Các khuynh hướng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn cấu trúc Abstract: Đưa ra cái nhìn mang tính khái quát với các khuynh hướng vận động của tiểu thuyết Việt
Trang 1Các khuynh hướng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn cấu trúc
Abstract: Đưa ra cái nhìn mang tính khái quát với các khuynh hướng vận động của tiểu
thuyết Việt Nam đầu thế kỷ 21 từ góc nhìn cấu trúc thể loại, từ đó đóng góp một cách luận giải văn học sử mang tính lý luận đối với thể loại quan trọng và phức tạp đặc biệt của nền văn học này Trình bày mô hình nghiên cứu linh hoạt, không đơn nhất, khép kín mà có sự mở rộng, sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu nội tại thế giới văn học (cấu trúc thể loại của tác phẩm) và nghiên cứu xã hội học văn học (quan hệ giữa văn bản với đời sống văn học và với đời sống xã hội, tâm lý sáng ta ̣o của nhà văn và s ự tiếp nhận của giới phê bình…) Lý giải, cắt nghĩa và dự đoán khả năng phát triển của các khuynh hướng đó trong tương lai Góp phần
“nhận diện” một giai đoạn tiểu thuyết chưa thực sự định hình, còn gây nhiều dư luận trái chiều nhau; đồng thời tìm ra những quy luâ ̣t vâ ̣n đô ̣ng c ủa thể loại trong nền văn học đương
đại
Keywords: Lý luận văn học; Tiểu thuyết Việt Nam; Thế kỷ 21; Cấu trúc thể loại.
Content:
Trang 2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích, đối tươ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cứu 14
4 Phương pha ́ p nghiên cứu 19
5 Đo ́ ng góp mới của luâ ̣n án 20
6 Cấu tru ́ c của luâ ̣n án 20
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CẤU TRÚC THỂ LOẠI VĂN HỌC VÀ DIỄN TRÌNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẾ KỶ XX 21
1.1 CẤU TRÚC THỂ LOẠI VĂN HỌC 21
1.1.1 Thể loại văn học và cấu trúc thể loại văn học 21
1.1.2 Đặc trưng thể loại tiểu thuyết và lược sử quan niệm về tiểu thuyết 37
1.1.3 Nghiên cứu cấu trúc thể loại từ góc độ thi pháp học lịch sử 44
1.2 DIỄN TRÌNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẾ KỶ XX 47
1.2.1 Những tác động “ngoại sinh” 47
1.2.2 Những vận động “nội sinh” 51
1.2.2.1 Tiểu thuyết Viê ̣t Nam giai đoạn 1925 - 1945 .51
1.2.2.2 Tiểu thuyết Viê ̣t Nam giai đoạn 1945 - 1975 52
1.2.2.2 Tiểu thuyết Viê ̣t Nam giai đoạn1975 - 2000 53
1.3 TIỂU KẾT .56
CHƯƠNG 2: CÁC KHUYNH HƯỚNG TIỂU THUYẾT TỪ BÌNH DIỆN HÌNH TƯỢNG THẨM MỸ 58
Trang 32.1 NHÂN VẬT 58
2.1.1 Nhóm A 61
2.1.1.1 Cấp độ tâm lý - tính cách 61
2.1.1.2 Cấp độ thân phận - hành động 67
2.1.1.2 Cấp độ nhân tố tự sự 72
2.1.2 Nhóm B 73
2.1.2.1 Nhân vật phức hợp - đa bình diện 73
2.1.2.2 Nhân vật ký hiệu - biểu tượng và phản nhân vật 81
2.2 KHÔNG – THỜI GIAN 84
2.2.1 Nhóm A 86
2.2.1.1 Không - thời gian - từ “sử thi hóa” đến “tiểu thuyết hóa” 86
2.2.1.2 Không - thời gian - từ “sự kiện hóa” đến “tâm lý hóa” 90
2.2.1.3 Không - thời gian tuân thủ tính hệ thống về tổng thể 93
2.2.2 Nhóm B 95
2.2.2.1 Không - thời gian được tâm linh hóa và huyền ảo hóa 95
2.2.2.2 Không - thời gian mang tính tượng trưng - biểu tượng 99
2.2.2.3 Không - thời gian có cấu trúc thường biến và thiếu tính chỉnh thể .101
2.3 TIỂU KẾT .104
CHƯƠNG 3: CÁC KHUYNH HƯỚNG TIỂU THUYẾT TỪ BÌNH DIỆN PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT 107
3.1 NGƯỜI KỂ CHUYỆN, ĐIỂM NHÌN VÀ PHỐI CẢNH 109
3.1.1 Nhóm A 109
3.1.2 Nhóm B 115
3.2 KẾT CẤU 119
3.2.1 Nhóm A 121
3.2.1.1 Kiểu kết cấu “lịch sử - sự kiện” 121
3.2.1.2 Kiểu kết cấu tâm lý 124
3.2.2 Nhóm B 127
3.2.2.1 Kiểu kết cấu đa tầng và tự tham chiếu 127
3.2.2.2 Kiểu kết cấu phân mảnh 129
3.2.2.3 Kiểu kết cấu xoắn kép và trùng điệp văn bản 131
3.3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU 135
Trang 43.3.1 Vấn đề từ vựng .135
3.3.2 Vấn đề cấu trúc cú pháp 146
3.3.2 Vấn đề giọng điệu hay “diễn ngôn trần thuật” .152
3.4 TIỂU KẾT 163
CHƯƠNG 4 : CẤU TRÚC THỂ LOẠI TỔNG QUÁT CỦA CÁC KHUYNH HƯỚNG TIỂU THUYẾT 164
4.1 KHUYNH HƯỚNG DUY TRÌ HÌNH THỨC THỂ LOẠI TRUYỀN THỐNG 165
4.1.1 Tiểu thuyết và hành trình bảo lưu “tính chuyện” .165
4.1.2 Sự dịch chuyển từ “đại tự sự về cộng đồng” sang “đại tự sự về cá nhân” 168
4.1.3 Tiểu thuyết lịch sử như là mô hình lựa chọn tiêu biểu .172
4.2 KHUYNH HƯỚNG CÁCH TÂN HÌNH THỨC THỂ LOẠI TRUYỀN THỐNG 177
4.2.1 Tiểu thuyết và vấn đề “phi tâm hoá tự sự” .177
4.2.2 Tiểu thuyết như là trò chơi của tự sự và ngôn từ .183
4.2.3 “Tiểu thuyết mảnh vỡ” như là mô hình lựa chọn tiêu biểu .191
KẾT LUẬN 198
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 204
TÀI LIỆU THAM KHẢO 205
PHỤ LỤC 218
Phụ lục I 218
Bảng 1 : Tổ chức không – thời gian trong tiểu thuyết Giàn thiêu 218
Bảng 2 : Tổ chức Điểm nhìn /Người kể chuyện trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly 220
Phụ lục II 221
Bản dịch 1 : “Điểm nhìn, Phối cảnh và Thời gian” (Will Greenway) .221
Bản dịch 2 : “Từ Tác phẩm đến Văn bản ” (Roland Barthes) 230
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thể loại đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống lý thuyết văn chương
phong phú của đời sống văn học, với các tác phẩm, các trào lưu , các khuynh
hướng văn học…Trong luận án này, chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu “Các
khuynh hướng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn cấu trúc thể loại” xuất phát từ quan điểm mang tính phương pháp luận
nêu trên Chọn đối tượng là “các khuynh hướng phát triển” song thực chất
chúng tôi đi vào tìm hiểu những con đường, những đáp án khác nhau của một
thể loại trên cùng một giai đoa ̣n - từ đó có thể nhìn thấy phần nào quy luật phát
triển của thể loại vào dạng “năng động” và “phức tạp” nhất của nền văn học
Ở một góc nhìn khác, chúng ta thấy rằng, gần đây, trong đời sống nghiên cứu văn chương xuất hiện không ít các công trình lý luận – phê bình, các luận văn, luận án… hướng tới viê ̣c tìm hiểu tiểu thuyết Việt Nam đương đại từ góc
độ cách tân nghệ thuật, các phương thức tự sự, nội dung biểu hiện… Song việc đặt vấn đề phân loại, phân dòng, nghiên cứu các xu thế phát triển khác nhau của thực trạng tiểu thuyết vô cùng sôi động, phức tạp thì hầu như chưa được công trình nào tập trung tìm hiểu kĩ lưỡng Với luận án này, chúng tôi muốn tiến thêm một bước bằng việc kết hợp tiếp cận thể loại và tiếp cận văn học sử để có được những khái quát mới nhằm đạt đến một hình dung tổng thể về diện mạo chung của nền tiểu thuyết đương đại nước nhà
Thêm nữa, tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI thực ra chưa được định hình rõ nét, còn tạo ra nhiều quan điểm và nhận định trái chiều trong đời sống phê bình Luận án là nỗ lực đóng góp một tiếng nói, một cái nhìn khái quát với hiện trạng tiểu thuyết hãy còn bề bộn, với những khuynh hướng, xu thế, những khả năng phát triển khác nhau của thể loại
2 Lịch sử vấn đề
Do tính thời sự đặc biệt của đối tượng khảo sát, công việc nghiên cứu tiểu
Trang 6thuyết thế kỷ XXI bắt đầu gần như đồng thời với thời gian ra đời và phát triển của nó Khoảng thời gian này chưa phải là dài, chưa có nhiều biến động lớn (từ năm 2000 đến nay và chủ yếu là 3, 4 năm gần đây), do đó chúng tôi không phân chia thành các giai đoạn phát triển nhỏ hơn mà phân chia theo hình thức tiếp cận-phê bình–nghiên cứu của độc giả nói chung và giới phê bình nói riêng:
2.1 Về các khuynh hướng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 2.2 Về thi pháp thể loại của các tác phẩm cụ thể
2.3 Những thành tựu và điểm dừng của việc nghiên cứu thể loại tiểu thuyết đương đại
Mặc dù có nhiều khuynh hướng, quan điểm tiếp nhận và phê bình khác nhau song tất cả đều đã thể hiện sự quan tâm của độc giả nói chung và giới phê bình nói riêng với nền tiểu thuyết và nền văn học đương đại của nước nhà Nhiều bài phê bình đã chỉ ra được sự đổi mới trong bút pháp nghệ thuật và đặc biệt là cách tiếp cận hiện thực của các tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI Tuy nhiên, giới hạn chung của các bài viết nói trên là chưa có tính khái quát về diện mạo chung của tiểu thuyết thời kỳ này; chưa chỉ ra những nguyên nhân phát triển
của chúng - đặc biệt từ phía bản chất thể loại, hay cấu trúc thể loại; chưa làm
rõ sự giao thoa của tiểu thuyết với các thể loại khác như một trong những động
lực thúc đẩy nền văn học chuyển động…
Một điều cần bàn ở đây nữa là tính hệ thống: các bài phê bình còn ở dạng lẻ
tẻ, chưa có sự xâu chuỗi các tác giả/tác phẩm lại với nhau trong bối cảnh chung của nền văn học; những ảnh hưởng ngoại lai của thế giới; sự đổi thay của đội ngũ nhà văn;…Các tác phẩm thường được theo dõi như sự nối tiếp của phong cách và phương hướng sáng tác của một tác giả cụ thể từ trước đó mà ít hoặc không được xem xét như một sự bứt phá chung của thể loại trong một thời đoạn nhất định; nghĩa là chú ý đến bình diện lịch đại hơn đồng đại hoặc không kết hợp hai bình diện ấy một cách hài hoà Nhiều bài phê bình còn mang tính nhận diện hoặc thể hiện thái độ “cực đoan” trước cái mới (quá đề cao/ quá hạ thấp),
do đó đánh mất quan điểm tiếp cận chân thực, khách quan về các tác phẩm
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 73.1 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
thông qua lăng kính này để soi chiếu và tìm ra các khuynh hướng tiểu thuyết
khác nhau trong nền văn học đương đại
3.1.2 Đối tượng chủ yếu mà luận án hướng tới chính là các tiểu thuyết Việt
Nam ra đời trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XXI Đối tượng mà chúng tôi gọi
là “tiểu thuyết Việt Nam” này – tất nhiên là các tác phẩm được viết bằng tiếng Việt, được xuất bản trong nước hoặc ngoài nước, song đều nhận được sự quan tâm của độc giả Việt Nam nói chung và giới phê bình nói riêng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Từ bình diện lý luận, sự phát triển của một thể loại trong một thời kỳ
so với một thời kỳ khác bao giờ cũng có tối đa ba khả năng xảy ra – thứ nhất,
thể loại đó duy trì theo hướng bảo lưu trung thành mô hình truyền thống; thứ hai, thể loại cách tân một cách quyết liệt nhằm vượt thoát ra ngoài mô hình
truyền thống; và thứ ba, thể loại vừa duy trì vừa cách tân song sự cách tân ấy không phá vỡ mô hình truyền thống Với một thời kỳ mang tính chất chuyển
giao mạnh mẽ như văn học Việt Nam đầu thế kỷ XXI thì cả ba khả năng đó đều
có thể xảy ra đồng thời, tạo thành ba “ngả đường” khác nhau của thể loại Từ
đó, chúng tôi đưa ra một “giả thuyết khoa học”: tiểu thuyết Việt Nam hiện
nay đang phát triển theo ba khuynh hướng nêu trên Toàn bộ luận án sẽ là
quá trình khảo sát, phán đoán và cuối cùng đi đến kết luận về giả thuyết đó Trên bề mặt văn bản, chúng tôi chia tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI thành ba “mảng” tác phẩm – chủ yếu dựa trên những yếu tố “bề nổi” có thể nhận thấy một cách dễ dàng – đó là dung lượng, quy mô tác phầm và đề tài lựa chọn: Mảng thứ nhất gồm các “tiểu thuyết nghìn trang” có quy mô đồ sộ và
hướng về các đề tài mang tầm vóc sử thi : Đường thời đại, Thượng Đức, Ngày
rất dài, Những cánh rừng lá đỏ,…Mảng thứ hai gồm các tiểu thuyết có quy mô
và độ dài trung bình (khoảng 300 - 600 trang), chủ yếu tập trung vào đề tài lịch
sử và thế sự - đời tư: Hồ Quý Ly, Gia đình bé mọn, Dòng sông mía, Giàn
thiêu,… Mảng thứ ba gồm các tiểu thuyết có quy mô “nhỏ”, độ dài trung bình
Trang 8từ 100 đến 250 trang, với sự biến mất hầu như hoàn toàn của đề tài lịch sử:
Thoạt kỳ thủy, Chinatown, Đi tìm nhân vật, Khải huyền muộn, Song song… Hai
mảng đầu tiên khá gần gũi nhau ở một điểm: đều hướng về mục đích bảo lưu
“diện mạo” quen thuộc của tiểu thuyết – nghĩa là một tự sự có “quy mô lớn”, dung lượng lớn Mảng thứ ba là những tác phẩm tạo cho mình một dáng vẻ khác hẳn hai mảng trên Với tinh thần ấy, luận án tạm chia đối tượng khảo sát
thành hai nhóm lớn: A và B – trong đó A bao gồm mảng thứ nhất và thứ hai, B
là toàn bộ mảng thứ ba Tiếp đó, luận án tập trung phân tích các đặc trưng của
hai nhóm A-B trên các cấp đô ̣ của cấu trúc thể loại : 1.Vấn đề hình tượng thẩm
mỹ (tổ chức siêu văn bản) 2 Vấn đề phương thức trần thuật (tổ chức văn bản)
Trên hai cấ p đô ̣ cu ̣ thể đó , chúng tôi sẽ đi đến một cấu trúc thể loại tổng quát
của mỗi nhóm tiểu thuyết với những đặc trưng tiêu biểu cho từng nhóm
đầu thế kỷ XXI (có những thành công nhất định về mặt nghệ thuật, gây được sự quan tâm chú ý của độc giả) Với “nhóm tiểu thuyết A”, chúng tôi tập trung vào
các tác phẩm: Hồ Quý Ly, Con ngựa Mãn Châu, Giàn thiêu, Tìm trong nỗi nhớ,
Dòng sông mía, Tấm ván phóng dao, An lạc dưới trời, Bến đò xưa lặng lẽ, Gia đình bé mọn, Ba người khác, Mẫu thượng ngàn, Thượng đế thì cười Với
“nhóm tiểu thuyết B”, đó là: Trí nhớ suy tàn, Đi tìm nhân vật, Made in Vietnam,
Chinatown, Thiên thần sám hối, Cõi người rung chuông tận thế , Và khi tro bụi, Khải huyền muộn, Paris 11.8, Thoạt kỳ thủy, Ngồi, T mất tích, Song song
4 Phương pha ́ p nghiên cứu
chúng tôi sử dụng cách tiếp cận đa phương pháp, đa phân cấp để thấy được toàn diê ̣n nhất các góc độ của vấn đề: Về hướng tiếp cận chung, chúng tôi lựa chọn
góc độ cấu trúc – loại hình, trên cơ sở kết hợp các lý thuyết của Chủ nghĩa cấu trúc, Chủ nghĩa hậu hiện đại để tìm hiểu tổng quan tình hình phát triển của các
khuynh hướng tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI Về mặt phương pháp luận,
chúng tôi chủ yếu sử dụng những lý thuyết nghiên cứu hình thức từ thi pháp
học đến tự sự học để tái hiện lại cấu trúc tự sự và cấu trúc hình tượng của các
Trang 9nhóm tác phẩm Về các phương pháp cu ̣ thể , chúng tôi sử dụng : phương pháp
loại hình, phương pháp hệ thống , phương pháp ký hiệu học , phương pháp liên văn bản , phương pháp nghiên cứu văn hóa , phương pháp so sánh … Về các
thao tác khoa học, chúng tôi vận dụng các thao tác: so sánh, đối chiếu; thống
kê, phân loại; mô hình hóa, khảo sát văn bản…
5 Đo ́ ng góp mới của luâ ̣n án
Thứ nhất, luâ ̣n án đưa ra một cái nhìn mang tính khái quát với các khuynh
hướng vận động của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn cấu trúc thể loại Thứ hai, luâ ̣n án đề ra một mô hình nghiên cứu linh hoạt, không khép kín mà có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu nội tại thế giới văn học (cấu trúc
tác phẩm) và nghiên cứu xã hội học văn học (tâm lý sáng tạo / tiếp nhận) Thứ
trong tương lai dựa trên sự tiếp nhận của độc giả đương đại
6 Cấu tru ́ c của luâ ̣n án
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Thư mục tham khảo, phần Nội dung
luận án gồm có các chương sau:
Chương 1: Cấu trúc thể loại văn học và diễn trình tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ
XX
Chương 2: Các khuynh hướng tiểu thuyết từ bình diện hình tượng thẩm mỹ Chương 3: Các khuynh hướng tiểu thuyết từ bình diê ̣n phương thức trần thuâ ̣t Chương 4: Cấu trúc thể loại tổng quát của các khuynh hướng tiểu thuyết
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CẤU TRÚC THỂ LOẠI VĂN HỌC VÀ DIỄN TRÌNH
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẾ KỶ XX
1.1 CẤU TRÚC THỂ LOẠI VĂN HỌC
1.1.1 Thể loại văn học và cấu trúc thể loại văn học (TLVH)
1.1.1.1 Thể loại là gì?
Thể loại là phạm trù phân loại tác phẩm, là quy ước chung tồn tại trong
ký ức mọi người như một mô hình cấu tạo văn bản, một thứ “siêu ngôn ngữ”
Trang 10(metalinguistic) vừa để biểu đạt vừa để định hướng cho sự tiếp thu biểu đạt
Xem xét mối quan hê ̣ giữa thể loại và khuynh hướng; thể loại, sự mô phỏng và
lý thuyết diễn ngôn; thể loại và “tầm đón đợi”, ta có thể nhâ ̣n thấy tính đa chiều
kích, tính phức tạp của thể loại trong đời sống văn học Nhìn chung, với tư cách
một thuật ngữ tu từ học, phong cách học, nghiên cứu văn học, “thể loại văn
học” (TLVH) có thể được xác định bởi các đặc tính: Thứ nhất, TLVH là một
phạm trù về chỉnh thể tác phẩm, một kiểu quan hệ giao tiếp bằng lời tương đối
ổn định đối với người đọc Thứ hai, TLVH là một phạm trù mang tính vô hình,
nó không phải là cái khuôn để nhà văn “rót” tác phẩm vào đó nhưng lại luôn chi phối từng hành vi sáng tạo cũng như định hướng cho sự tiếp thu Thứ ba, TLVH
là một phạm trù có tính lịch sử: Thể loại, ở một thời điểm nào đó, có thể vừa là
nó lại vừa là một cái khác nó hoặc đang “ngấm ngầm” tiến đến “cái khác nó”
Thứ tư, TLVH, từ bản chất, đã mang tính xã hội Gốc rễ của thể loại là những
nguyên tắc “siêu cá nhân” (dựa trên sự đồng thuận mang tính cộng đồng)
1.1.1.2 Cấu trúc và cấu trúc thể loại văn học
tố nghệ thuật được lựa chọn để đưa vào tác phẩm “Hằng số không đổi” chính là khuôn hình giữ cho thể loại luôn là nó chứ không biến thành một thể loại khác
tổng quát của tiểu thuyết (các nhà “Hình thức luận”, kí hiê ̣u ho ̣c, tự sự ho ̣c…) Gần đây, kế thừa các thành tựu của Bakhtin và các nhà kí hiệu học tiền bối, Tamarchenko có đề xuất một mô hình cấu trúc tiểu thuyết khá “năng sản” với
“ba cấp đô ̣ phong cách” : 1.Sự kiện được kể; 2.Sự kiện kể; 3.Bình diện tương quan giữa hai sự kiện trên Tamarchenko nhấn mạnh: mục đích quan trọng nhất
của ba thành tố này là nhằm tạo dựng hình tượng con người cho tiểu thuyết
Dựa trên những nghiên cứu của Tamarchenko, chúng tôi đã “tái sử dụng” thước
đo “ba bình diện” để khảo sát các khuynh hướng tiểu thuyết Việt Nam hiện nay từ góc đô ̣ cấu trúc thể loa ̣i: 1.Các khuynh hướng xây dựng hình tượng thẩm mỹ (Nhân vật, Không-thời gian); 2.Các khuynh hướng lựa chọn phương thức trần
Trang 11thuật (Điểm nhìn/Người kể chuyện, Kết cấu, Giọng điệu, Ngôn ngữ) Chúng tôi
“ghép” yếu tố “ngôn ngữ” vào bình diện trần thuật nói chung bởi sự liên quan chặt chẽ của nó đối với việc tạo ra “chiếc lược kể” cho toàn bộ tiểu thuyết
1.1.2 Đặc trưng thể loại tiểu thuyết và lược sử quan niệm về tiểu thuyết
Tiểu thuyết được coi là “sử thi của thời hiện tại”, một hiện tại dang dở, chưa xong xuôi và luôn bị đánh giá lại Bản chất năng động đặc biệt của tiểu thuyết,
tiềm năng phối kết, thu hút, đồng hóa mạnh mẽ các thể loại khác khiến cho tiểu
thuyết luôn có xu hướng cách tân xét cả về khả năng lẫn nhu cầu Đặc trưng của
ngôn ngữ tiểu thuyết, vốn có “tính phức âm, tính phân tầng” từ trong bản chất
Nếu như “vai chính” trong các thể loại ra đời trước tiểu thuyết (sử thi, bi kịch…) là cả cộng đồng hay một cá thể kiệt xuất nào đó đại diện cho cộng đồng; thì trong tiểu thuyết, con người hiện lên như những cá nhân đơn độc, đại
diện trước hết cho chính nó hay cho cái bản thể bất toàn, không lặp lại của nó Trong tiểu thuyết, thay cho “khoảng cách sử thi” là “sự xúc tiếp gần gũi, suồng
sã, thân mật” giữa độc giả với nhân vật và sự kiện được kể Thêm nữa, với tiểu
thuyết, thời gian “hiện tại chưa hoàn thành” cũng sẽ gắn với một không gian
“gần gũi, hiện thực”, có thể cảm nghiệm và tiếp xúc trực diện Trong tương
quan với các thể loại khác, tiểu thuyết nổi bật ở khả năng phản ánh toàn vẹn và bao quát các kích thước không – thời gian, khả năng “tự phá vỡ giới hạn”…
1.1.3 Nghiên cứu thể loa ̣i tiểu thuyết từ góc độ thi pháp học lịch sử
Bản thân đề tài “Các khuynh hướng…từ góc nhìn cấu trúc thể loại” đã hàm chứa cả hai hệ vấn đề: hệ vấn đề thuộc về thi pháp học, hệ vấn đề lịch sử văn học Quá trình phân chia các khuynh hướng tiểu thuyết không thể tách rời cả hai
hệ vấn đề trên (Chẳng hạn: viê ̣c nghiên cứu cấu trúc thể loa ̣i tiểu thu yết đương
đa ̣i luôn được đă ̣t trong thế đối sánh với các mô hình thể loa ̣i đã tồn ta ̣i trong các giai đoạn/thời đa ̣i trước đó)
1.2 DIỄN TRÌNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẾ KỶ XX - ĐẦU THẾ KỶ XXI
1.2.1 Như ̃ng tác đô ̣ng “ngoa ̣i sinh”
Trang 12Với công cuộc quốc tế hoá, toàn cầu hoá mạnh mẽ như hiện nay, những luồng sóng mới của văn chương thế giới không ngừng vang dội đến người đọc Việt Nam qua các sách dịch, qua các phương tiện truyền thông đại chúng Xét
về tác động mang tính “trào lưu”, ảnh hưởng của văn chương hậu hiện đại như một trào lưu quốc tế đến văn học Việt Nam là hiện tượng mang tính tất yếu… Nhiều đặc trưng quan trọng nhất của văn chương hậu hiện đại (nền văn học phi trung tâm, hướng đến những vùng ngoại biên, nhằm tạo ra những “tiểu tự sự”
về con người…) đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến quan niệm và kĩ thuật viết
của các nhà văn Việt Nam đương đại
1.2.2 Nhƣ ̃ng vâ ̣n đô ̣ng “nô ̣i sinh”
1.2.2.1 Tiểu thuyết giai đoạn 1926 – 1945
Sau giai đoa ̣n “mở đường” và tiếp thu thể loa ̣i theo mô hình phương Tây
những mẫu mực hoàn chỉnh và trưởng thành như một thể loại độc lập (đặc biệt với các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn ) Mô hình tiểu thuyết “hiê ̣n đa ̣i” được gây dựng từ giai đoa ̣n 1930-1945 là mô hình có sức ảnh hưởng rất mạnh mẽ và lâu dài đến li ̣ch sử tiểu thuyết Viê ̣t Nam hiện đại
1.2.2.2 Tiểu thuyết giai đoạn 1945 – 1975
Nếu so sánh với giai đoạn 1930 - 1945, tiểu thuyết 1945 - 1975 đã có sự đổi
dung thể tài – với sự xuất hiện và trỗi dậy mạnh mẽ của mô hình tiểu thuyết sử
thi (nội dung phản ánh những vấn đề vĩ mô mang tính cộng đồng, hình tượng
con người công dân - xã hội “nắm giữ” tự sự…)
1.2.2.3 Tiểu thuyết giai đoạn 1975 – 1999
Mười năm sau chiến tranh (1975-1985), tiểu thuyết bắt đầu có những vận động nhất định trong cả nô ̣i dung lẫn hình thức biểu hiện Bước sang thời kỳ
(với hai đặc điểm cơ bản: xu thế cá nhân hoá lịch sử và nhãn quan hiện thực;
chú ý cách tân kĩ thuật tự sự) Từ khi có bầu không khí “đổi mới”, các sự kiện
Trang 13lịch sử xã hội bắt đầu được nhìn qua lăng kính cá nhân, lăng kính của mỗi cá tính sáng tạo Việc đổi mới tư duy nghệ thuật cũng là cơ sở quan trọng để có được sự đa dạng về phong cách, sự cách tân phương thức biểu hiện
1.3 TIỂU KẾT
Qua tiến trình phát triển với những thành tựu đã được khẳng định và có thể gọi là “giá trị cổ điển” của tiểu thuyết Việt Nam hiê ̣n đa ̣i, chúng tôi xin đưa ra quan niệm chung với “hình thức thể loại truyền thống” (Điều này sẽ được coi như là một hệ quy chiếu để chúng tôi “soi” vào các nhóm tiểu thuyết A và B):
Thứ nhất, về bản chất loại hình: tiểu thuyết là những tác phẩm được viết
bằng văn xuôi và mang “tính văn xuôi” rõ nét trong cả hình thức ngôn ngữ và nội dung biểu hiện, phản ánh một cách trung thực những trải nghiệm đời sống
Thứ hai, về phương thức tự sự: cấu trúc tiểu thuyết phải dựa trên sự logic và
hấp dẫn trong cốt truyện; một tổng thể nhất quán và hoàn thiện trên phương diện hình thức nhằm tái hiện rõ nét nhất nội dung hiện thực của tác phẩm
Thứ ba, về hình tượng nhân vật và không - thời gian, sự tồn tại của nhân vật
và của không - thời gian đều đòi hỏi phải có sự nhất quán, hợp lý và gắn liền với cốt truyện, với diễn trình tự sự của tác phẩm
Thứ tư, về vấn đề dung lượng và quy mô tác phẩm: theo quan niệm truyền
thống, tiểu thuyết thường có một dung lượng lớn (vài trăm trang trở lên) và có một quy mô đồ sộ, bề thế, là những “đại tự sự” về lịch sử và con người…
CHƯƠNG 2: CÁC KHUYNH HƯỚNG TIỂU THUYẾT TỪ
BÌNH DIỆN HÌNH TƯỢNG THẨM MỸ
2.1 NHÂN VẬT:
Về vấn đề phân loa ̣i hê ̣ thống nhân vâ ̣t , chúng tôi đặc biệt quan tâm đến gợi
ý của Forster trong cuốn Diện mạo tiểu thuyết (1927) khi ông đề xuất một số
Trang 14thuật ngữ quan trọng trong việc nhận diện nhân vật của tiểu thuyết hiện đại:
nhân vật dẹt - không có chiều sâu và nhân vật tròn - cá tính phức tạp Như vâ ̣y,
trong tiểu thuyết hiê ̣n đa ̣i , có hai xu hướng “ứng xử” với nhân vâ ̣t : xu hướng
phức thể hoá –làm “dày” nhân vật, và xu hướng ngược lại : tiết giản hóa – làm
“mỏng” nhân vật (đến mức đôi khi chúng chỉ còn là các “phản nhân vật”, các
kí hiệu hay hình bóng hư ảo, bị tẩy trắng khỏi văn bản)
2.1.1 Các tiểu thuyết Nhóm A (từ đây gọi tắt là “Nhóm A”):
Vớ i nhóm A , hiê ̣n tượng “tiết giản hóa nhân vâ ̣t” (các “nhân vật dẹt” ) hầu như không xuất hiện ; do vâ ̣y , ở đây chỉ sử dụng hệ thống phân cấp nhân vật theo xu hướng thứ nhất (“làm dày nhân vâ ̣t”) trên ba cấp đô ̣ đã được xác đi ̣nh
2.1.1.1 Cấp độ tâm lý – tính cách
Có thể nói, các nhà văn nhóm A đã rất nỗ lực trong viê ̣c đổi mới quan niê ̣m
và cách xây dựng hình tượng con người Thứ nhất, họ tăng cường tính cá nhân cho các nhân vâ ̣t – xa rời dần mẫu hình “anh hùng sử thi” hoă ̣c “nhân vâ ̣t tính
Thứ hai, họ làm cho các nhân vâ ̣t trở nên đa diê ̣n, không còn “thuần nhất” và dễ nắm bắt như ở giai đoa ̣n văn ho ̣c trước Nhân vâ ̣t được soi chiếu từ vô số góc
nhìn, trở thành những “chỉnh thể” đầy đă ̣n và sinh đô ̣ng hơn về mă ̣t con người
2.1.1.2 Cấp độ thân phận – hành động
Trong nhóm A , chúng ta thấy xuất hiện nhiều nhất là kiểu nhân vâ ̣t “Chủ thể của li ̣ch sử”, nhiều thứ hai là kiểu “Na ̣n nhân của li ̣ch sử” và thấp hơn hẳn là kiểu “Người chứng của li ̣ch sử” Các nhà tiểu thuyết nhóm A không quá quan tâm xây dựng kiểu nhân vâ ̣t đứng ngoài la ̣nh lùng quan sát và trần thuâ ̣t Điều
họ hướng đến chính là những “c hủ thể/nạn nhân lịch sử” - những người “dấn
thân”/“trong cuô ̣c” của dòng chảy tự sự và “gắn bó trực tiếp” với truyê ̣n kể
2.1.1.3 Cấp đô ̣ nhân tố tự sự:
Ở cấp độ này, cái gọi là “mới mẻ” trong vấn đề “người kể chuyện /nhân vâ ̣t”
trong các tiểu thuyết nhóm A chủ yếu nằm trong tính chất chứ không nằm trong
vị trí của người kể chuyê ̣n /nhân vâ ̣t đó (VD: là “hồn ma kể chuyê ̣n” trong Bến
Trang 15đò xưa lặng lẽ, là chính đương sự tự “lột mặt nạ” mình trong Ba người khác)…
Do không có nhiều đô ̣t phá về cấu trúc văn bản , nên dù có di chuyển điểm nhìn
từ tác giả toàn tri vào nhân vật, trao quyền bình đẳng cho nhân vật một cách
linh hoạt, song về đại thể , các nhân vâ ̣t nhóm A vẫn tồn tại trong một thế giới
đơn nhất – chỉnh thể của tác phẩm hư cấu, trong một lớp diễn ngôn “đáng tin”
2.1.2 Các tiểu thuyết Nhóm B (từ đây gọi tắt là “Nhóm B”):
Khác với nhóm A , ở nhóm B xuất hiê ̣n cả hai da ̣ng : “nhân vâ ̣t tròn” và
“nhân vâ ̣t de ̣t” (vừa phức thể hóa, vừa tiết giản hóa nhân vâ ̣t)
2.1.2.1 Nhân vật phức hợp, đa bình diện
2.1.2.1.1 Cấp độ tâm lý – tính cách
Mă ̣c dù đều đă ̣t nhân vật trung tâm vào đời sống tâm lý – tâm linh cá thể,
song các nhân vật thuộc nhóm A chủ yếu được khai thác ở khía cạnh tâm trạng , hồi ức (hầu như vẫn nằm trong “vòng kiểm soát” của ý thức); còn các tác giả nhóm B đẩy cuô ̣c thăm dò tâm h ồn con người đến tận những đáy sâu bí ẩn và
“âm u” nhất (chẳng ha ̣n, cõi vô thức) Ở đó, những giấc mơ, những cơn mộng
mị, mê sảng…trở thành một “chiếc cầu nối” lạ lùng đưa ta vào cõi thăm thẳm
của tâm hồn nhân vật Một điểm đặc biệt trong các tiểu thuyết nêu trên là cuộc
khai phá vấn đề “ẩn ức tình dục” (sex) và đặt nó bên cạnh “tâm linh”…
2.1.2.1.2 Cấp độ thân phận – hành động:
Trong khi các tác giả nhóm A không chú ý tới kiểu nhân vâ ̣t “n gười chứng
Điều ho ̣ mong muốn mang đến cho người đo ̣c không phải là những “ảo tưởng” về sự tồn ta ̣i đầy tính “dấn thân” , “giống như thâ ̣t” của nhân vâ ̣t – mà chính là
trực tiếp, máu thịt giữa nhân vật và tự sự đã được “mờ hóa ” Đó chính là mô ̣t
nét “phi truyền thống” trong triết lý tạo tác nhân vật của các tác giả nhóm B
2.1.2.1.3 Cấp độ nhân tố tự sự:
Ở cấp độ này, hiện tượng một nhân vật ở nhóm B cùng lúc đóng nhiều vai
(người kể chuyện, người trực tiếp tham gia cốt truyện, người viết và người đọc
Trang 16của chính câu chuyê ̣n, từ nhân vật chính của lớp truyện này bỗng trở thành nhân vật phụ của lớp truyện kia)…xuất hiện với mức độ khá cao Các nhà văn muốn thể hiện tính dân chủ và tạo ra tính đa âm cho văn bản bằng cách xoá mờ ranh giới cũng như gia tăng những cuộc “đối thoại” giữa tác giả và nhân vật, người viết và người đọc Tất cả những thay đổi này khiến cho nhân vật không còn là một nhân tố của tự sự, nó đang ngày càng trở thành chủ thể của tự sự
2.1.2.2 Nhân vật ký hiệu - biểu tượng và “phản nhân vật”
2.1.2.2.1 Nhân vật ký hiệu – biểu tượng:
Đây là kiểu nhân vật bị “làm dẹt”, bị “tẩy trắng” mọi đường viền lịch sử (tiểu sử/tâm lý/tính cách) chỉ còn là một cái tên, một thứ ký hiệu–biểu tượng:
“bào thai” trong Thiên thần sám hối, “hắn” trong Chinatown; “Kim” trong
Ngồi,…Đối chiếu với quan niệm truyền thống, ta có thể gọi đây là kiểu nhân
vật “phản- nhân vật” Chính những “phản-nhân vật” này đã tạo nên sự bí ẩn, và sức “mê hoặc” của tiểu thuyết: chúng ta buộc phải “khai quật” tất cả các tầng vỉa tác phẩm để tìm chiếc chìa khoá giải mã các “kí hiệu - biểu tượng” này
2.1.2.2.2 Nhân vật “biến mất” hay “không – nhân vật”:
Đây là kiểu nhân vật bị tha hóa, thậm chí bị “vật hóa” và biến mất khỏi tiến
trình câu chuyện: “Quân” trong Ngồi, “Tuấn” trong Trí nhớ suy tàn, “T” trong
T mất tích, “Thụy” trong Chinatown,… Hiê ̣n tượng này tạo nên không ít những
“khoảng trống”, “khoảng tối”, những khúc “vô thanh” cho văn bản Mặc dù đã
“mất tích”, nhưng cái bóng của nhân vật vẫn ám ảnh , vẫn đổ dài xuống câu
chuyện và tạo ra vô số câu hỏi cho người đọc Với khát vọng thay đổi vị thế ,
bản chất của nhân vật truyền thống, các tác giả muốn tạo ra một lối “giải – nhân vật” mà thực chất là một mô hình nhân vật mới cho tác phẩm của mình
2.2 KHÔNG – THỜI GIAN
2.2.1 Nhóm A:
Trang 17Trong các tiểu thuyết của nhóm A , không gian li ̣ch sử và thời gian sự kiê ̣n đã được “nhào nă ̣n” la ̣i dưới cảm hứng thế sự - hiê ̣n ta ̣i, với biết bao trăn trở về thân phâ ̣n con người , với những cái kết dang dở “chưa hoàn thành” của nhiều
số phâ ̣n li ̣ch sử (VD: Dòng sông mía, Hồ Quý Ly, Gia đình bé mọn…)
Bên ca ̣nh những miền không –thời gian mang tính cộng đồng/xã hội rộng lớn, các tác giả nhóm A bắt đầu hướng đến những không –thời gian riêng tư, nhỏ bé của các cá nhân Đặc biệt, phần ký ức, kỷ niệm đan xen trong tác phẩm
đã tạo nên một “miền quá khứ” thấm đẫm cảm xúc chủ thể Nói cách khác, điều các tiểu thuyết nhóm A đang hướng tới chính là sự tâm lý hóa không gian hiện
ngầm” lă ̣ng lẽ và không kém phần mãnh liê ̣t cho dòng chảy tâm lý
tâm lý cho không –thời gian, song nhìn chung cấu trúc không – thời gian trong các tiểu thuyết nhóm A vẫn tuân thủ t ính hệ thống về tổng thể , vẫn thể hiê ̣n sự gắn kết chă ̣t chẽ của không– thời gian với sự phát triển tính cách và tâm lý nhân
vâ ̣t Sự tồn ta ̣i của mỗi miền không-thời gian đều là sự tồn ta ̣i “hữu lý”, mang ý nghĩa “đường viền” nhằm làm nổi bâ ̣t số phâ ̣n và tâm hồn con người trong nó
2.2.2 Nhóm B:
2.2.2.1 Không - thời gian được tâm linh hóa và huyền ảo hóa
Ở các tiểu thuyết nhóm B , sự chia cắt , phân ly về không –thời gian không chỉ diễn ra ở cấp độ vĩ mô (siêu cá thể) mà còn diễn ra ở cấp độ vi mô (cá thể) Chúng ta không chỉ chứng kiến sự “biến mất” của hầu hết các không gian cộng đồng-lịch sử chung, nhường chỗ cho vô vàn những khôn g gian cá nhân nhỏ bé ;
mà còn chứng kiến sự phân tầng ngay trong không g ian riêng của mỗi cá nhân
Ở đó , không- thời gian tiểu thuyết đã được “tâm linh hóa” mạnh mẽ, với sự
“trỗi dâ ̣y” của tầng “vô thức/tiềm thức/tâm linh” so với với phần “ý thức”…)
2.2.2.2 Không - thời gian mang tính tượng trưng - biểu tượng
Trang 18Với nỗ lực xây dựng những không gian “không ở đâu cả” (nowhere land)- phi xác thực, và thời gian “không lúc nào cả” (nowhen time) - phi lịch sử, các tác giả đã chủ động tước đi tính lịch sử, tính minh bạch của không - thời gian
trên cả hai tư cách: bối cảnh tồn tại của các nhân vật và hình tượng nghệ thuật
độc lập trong tiểu thuyết Như vâ ̣y, họ cũng đồng thời tước đi chiếc chìa khóa
hữu hiệu mở ra thế giới tâm lý nhân vật hay giải mã ý nghĩa tác phẩm (Điều đó lại khiến cho sự xuất hiện của nhân vật trở nên kì lạ, ám ảnh hơn, và ở một số trường hợp, mang tính khái quát hơn: như tính “nhân loại”, tính “vĩnh hằng”…)
2.2.2.3 Không- thời gian có cấu trúc thường biến và thiếu tính chỉnh thể
Các tác phẩm Chinatown, Thoạt kỳ thuỷ, Ngồi,… có thể được hình dung
như những bức tranh lập thể về không- thời gian, với cấu trúc không gian chồng chất và thời gian đa chiều Sự đan xen, lắp ghép thường xuyên các không - thời gian khác nhau đã “giúp” cho nhân vật được tồn tại ở nhiều bình diện, nhiều bối cảnh khác nhau: một sự tồn tại lập thể, đa chiều, không hề giản đơn
2.3 TIỂU KẾT
Nhìn chung, “hình tượng thẩm mỹ” trong hai nhóm tiểu thuyết A và B đang
có những vận động theo hai chiều hướng không giống nhau: Trong khi các nhà văn nhóm A nỗ lực thay đổi cách xây dựng hình tượng so với mô hình truyền thống song vẫn “bảo lưu” tính hệ thống, sự kết nối chặt chẽ của nó với toàn bộ cấu trúc truyện kể thì các nhà văn nhóm B lại gần như cố ý phá bỏ mô hình này Mục đích quan trọng nhất của họ là tạo nên một hệ thống hình tượng độc đáo,
có thể không gắn kết chặt chẽ với tiến trình tự sự nhưng lại mang lại cho tác phẩm tính phức tạp, đa trị về phương diện diễn ngôn và phương diê ̣n tiếp nhâ ̣n
CHƯƠNG 3: CÁC KHUYNH HƯỚNG TIỂU THUYẾT TỪ BÌNH DIỆN PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT
3.1 NGƯỜI KỂ CHUYỆN (NKC) VÀ ĐIỂM NHÌN (ĐN)
3.1.1 Nhóm A:
Trang 19Trong các tiểu thuyết nhóm A, bên ca ̣nh mô hình “NKC ngôi ba hàm ẩn với điểm nhìn thông suốt” vẫn phổ biến theo truyền thống, chúng ta đã thấy xuất hiê ̣n dạng “NKC hàm ẩn - ĐN bên trong” hoă ̣c “NKC xưng “tôi” tham gia vào
truyện kể” được sử dụng xen kẽ như một giải pháp “phái sinh” (góp phần làm
giảm khoảng cách giữa NKC và câu chuyện) Tuy nhiên, dù có sự di chuyển từ điểm nhìn toàn tri vào nhân vật, song các “point of view” vẫn chủ yếu tập trung
vào hai kiểu chính: NKC xưng tôi kể trên một lớp văn bản và NKC hàm ẩn kể
theo điểm nhìn nhân vật Họ vẫn là những NKC tồn tại trong một thế giới nhất
quán, một lớp diễn ngôn – những “NKC đáng tin cậy” Nghĩa là, các tiểu thuyết này dù có những thay đổi nhất định về điểm nhìn trần thuật, song chưa có những đột phá mang tính “cấu trúc văn bản”
3.1.2 Nhóm B:
Thứ nhất, trong nhóm này hiện tượng “NKC hàm ẩn toàn năng” rất ít xuất
hiện hoặc hầu như không xuất hiện Vị trí của những NKC thuần nhất, thâu tóm
toàn bộ thế giới sự kiện bị lung lay dữ dội hoặc biến mất, thay thế vào đó là
những dạng thức khác phức tạp hơn Thứ hai, vai trò của NKC đang phân hoá
mạnh mẽ, sâu sắc trên từng tác phẩm: văn bản bị phân rã và chia cắt bởi nhiều
ĐN, nhiều NKC khác nhau, ở nhiều cấp độ khác nhau Thứ ba, sự đan chéo các điểm nhìn không chỉ dừng trên các lớp văn bản có cùng một ngôi trần thuật mà
còn đi xa hơn, tiến đến sự luân chuyển thường xuyên giữa trần thuật từ ngôi thứ
nhất và trần thuật từ ngôi thứ ba (thậm chí, trần thuật ngôi thứ hai): Đi tìm nhân vật, Trí nhớ suy tàn Lối phối hợp đa tầng và nhiều đứt gãy về ĐN/NKC
đó đã mang đến những “thế giới hiện thực” bị xáo trộn, bị phân mảng và không thể kết nối thành một cái nhìn toàn vẹn như trong truyền thống Một cuộc “đối thoại ngầm” giữa tác giả với nhân vật và bạn đọc đã nảy sinh thông qua sự
“tương tác” giữa các ĐN/NKC, và hệ quả tất yếu là sự đa dạng hóa các giọng
điệu trần thuật, sự phá vỡ tính độc tôn của một “giọng chủ âm” trên văn bản
3.2 KẾT CẤU
3.2.1 Nhóm A:
Trang 20Với nhóm A, chúng ta có thể nhận thấy sự xuất hiện những mô hình kết cấu
“sơ khởi” (kết cấu vòng tròn, kết cấu lũy tiến) cùng thuộc kiểu kết cấu lịch sử -
sự kiện Cùng với việc cách tân hai sơ đồ cốt truyện mang tính “cổ sơ” trên đây,
ở nhóm tác phẩm đang xét còn thấy xuất hiện một kiểu kết cấu có nhiều khác
biệt so với các tiểu thuyết “truyền thống”: kết cấu tâm lý (Tất nhiên, dạng kết
cấu tâm lý trong tiểu thuyết đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XX và đạt được nhiều thành tựu) Cái mới ở đây chủ yếu ở chỗ: trong khi hai sơ đồ “chu kỳ”/“lũy tiến” đều tuân theo khá nghiêm ngặt logic sự kiện và tuyến tính thời gian thì sơ
đồ “kết cấu tâm lý” trong các tiểu thuyết nhóm A lại cố tình phá bỏ điều này Nhìn chung, xét về kết cấu, hầu hết các tiểu thuyết nhóm A đều là sự cách tân dựa trên các mô hình “nguyên khởi” và luôn gắn liền với sự duy trì hình thức truyền thống Đó là những câu chuyện mang “sườn cốt” rõ ràng, có thể kể hay tóm tắt lại, và dù đi theo tuyến tính thời gian hay không, nó vẫn tôn trọng tính nhân quả của các sự kiện, vẫn bảo lưu “tính chuyện” trong mô hình kết cấu Đây là “sợi dây” níu giữ quyết liệt nhất các tác phẩm nhóm A với các tác phẩm nằm gọn trong phạm trù “hình thức thể loại truyền thống” của giai đoạn trước
3.2.2 Nhóm B:
Với các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Vũ Đình Giang, Thuận,… chúng ta không còn nhìn thấy “bóng dáng” của những mô hình cốt truyện “sơ khởi” Có thể nói, “nhóm B” đã vượt ra bên ngoài những “thước đo” quen thuộc
và tự nó đòi hỏi phải có những “thước đo” kiểu khác Các kiểu kết cấu nổi bật ở
nhóm B là: kết cấu đa tầng và tự tham chiếu (truyện lồng truyện, truyện tự giễu nhại chính bản thân nó), kết cấu xoắn kép (nhiều mạch chạy song song hoặc đan chéo vào nhau), kết cấu phân mảnh (đâ ̣p vỡ các mảng cốt truyê ̣n và phối la ̣i với
nhau theo tư duy “lâ ̣p thể” ) và kết cấu trùng điệp văn bản (phân tách văn bản
thành các lớp ch ất liệu ngôn ngữ dị biệt; chồng xếp các văn bản thuộc các thể
hiện những phần bất ổn trong đáy sâu tâm thức con người ; những “gương mặt” biến ảo của đời sống mà không mô ̣t khuôn hình cố đi ̣nh nào có thể đổ vừa