1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mô hình thí điểm cải cách kinh tế ở trung quốc – nghiên cứu trường hợp các đặc khu kinh tế

16 400 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 504,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước khi tiến hành chuyển đổi năm 1978, chế độ quyền tài sản phổ biến nhất ở Trung Quốc là chế độ quyền tài sản công hữu với quyền sở hữu ownership nằm trong tay nhà nước, và chủ sở hữ

Trang 1

Mô hình thí điểm cải cách kinh tế ở Trung Quốc – Nghiên cứu trường hợp các đă ̣c khu kinh tế

Nguyễn Thị Quỳnh Thúy

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn Thạc sĩ Châu Á ho ̣c; Mã số: 60 31 50

Nghd: TS Phạm Sỹ Thành Năm bảo vệ: 2014

Keywords: Châu Á học; Đặc khu kinh tế; Cải cách kinh tế; Trung quốc

Contents:

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ khi chính thức tiến hành cải cách (năm 1978) đến nay, kinh tế Trung Quốc đã có những chuyển biến làm thế giới phải khâm phục Trong giai đoạn 1978 – 2007, Trung Quốc duy trì được mức tăng trưởng GDP bình quân 9,7%/năm, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình 3% của thế giới Trong suốt chiều dài từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, mức GDP bình quân của Trung Quốc hầu như không có sự chuyển biến đáng kể nào Trong tiến trình ấy, xuất hiện hai mốc thời gian mà GDP bình quân xuất hiện quỹ tích khác so với thời gian trước Đó là khoảng năm 1850

và 1978 Sau cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất (1840), Trung Quốc từ chỗ chiếm 32,88% trong tổng GDP toàn thế giới đã đánh mất vị trí của mình, và kéo dài đà suy thoái trầm trọng đó cho đến năm 1973 Quốc gia này chỉ khởi sắc sau khi tiến hành chuyển đổi dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình vào năm 1978 Từ mốc thời gian này trở đi, quỹ tích phát triển của đường GDP bình quân đã thay đổi với một tốc độ đáng kinh ngạc Có thể nói không quá rằng về tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nô ̣i , những gì mà Trung Quốc đa ̣t được trong giai đoa ̣n hơn 30 năm qua

Trang 2

bằng 1000 năm trước đó của quốc gia này cô ̣ng la ̣i Bất kể sự trỗi dậy của Trung Quốc được coi như là một cơ hội hay là sự “uy hiếp” đối với thế giới thì chúng ta đều phải thừa nhận rằng “con rồng Trung Hoa” đã tỉnh giấc

Lý giải về nguyên nhân thành công của quá trình chuyển đổi kinh tế tại Trung Quố c từ năm

1978 đến nay, các nghiên cứu thường tập trung vào 3 khía cạnh chính: (i) sự tái phân phối quyền tài sản; (ii) xây dựng thể chế kinh tế thi ̣ trường và (iii) tâ ̣n du ̣ng vai trò của thi ̣ trường bên ngoài – quá trình hội nhâ ̣p

Nguyên nhân quan trọng đầu tiên đó là cải cách đã tiến hành phân định lại quyền tài sản hướng đến chủ thể quyền tài sản cụ thể Điều này tạo ra động lực phát triển vô cùng mạnh mẽ Trước khi tiến hành chuyển đổi năm 1978, chế độ quyền tài sản phổ biến nhất ở Trung Quốc là chế độ quyền tài sản công hữu với quyền sở hữu (ownership) nằm trong tay nhà nước, và chủ sở hữu danh nghĩa là “toàn dân” Ở nông thôn, chế độ sở hữu tập thế với sự hiện diện của các hợp tác xã được coi là một hình thức “chuẩn – sở hữu nhà nước” và là hình thức sở hữu hợp pháp duy nhất trong sản xuất nông nghiệp Việc coi kinh tế xã hội chủ nghĩa = địa vị thống trị của chế độ quốc hữu + kinh tế kế hoạch [51, 59] khiến Trung Quốc luôn phải đối diện với những khó khăn lớn bởi bản thân chế độ quyền tài sản công hữu tồn tại nhiều hạn chế rõ rệt

Chế độ quyền tài sản công hữu mang đặc tính rõ nét của một chế độ quyền tài sản tàn

khuyết (残缺产权制度) Biểu hiện của đặc tính này là giữa quyền tài sản được ghi nhận và bảo

vệ bởi luật pháp (hoặc luật tục) với quyền tài sản thực thi trong thực tế luôn tồn tại sự bất cân xứng Barzel [9] chỉ ra rằng việc phân định/giới định quyền sở hữu về một tài sản nào đó trên khía cạnh pháp luật luôn dễ dàng và có chi phí thấp hơn rất nhiều so với việc thực thi nó trong thực tế Bởi lẽ bất kể quyền tài sản được phân định như thế nào (hình thái cực đoan - chế độ công hữu, hay ở một thái cực khác - chế độ tư hữu) thì trong hoạt động kinh tế vẫn luôn tồn tại một

“trường/miền công cộng” (public domain) Nghĩa là, chi phí để thực hiện quyền sở hữu quá lớn khiến chủ thể quyền tài sản khó lòng đảm bảo được khả năng ngăn cản, “loại trừ” người khác sử dụng Barzel [9] gọi quyền lợi của cá nhân xác lập được ở trong “trường/miền công cộng” này là

“cướp đoạt phúc lợi” (walfare capture) Việc tài sản bị sử dụng “miễn phí” như sẽ gây ra những tổn thất phúc lợi hoặc làm “hao tán tiền tô” (rent dissipation) Mà hậu quả trực tiếp dễ nhận thấy nhất là khả năng làm cạn kiệt các nguồn lực mang tính công cộng

Bên cạnh đó, sự tồn tại của một chế độ quyền tài sản công hữu mang tính tàn khuyết còn khiến cho cơ chế khích lệ (incentive regime) không phát huy tác dụng khi chế độ quyền tài sản

Trang 3

này chỉ tạo điều kiện để các “phi chủ thể sở hữu” được khuyến khích sử dụng miễn phí nhưng lại không phải chịu trách nhiệm gì với hành vi của mình Nhìn lại sự phát triển của công xã nhân dân và các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở nông thôn hay các xí nghiệp quốc doanh (sau này

là doanh nghiệp nhà nước) ở thành thị có thể thấy rõ những tác hại này của chế độ quyền tài sản công hữu Khi tất cả tài sản là của chung, làm nhiều làm ít đều hưởng đãi ngộ như nhau, kinh doanh lỗ hay lãi đều không ảnh hưởng đến thu nhập của cá nhân thì giám đốc xí nghiệp, công nhân viên chức trong nhà máy và nông dân trong hợp tác xã đều chỉ làm việc “cầm chừng” cho

đủ chỉ tiêu và vừa đủ hoàn thành kế hoạch được giao Nhưng khi thực hiện những cải cách về chế độ sở hữu, thành tích của kinh tế nông nghiệp và của các doanh nghiệp nhà nước (một thời gian đầu) đã thay đổi hoàn toàn hoặc khởi sắc hơn rất nhiều

Nguyên nhân thứ hai là xây dựng và vận dụng thể chế kinh tế thị trường Xung quanh vấn

đề vì sao thể chế kinh tế kế hoạch ở các nước xã hội chủ nghĩa lại vận hành kém hiệu quả, các nhà kinh tế học nổi tiếng thế giới đã triển khai nhiều đợt tranh luận sôi nổi [51] Trong đó, có thể

kể đến những phê phán xuất sắc của L von Misses (1881 - 1973), F von Hayek (1899 - 1992) hay những phản biện của các nhà kinh tế bênh vực cho kinh tế kế hoạch như M Dobb (1900 - 1976), M Taylor (1855 - 1932), P Lerner (1903 - 1982) và O Lange (1904 - 1965) Những tranh luận của các nhà kinh tế nêu trên chủ yếu xoay quanh vấn đề chính phủ có thể thay thế thị trường để cung cấp tín hiệu quan trọng bậc nhất (là giá cả) trong việc điều phối và phân bổ các nguồn lực hay không? Kinh tế thị trường có thể làm tăng lượng của cải xã hội Lí thuyết kinh tế học Tân cổ điển chỉ ra rằng việc chuyển từ định giá theo kế hoạch sang thị trường định giá khiến cho mức thặng dư của người tiêu dùng và người sản xuất tăng lên Do giá kế hoạch tương đối cố định và phản ứng kém linh hoạt với những dịch chuyển khỏi điểm cân bằng của quan hệ cung cầu, nên giá kế hoạch thường chệch khỏi mức “giá cân bằng” của thị trường Điều này khiến cho sản xuất trong nền kinh tế thị trường nếu không rơi vào tình trạng thiếu hụt thì cũng bị dư thừa quá mức, tất yếu sẽ gây ra những tổn thất thặng dư cho người sản xuất và tiêu dùng

Cách giải thích của Kinh tế học Hợp đồng đơn giản hơn J Buchanan chỉ ra rằng, tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá hiệu quả là tính nhất trí cao của sự đồng thuận “Đồng thuận” có nghĩa là những bên tham gia giao dịch sau khi trải qua sự cân nhắc về chi phí – lợi ích, cho rằng một giao dịch thực hiện sắp xếp/phân bổ nguồn lực là có lợi cho bản thân, hoặc ít nhất là vô hại

“Không đồng thuận” vì có nghĩa là các bên hoặc một bên tham gia giao dịch cho rằng giao dịch không đem lại ích lợi cho họ Điều cần chú ỳ là trong giao dịch ấy, các chủ thể giao dịch là

Trang 4

những chủ thể bình đẳng, có quyền tự quyết, do vậy, giao dịch về bản chất là một quá trình trao đổi tự do và tự nguyện Kinh tế học dễ dàng chứng minh được xét từ góc độ xã hội, giao dịch mà trong đó ít nhất một bên không “đồng thuận” có tổng hiệu dụng thấp hơn so với giao dịch có sự đồng thuận của tất cả các bên Trong một giao dịch tự do trên thị trường, khi một bên nhận thấy giao dịch cho rằng giao dịch không làm tăng "độ thỏa dụng" (phúc lợi) của mình hoặc sẽ làm mình bị thiệt hại họ có thể sẽ rút lui Sự rút lui hàm ý các giao dịch tự do trên thị trường cho phép chủ thể giao dịch tránh được các tổn thất không cần thiết,xét từ góc độ kinh tế, khi một chủ thể rút lui khỏi giao dịch không hiệu quả họ đã hạn chế việc các nguồn lực bị phân bổ lãng phí, kém hiệu quả Nền kinh tế kế hoạch với cách quản lí thông qua cơ chế mệnh lệnh hành chính luôn xuất hiện tình trạng ít nhất một bên tham gia giao dịch không đồng thuận Do vậy, việc thực hiện chuyển đổi từ cơ chế điều phối mệnh lệnh sang cơ chế điều phối đàm phán tự do khiến hiệu quả của giao dịch được cải thiện rõ rệt, qua đó nâng cao tổng lượng của cải xã hội

Những nỗ lực cải cách theo hướng thị trường hóa trước hết tập trung vào cải cách giá cả Trong đó, một kinh nghiệm đáng lưu ý là việc thực hiện “chế độ hai giá” (价格双轨制) – giá do nhà nước qui định (giá kế hoạch) và giá thị trường Trung Quốc trước cải cách hầu như không tồn tại thị trường với ý nghĩa thực sự của nó Các hàng hóa tiêu dùng và tư liệu sản xuất đều được lưu thông theo chế độ phân phối Đến đầu thập niên 1980, sau khi các loại hình doanh nghiệp phi quốc hữu xuất hiện và đạt được sự phát triển mạnh, thể chế phân phối này không thể tiếp tục tồn tại lưu dài, nếu không các doanh nghiệp này sẽ không thể tiếp tục tồn tại và phát triển Trước tình hình đó, năm 1979, chính phủ Trung Quốc ban hành “Một số quyết định về việc

mở rộng quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh”, cho phép doanh nghiệp tự mình tiêu thụ toàn bộ số sản phẩm “vượt kế hoạch” Tháng 1 năm 1985, Cục Vật giá quốc gia và Cục vật tư quốc gia ban hành văn bản “Thông báo về việc buông luông giá đối với các sản phẩm công nghiệp mang tính tư liệu sản xuất vượt kế hoạch” Văn bản này cho phép các doanh nghiệp mua bán sản phẩm “ngoài kế hoạch” theo giá thị trường Đối với các doanh nghiệp nhà nước từ trước năm 1983 vẫn có quyền nhận vật tư theo kế hoạch nhà nước thì được tiếp tục mua số vật tư cần cho sản xuất theo giá nhà nước phân phối, dựa trên cơ số phân phối năm 1983 Số tư liệu sản xuất cần có nếu vượt quá cơ số năm 1983 thì phải mua lại theo giá thị trường Hiện nay, hầu hết các hàng hóa và tư liệu sản xuất ở Trung Quốc đều do thị trường định giá

Trang 5

Nguyên nhân thứ ba, Trung Quốc đã tận dụng được các cơ hội từ quá trình hội nhập của mình Nhìn lại lịch sử phát triển của Trung Quốc và nhìn vào mức độ gắn kết của Trung Quốc với nền kinh tế thế giới hiện nay, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin rằng nếu quá trình cải cách không gắn liền với mở cửa thì rất có thể những thành tựu ngày hôm nay sẽ không còn ấn tượng như những gì chúng ta đang chứng kiến Năm 1980, thời điểm mà Trung Quốc mới bắt đầu tiến hành quá trình chuyển đổi (transformation), quốc gia này chỉ chiếm hơn 2% tổng GDP thế giới

và chưa đầy 2% tổng giá trị thương mại toàn cầu [8, 11-13] 30 năm sau, tỉ trọng GDP của quốc gia này đã chiếm khoảng 9% của toàn thế giới và cũng đóng góp khoảng 9% trong tổng mức thương mại toàn cầu Năm 2009, FDI vào Trung Quốc chiếm 7% lượng FDI toàn cầu trong khi con số này của năm 1980 chỉ là 1%, đồng thời lượng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc cũng tăng từ mức không đáng kể (năm 2004) lên 4% toàn cầu (năm 2009) [8, 11-13]

Tuy nhiên, các nghiên cứu so sánh để tìm hiểu về nguyên nhân thành công của quá trình chuyển đổi kinh tế ta ̣i Trung Quốc chưa thực sự nhiều Đặc biệt, thiếu các nghiên cứu và nghiên cứu so sánh sau về quá trình chuyển đổi ta ̣i Trung Quốc:

(i) Nghiên cứ u cách thức chuyển đổi của quốc gia này từ góc đô ̣ thuần túy lý thuyết kinh tế học;

(ii) So sánh từ góc đô ̣ thuần túy lí thuyết cách thức chuyển đổi của Trung Quốc với các cách thức của quốc gia Đông Âu, Nga v.v.;

(iii) Các nghiên cứu trường hợp về cách thức chuyển đổi , quá trình hoạch định chính sách chuyển đổi, điều kiê ̣n ban đầu của chuyển đổi , thiết lâ ̣p các thể chế mới trong quá trình chuyển đổi v.v

Tầm quan tro ̣ng của viê ̣c nghiên cứu về cách thức chuyển đổi thể hiê ̣n ngày càng rõ nét sau khi “mô hình Trung Quốc” được nêu lên như mô ̣t tương phản với “mô hình chuyển đổi s hock” không chỉ về cách thức mà cả về kết quả Khi tiếng nói của Đồng thuâ ̣n Washington ngày càng yếu và quan điểm về Đồng thuâ ̣n Bắc Kinh ngày càng nổi bâ ̣t , thâ ̣m chí có quan điểm cho rằng

mô hình Trung Quốc mới là điều m à các quốc gia chuyển đổi cần mô phỏng Tuy rằng các tranh luâ ̣n về cách thức – hành vi – kết quả chuyển đổi vẫn tồn ta ̣i nhiều tranh luâ ̣n nhưng có mô ̣t điểm cần khẳng đi ̣nh là nghiên cứu về cách thức chuyển đổi từ góc đô ̣ lí thuyết không chỉ có ý nghĩa trong quá khứ mà còn có ý nghĩa ở hiê ̣n ta ̣i bởi quá trình chuyển đổi – đối với nhiều quốc gia như Trung Quốc, Viê ̣t Nam – vẫn chưa dừng la ̣i

Trang 6

Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu về quá trìn h chuyển đổi cũng như ý nghĩa của viê ̣c nghiên cứu này , tôi lựa cho ̣n đề tài nghiên cứu về cách thức chuyển đổi ta ̣i Trung Quốc thông qua mô ̣t mô hình đă ̣c thù – mô hình thí điểm cải cách Thông qua viê ̣c nghiên cứu mô hình này ,

tôi muốn làm rõ bản chất chuyển đổi từng bước /phần/tiê ̣m tiến của Trung Quốc Thông qua nghiên cứu mô hình , tôi cũng muốn tìm hiểu về viê ̣c cách thức nào giúp Trung Quốc có thể chuyển đổi từng bước/phần/tiê ̣m tiến như vâ ̣y

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cùng với quá trình chuyển đổi tại các nước xã hội chủ nghĩa thuộc hệ thống cổ điển ngày càng đi sâu, các kết quả của chuyển đổi ngày càng hiện rõ , mường tượng của mo ̣i người về quá trình chuyển đổi kinh tế ngày càng chân thực hơn thì các nghiên cứu về kinh tế học chuyển đổi cũng ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm và chất vấn hơn Sự chất vấn diễn ra với các giả thiết nghiên cứu không còn phù h ợp với thực tiễn chuyển đổi hoặc với chính bản thân quá trình chuyển đổi ta ̣i các quốc gia khác nhau

Trọng tâm nghiên cứu đợt thứ nhất về chuyển đổi chủ yếu là các nghiên cứu mang tính khuyến nghi ̣ chính sách Mục đích của các nghiên cứu này là tác đô ̣ng đến tầng lớp hoa ̣ch đi ̣nh chính sách nhằm từ đó tác động đến kết quả trên mọi phương diện của quá trình chuyển đổi Các nghiên cứu này phần lớn bắt nguồn từ nhu cầu trước mắt , mô ̣t số thâ ̣m chí được tiến hành với tư cách là “đơn đặt hàng” của các chính phủ Nhưng hứng thú với các da ̣ng nghiên cứu này ta ̣i phương Tây cũng suy giảm chỉ sau vài năm Trái ngược với điều này , các nghiên cứu về chuyển đổi kể cả từ góc đô ̣ lý thuyết hay nghiên cứu thực chứng đều đã đa ̣t được sự phát triển liên tu ̣c và lâu dài

Trung tâm nghiên cứu chính sách kinh tế châu Âu (CEPR) đã thành lâ ̣p chương trình nghiên cứu Kinh tế ho ̣c chuyển đổi ngo ài các lĩnh vực nghiên cứu kinh tế truyền thống như kinh tế vĩ mô, kinh tế ngành, thương ma ̣i, chính sách công, tài chính v.v

J.E Stiglitz [45] trong tác phẩm “Chủ nghĩa xã hô ̣i đi về đâu – Lý thuyết và bằng chứng của chuyển đổi thể chế kinh tế” đã tiến hành so sánh về kết quả của quá trình chuyển đổi theo liê ̣u pháp shock và tiê ̣m tiến Trong đó, ông chú tro ̣ng phân tích nguyên nhân dẫn đến sự thất ba ̣i của Nga trong việc theo đuổi chuyển đổi theo liê ̣u pháp shock Chẳng ha ̣n, “hiểu sai về các khái niê ̣m cơ bản nhất của kinh tế thi ̣ trường” , tiếp thu mô ̣t cách máy móc các lí thuyết của trường phái kinh tế tân cổ điển Mỹ Thứ hai, lầm lẫn phương thức và kết quả, chẳng ha ̣n coi tư nhân hóa

là mục đích cuối cùng của chuyển đổi chứ không phải là một công cụ của quá trình chuyển đổi

Trang 7

Thứ ba, xuất hiê ̣n các vấn đề về mă ̣t quyết sách khi làm theo các kiến nghi ̣ của các chuyên gia kinh tế Bên ca ̣nh đó, Stiglitz cũng đề câ ̣p đến thành công của Trung Quốc trong viê ̣c thực hiê ̣n chuyển đổi từng phần , nhưng ông vẫn giữ thái đô ̣ hoài nghi với cái go ̣i là “kinh tế thi ̣ trường xã

hô ̣i chủ nghĩa”

Dương Tiểu Khải trong nghiên cứu “Chuyển đổi kinh tế và chuyển đổi hiến pháp và chính trị” có quan điểm hoàn toàn trái ngược với Stiglitz [45], theo đó ông ki ̣ch liê ̣t phê phán viê ̣c dùng

“shock” và “tiê ̣m tiến” để coi là cơ sở đánh giá thành công hay thất ba ̣i của chuyển đổi kinh tế ta ̣i Nga và Trung Quốc Dương Tiểu Khải cho rằng : chuyển đổi kinh tế chỉ là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n của quá trình chuyển đổi về chính trị và hiến pháp , những nhà kinh tế ủng hô ̣ chuyển đổi “từng phần” là thiếu suy xét đến mă ̣t hiến chính , do đó chỉ căn cứ vào hiê ̣u quả kinh tế trước mắt để đánh giá thành bại của quá trình chuyển đổi Do đó, không thể dùng thành công của mô hình tiê ̣m tiến ta ̣i Trung Quốc để phủ đ ịnh thất bại của mô hình shock của Nga , muốn có đánh giá chính xác nhất thì phải dựa vào xem xét biểu hiện của hai quốc gia – hai mô hình – trong dài ha ̣n

Kolodko [43] trong cuốn sách “Từ shock đến trị liệu: kinh tế chính trị của các nước chuyển đổi hậu xã hội chủ nghĩa” cho rằng trong trong các lĩnh vực khác nhau, “shock” và “tiê ̣m tiến” có các lựa chọn khác nhau (1) Về mă ̣t tự do hóa kinh tế và ổn đi ̣nh kinh tế vĩ mô , phải phân tích cẩn thâ ̣n về tình hình tiền tệ và tài chính , nếu mức đô ̣ kiểm soát kinh tế trước khi chuyển đổi tương đối lớn , khi chuyển đổi xuất hiê ̣n tình tra ̣ng tài chính không ổn đi ̣nh thì viê ̣c lựa cho ̣n

“shock” có thể đa ̣t được tình tra ̣ng tự do hóa (2) Về chuyển đổi kết cấu và cải cách thể chế , bao gồm tư nhân hóa, kết cấu quản tri ̣ công ty thì phải áp du ̣ng phương thức chuyển đổi tiê ̣m tiến (3) Trong lĩnh vực tái cấu trúc cơ cấu vi mô của ngành , phải có các khoản đầu tư mới, phải đóng cửa nhà máy cũ , phải điều động lại các lao động và nâng cao sức cạnh tranh của ngành Trong lĩnh vực này có thể áp du ̣ng chuyển đổi theo liê ̣u pháp shock

K Janos [47] trong cuốn “Suy nghĩ v ề chuyển đổi của các quốc gia hậu xã hội chủ nghĩa” đã tiến hành quy na ̣p về các xu thế đã diễn ra ta ̣i các quốc gia chuyển đổi , bao gồm: thị trường hóa, sự phát triển của khu vực tư nhân , tái xuất hiện sự mất cân bằng vĩ mô , sự phát triển của chính thể lập hiến , sự phát triển của chế đô ̣ dân chủ , đi ̣nh nghĩa la ̣i các tổ chức dân sự , bất bình đẳng về phúc lợi v v Mà những nhân tố tác động chủ yếu đến hướng đi của các xu thế này là năng lực xử lí của chính phủ, sức ma ̣nh của phe đối lâ ̣p với chính đảng chấp chính , khả năng chịu đựng hy sinh của nhân dân và các yếu tố bên ngoài quốc gia Kornai đặc biê ̣t nhấn ma ̣nh

Trang 8

rằng, tại các quốc gia chuyển đổi , sự xuất hiê ̣n của các xu thế này vẫn còn tồn ta ̣i quá nhiều yếu tố bất đi ̣nh

Leonid Polishchuk [48] trong bài viết “Sự tiến hóa của nhu cầu về thể chế trong các nền kinh tế chuyển đổi” kết hơ ̣p với thực tiễn chuyển đổi của Nga để nghiên cứu về viê ̣c thiết kế thể chế ta ̣i các nền kinh tế chuyển đổi Ông cho rằng , khi mới chuyển đổi , các tập đoàn tài phiệt và công nghiê ̣p đô ̣c quyền nhóm hoàn toàn không ủng hô ̣ thâ ̣m chí chống đối la ̣i viê ̣c thiết kế các thể chế nhằm bảo vê ̣ quyền tài sản (property rights) Nhưng khi chuyển đổi tiến hành được mô ̣t thời gian tương đối dài , đă ̣c biê ̣t sau khủng hoảng tài chính năm 1997, yêu cầu về mô ̣t nền tài chính – kinh tế có đô ̣ minh ba ̣ch , ổn định và hiê ̣u quả ngày càng lên cao , điều này khiến các chủ thể kinh tế dù muốn hay không cũng đều phải dần đưa các hoa ̣t đô ̣ng của mình ra công khai Đồng nghĩa với việc các chủ thể này phải bỏ một nguồn lực để hỗ trợ cho việc xây dựng các thể chế đảm bảo cho sự vâ ̣n hành của kinh tế thi ̣ trường như luâ ̣t pháp , chính sách công v.v Tuy vâ ̣y, xây dựng nhà nước pháp quyền là mô ̣t cuô ̣c thỏa thuâ ̣n chính tri ̣ lâu dài

David M.Kotz [38] trong cuốn sách “Cu ộc cách mạng đến từ thượng tầng : Sự su ̣p đổ của Nga” đã cho rằng Trung Quốc thực hiê ̣n “chiến lược chuyển đổi do chính phủ chỉ đa ̣o” tốt hơn nhiều so với “chiến lược chuyển đổi do chủ nghĩa tự do mới đi ̣nh hướng” của Nga Nhưng đồng thời ông cũng cho rằng , chuyển đổi kinh tế Trung Quốc không thể tránh khỏi viê ̣c dẫn đến sự xuất hiê ̣n của tầng lớp tinh anh mới Nhóm tinh anh này không chỉ chạy theo lợi nhuận kinh tế

mà còn theo đuổi quyền lực v ề chính trị , đồng thời cũng có thể đòi hỏi áp du ̣ng các chính sách chuyển đổi của chủ nghĩa tự do mới Kotz [38] cũng cho rằng , viê ̣c Trung Quốc gia nhâ ̣p WTO năm 2001 ở một mức độ nhất định thể hiện việc từ bỏ một phần chiến lươ ̣c chuyển đổi do chính phủ chủ đạo

Mark Knell và Christine Rider dựa trên lí thuyết của chủ nghĩa Keynes mới phê phán sự sùng bái mù quáng của phương thức cải cách shock vào thị trường tự do Họ cho rằng phương án chuyển đội thị trường hóa và tự do hóa đã bỏ qua một sự thật rất quan trọng: quan hệ kinh tế giữa mọi người không chỉ là một dạng quan hệ trao đổi đơn thuần, mà còn là dạng quan hệ sản xuất phức tạp; mối quan hệ giữa kế hoạch và thị trường là quan hệ bổ sung chứ không phải là quan hệ loại trừ - thay thế; cơ chế giá cả không chỉ là một biện pháp điều phối nguồn lực mà còn có chức năng tài chính, chức năng chiến lược và chức năng sản xuất; tư hữu hóa không nhất thiết sẽ tạo

ra sự cải thiện về hiệu suất sản xuất [18] A Amsden, J Kochaniwicz và L Taylor cho rằng bước quá độ sang chủ nghĩa tư bản cần có “bàn tay hữu hình” hơn “bàn tay vô hình” mà chủ

Trang 9

nghĩa tự do mới đề xướng Sự thành công của kinh tế tư bản chủ nghĩa phụ thuộc vào các thể chế tạo được sự đầu tư trong thời gian dài cũng như có khả năng chịu đựng rủi ro, nhưng chỉ có nhà

nước mới đủ năng lực để đảm trách xây dựng những thể chế này [7] Theo họ, “chủ nghĩa tư

bản” mà Đông Âu xây dựng không giống với phương Tây bởi nó khuyết thiếu những thể chế hạt nhân đảm bảo cho sự tích lũy tư bản lâu dài

Peter Murrel cho rằng các cải cách shock coi toàn bộ xã hội là một dạng công cụ điều phối, phân bổ nguồn lực, do vậy nó thiết kế một thể chế phân bổ hoàn hảo với hi vọng đưa cải cách một bước đạt đến thành công, chuyển đổi từng phần thì coi xã hội là một công cụ “gia chế” thông tin, thông tin xã hội cần một quá trình tích lũy, bất kì phương án cải cách nào ban đầu cũng cho rằng đều phải dựa vào cơ sở là các thông tin của xã hội cũ, đối với cải cách, những người

thực thi nó chỉ có thể đi từng bước (P Murrel, 1994) Giáo sư M Aoki cho rằng thể chế kinh tế

là một hệ thống diễn tiến (tiến hóa) phức tạp, bên trong thể chế này có cơ chế tự tăng cường, giữa các thể chế khách nhau sẽ tồn tại tính bổ sung lẫn nhau, nếu tính bổ sung này càng lớn thì chi phí của cải cách càng cao [50] Khi tiến hành các cải cách đồng bộ với quy mô lớn, cho dù phương hướng chung đã xác định rõ thì trong quá trình và kết quả chuyển đổi vẫn còn nhiều điều khó lường, trong quá trình định ra sự phát triển còn xuất hiện các tập đoàn lợi ích khác nhau, điều này gây ra nhiều khó khăn cho việc thúc đẩy cải cách, do vậy, phương thức chuyển đổi tiệm tiện có tính khả thi cao hơn cả [50] Gernot Grabber và David Stark cho rằng xét từ quan điểm tiến hóa, nếu không có tính đa dạng thì không có sự lựa chọn, sự biến đổi nhanh chóng của thể chế và tổ chức thường thường hi sinh hiệu suất lâu dài Ngược lại, sự tồn tại của thể chế cũ, những va chạm, xung đột trong chuyển đổi sẽ giữ lại tính đa dạng của thể chế, điều này tạo ra không gian lựa chọn và xuất hiện rộng hơn cho các thể chế mới, từ đó thúc đẩy thể chế phát triển [14]

Buchanan chỉ ra rằng, sự vận hành có hiệu quả của thể chế thị trường dựa vào kết cấu thể chế có khả năng thúc đẩy giao dịch tự do và những cá nhân có thể thích ứng đồng thời hành động theo ý niệm thị trường Mà những kết cấu thể chế và cá nhân như nêu trên lại là kết quả của một thời kì lịch sử lâu dài, cách nghĩ cho rằng kinh tế thị trường có thể hình thành và phát huy tác dụng trong điều kiện không có lịch sử, không có kết cấu thể chế và ý niệm thị trường là một cách nghĩ hoàn toàn hoang tưởng [44]

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Đối tượng nghiên cứu của luận văn Luâ ̣n văn lấy “cách thức chuyển đổi” kinh tế làm đối tươ ̣ng nghiên cứ u chính Để làm rõ được đối tượng nghiên cứu này , luâ ̣n văn tiến hành nghiên cứu về mô ̣t mô hình đă ̣c thù trong cách thức ấy , làm nên cách thức ấy – đó là “mô hình thí điểm cải cách”

Phạm vi nghiên cứu của luận văn Về phạm vi thời gian, luâ ̣n văn có pha ̣m vi nghiên cứu là từ năm 1978 – 2011 Về pha ̣m vi không gian , luâ ̣n văn nghiên cứu 4 đă ̣c khu kinh tế của Trung Quốc đa ̣i lu ̣c

4 Mục tiêu nghiên cứu

Luâ ̣n văn hướng đến thực hiê ̣n hai nhóm mu ̣c tiêu là mu ̣c tiêu tổng quát và mu ̣c tiêu cu ̣ thể Mục tiêu tổng quát bao gồm:

- Khái quát lại các lí thuyết liên quan đến chuyển đổi kinh tế

- Khái quát và xây dựng mô hình về hai dạng thức chuyển đổi kinh tế đã tồn tại trên thế giới,

- Từ góc đô ̣ lí thuyết, tìm ra và phân tích ưu – nhược điểm, của từng mô hình

Nhóm mục tiêu cụ thể bao gồm:

- Khái quát quá trình chuyển đổi của các quốc gia Trung – Đông Âu, Nga và Trung Quốc

- Sử du ̣ng các lí thuyết kinh tế học hiện đại để làm rõ mô hình thí điểm cải cách của Trung Quốc có vi ̣ trí và ý nghĩa như thế nào trong quá trình chuyển đổi của quốc gia này

- Làm rõ ưu – nhược điểm của cách thức chuyển đổi kinh tế của Trung Quốc trước kia

- Thông qua nghiên cứ u trường hơ ̣p các đă ̣c khu kinh tế để gắn nghiên cứu lí thuyết với nghiên cứu trường hợp

5 Phương pha ́ p nghiên cứu

Để thực hiê ̣n nghiên cứu này , luâ ̣n văn sử du ̣ng các lí thuyết của Kinh tế ho ̣c thể chế mới như:

- Lý thuyết về quyền tài sản

Các lý thuyết của kinh tế học thông tin như:

- Lý thuyết ủy thác – đại diê ̣n

- Lý thuyết cơ chế khích lệ

Các lý thuyết của kinh tế học chuyển đổ i về mu ̣c tiêu , mô hình, kết quả của chuyển đổi Đồng thời , các lý thuyết và công cụ phân tích của kinh tế học nói chung cũng được sử dụng nhằm phản ánh được bản chất của quá trình chuyển đổi kinh tế ta ̣i Trung Quốc

Ngày đăng: 13/01/2015, 12:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w