Tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học phần Tiếng Việt - Chương trình Ngữ văn 10 Trung học phổ thông Lưu Hồng Xuân Trường Đại học Giáo Dục.. Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên
Trang 1Tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học phần Tiếng Việt - Chương trình Ngữ văn 10
Trung học phổ thông
Lưu Hồng Xuân
Trường Đại học Giáo Dục Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn ThS Giáo dục học: 60 14 10 Người hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Ban
Năm bảo vệ: 2013
110 tr
Abstract Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu như: về
tính tích cực, năng lực sáng tạo; việc tổ chức dạy học ngoại khóa Tiếng Việt, việc vận dụng kiến thức vào việc tổ chức một số hoạt động ngoại khóa (HĐNK) Tiếng Việt lớp
10 Trung học phổ thông (THPT) Khảo sát và đánh giá thực trạng dạy học ngoại khóa Tiếng Việt tại một số trường THPT thuộc địa bàn thành phố Hà Nội Đề xuất nội dung
và cách thức tổ chức ngoại khoá cho một số đơn vị kiến thức về Tiếng Việt 10 – THPT Tổ chức thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của đề xuất và rút ra một số kết luận cần thiết
Keywords.Ngữ văn; Hoạt động ngoại khóa; Lớp 10; Tiếng Việt; Trường trung học
phổ thông
Content
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động ngoại khóa
Trong giáo dục học nói chung cũng như trong dạy học các môn học nói riêng, HĐNK (HĐNK ) là một nội dung quan trọng bổ trợ, mở rộng nội dung dạy học chính khóa, tạo sự hấp dẫn cho học sinh trong quá trình học tập Trong xu hướng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, Bộ Giáo dục đã ban hành nhiều chỉ thị, văn bản liên quan đến việc đẩy mạnh các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Nội dung của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã được xác định trong Điều 26, Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban
Trang 2hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGD ĐT ngày 02/04/2007 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo) nêu: “Nhà trường phối hợp với các tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục ngoài nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các HĐNK về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt đông vui chơi, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa, giáo dục môi trường; các hoạt động xã hội, từ thiện phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh”[22, tr 14]
Công tác ngoại khóa là một phần quan trọng, có mối quan hệ gắn bó khăng khít với chính khóa Ngoại khóa là một hoạt động bổ sung và nâng cao chất lượng của chính khóa lên một bước Bên cạnh những khái niệm, những công thức, tri thức, việc dạy học cũng phải quan tâm đến quá trình hình thành và phát triển các kĩ năng, các quan hệ giao tiếp, các mối liên hệ gắn bó giữa người học với hiện thực cuộc sống, và việc này liên quan mật thiết đến HĐNK Thực tiễn trong những năm gần đây ở các nhà trường phổ thông hiện nay, hoạt động dạy học Tiếng Việt nói chung và HĐNK Tiếng Việt nói riêng ít được tổ chức, lãnh đạo nhà trường và giáo viên bộ môn chưa có sự đầu tư cho hoạt động này vì họ thường chú trọng công tác chuyên môn Vì thế, kinh nghiệm tổ chức HĐNK còn hạn chế, nếu có tổ chức thì nội dung và hình thức các buổi sinh hoạt ngoại khóa cứ lặp đi, lặp lại làm cho học sinh nhàm chán, ít hứng thú tham gia nên hiệu quả đạt được chưa cao
1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy học Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay
Ở nhà trường phổ thông, Tiếng Việt là một môn học giữ vai trò vô cùng quan trọng có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh (HS) những tri thức về ngôn ngữ học và hệ thống tiếng Việt, cùng với những quy tắc hoạt động và sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp Mặt khác, vì tiếng nói là công cụ của tư duy nên Tiếng Việt còn đảm nhận thêm một chức năng khác – chức năng trang bị cho HS công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường Tư duy vượt trội và giao tiếp thành công phụ thuộc rất lớn vào khả năng sử dụng ngôn ngữ của mỗi cá nhân Tuy vậy,
Trang 3trong chương trình phổ thông, việc dạy Tiếng Việt chưa được chú trọng, bởi sách giáo khoa (SGK) vẫn còn nặng về lý thuyết khô khan Tình trạng nội dung lí thuyết và bài tập thực hành mang nặng tính chất ngôn ngữ, nên hiệu quả dạy học Tiếng Việt trong nhà trường nhìn chung còn chưa cao, năng lực sử dụng tiếng Việt của HS còn yếu kém Nhiều giáo viên (GV) chỉ quan tâm đến dạy Văn mà chưa thật quan tâm đến việc hướng HS học Tiếng Việt để giao tiếp và giao tiếp hiệu quả; cũng có những GV quan tâm đến việc dạy Tiếng Việt theo định hướng giao tiếp nhưng gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy Từ thực tế giao tiếp với HS, cũng như qua các bài kiểm tra, bài viết của các em, các thầy cô giáo đều có chung nhận xét: “kĩ năng trình bày, diễn đạt của
HS phần nhiều chưa tốt”; có em có ý tưởng nhưng “không biết trình bày”, “lúng túng khi diễn đạt, nói (viết) vụng về, sơ sài” hoặc “lập luận thiếu chặt chẽ, thiếu logic”, khiến người nghe khó nắm bắt được vấn đề các em muốn trình bày Dạy nhiều, học nhiều và có thể biết nhiều song vẫn còn thiếu nhiều hiểu biết đến nơi đến chốn về cách thức và nghệ thuật sử dụng Tiếng Việt Và kết quả tất yếu là năng lực Tiếng Việt của các em chưa đủ đáp ứng yêu cầu giao tiếp trong công việc học tập cũng như trong lĩnh vực giao tiếp xã hội
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn đặc biệt là phần Tiếng Việt là tăng cường các HĐNK cho HS trong quá trình học tập để môn học này gắn bó hơn với đời sống, hạn chế được những bất cập Theo những tinh thần nêu trên, qua quá trình nghiên cứu sách giáo khoa Ngữ văn 10, với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông (THPT) nói chung và dạy học phần Tiếng Việt nói riêng, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT– CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1.Các nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục hiểu theo nghĩa xã hội học là một hiện tượng xã hội, bản chất là sự tiếp nối kinh nghiệm xã hội, lịch sử qua các thế hệ Quá trình giáo dục được tổ chức,
Trang 4thực hiện một cách có ý thức theo định chuẩn xã hội Giáo dục khi đó có mục tiêu, nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức xã hội Ở các nước phát triển trên thế giới
và trong khu vực như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore… ngoại khóa nói chung, ngoại khóa Văn học nói riêng là một phần không thể thiếu được trong chương trình đào tạo của mình Mục tiêu cuối cùng của giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách được giáo dục (phổ biến là HS), sự phát triển toàn diện nhân cách, sự phát triển về thể chất (thể lực, thể hình, thể năng), tâm trí (trí tuệ, tình cảm) và năng lực thực tiễn (Mác gọi là năng lực kĩ thuật tổ chức, Phương tây gọi là kĩ năng xã hội, UNESCO gọi là kĩ năng sống)
Muốn đạt được mục tiêu của giáo dục nêu trên thì giáo dục không khuôn gọn trong thời gian trên lớp học mà phải mở rộng trong không gian xã hội, tổ chức HĐNK
là hướng đến các yêu cầu đó HS không chỉ là khách thể mà cuối cùng phải là chủ thể của quá trình giáo dục, giáo dục không chỉ diễn ra trên lớp, trong trường học mà phải thực hiện lớp, ngoài trường theo phương thức kết hợp giáo dục giữa nhà trường và xã hội thông qua các hình thức như học tập, lao động, vui chơi, giáo dục, sinh hoạt ngoài trời, thăm quan, du lịch, hoạt động trong môi trường, sinh hoạt tập thể, v.v…
Đây chính là tư tưởng giáo dục lớn của nhân loại và dân tộc Giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục xã hội, giáo dục gia đình Chẳng hạn, Khổng Tử (551 –
479 trước Công nguyên) – một triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Hoa cổ đại muốn rằng qua giáo dục để tạo ra lớp người “Trị quốc” cũng phải học gắn với hành Ông khẳng định “Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư giỏi, giao cho việc hành chính không làm được, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp, học kiểu như vậy chẳng có ích gì”
Đặc biệt J.A Cômenxki (1592 – 1670) được coi là “Ông tổ của nền sư phạm hiện đại” đã có những đóng góp lớn lao cho nền giáo dục trên thế giới Trong đó, ông đặc biệt quan tâm đến việc kết hợp học tập ở trên lớp và hoạt động ngoài lớp nhằm giải phóng hình thức học tập “Giam hãm trong bốn bức tường” của hệ thống nhà trường giáo hội thời
Trang 5trung cổ Ông khẳng định “học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà còn
lĩnh hội kiến thức từ mặt trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ”
Thomas More (1478–1535) – Nhà giáo dục Không tưởng đầu thế kỷ XVI đã đánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và đối với xã hội Việc giáo dục con người phải thực hiện kết hợp giáo dục nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường, trong lao động và hoạt động xã hội
Pétxtalôzi (1746–1827) – Một nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ và thế giới trong thế
kỷ 19, với lòng nhân ái sâu sắc, ông muốn cứu vớt trẻ em con nhà nghèo bằng con đường giáo dục thông qua thực nghiệm giáo dục, đó là việc ông dựng ra “trại mới” - ở đây trẻ em vừa được học tập, vừa lao động (trồng cây thiên thảo, sản xuất thuốc nhuộm vải ) ngoài lớp, ngoài trường học Theo ông hoạt động ngoài lớp không những tạo ra của cải vật chất mà là con đường để giáo dục toàn diện học sinh
C Mác (1818 – 1883) và F Anghen (1820 – 1895) – Người sáng lập học thuyết cách mạng XHCN và là ông tổ của nền giáo dục hiện đại Ông xác định mục đích nền giáo dục XHCN là tạo ra “con người phát triển toàn diện” Muốn vậy phải theo phương thức giáo dục kết hợp với lao động vật chất” Đây chính là phương thức giáo dục hiện đại
V.I Lênin (1870–1924) người phát triển học thuyết giáo dục XHCN Mác và F.Anghen đã vận dụng phương thức giáo dục này vào thực tiễn là một trong những nguyên tắc của giáo dục XHCN Trong bài phân tích “nhiệm vụ của Đoàn thanh niên” (1920) Người nói “chỉ có thể trở thành cộng sản khi biết lao động và hoạt động xã hội cùng với công nhân vô sản”
K Cơrupxkaia (1869 – 1939) – Nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại đã phản ánh sâu sắc ý nghĩa của hoạt động lao động, hoạt động chính trị xã hội Bà đã vận dụng phương pháp luận Mác xít vào việc nghiên cứu khoa học giáo dục và đặt nền móng phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội chủ nghĩa
Trang 6Hay A Macarencô (1888 – 1939) – Nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại bỏ công làm một cuộc thực nghiệm giáo dục vĩ đại trong gần 20 năm “ Trại lao động Goocki và
DecZinxki” nhằm cải tạo trẻ em phạm pháp
Như vậy, tư tưởng giáo dục trong nhà trường kết hợp với giáo dục ngoài nhà trường, kết hợp giáo dục lao động sản xuất đã được nhiều nhà giáo dục vĩ đại trên thế
giới đề cập tới và thử nghiệm thành công
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
- Về HĐNK
Đã có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động này Nghiên cứu HĐNK ở trường phổ thông nhấn mạnh vai trò chủ thể trong hoạt động tập thể.; Nghiên cứu đề cập đến các hình thức tổ chức HĐNK ; Nghiên cứu về công tác quản lý tổ chức HĐNK
Tiêu biểu như:
Năm 1995, Chương trình Khoa học – Công nghệ cấp Nhà nước KX.05 với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KX.05.10: “Vị trí, vai trò hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” do PGS TS Nguyễn Viết Vượng chủ nhiệm đề tài đã bước đầu xây dựng hệ thống các quan điểm lý luận, nhận thức mới, làm tiền đề đổi mới tổ chức, hoạt động của các tổ chức, đoàn thể nhân dân trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội Trong đề tài đã xác định vị trí, vai trò, tính chất, chức năng, đặc điểm của các mặt trận, các đoàn thể, tổ chức xã hội
Luận án tiến sĩ giáo dục học của Nguyễn Thị Thành nghiên cứu về “Biện pháp
tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học phổ thông” Công trình đi sâu phân tích khẳng định vai trò hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (NGLL) trong việc hỗ trợ các hoạt động giáo dục khác trong việc hình thành những phẩm chất nhân cách, kỹ năng sống cho HS Vấn đề tác giả đặt ra là: nhà trường và xã hội dần từng bước tổ chức hoạt động vui chơi, giải trí có tính kỹ thuật, nghệ thuật để các em
Trang 7phát triển năng khiếu, tài năng của mình và sâu xa hơn là qua các hoạt động đó mà tác động tới việc hình thành nhân cách của HS
Công trình nghiên cứu: “Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh lớp 6
”, tác giải Phạm Hoàng Gia bằng cách tác động tới cha mẹ HS, các lực lượng giáo dục
về định hướng giá trị và coi trọng hơn nữa kết quả học tập cho thấy tổ chức hoạt động học tập, nếu lồng ghép được ý nghĩa tập thể thì nhân cách của HS cũng được phát triển
Hà Nhật Thăng trong cuốn “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục” [24, tr 44] cũng đã đề cập đến sự cần thiết mục tiêu, nội dung, một số nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục, hệ thống kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp
Trong sách “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Hà Nhật Thăng (Tổng chủ biên kiêm chủ biên) – Sách giáo viên từ lớp 6, 7, 8, 9, [24, tr 45 - 48] cũng đã nêu lên mục tiêu, nội dung chương trình hoạt động giáo dục NGLL, phương tiện, trang thiết bị cho việc tổ chức hoạt động giáo dục NGLL, đánh giá kết quả tổ chức hoạt động giáo dục NGLL của HS, đồng thời hướng dẫn thực hiện cụ thể các chủ điểm giáo dục
Trong các bài viết của tác giả Nguyễn Dục Quang đã đề cập vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục NGLL, giáo dục quốc tế cho học sinh qua các hoạt động giáo dục NGLL [2., tr 22, 38, 39, 43], ngoài ra còn không ít các khóa luận đại học và luận văn thạc sỹ nghiên cứu vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau
Như vậy, đã có rất nhiều tác giả đề cập tới vấn đề HĐNK , song các tác giả hầu hết chỉ đưa ra các hình thức tổ chức, các biện pháp quản lý hoạt mà chưa phân tích các biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động này cho HS, chưa làm nổi bật vai trò thế mạnh của HĐNK trong việc hình thành nhân cách HS góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện các trường THPT trong giai đoạn hiện nay Các chương trình
Trang 8trên cũng chưa đi sâu nghiên cứu các biện pháp tổ chức HĐNK cho đối tượng HS THPT
- Về ngoại khóa Tiếng Việt
Trong các giáo trình về lí luận và phương pháp dạy học văn đều có dành một phần bàn về ngoại khóa và các HĐNK Văn học nói chung, ngoại khóa Tiếng Việt nói riêng, như: "Hoạt động văn học ngoài nhà trường, vị trí của công tác ngoại khóa văn học", "Công tác ngoại khóa văn học với nhiệm vụ đào tạo con người toàn diện của nhà trường xã hội chủ nghĩa", "Nguyên tắc HĐNK văn học" của GS Phan Trọng Luận; "Tổ chức và hướng dẫn học sinh đọc ngoại khóa văn học" của TS.Trần Thanh Bình; gần đây nhất, một số hội thảo đáng chú ý đề cập đến vấn đề HĐNK như: Hội thảo "Hiệu quả của HĐNK đối với việc nâng cao chất lượng dạy-học trong nhà trường phổ thông" của Viện Nghiên cứu giáo dục-Trung tâm Đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; Hội thảo
"Công tác quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông" của Trường Cán bộ quản lí giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề xung quanh HĐNK , hoạt động ngoại khóa văn học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất nội dung và cách thức tổ chức HĐNK trong dạy học Tiếng Việt 10 - THPT nhằm củng cố, khắc sâu, mở rộng kiến thức tiếng Việt cho học sinh Thông qua đó, phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của HS; tạo cho các
em hứng thú học tập và yêu thích môn học này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu như: về tính tích cực, năng lực sáng tạo; việc tổ chức dạy học ngoại khóa Tiếng Việt, việc vận dụng kiến thức vào việc tổ chức một số HĐNK Tiếng Việt lớp 10 THPT
(2) Khảo sát thực trạng dạy học ngoại khóa Tiếng Việt tại một số trường THPT thuộc địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 9(3) Đề xuất nội dung và cách thức tổ chức ngoại khoá cho một số đơn vị kiến thức về Tiếng Việt 10 – THPT
(4) Tổ chức thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của đề xuất và rút ra một số kết luận cần thiết
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chương trình Tiếng Việt 10 và việc tổ chức ngoại khoá Tiếng Việt lớp 10 - THPT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các bài học trong chương trình Tiếng Việt - Ngữ văn 10 THPT
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc và phân tích các tài liệu, văn bản để tìm hiểu các khái niệm thuật ngữ và vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động ngoại khóa, biện pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa, đặc điểm tâm lý, phương pháp giáo dục học sinh THPT, nghiên cứu định hướng,
đổi mới giáo dục Việt Nam và chương trình đổi mới giáo dục THPT
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm xem xét, phân tích các biện pháp, cách thức tổ chức HĐNK cho HS ở các trường THPT, đảm bảo tính chân thực, khách quan
của đối tượng nghiên cứu
(1) Phương pháp quan sát: Quan sát các kỹ năng, thao tác của HS khi tổ chức hoặc tham gia các HĐNK
(2) Phương pháp tọa đàm: Trò chuyện trao đổi với HS, GV, phụ huynh, để đánh giá nhận thức, hành vi, thái độ của HS, đánh giá những biện pháp tổ chức HĐNK
Trang 10(3) Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các của các chuyên gia với các
nhà quản lý thu nhập các thông tin cần thiết liên quan đến đề tài biện pháp tổ chức
HĐNK , nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT
5.3 Các phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phân tích những kinh nghiệm trong và ngoài nước của việc tổ chức HĐNK ở các trường THPT, từ đó đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động phù hợp với từng địa
phương, từng trường THPT
5.4 Phương pháp thực nghiệm
Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp tổ chức HĐNK ở trường THPT đề xuất nhằm kiểm chứng tính khả thi và kết quả của các hoạt động ở trường THPT về một số nội dung đã chọn và đánh giá mức độ hoàn thành của luận văn so với mục đích nghiên cứu của đề tài
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn trình bày thành 3 chương :
Chương 1 : Cơ sở khoa học của việc tổ chức HĐNK Tiếng Việt
Chương 2 : Đề xuất nội dung và cách thức tổ chức ngoại khóa trong dạy học Tiếng Việt - chương trình Ngữ văn 10 THPT
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đặng Thúy Anh (1987), “Một hướng cải tiến tiết hoạt động tập thể ở lớp 6”, Tạp chí
Nghiên cứu giáo dục (2), tr.17-19
2 Bộ GD – ĐT, Chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trường THCS,
2002