công việc
- Hội đồng Quản trị của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam là người đại diện
chủ sở hữu các nguồn vốn của Tổng Công ty do Nhà nước giao, thực hiện chức năng quản lý hoạt động của Tổng công ty, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về sự phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ Nhà nước giao
- Hội đồng Quản trị có 7 thành viên do Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ
nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng, Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ bao gồm Chủ tịch, Tổng Giám đốc và các thành viên khác Trong đó, Chủ tịch Hội đồng Quản trị không kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty
- Các thành viên chuyên trách của Hội đồng Quản trị được xếp lương cơ bản
theo ngạch viên chức Nhà nước, hưởng lương theo chế độ phân phối tiền lương trong doanh nghiệp Nhà nước theo quy định của Chính phủ, được hưởng tiền thưởng tương ứng với hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Các thành viên kiêm nhiệm được hưởng phụ cấp trách nhiệm và tiền thưởng theo quy định của Chính phủ
Trang 28- Nhiệm kỳ của Hội đồng Quản trị là năm (5) năm Các thành viên Hội đồng
Quản trị có thể được bổ nhiệm lại sau khi hết nhiệm kỳ Nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ làm việc của Hội đồng Quản trị được quy định theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Ban Kiểm soát:
- Hội đồng Quản trị thành lập Ban kiểm soát để giúp Hội đồng Quản trị thực
hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động điều hành của Tổng giám đốc, bộ máy Tổng công ty và các đơn vị thành viên Tổng công ty trong hoạt động tài chính, chấp hành Điều lệ Tổng công ty, nghị quyết và quyết định của Hội đồng Quản trị, chấp hành pháp luật
Chi phí hoạt động, kể cả tiền lương và phụ cấp của Ban kiểm soát tính vào chi phí hoạt động của Hội đồng Quản trị Tổng giám đốc bảo đảm điều kiện làm việc cho Ban kiểm soát theo quy định của Hội đồng quản trị
- Ban Kiểm soát thực hiện nhiệm vụ do Hội đồng Quản trị giao, báo cáo và
chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản trị
- Ban kiểm soát có 4 thành viên, trong đó một thành viên Hội đồng Quản trị
làm Trưởng ban theo sự phân công của Hội đồng Quản trị và ba thành viên khác do Hội đồng Quản trị quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm; gồm một thành viên là chuyên viên kế toán, một thành viên do Đại hội công nhân viên chức Tổng công ty giới thiệu và một thành viên do Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp giới thiệu
- Nhiệm kỳ của thành viên Ban kiểm soát là 5 năm Trong quá trình công tác,
nếu không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị thay thế
- Chi phí hoạt động, kể cả tiền lương và điều kiện làm việc của Ban Kiểm
soát do Tổng Công ty bảo đảm
b) Bộ máy điều hành Tổng Công ty
Bộ máy điều hành Tổng Công ty bao gồm Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng và các phòng ban chức năng giúp việc
Trang 29Tổng Giám đốc: Tổng giám đốc do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn
nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Hội đồng Quản trị và Bộ trưởng, Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ
Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của Tổng công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản trị, Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật về điều hành hoạt động của Tổng công ty Tổng giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất trong Tổng công ty
Các Phó Tổng Giám đốc: Phó tổng giám đốc là người giúp Tổng giám
đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty theo phân công của hoặc uỷ quyền của Tổng giám đốc và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được Tổng giám đốc phân công hoặc uỷ quyền
Kế toán trưởng: Kế toán trưởng giúp Tổng giám đốc chỉ đạo, tổ chức thực
hiện công tác kế toán, thống kê của Tổng công ty, có các quyền và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật
Các phòng (ban) chức năng: Các phòng (ban) chức năng chuyên môn,
nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp việc Hội đồng Quản trị và Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành công việc
Các Trưởng, Phó các phòng (ban) chức năng của Tổng công ty do Tổng Giám đốc bổ nhiệm và miễn nhiệm Bộ máy tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của các phòng (ban) chức năng do Hội đồng Quản trị quy định theo đề nghị của Tổng Giám đốc
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY
DẦU KHÍ VIỆT NAM
Kể từ khi thành lập đến nay, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã không ngừng phát triển lớn mạnh hướng tới mục tiêu trở thành Tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước, hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ, chi tiết như sau:
a) Tình hình tài chính:
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam luôn bảo đảm được việc bảo toàn và phát triển nguồn vốn Nhà nước giao, theo đó, vốn chủ sở hữu của Tổng Công ty đã
Trang 30tăng từ 1.578.068.000 USD (31/12/2000) lên 2.608.344.000 USD (31/12/2003), tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 18,24%
b) Tình hình khai thác và xuất khẩu dầu khí:
Năm 2003, Tổng Công ty đã khai thác được 20,673 triệu tấn dầu quy đổi, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó:
- Sản lượng dầu thô khai thác đạt 17,621 triệu tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ
Hổ, Đại Hùng gia tăng sản lượng khai thác
Cùng với sự gia tăng về sản lượng khai thác, sản lượng xuất khẩu dầu thô cũng tăng lên đáng kể, cụ thể là trong năm 2003, xuất khẩu dầu thô của Việt Nam đạt 17,180 triệu tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2002
Nhằm tận dụng tiềm năng to lớn về khí thiên nhiên của đất nước, trong năm
2003, sản lượng khí bán cho điện năm 2003 là 2,384 triệu m3 Ngoài ra, khí thiên nhiên cũng được sử dụng để sản xuất 151 nghìn tấn condensate và 363 nghìn tấn khí hóa lỏng (LPG)
c) Tình hình doanh thu:
Tổng doanh thu toàn Tổng Công ty năm 2003 đạt 3.598.651.000 USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2002 Trong đó:
- Doanh thu khai thác dầu khí : 2.344.815.000 USD
- Doanh thu khí hóa lỏng : 68.803.000 USD
- Doanh thu khác : 1.185.033.000 USD
d) Lợi nhuận và nộp ngân sách nhà nước
Trang 31Lợi nhuận trước thuế của Tổng Công ty năm 2003 là 1.084.351.000 USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2002
Thu nộp ngân sách nhà nước của Tổng Công ty chiếm một phần quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước, trong năm 2003, Tổng Công ty nộp ngân sách nhà nước 35.228 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2002
Có thể khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty Dầu khí
Việt Nam qua kết quả thực hiện kế hoạch từ năm 2001 đến năm 2003 như Bảng 2.2
dưới đây:
BẢNG 2.2: KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH GIAI ĐOẠN 2001-2003 CỦA TCTDKVN
Năm Stt Chỉ tiêu Đơn vị
2001 2002 2003
Tốc độ PT bình quân 2001-2003
I Sản lượng dầu khí
Triệu tấn dầu quy
1 Dầu thô Triệu tấn 17,000 17,097 17,621
- Bạch Hổ và Rồng Triệu tấn 13,460 13,513 13,120
- Đại Hùng Triệu tấn 0,140 0,123 0,070
- Rạng Đông, Ruby Triệu tấn 3,170 3,070 3,390
- PM3 - Cái Nước Triệu tấn 0,230 0,391 0,550
II Xuất khẩu dầu thô Triệu tấn 16,830 16,860 17,180
Trang 32V Nộp ngân sách NN Tỷ đồng 27.135 31.512 35.228 13,9%
1 Ngoại tệ Triệu USD 1.444 1.627 1.718
2 Nội tệ Tỷ đồng 8.598 7.100 8.591
(Nguồn: Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam)
Trong 6 tháng đầu năm 2004, sản lượng khai thác dầu khí ước đạt xấp xỉ 12,9 triệu tấn (quy dầu), bằng 55,5% kế hoạch năm, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2003 Trong đó có trên 10 triệu tấn dầu thô, gần 2,9 tỉ mét khối khí; tăng trên 1,2 triệu tấn dầu thô và 1,3 tỉ mét khối khí so với cùng kỳ năm 2003 Xuất khẩu dầu thô đã đạt 9,7 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2,5 tỉ USD; khí khô cung cấp cho ngành điện đạt xấp xỉ 2,3 tỉ mét khối; nộp ngân sách nhà nước ước đạt 74% kế hoạch năm
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA TỔNG CÔNG
TY DẦU KHÍ VIỆT NAM
Vốn của Tổng Công ty bao gồm vốn của các đơn vị phụ thuộc và các đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty Quá trình quản lý vốn giữa Tổng Công ty và các đơn vị được tiến hành thông qua quy chế tài chính do Chính
phủ phê duyệt ( Phụ lục 8: Bản dự thảo quy chế tài chính của Tổng Công ty Dầu
khí Việt Nam)
2.3.1 Vấn đề tạo lập vốn
2.3.2.1.Các nguồn cung cấp vốn của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Các nguồn vốn dùng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty
bao gồm:
a) Vốn của Tổng Công ty
Do Tổng Công ty là doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn ban đầu do Nhà nước cấp Tổng Công ty được Nhà nước giao vốn để sử dụng vào hoạt động kinh doanh, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn được giao Trên cơ sở đó, Tổng Công ty giao vốn lại cho các doanh nghiệp thành viên và đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp thành viên phải bảo toàn vốn và phát triển vốn được giao Tổng Công ty có quyền điều hòa vốn giữa các đơn vị thành viên thừa vốn sang các đơn
vị thiếu vốn tương ứng với nhiệm vụ kinh doanh đã được Tổng Công ty phê duyệt
Trang 33Nguồn vốn chủ sở hữu tại Tổng Công ty đến thời điểm 31/12/2003 là 2.608.344.000 USD, tăng 11,3% so với thời điểm 31/12/2002 và tăng gần 2 lần so với thời điểm 31/12/1999 Phần vốn tăng chủ yếu là do bổ sung từ quỹ đầu tư phát triển của Tổng Công ty (từ việc trích lợi nhuận để lại)
b) Nguồn vốn khấu hao cơ bản
Về thực chất, đây là nguồn vốn do trích khấu hao cơ bản nhằm thu hồi vốn đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp Theo quy định của Bộ Tài chính, toàn
bộ vốn khấu hao cơ bản thuộc vốn Nhà nước được để lại doanh nghiệp để tái đầu
tư Khoản thu hồi này không làm tăng nguồn vốn của doanh nghiệp nhưng nó thể hiện số vốn doanh nghiệp chưa sử dụng tới Trên báo cáo tài chính, nguồn vốn này được theo dõi trong tài khoản ngoài bảng 009 Tổng Công ty có thể huy động một phần hoặc toàn bộ khấu hao tài sản cố định của Tổng Công ty giao cho các đơn vị thành viên để đầu tư tập trung theo nguyên tắc ghi tăng giảm vốn của các đơn vị thành viên Tổng Công ty cũng có thể huy động vốn khấu hao cơ bản có nguồn gốc
từ vốn tự có hoặc từ Ngân sách nhà nước của các đơn vị thành viên theo hình thức vay với lãi suất nội bộ
c) Các nguồn quỹ của Tổng Công ty
Quỹ đầu tư phát triển (được trích từ lợi nhuận để lại với tỷ lệ tối thiểu 50%)
là nguồn bổ sung vốn hàng năm của Tổng Công ty Vì vậy, nguồn tài trợ này phụ thuộc rất lớn vào kết quả kinh doanh của Tổng Công ty
Đối với khoản lợi nhuận để lại, ngoài trích lập quỹ đầu tư phát triển tối thiểu 50%, Tổng Công ty còn phải trích lập quỹ dự phòng tài chính 10%, quỹ nghiên cứu khoa học và đào tạo 10%, quỹ khen thưởng phúc lợi, nếu sau khi trích còn dư thì chuyển vào quỹ đầu tư phát triển Các quỹ này đều có mục đích sử dụng cụ thể theo quy định của Bộ Tài chính, tuy nhiên chế độ hiện hành cho phép trong trường hợp cần thiết, DN có thể tạm chiếm dụng các quỹ này phục vụ cho hoạt động kinh doanh với nguyên tắc có hoàn trả
d) Nguồn vốn chiếm dụng
Bên cạnh việc bị khách hàng chiếm dụng vốn thì TCT cũng chiếm dụng lại vốn về các khoản phải trả như thuế phải trả, các khoản phải trả nhà cung cấp Tận
Trang 34dụng được nguồn chiếm dụng này cũng là một ưu thế vì chi phí sử dụng vốn cho nguồn này bằng không
e) Vay ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng
Vay ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng là khoản vay lâu dài, có tác động trực tiếp đến cấu trúc vốn của DN vì khi số tiền vay thay đổi, cấu trúc vốn của DN
sẽ thay đổi theo Các khoản nợ vay dài hạn sẽ tạo ra chí phí trả lãi vay cố định Khi
DN gặp khó khăn trong việc chi trả nợ thì khoản vay dài hạn luôn đi kèm với rủi ro tài chính Mặc dù vậy, trong thực tế rất ít DN nào tài trợ cho các hoạt động của mình hoàn toàn bằng nguồn vốn chủ sở hữu, nợ dài hạn luôn được xem là một bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc vốn của DN bên cạnh nguồn vốn chủ sở hữu Hơn nữa, việc lãi vay được tính là chi phí trước thuế thu nhập DN nên tạo ra một
"lá chắn thuế" cho các DN, làm giảm chi phí vốn vay và làm cho chi phí vốn vay sau thuế nhỏ hơn chi phí vốn vay trước thuế Tùy theo phương án kinh doanh cụ thể, DN có thể tiến hành vay vốn để tài trợ cho dự án trên nguyên tắc suất sinh lời của dự án phải bằng hoặc cao hơn lãi suất vay
Theo quy chế tài chính TCT, các thành viên hạch toán độc lập nếu có phương án kinh doanh tốt được TCT chấp thuận thì có thể vay tại các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, còn các thành viên hạch toán phụ thuộc thì tùy theo phân cấp của TCT mà có thể vay tại các ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoặc phải được TCT bảo lãnh khi vay Trong năm 2003, tổng số tiền vay ngắn hạn và dài hạn qua ngân hàng của TCT là 436.763.000 USD Tỷ lệ vốn vay trong cơ cấu vốn của TCT tuy có tăng dần trong những năm gần đây nhưng nhìn chung còn khá thấp, mà chủ yếu TCT sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu (sẽ được trình bày trong phần Chi phí sử dụng vốn)
2.3.1.2.Cấu trúc vốn của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Cấu trúc vốn đề cập đến phương thức vốn dài hạn Vì vậy, cấu trúc vốn bao gồm nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu Trong khi đó, cấu trúc tài chính đề cập đến phương thức tài trợ cho tài sản của DN nói chung, cho nên cấu trúc tài chính gồm
có nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu
Xét theo cấu trúc tài chính thì tình hình vốn của TCTDKVN được biểu thị
qua Bảng 2.3 dưới đây:
Trang 35BẢNG 2.3: CƠ CẤU VỐN CỦA TCTDKVN
ĐVT: Nghìn USD Stt Chỉ tiêu Số đầu năm Số cuối năm Số trung bình
Năm 2001 2.525.643 2.865.203 2.695.423 Năm 2002 2.865.203 3.596.089 3.230.646 Năm 2003 3.596.089 3.929.525 3.762.807
Năm 2001 1.578.068 1.946.501 1.762.285 Năm 2002 1.946.501 2.344.322 2.145.412 Năm 2003 2.344.322 2.608.344 2.476.333
Năm 2001 334.100 410.621 372.361 Năm 2002 410.621 679.990 545.306 Năm 2003 679.990 720.311 700.151
Năm 2001 613.475 508.081 560.778 Năm 2002 508.081 571.777 539.929 Năm 2003 571.777 600.870 586.324 (Nguồn: TCT Dầu khí Việt Nam)
Tỷ trọng các nguồn vốn được biểu thị qua Bảng 2.4 dưới đây:
Năm
2002
Tỷ trọng
Năm
2003
Tỷ trọng
Như trên đã nói, cấu trúc tài chính là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu còn cấu trúc vốn chỉ bao gồm nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu,
do đó, cấu trúc vốn là một thành phần của cấu trúc tài chính
Cấu trúc vốn của TCTDKVN được trình bày qua Bảng 2.5 dưới đây:
Trang 36Như vậy, xét về cả hai mặt cấu trúc tài chính và cấu trúc vốn thì vốn chủ sở hữu đều chiếm tỷ trọng lớn (chiếm khoảng 66% trong tổng nguồn vốn trong 3 năm 2001-2003 và chiếm 78% trong cấu trúc vốn trong năm 2003) Nợ dài hạn tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong cấu trúc vốn nhưng cũng đã tăng dần trong những năm gần đây, theo đó, năm 2003, nợ dài hạn chiếm 22% trong cấu trúc vốn Nguyên nhân là do trong những năm gần đây TCTDKVN đang thực hiện nhiều dự án đầu
tư trọng điểm như dự án xây dựng đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn, dự án Khí - Điện - Đạm Cà Mau, dự án nhà máy Đạm Phú Mỹ, dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất
2.3.1.3.Chi phí sử dụng vốn:
a) Chi phí sử dụng vốn vay
Chi phí sử dụng vốn vay là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận của TCTDKVN Do đó, đánh giá vế vốn vay và chi phí sử dụng vốn vay là vấn đề cần thiết trong quản lý vốn của các tổ chức nói chung và TCTDKVN nói riêng
Tình hình chi tiết vốn vay ngân của TCTDKVN trong 3 năm 2001-2003
được trình bày qua Bảng 2.6 dưới đây:
Trang 37BẢNG 2.6: VỐN VAY VÀ CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN VAY CỦA TCTDKVN
ĐVT: Nghìn USD
Năm Khoản mục Số dư đầu
năm
Vay trong năm
Trả trong năm
Số dư cuối năm
Lãi vay trong năm
Chi phí
sử dụng vốn vay bình quân
Chi phí sử dụng vốn vay bình quân ở Bảng 2.6 được tính theo công thức
sau:
Chi phí sử dụng Lãi vay trong năm
vốn vay bình quân Vốn vay bình quân trong năm
Mỗi nguồn vốn mà DN sử dụng có chi phí sử dụng vốn khác nhau, chi phí
sử dụng vốn bình quân phụ thuộc vào 2 nhân tố, đó là tỷ trọng của từng nguồn vốn
và chi phí sử dụng vốn của từng nguồn tương ứng
Nguồn vốn và tỷ trọng từng loại vốn sử dụng của TCTDKVN được trình
bày qua Bảng 2.7 dưới đây
Trang 38dụng 823.934 30,57% 801.797 24,82% 849.711 22,58%(Nguồn: TCT Dầu khí Việt Nam)
Để xác định chi phí sử dụng vốn bình quân, trước hết ta phải xác định chi phí từng loại vốn thành phần Đối với vốn vay, chi phí sử dụng vốn là lãi vay ngân hàng mà DN phải trả, đối với vốn chiếm dụng, chi phí sử dụng vốn là 0% Riêng đối với vốn chủ sở hữu có nguồn gốc từ ngân sách cấp, theo thông tư số 30/2002/TT-BTC ngày 27/03/2002 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn tạm thời khoản tiền sử dụng vốn nhà nước tại DN, mức thu sử dụng vốn năm 2001 phải nộp ngân sách là 1,8%/năm tính trên toàn bộ vốn cho 2 nguồn: nguồn vốn kinh doanh
và nguồn vốn XDCB trích từ lợi nhuận sau thuế Từ năm 2002, mức trích không thay đổi nhưng DN được giữ lại toàn bộ số trích này để bổ sung vốn Do đó, có thể coi như từ năm 2002, chi phí cho việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu là 0%
Như trên đã nêu, chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu năm 2001 là 1,8% trên vốn kinh doanh và vốn XDCB, tuy nhiên mức trích này được lấy từ lợi nhuận sau thuế,
do vậy chi phí thực tế cho việc sử dụng nguồn vốn này là: 1,8% * (1 + 32%) = 2,376% (trong đó 32% là mức thuế TNDN) Hơn nữa, mức thu này chỉ tính trên hai nguồn: vốn kinh doanh (1.300.359 nghìn USD) và vốn XDCB (158.675 nghìn USD), do vậy, chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu thực tế là:
(1.300.359 + 158.675)
1.762.285 x 2,376% = 1,967%
Chi phí sử dụng vốn bình quân của TCTDKVN được trình bày qua Bảng 2.8 như sau:
Trang 39BẢNG 2.8: CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN BÌNH QUÂN CỦA TCTDKVN
Tỷ trọng
Chi phí sử dụng vốn
Tỷ trọng
Chi phí
sử dụng vốn
Tỷ trọng Vốn chủ sở hữu 1,967% 65,38% 0% 66,41% 0% 65,81%
Chi phí sử dụng
(Nguồn: TCT Dầu khí Việt Nam)
Qua Bảng 2.8 ta thấy, chi phí sử dụng vốn bình quân của TCT năm 2003
giảm đáng kể so với năm 2001 (từ 1,483% xuống còn 0,497%) do chính sách của
Nhà nước cho để lại tiền thu sử dụng vốn của DN mà nguồn vốn này chiếm tỷ
trọng lớn trong TCT Mặc dù chi phí sử dụng vốn bình quân năm 2003 cao hơn
năm 2002 nhưng nguyên nhân là do tỷ trọng vốn vay trong tổng vốn tăng lên từ
8,77% lên 11,61%; chi phí sử dụng vốn vay năm 2003 là 4,12% giảm đi so với
năm 2002 là 4,23%
Việc nhà nước cấp vốn mà không thu sử dụng vốn của DN tạo ra lợi thế cho
TCT Tuy nhiên, do sự hoạt động thiếu đồng bộ cũng như sự luân chuyển vốn
không hợp lý giữa các DN thành viên trong TCT nên đã xảy ra tình trạng trong lúc
một số DN thừa vốn thể hiện ở số tiền gửi ngân hàng luôn ở mức cao (tổng cộng
toàn TCT cuối năm 2003 là 1.015.346 nghìn USD), một số DN khác lại thiếu vốn
phải đi vay Cụ thể là trong năm 2003, lãi tiền vay phải trả là 18.013 nghìn USD
trong khi lãi tiền gửi ngân hàng là 8.346 nghìn USD Nếu luân chuyển, sử dụng
vốn hiệu quả, TCT sẽ giảm được chi phí cho khoản chênh lệch này Như vậy trong
Trang 40thực tế, TCT còn phải chịu thêm những chi phí do những khoản vay có thể bù đắp được bằng chính nguồn vốn của mình Khoản chi phí này là chênh lệch giữa lãi suất khoản tiền nhàn rỗi của TCT gửi ngân hàng và lãi suất vay ngân hàng thường cao hơn nhiều lần (4% so với 1%/năm đối với USD)
Như vậy, chi phí tăng thêm khi DN phải đi vay thay vì sử dụng vốn tự có trong năm 2003 là: 18.013 nghìn USD x (4%-1%)4% = 13.510 nghìn USD
Điều này có nghĩa là lợi nhuận sẽ giảm một khoản tương ứng là 13.510 nghìn USD
2.3.2 Phân tích hiệu quả quản lý và sử dụng vốn của Tổng Công ty Dầu khí
Qua Bảng 2.9 ta thấy, từ năm 2000 đến 2003, TCTDKVN không có sự đầu
tư lớn về TSCĐ, bởi vì đầu tư vào các công trình dầu khí trọng điểm vẫn chưa