1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang

304 629 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 304
Dung lượng 13,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay đã có giống nấm hương chịu đựng được ở nhiệt độ cao hơn, có thể trồng cả trong vụ xuân hè Trong quá trình chăm sóc, lượng nước trong các túi hình gối túi gối giảm dần.. Bệnh, cô

Trang 1

MỤC LỤC PHẦN 1: Công nghệ nuôi trồng nấm SHIITAKE

II Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của sợi nấm

và hình thành quả thể

VI Nghiên cứu khảo sát tốc độ phát

Phần II – Nuôi trồng Nấm ánh trăng Lampteromyces sp & Ompahlotus sp

I Phân lập và khảo sát tốc độ sinh trưởng của

Phần III – Nuôi trồng Nấm Macrocybe

Phần IV – Nuôi trồng Nấm Mộc nhĩ

Phần V- Nuôi trồng Nấm Chân chim

I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

V KẾT QUẢ PHÂN LẬP TRÊN ỐNG NGHIỆM

VI Khảo sát tốc độ lan tơ của(S COMMUNE)

1

Trang 2

Trên môi trường PGA 145

VII Khảo sát tốc độ ăn sâu của tơ nấm (S COMMUNE)

Phần VI Nghiên cứu nuôi trồng nấm Lentinus gigantean

và so sánh với Pleurotus

PHẦN VII: PHÁT HIỆN VÀ NUÔI TRỒNG NẤM LÁ SEN KHỔNG LỒ Ở NAM VIỆT NAM:

Phần IX Nghiên cứu nuôi trồng Nấm

Bào ngư Pleurotus spp

III Một loài nấm bào ngư vua quý hiếm:

PLEUROTUS ERYNGI được nuôi trồng ở Việt Nam

PHẦN X: NUÔI TRỒNG NẤM LINH CHI

GANODERMATACEAE

1 Tốc độ phát triển của hệ sợi trên môi trường PGA cải tiến

3 Nghiên c ứu thử nghiệm nuôi trồng nấm Linh chi

Trang 3

Tomophagus colossus và Tomophagus cattienensis 262

III Thăm dò tác động của nước nặng

IV Nghi ên cứu ảnh hưởng của VANADIUM

Trên nấm Linh chi Ganoderma lucidum (W Curt : Fr.) Karst 270

V Khả năng sinh trưởng đặc biệt của loài nấm linh chi mới

VI Nghiên cứu khả năng sinh trưởng Và khả năng hấp thụ selenium

VII Nghiên cứu nuôi trồng nấm linh chi sò –

VIII Nấm Kim GANODERMA AMBOINENSE (Lam.: Fr.) Pat

IX Nghiên cứu nuôi trồng nấm tử chi

Ganoderma japonicum (Fr.) Lloyd mới phát hiện ở Đà Lạt 279

X Góp phần khảo cứu nhóm nấm Cương chi -

XIII Nghiên cứu nuôi trồng nấm Hoàng chi

XII Nghiên cứu thử nghiệm nuôi trồng, so sánh

XIII GANODERMA TERENGGANUENSE CORNER

XIV Nuôi trồng nấm linh chi đen

3

Trang 4

4.1: CÔNG NGHỆ NẤM SHIITAKE

4.1.1 Chu trình sống của nấm hương

Nấm hương là một nấm đảm Basidiomycetes, chu kỳ sống của nấm hương (hình 1.1) bắt đầu khi quả thể trưởng thành phóng thích bào tử đảm (basidiospores) vào không khí và được phát tán nhờ gió Gặp điều kiện thuận lợi như ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng, bào tử đảm sẽ nảy mầm và hình thành sợi nấm sơ cấp (primary mycelium), đơn nhân (monokaryons) Sợi nấm sơ cấp không có khả năng hình thành quả thể

Khi hai sợi nấm sơ cấp tương hợp (compatible) bắt cặp với nhau tạo nên hệ sợi song nhân (dikaryons), gọi là hệ sợi thứ cấp (secondary mycelium) Một tính chất đặc biệt để phân biệt hệ sợi thứ cấp với hệ sợi sơ cấp ở nấm hương cũng như nấm đảm Basidiomycetes là sợi nấm thứ cấp có hình thành các mấu liên kết (clamp connection) Hệ sợi thứ cấp có khả năng hình thành quả thể

Tính chất dị tản (heterothallism) khi vắt cặp của hệ sợi sơ cấp nấm đảm lần đầu tiên được nghiên cứu bởi Kniep (1920) ở nấm Schizophyllum commune và Bensaude (1918) ở nấm Coprinus fimetarius [99] Năm 1961, Takemaru công bố hệ thống bắt cặp của nấm hương Nấm hương là nấm dị tản hai yếu tố không liên kết với nhau đó là yếu tố A và yếu tố B [26], [129]

- Yếu tố A kiểm soát sự bắt cặp của nhân, hình thành mấu liên kết (clamp connection) và tạo vách ngăn giữa hai tế bào

- Yếu tố B làm tan vách ngăn, kiểm soát sự di chuyển nhân và tham gia tạo mấu liên kết

Khi dị alen ở cả hai locus thì hai sợi nấm sơ cấp, đơn nhân sẽ tương hợp và bắt cặp với nhau tạo thành sợi thứ cấp song nhân

Ví dụ: Một chủng có kiểu gen tương hợp là AxAyBxBy khi giảm nhiễm sẽ tạo ra

4 bào tử có kiểu gen là AxBx, AxBy, AyBx, AyBy

Bảng 1.1: Sự tương hợp giữa các dòng đơn nhân trong cùng một chủng

Dấu + là tương hợp tạo thành sợi thứ cấp, song nhân

Dấu – là không tương hợp

Hệ sợi thứ cấp chiếm hầu hết chu kỳ sống của nấm hương Ở giai đoạn sinh dưỡng này hệ sợi nấm sẽ hấp thu và tích lũy dinh dưỡng để chuẩn bị hình thành quả thể Hệ sợi thứ cấp sẽ kết lại tạo thành những mấu nhỏ gọi là mầm quả thể (primordia) Khi môi trường thuận lợi, đủ ẩm và dinh dưỡng dồi dào, mầm quả thể

sẽ tăng kích thước rất nhanh để tạo quả thể trưởng thành Khi quả thể trưởng thành thì sự dung hợp của hai nhân xảy ra tạo nên tế bào sinh bào tử Sau đó tế bào này phân chia hai lần trong đó có một lần phân bào giảm nhiễm Kết quả tạo thành 4

Trang 5

nhân con di chuyển về 4 mấu lồi mọc ở đỉnh sợi nấm để hình thành 4 bào tử đơn nhân (n) Sau khi thành thục, bào tử được phóng thích ra môi trường, gặp điều kiện thuận lợi sẽ bắt đầu một chu trình sống mới

Hình 1 Chu trình sống của nấm hương

4.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của sợi nấm và hình thành quả thể

4.1.2 1 Dinh dưỡng

Nguồn dinh dưỡng carbon

Nguồn carbon thích hợp cho sợi nấm hương phát triển bao gồm các monosaccharide, oligosaccharide và polysaccharide, như đường glucose, saccharose, galactose, tinh bột,cellulose Nồng độ đường thích hợp cho sợi nấm sinh trưởng trong môi trường lỏng từ 3 – 5 % [150], [65] Theo Khan (1991) trong nuôi trồng nấm, tinh bột là nguồn carbon thích hợp hơn hẳn so với glucose, saccharose

và galactose [73] Theo Sugimori (1971) nấm cũng có thể sử dụng một số nguồn carbon không phải là carbohydrate nhe ethanol, glycerin [125] Ở giai đoạn mầm quả thể, sự tăng trưởng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn dinh dưỡng carbon và nồng

độ đường cao Tokimoto và Kawai thấy rằng ở giai đoạn này nếu bổ sung dung dịch

saccharose 8% làm tăng năng suất quả thể [135]

Nguồn dinh dưỡng nitơ

Pepton, amino acid, urea, các muối amon là nguồn dinh dưỡng nitơ thích hợp cho sợi nấm phát triển Theo Ishikawa (1967) nồng độ đạm thích hợp cho nấm hương ở dạng đạm amonium sulfate là 0,03 % và ở dạng amonium tactrate là 0,06

% [65] Nghiên cứu của Khan (1991) thấy rằng urea là nguồn nitơ thích hợp nhất với nấm hương sau đó đến amino acid và cuối cùng là đạm nitrate [73]

5

Trang 6

Lượng N tổng số trong gỗ và mùn cưa thấp, từ 0,03 – 0,30 % là một trong những yếu tố giới hạn sinh trưởng của sợi nấm Một trong những nhu cầu cần đạm của nấm là tổng hợp enzyme cellulase để phân giải cellulose của gỗ [78] Vì vậy để nuôi trồng nấm có năng suất cao cần bổ sung đạm

Tỷ lệ C/N cũng rất quan trọng đối với sinh trưởng của sợi nấm Theo Chang (1993), tỷ lệ C/N thích hợp với nấm hương là 20 – 25/1, trong khi đó ở nấm rơm (V volvacea) là 40 -60/1, ở nấm mỡ (A.bisporus) là 18/1 [31]

Khoáng chất và vitamin

Trong môi trường nuôi nấm nhất thiết phải có các nguyên tố khoáng Phospho cần thiết để tổng hợp ATP, nucleic acid, phospholipid Theo Miles (1993) nồng độ phospho thích hợp là 0,004 M Kali là nguyên tố khoáng đóng vai trò cofactor trong nhiều enzyme, nồng độ thích hợp từ 0,001 – 0,004 M [88]

Lưu huỳnh cũng rất cần thiết cho nấm hương Nguồn cung cấp lưu huỳnh thường là MgSO4 Lưu huỳnh tham gia trong cấu tạo các amino acid chứa lưu huỳnh như cystein, methyonin và tham gia cấu tạo nên vòng chứa 5 nguyên tố lưu huỳnh của lenthionin, hợp chất tạo mùi thơm của nấm hương [91]

Magne tham gia hoạt hóa nhiều enzyme nên cần thiết cho quá trình trao đổi chất của nấm hương Nồng độ magne thích hợp là 0,001 M [88]

Ngoài ra, các nguyên tố khoáng khác như mangan, đồng, kẽm, molypden cũng không thể thiếu đối với sinh trưởng của nấm hương Theo Ishikawa (1967) nồng độ mangan, kẽm, sắt khoảng 2 mg/lit sẽ kích thích sợi nấm sinh trưởng [65]

Hầu hết nấm có khả năng tự tổng hợp các vitamine cần thiết Hiroe và Ikuda (1960) khẳng định vitamin B1 (thiamin) kích thích sợi nấm sinh trưởng, kích thích hình thành mầm quả thể Nồng độ thiamin thích hợp cho nấm hương là 100 – 200 µg/lit [60]

Theo Ishikawa (1967), Tan và Chang (1989) một số chất kích thích sinh trưởng như gibberelin, IAA không có hiệu ứng kích thích sinh trưởng ở sợi nấm hương [65], [131]

1.3.2 pH

pH môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của nấm hương do pH ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme, đến khả năng hòa tan của các hợp chất pH thích hợp cho các loại nấm phá gỗ là 4,5 – 5,5 [110] Tokimôt (1978) cho rằng pH thích hợp cho sự sinh trưởng của sợi nấm hương là 4,3 [137] pH thích hợp cho sự hình thành quả thể trong nuôi cấy nấm hương trên môi trường nhân tạo ở phòng thí nghiệm là 3,5 – 4,5 [135] Theo Han và Yeng (1981) trên môi trường mùn cưa pH tối thích là 5,0

độ trong quá trình hình thành nụ nấm có tính quyết định đến năng suất, nhiệt độ thích hợp là 10 – 250C [103], [104]

Trang 7

Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà cả hình thái quả thể Nhiệt độ cao chân nấm dài, mũ nấm mỏng, ngược lại nhiệt độ thấp thì chân nấm ngắn và mũ nấm dày hơn [137]

4.1.2 3 Ẩm độ

Ẩm độ có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nuôi trồng nấm hương Nấm hương chiếm 85 – 95 % là nước, do đó dễ bị mất nước; cơ chất nuôi nấm cũng như vậy Do đó nếu bị mất nước quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến năng suất và cả chất lượng của nấm

Khi nuôi trồng trên gỗ khúc, ẩm độ thích hợp của gỗ là 35 – 55% Ẩm độ quá cao, trên 75% sẽ cản trở quá trình khuếch tán của oxy vào cấu trúc gỗ và tăng mức

độ nhiễm của trichoderma Tuy nhiên, Akiyâm (1976) cho rằng ẩm độ gỗ 70% thích hợp nhất cho sợi nấm sinh trưởng [16] Harris (1986) công bố ẩm độ thích hợp của

gỗ là nhỏ hơn 50% [54]

Khi nuôi trồng trên môi trường nhân tạo, ẩm độ thích hợp của cơ chất là 70% Nhìn chung, theo các tác giả thì ẩm độ thích hợp của cơ chất nhân tạo là 60 – 70% [73], [77], [108], [131]

Trong giai đoạn hình thành quả thể, nếu nuôi trồng trên bịch cơ chất nhân tạo,

ẩm độ không khí thích hợp để ra quả thể là 85 – 90 % Còn nuôi trồng trên gỗ thì

ẩm độ nên thấp hơn, khoảng từ 60 – 85% để hạn chế sự lan nhiễm của Trichoderma [108]

4.1.2 4 Ánh sáng

Nấm hương đòi hỏi ánh sảng cả trong giai đoạn lan tơ và giai đoạn ra quả thể Theo Ishikawa (1967), Sheffer (1973) ánh sáng làm tăng quá trình phân huỷ gỗ và trong giai đoạn lan tơ ánh sáng là một yếu tố cần thiết chuẩn bị cho quá trình hình thành quả thể [65], [119] Tuy nhiên Leatham và Stahmann (1987) cho rằng ánh sáng cường độ cao sẽ ức chế sợi nấm sinh trưởng và thời gian chiếu sáng trong giai đoạn này chỉ cần 20 phút / ngày [81]

Độ dài bước sóng cũng như cường độ của ánh sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng của nấm hương Nấm hương thích ứng với bước sóng ánh sáng từ 370 – 420nm [18], [65] Theo Leatham và Stahmann (1987), ánh sáng đỏ (600 – 680nm) kích thích hình thành quả thể, ngược lại ánh sáng lục (400 -500 nm) ức chế hình thành quả thể trong môi trường thiếu canxi [81] Cường độ ánh áng thích hợp trong giai đoạn lan tơ là 180 – 940 lux, tối thích là 550 lux [84] Theo Chalmers (1989), ở giai đoạn hình thảnh quả thể cường độ ánh sáng thích hợp là 500 – 1000 lux [28] Trong giai đoạn này, ánh sáng ảnh hưởng đến màu sắc và hình dạng của quả thể

4.1.2.5 Không khí

Nấm là sinh vật hiếu khí, sử dụng oxy và nhả khí carbonic Thành phần của không khí, đặc biệt là nồng độ khí carbonic có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của nấm Các nghiên cứu cho thấy khi tăng nồng độ khí carbonic đến 0,6 % sẽ làm tăng sinh trưởng của sợi nấm Ngược lại, nồng độ khí carbonic từ 0,4 – 0,6 % sẽ ức chế hoàn toàn sự hình thành mầm quả thể Khi nồng độ carbonic từ 0,2 – 0,4 % quả thể nấm có chân dài, mũ mỏng Theo Vedder (1978) và Roys (1985), nồng độ khí carbonic thích hợp nhất cho giai đoạn ra quả thể là dưới 0,2% [145], [112] Vì vậy, nhà nuôi trồng nấm hương phải thoáng khí

4.1.3 KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG NẤM HƯƠNG

4.1.3.1 Nuôi trồng nấm hương trên gỗ khúc

7

Trang 8

Nuôi trồng nấm hương trên gỗ khúc là một phương pháp truyền thống, có bề dày lịch sử 1000 năm Năm 1313, Wang Cheng (Trung Quốc) lần đầu tiên ghi chép kỹ

thuật nuôi trồng nấm hương trong cuốn “Book of Agriculture” [30] Kỹ thuật nuôi trồng thời kỳ này còn rất sơ khai, các loại cây lá rộng đươc hạ xuống, cắt khúc, phủ lên một lớp đất Sau một năm, phủ lên các khúc gỗ này cành, lá cây và tưới nước thường xuyên Vào khoảng năm 1500 – 1600 người Trung Quốc truyền bá kỹ thuật nuôi trồng nấm hương cho người Nhật Từ kỹ thuật để nấm xâm nhiễm tự nhiên, người nông dân đã biết xếp chung những khúc gỗ mới này [108]

Vào những năm 1920, Kitayama bắt đầu phát triển kỹ thuật nuôi cấy giống thuần khiết, trong đó sợi nấm thuần được nuôi trồng trên những cơ chất thích hợp

Kỹ thuật nhân giống này đã cho phép nhân giống nhanh, chọn lọc được giống và năng suất nấm tăng lên Vào năm 1943, Mori giới thiệu kỹ thuật nhân giống trên những nêm gỗ, sau đó cấy vào khúc gỗ Kỹ thuật này giúp rút ngắn thời gian ủ, làm tăng năng suất đáng kể, sau đó giúp cho việc mở rộng nuôi trồng nấm hương với quy mô công nghiệp [108]

Ngày nay, nuôi trồng nấm hương trên gỗ khúc vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong sản lượng nấm hương thu hoạch hàng năm trên toàn thế giới Ưu điểm của phương pháp này là khá đơn giản, có truyền thống nuôi trồng lâu đời, do đó người nuôi trồng có nhiều kinh nghiệm Tuy nhiên phương pháp có nhược điểm là thởi gian ủ kéo dài (12 tháng), thời gian thu hoạch kéo dài (từ 5 – 6 năm), hiệu suất sinh học thấp (BE từ 15 – 33%) [108] Điều quan trọng là trong xu thế bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái hiện nay việc chặt hạ cây rừng để trồng nấm ngày càng bị hạn chế

Kỹ thuật nuôi trồng nâm hương trên gỗ khúc gồm những giai đoạn sau:

Chọn và chuẩn bị gỗ

Nấm hương mọc tốt trên các loại cây lá rộng, gỗ cứng (hardwoods), thích hợp nhất là các loại cây thuộc họ sồi (Fagaceae) như cây sồi (Querus spp.), cây dẻ (Castanea spp.), cây trăn (Carpinus spp.), cây dẻ gai (Castanopsis spp.) Ngoài ra còn một số loài cây khác cũng có thể trồng được nấm hương như cây tổng quán sủi (Alnus spp.), cây thích (Acer spp.), cây bulo (Betula spp.), cây dương lá rung (Populus spp.), …[40], [66], [101], [118], [139]

Gỗ thích hợp cho nuôi trồng nấm hương có tỷ trọng riêng (specific gravity) từ 0,40 – 0,60, lượng nước từ 35 – 65%, không có hoặc có ít lõi gỗ [108]

Thời điểm hạ cây vào lúc cây trong giai đoạn ngủ, thông thường là vào cuối thu sang đông Lúc này cây rụng lá, gỗ tích lũy nhiều dinh dưỡng và vỏ cây chắc chắn hơn để ngăn cản nhiễm tạp Nên chọn những cây thẳng, ít cành rồi cắt khúc Đường kính khúc gỗ thích hợp từ 8 – 15 cm, chiều dài gỗ khúc từ 1,2 – 1,5 m Nếu lượng nước trong gỗ cao, cần làm giảm lượng nước trước khi cấy giống Trong giai đoạn này cần bảo vệ gỗ tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp [108]

Chuẩn bị giống

Từ giống gốc trong ống nghiệm cấy sang môi trường ngũ cốc đã nấu chín, tiếp tục cấy sang môi trường mùn cưa hoặc nút gỗ đã khử trùng Môi trường mùn cưa, hoặc nút gỗ nghèo dinh dưỡng sẽ hạn chế nhiễm trong quá trình cấy và ủ tơ Có hai dạng giống thường sử dụng trong nuôi trồng trên gỗ khúc là giống nút gỗ (plug spawn) và giống mùn cưa (sawdust spawn) [66], [108]

Trang 9

Giống nút gỗ: Ưu điểm của dạng giống này là đơn giản, dễ sử dụng, khi cấy không cần những dụng cụ chuyên dùng, giảm công lao động khi cấy giống vào gỗ Dạng giống này chống mất nước tốt hơn giống mùn cưa

Giống mùn cưa: Sợi nấm được nuôi trên môi trường hỗn hợp gồm mùn cưa và cám theo tỷ lệ 4 : 1 Dạng giống này có dinh dưỡng, ẩm độ cao hơn gióng nút gỗ nên sợi nấm mọc nhanh hơn Tuy nhiên để tránh nhiễm và mất nước cần phải hàn phủ miệng lỗ

Cấy giống vào gỗ

Thời điểm cấy giống vào gỗ có nhiều quan điểm khác nhau Một số tác giả cho rằng sợi nấm chỉ lan nhanh sau khi mô gỗ đã chết, vì vậy thời điểm cấy giống vào

gỗ thích hợp là từ 4 – 8 tuần sau khi hạ cây Một số tác giả khác lại cho rằng nấm hương có thể mọc tốt ngay sau khi cây hạ Thời điểm cấy giống còn phụ thuộc vào lượng nước trong gỗ, thích hợp là từ 35 – 55% [66], [108]

Trước khi cấy giống, vỏ cây phải khô ráo, sạch sẽ Rêu, địa y trên vỏ cây cần phải được chà sạch Tất cả những biện pháp này nhằm làm giảm nguy cơ nhiễm khi cấy và ủ gỗ Sau khi chuẩn bị gỗ xong tiến hành khoan lỗ bằng máy Khoảng cách giữa các lỗ là từ 15 – 25 cm, giữa các hàng là từ 5 – 8 cm Kích thước lỗ khoan là 8,5 mm đối với giống nút gỗ và 12 mm đối với giống mùn cưa, chiều sâu của lỗ gấp 1,5 – 2 lần so với nút gỗ giống

Sau khi khoan lỗ xong cần cấy giống ngay để hạn chế nhiễm và lỗ khoan mất nước Giống cấy vào phải nằm dưới bề mặt vỏ cây Đối với giống mùn cưa sau khi cấy phải hàn miệng lỗ

7 – 30 ngày tưới một lần Sau khi tưới phải tiến hành thông gió để tránh bề mặt vỏ

gỗ bị ẩm kéo dài, gâu nhiễm Trichoderma và mốc khác [108]

Thời gian ủ gỗ có thể kéo dài từ 6 – 24 tháng, đây là khoảng thời gian cần thiết

để sợi nấm tích lũy dinh dưỡng mà hình thành quả thể [66], [108], [140] Nếu thời gian ủ gỗ ngắn năng suất sẽ thấp, chất lượng nấm kém và dễ nhiễm bệnh Khi thấy sợi nấm lan đầy mặt cắt khúc gỗ thì chuyển gỗ sang nhà trồng

Ra quả thể

Nuôi trồng nấm hương trên khúc gỗ kéo dài từ 2 – 6 năm Một chu kỳ ra quả thể của nấm hương có 4 giai đoạn: giai đoạn cảm ứng (induction) từ 1 – 3 ngày, giai đoạn hình thành mầm quả thể (pinning) từ 3 – 10 ngày, giai đọn ra quả thể (fruiting)

từ 14 – 21 ngày, giai đoạn nghỉ (resting) kéo dài từ 21 – 180 ngày Điều chỉnh

9

Trang 10

những điều kiện môi trường cho phù hợp với từng giai đoạn là cơ sở cho nuôi trồng nấm đạt năng suất cao

Giai đoạn cảm ứng: Là giai đoạn sợi nấm phân phối năng lượng và dinh dưỡng của nó cho sự hình thành quả thể Trong giai đoạn này những biến đổi đột ngột của môi trường (stress) như nhiệt độ, ẩm độ, dinh dưỡng sẽ làm tăng quá trình cảm ứng

ở nấm hương Biện pháp kỹ thuật của giai đoạn này là phải đầy đủ ánh sáng (ánh sáng khuếch tán), điều chỉnh nhiệt độ xuống thấp hơn 150C, hoặc ngâm nước cũng

là một biện pháp vừa tăng ẩm độ, vừa hạ nhiệt độ nhanh nhất [71] Tokimoto (1977) nghiên cứu thấy nếu bổ sung dinh dưỡng trong nước ngâm với hàm lượng 0,1% ammonium sulfate, 0,5 % glucose, sẽ làm tăng năng suất đến 71% Tuy nhiên khi

bổ sung dinh dưỡng có thể sẽ gia tăng nguy cơ gây nhiễm [136]

Giai đoạn hình thành mầm quả thể: Đây là giai đoạn rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường Hàm lượng nước trong gỗ lý tưởng là từ 55 – 65 %, nếu gỗ quá khô hoặc quá ướt thì mầm quả thể cũng sẽ không hình thành [66], [108] Hầu hết của chủng trong giai đoạn này đều thích hợp nhiệt độ từ 12 – 200 C

Giai đoạn quả thể: Là giai đoạn mầm quả thể tăng kích thước và thành thục Nhiệt độ giai đoạn này ít ảnh hưởng tới năng suất, nhưng có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng nấm Ở nhiệt độ cao, nấm sẽ thành thục nhanh do đó mũ nấm mỏng và ít thơm hơn so với nhiệt độ thấp Ẩm độ không khí tương đối tối thích là từ 60 – 85%

Ẩm độ quá cao nấm có màu sẫm và úng nước, khó bảo quản, ít thơm và dễ nhiễm trichoderma Ẩm độ quá thấp nấm sẽ không hình thành được mũ nấm Nhu cầu ánh sáng trong suốt giai đoạn này cũng rất cần thiết, ánh sáng quyết định hình dạng, màu sắc nấm Ánh sáng đầy đủ mũ nấm có màu nâu tối, ánh sáng quá nhiều cùng với nhiệt độ cao sẽ làm tăng quá trình tăng trưởng của mũ nấm [81], [108]

Thời điểm thu hái quả thể phụ thuộc vào thị hiếu tiêu dùng trên thị trường Thông thường nấm được thu hái khi màng bao mở ra từ 1 -2 ngày

Chu kỳ nghỉ: Sai khi thu hái nấm, sợi nấm phải tích lũy dinh dưỡng trở lại để bắt đầu một chu kỳ ra quả thể mới Hàm lượng nước trong gỗ điều chỉnh từ 30 – 40%

để kích thích sợi nấm sinh trưởng và ức chế hình thành mầm quả thể Nhiệt độ thích hợp là từ 15 – 250C Chu kỳ này thông thường kéo dài từ 3 – 5 tuần [108]

4.1.3 2 Bệnh, côn trùng gây hại nấm hương nuôi trồng trên gỗ

Nấm gây bệnh

Theo Lou (1981) có khoảng 150 loài có thể gây nhiễm trên gỗ, sợi nấm và nấm trong suốt quá trình nuôi trồng nấm [83] Dựa trên mức độ gây hại người ta chia ra làm ba nhóm: Nhóm nấm gây bệnh, nhóm nấm cạnh tranh, nhóm nấm dại Biện pháp phòng trừ chủ yếu là quản lý, kiểm soát bệnh, điều chỉnh các điều kiện môi trường như ẩm độ, ánh sáng, nhiệt độ, vệ sinh môi trường

Nhóm nấm gây bệnh là nhóm nấm có khả năng ký sinh, tấn công và tiêu diệt sợi nấm hương làm giảm sút năng suất nấm thu hoạch Trong nhóm này chủ yếu là nhóm nấm túi (Ascomycetes) như các loài thuộc chi Trichoderma, Hypoxylon và Diatrype Ngoài ra còn có những loài thuộc chi Cephalosporium, Stemonistis,…[108], [144]

Nhóm nấm cạnh tranh chủ yếu thuộc nhóm nấm đảm (Basidiomycestes) Chúng không có khả năng ký sinh trên sợi nấm hương mà chủ yếu xâm nhiễm gỗ, cạnh tranh dinh dưỡng với nấm hương Các loài cạnh tranh thường là Coriolus versicolor, các loài thuộc chi Stereum

Trang 11

Nấm dại bao gồm cả nhóm nấm đảm và nhóm nấm túi Những loại nấm này hiếm khi đối kháng với nấm hương, chúng là những loài phá gỗ yếu, mọc trên gỗ,

vỏ cây, nên mức độ gây hại ít Trong nhóm này có các đại diện như Bulgaria inquinans, các loài thuộc chi Mycena [108]

Vi khuẩn gây bệnh

Vi khuẩn hiếm khi gây bệnh cho nấm hương nuôi trồng trên gỗ Thường chỉ có bệnh nâu do vi khuẩn Pseudomonas fluorescens Bệnh này thường làm quả thể nấm

dị hình, thui chột Bệnh thường xuất hiện khi nhiệt độ ấm lên [51]

Côn trùng gây hại

Côn trùng gây hại nấm hương thường có kiến, mối, nhện…

4.1.3 3 Nuôi trồng nấm hương trên nguyên liệu đựng trong túi màng mỏng

Việc sử dụng thân cành gỗ ngày càng hạn chế vì diện tích rừng càng ngày càng

bị thu hẹp lại một cách nhanh chóng Hơn nữa trồng nấm hươngt rên thanh cành gỗ đòi hỏi thời gian quá dài, sản lượng lại rất thấp

Gần đây nhiều nước, nhất là Trung Quốc, đã tiến hành nuôi trồng thành công nấm hương trên các nguyên liệu nghiền nhỏ và đựng trong các túi màng mỏng khá dài Các túi này có chiều rộng khoảng 15cm, dài khoảng 50 -55cm, khi cho nguyên liệu vào trông như những cái gối tròn

Cần trang bị một máy đùn nguyên liệu chạy bằng mô tơ Máy này hoạt động tương tự như nguyên lý của máy đùn gạch nhưng nhỏ và đầu ra là một ống tròn thon

về phía đầu

Các nguyên liệu được sử dụng là các phụ chế phẩm lâm nghiệp (mùn cưa, vỏ bao, gỗ vụn…), nông nghiệp (lõi ngô, thân sắn, vỏ hạt bông, vỏ lạc, khô dầu đậu đõ, lạc vừng, bã khoai, thân cành dâu tằm, rơm rạ ) hoặc công nghiệp (bã mía, bã bia…)

Ngoài ra còn có thể dùng cây cỏ hoang dại hoặc cỏ trồng cho chăn nuôi (cỏ voi) để làm nguyên liệu nuôi trồng nấm hương

Có thể lựa chọn để sử dụng một trong các phương thức phối trộn như sau:

Trang 16

Đợi nguội hẳn mới lấy các bịch ra khỏi lò hấp (để tránh rách bao màng mỏng) Trước khi cấy giống cần lấy cồn 75% sát trùng mặt ngoài túi (chỗ sẽ đục lỗ) Sau đó dùng dùi đục chuyên dùng đục thành các lỗ có đường kính 1,5cm, sâu 2cm Nên đục và cấy ở cả 2 phía đối diện nhau, mỗi phía đục 3 – 4 lỗ để cấy giống Nên đục đến đâu cấy giống cấp 2 vào đến đấy Cấy 20 – 25 túi cần một bình giống dung dịch 750ml Sau đó xếp các túi theo kiểu hình cũi vuông, tam giác, đa giác…Duy trì nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cà đợi cho sợi nấ từ chỗ cấy lan dần ra Sau khoảng 60 – 65 ngày sợi nấm sẽ mọc trắng hết túi Khi đó chuyển các túi vào phòng nuôi trồng hoặc đưa ra các khoảng đất có giàn che bằng lưới nilon đen hoặc lợp cỏ tranh, cỏ guột…Căng dây thép ngang các luống (hoặc dùng tre nứa) để có thể xếp nghiêng các túi (đã bóc bỏ hết lớp màng mỏng) theo một góc khoảng 60 - 700 Mỗi luống xếp theo hàng ngang 8 – 10 túi (chiều dài luống tùy thuộc từng địa điểm) Chú ý để túi nọ cách túi kia khoảng 3 – 4 cm Trên 1ha đất có thể xếp được từ 120.000 đến 135.000 các túi hình ống

Trang 17

Từ khi cấy giống đến khi ra nấm hương trên các khúc “gỗ giả” này chỉ cần 80 -

90 ngày Từ lúc nụ nấm hương xuất hiện đến lúc thu hái được chỉ khoảng 4 – 8 ngày (tùy thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm của môi trường) Nhiệt độ thích hợp phụ thuộc vào từng chủng nấm hương Đa số nhiệt độ thích hợp cho mọc nấm là 12 -

250C, tốt nhất là 15 – 200C Khi sợi nấm phát triển thì lại thích hợp nhất ở nhiệt độ

22 - 260C Thấp hơn 150C hay cao hơn 320C, sợi nấm phát triển rất chậm Hiện nay

đã có giống nấm hương chịu đựng được ở nhiệt độ cao hơn, có thể trồng cả trong vụ xuân hè

Trong quá trình chăm sóc, lượng nước trong các túi hình gối (túi gối) giảm dần Lúc đầu túi nặng khoảng 1,9 – 2,0 kg, nhưng khi sợi nấm phát triển do mất nước dần mà mỗi túi gối chỉ còn nặng khoảng 1,3 – 1,4 kg (giảm 30%) Vì vậy cần phải ngâm nhúng nước khi thấy trọng lượng giảm đến mức đó Cần ngâm lần đầu 2,5 -3 giờ, những lần sau 3 – 4 giờ Sao cho sau khi ngâm nước, trọng lượng tăng trở lại bằng khoảng 90 – 95 % trọng lượng ban đầu Để cho ráo nước, xếp lại lên giá

và thông gió trong 3 – 4 giờ Duy trì nhiệt độ thích hợp 3 ngày, mỗi ngày thông gió

1 – 2 lần, mỗi lần 1 giờ

Việc thu hái và phơi sấy nấm hương tương tự như trường hợp nuôi trồng trên các thân gỗ tươi

Muốn bảo quản tươi cần giữ nấm ở các tủ lạnh, phòng lạnh có nhiệt độ khoảng

0 – 40C, có thể giữ được 6 – 10 ngày

Có thể bảo quản tươi nấm trong các thiết bị bằng màng chất dẻo sau khi hút không khí ra và bơm vào một loại không khí khác có nồng độ các khí như sau: O2: 1- 2%; CO2: 40%;N2: 58 – 59% Trong điều kiện 200C có thể bảo quản được 8 ngày

Ở nhiều nước phát triển người ta dùng phương pháp chiếu xạ bằng các đồng vị

60Co hay 137Cs Các tia γ sinh ra với liều lượng bức xạ là 100.000 – 400.000 rad sẽ giúp bảo quản nấm (trong túi) được 5 ngày ở 200C, 17 ngày ở 60C và 22 ngày ở

10C Cơ quan nguyên tử năng lượng quốc tế cho biết nếu liều lượng bức xạ là dưới 1000.000 rad thì không có độc hại gì, không cần kiểm tra lại

Nấm hương muốn bảo quản được lâu dài cần đảm bảo độ ẩm không vượt quá

11 – 12% Nếu độ ẩm thấp hơn 10% nấm hương dễ gãy ròn nhưng nếu cao hơn 13% lại dễ bị mọc mốc

Nếu sản lượng nấm hương cao có thể liên hệ với các nhà máy đóng hộp xuất khẩu để ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm Nhà máy sẽ hướng dẫn người nuôi trồng các điều kiện cụ thể để bảo quản và vận chuyển đến nhà máy

4.1.3 4 Kỹ thuật nuôi trồng nấm hương trên mùn cưa

Kỹ thuật nuôi trồng nấm hương trên môi trường mùn cưa lần đầu tiên được sản xuất thương mại vào cuối những năm 70 ở cả hai nước Đài Loan và Nhật Bản Hiện nay Trung Quốc, Đài Loan, Hoa Kỳ, Canada, Singapore là những nước chủ yếu nuôi trồng theo kỹ thuật này Ưu điểm của kỹ thuật nuôi trồng nấm trên mùn cưa là tận dụng được nguồn cưo chất phế thải của lâm nông nghiệp, dễ dàng bổ

sung dinh dưỡng và khống chế các điều kiện nuôi trồng, chu kỳ nuôi trồng ngắn từ

6 – 12 tháng, nhưng năng suất sinh học rất cao, có thể đạt 145% trong 6 tháng [43], [114]

Kỹ thuật nuôi trồng nấm hương trên mùn cưa bao gồm các bước sau:

Chuẩn bị cơ chất

17

Trang 18

N guồn cơ chất

Cũng tương tự như nuôi trồng trên gỗ khúc, hầu hết các nước trên thế giới sử dụng mùn cưa của những loại cây gỗ lá rộng (gỗ cứng) như cây sồi, cây thích, ngoài

ra còn có dẻ, dẻ gai, cây bu lô,…[66], [101], [118]

Ở những nơi không có mùn cưa gỗ cứng, thì có thể phối trộn mùn cưa gỗ mềm với mùn cưa gỗ cứng [99] Những loại cây gỗ mềm thường có nhựa và các hợp chất phenol ức chế sinh trưởng của sợi nấm Do vậy nếu sử dụng nên xử lý trước khi trồng bằng cách ủ với natri carbonat Mùn cưa được sử dụng làm nguồn cơ chất chính với hàm lượng từ 60 – 90% Ngoài nguồn cơ chất mùn cưa còn có thể sử dụng các nguồn phế thải khác như bã trà, bã mía, rơm rạ, trấu, bông thải,…[41], [74], [108], [131]

Nguồn dinh dưỡng bổ sung

Bổ sung dinh dưỡng trong cơ chất với mục đích tăng tốc độ sinh trưởng của sợi nấm, rút ngắn chu kỳ nuôi trồng và tăng năng suất nấm Nguồn dinh dưỡng chủ yếu

là nitơ và cacbon

Hàm lượng nitơ trong gỗ thường thấp, thường từ 0,03 – 0,3% là yếu tố giới hạn sinh trưởng của nấm [86] Tuy nhiên hàm lượng nitơ thích hợp trong cơ chất khoảng 0,5% cho năng suất cao nhất [108] Nguồn dinh dưỡng cacbon bổ sung thường là đường và tinh bột Dinh dưỡng bổ sung càng cao thì năng suất thu hoạch càng cao, nhưng cũng làm tăng tỷ lệ nhiễm Ngoài ra các nguồn bổ sung khác như vitamin, khoáng cũng rất quan trọng đối với sinh trưởng phát triển của nấm hương Các nguyên liệu bổ sung phổ biến hiện nay trong nuôi trồng nấm hương như trong bảng 2.1 [108], [7]

Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của một số nguyên liệu bổ sung thông dụng Nguyên liệu Chất khô

(%)

Nitơ (%)

Phospho (%)

Carbohydrat (%)

Chất béo (%)

Khoáng (%)

Công thức phối trộn cơ chất

Tùy theo từng bước, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu mà mỗi vùng có một công thức phối trộn riêng Công thức chuẩn được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là 80% mùn cưa gỗ cứng, 20% nguyên liệu bổ sung (tính theo chất khô) [112], [115]

Ở châu Á thường sử dụng công thức 80% mùn cưa với 20% cám [116] Ở Hoa

Kỳ thường phối trộn 80% mùn cưa với 10% cám, 10% lúa mì hoặc hạt kê [108], [113] Đài Loan có công thức phối trộn phổ biến như sau: 84% mùn cưa, 5% cám gạo, 5% cám lúa mì, 3% đậu tương, 3% vôi bột [32] Công thức phối trộn của Thụy Sỹ: 75% mùn cưa gỗ Vân Sam, 24% cám lúa mì, 1% vôi bột [108] Rinker (Canada)

có công thức phối trộn là 80% mùn cưa gỗ sồi, 10% cám lúa mì, 10% hạt kê [110] Khan (Pakistan) sử dụng công thức 70% mùn cưa gỗ bạch dương với 25% cám lúa

Trang 19

- 95% mùn cưa, 5% cám gạo, 0,4% tinh bột ngô [108] Ẩm độ của cơ chất trước khi khử trùng thích hợp là từ 55 – 70%

Vô bịch, khử trùng

Sau khi nguyên liệu cơ chất được phối trộn đủ ẩm, thì được nhồi vào bịch PP Hiện nay các nước thường sử dụng máy nhồi mùn cưa vào bịch Tiếp đó là công đoạn làm cổ, đạy nút và khử trùng

Đối với nuôi trồng nấm hương, hiện nay trên thế giới sử dụng hai phương pháp khử trùng chủ yếu là khử trùng bằng hơi nước nóng và khử trùng với áp suất cao trong nổi hấp Nếu khử trùng bằng hơi nước thì thời gian khử trùng kéo dài từ 6 –

12 giờ Trong khi đó khử trùng bằng áp suất ở 1atm (1210C) tùy theo khối lượng bịch cũng thường từ 2 – 5 giờ Điều quan trọng là nhiệt độ 1210C phải được duy trì trong tâm bịch với thời gian tối thiểu là 30 phút [108]

Sau khi khử trùng, các bịch nấm được để nguội trong thời gian 48 giờ trước khi cấy giống

Cấy giống và ủ tơ

Thông thường lượng giống cấy vào khoảng từ 1 – 5% khối lượng cơ chất trong bịch Có ba dạng giống thường dùng là giống mùn cưa, giống hạt và giống dạng dung dịch

- Giống mùn cưa là dạng sợi nấm thuần khiết được cấy trên môi trường mùn cưa với cám, tương tự như môi trường cơ chất nuôi trồng Lượng giống cấy vào thường trên 5%

- Giống hạt là sợi nấm thuần khiết được nuôi trên môi trường hạt ngũ cốc như hạt lúa mì, hạt kê…Lượng giống cấy thường nhỏ hơn 2% Do dinh dưỡng của hạt cao nên cấy dạng giống này nấm mọc nhanh, rút ngắn thời gian ủ tơ Tuy nhiên nếu khử trùng không kỹ cơ chất nuôi trồng thì cấy giống hạt sẽ tăng nhanh mức độ nhiễm

mà trong trường hợp giống mùn cưa không gặp phải [115]

- Giống dạng dung dịch là huyền phù sợi nấm được nuôi trồng trogn môi trường dung dịch dinh dưỡng Ưu điểm cảu dạng giống này là có thể nhân nhanh giống, dễ cấy nhưng do môi trường dinh dưỡng lỏng khác xa với môi trường cơ chất mùn cưa nên giống cấy vào cần có thời gian phục hồi

Sau khi cấy giống, bịch phôi được ủ ở nhiệt độ tối thích là 250C Ánh sáng trong quá trình ủ tơ rất cần thiết để nấm có thể hình thành được quả thể ở giai đoạn sau Bước sóng ánh sáng thích hợp là từ 370 – 420 nm, cường độ ánh sáng là 180 – 500 lux [106] Một số tác giả cho rằng có thể ủ tơ trong tối, trước khi cho ra quả thể thì

xử lý ánh sáng trong 10 – 20 ngày [81]

Nhu cầu oxy cũng rất cần thiết vì nấm hương là nấm hiếu khí Ngoài ra trong quá trình hô hấp sinh ra nhiệt, vì vậy nhà ủ tơ nấm phải thoáng hoặc thông khí

Giai đoạn ra quả thể

Sau khi tơ nấm lan đầy bịch thì tiến hành lột một phần hoặc lột hoàn toàn bịch nylon để nấm ra quả thể

Chu kỳ ra quả thể của nấm nuôi trồng trên mùn cưa cũng tương tự như nuôi trồng trên gỗ khúc, bao gồm có các giai đoạn cảm ứng, giai đoạn hình thành nụ nấm, giai đoạn quả thể thành thục và giai đoạn nghỉ

Giai đoạn cảm ứng

Cảm ứng có thể được khơi mào bằng cách thay đổi nhiệt độ từ nhiệt độ ủ tơ (250C) xuống nhiệt độ thấp hơn (160C) Một số chủng thì cảm ứng với sốc lạnh Để sốc lạnh có thể bằng cách làm lạnh bịch phôi trong 5 – 12 ngày ở nhiệt độ từ 5 –

19

Trang 20

80C hoặc ngâm bịch trong nước lạnh 5 – 160C trong thời gian từ 12 – 24 giờ [108] Tưới nước hoặc ngâm nước cũng cảm ứng kích thích nấm ra quả thể

Giai đoạn hình thành nụ nấm (mầm quả thể)

Hàm lượng CO2 cao sẽ ức chế hình thành nụ nấm, vì vậy để kích thích hình thành nụ nấm phải lột bịch để bề mặt tiếp xúc với không khí Khi đó bề mặt bịch phôi sẽ hình thành một lớp màu nâu, có chức năng như vỏ của cây Lớp vỏ màu nâu này tạo vi môi trường thuận lợi cho hình thành nụ nấm, đồng thời chống mốc, chống khuẩn và chống mất nước Ẩm độ không khí quá cao, bề mặt bịch phôi ướt sẽ

ức chế hình thành nụ nấm Ngược lại ẩm độ quá thấp làm bịch phôi khô nhanh cũng làm nụ nấm bị thui chột Ẩm độ không khí từ 85 – 95% là thích hợp nhất

Trong giai đoạn này nhiệt độ thích hợp với hầu hết các chủng là 10 – 200

C

Giai đoạn ra quả thể

Nhiệt độ thích hợp trong giai đoạn này là 13 – 20 0C Nhiệt độ ảnh hưởng tới tốc

độ thành thục và độ dày của quả thể Ánh sáng ảnh hưởng tới màu sắc của mũ nấm

Ẩm độ thích hợp từ 75 – 95% Hàm lượng khí carbonic cũng rất quan trọng, nếu quá cao thì mũ nấm nhỏ, chân nấm dài Do đó nhà nuôi trồng nấm phải thông thoáng, ánh sáng tán xạ vừa phải Khi nấm thành thục thì thu hái Sau đó nấm bước sang giai đoạn nghỉ để chuẩn bị cho mọt chu kỳ ra quả thể mới

Giai đoạn nghỉ

Giai đoạn nghỉ thường kéo dài từ 10 – 30 ngày Nếu nhiệt độ giai đoạn này duy trì ở 250C thì chu kỳ nghỉ sẽ ngắn hơn Ngoài ra phải hạ thấp ẩm độ vì nếu ẩm độ vẫn như giai đoạn ra quả thể thì nấm ra không tập trung, quả thể nhỏ, tỷ lệ nhiễm bệnh cao

Thời gian thu hoạch của nấm hương nuôi trồng trên mùn cưa kéo dài từ 3 – 6 tháng hoặc hơn nữa tùy theo điều kiện môi trường, thành phần và khối lượng cơ chất Thông thường hiệu suất sinh học của nấm hương khi nuôi trồng trên mùn cưa

là 40 – 100%, cao hơn nhiều so với nuôi trồng trên gỗ khúc [108], [112], [131]

Bệnh, côn trùng gây hại trong nuôi trồng nấm hương trên mùn cưa

Trong giai đoạn ủ tơ, nếu môi trường không được khử trùng triệt để thì bịch phôi

sẽ bị nhiễm Thông thường là nhiễm nấm mốc như Tricoderma, Mucor, Penicillum

và Neurospora Nấm mốc sinh trưởng rất nhanh trong bịch phôi bị nhiễm, chúng ức chế không cho sợi nấm hương mọc Trong giai đoạn này bịch phôi cũng có thể bị nhiễm vi khuẩn, chúng lan rất nhanh, tạo dịch vẩn đục, nhớt hoặc có thể bị nhện (mite), một côn trùng rất nhỏ phá hoại và ăn sợi nấm

Trong giai đoạn ra quả thể, do bịch phôi có lớp vỏ màu nâu nên ít bị nhiễm bệnh Có hai nguyên nhân có thể gây nhiễm bệnh là cơ chất nuôi trồng bổ sung nhiều dinh dưỡng hoặc các điều kiện nuôi trồng không thích hợp như ẩm độ quá cao hoặc thiếu ánh sáng, không thoáng khí hoăc bịch phôi quá ướt, đều có thể gây nhiễm nấm mốc như Tricoderma, Mucor, Penicillum, Doratomycetes Do đó để kiểm soát bệnh phải xác định thành phần cơ chất nuôi trồng, thiết kế nhà trồng, vệ sinh môi trường cho phù hợp; đây là các biện pháp chủ yếu [108], [141]

Côn trùng gây hại chủ yếu là ruồi, nhện Ngoài nấm và côn trùng gây bệnh, nấm hương còn bị các loại sên, nhớt ăn quả thể

4.1.3 5 Phương pháp nuôi cấy thu sinh khối hệ sợi nấm hương

Nếu chú trọng về giá trị dược học của nấm hương thì nuôi trồng thu quả thể có chu kỳ dài, năng suất không cao Trong khi đó hệ sợi nấm hương cũng có đầy đủ những dược tính như quả thể Những phát hiện gần đây về những dược tính đặc biệt

Trang 21

của nước chiết cơ chất – hệ sợi nấm hương (LEM) và những ưu điểm của phương pháp lên men công nghiệp đã mở ra một công nghệ mới về nuôi trồng nấm hương

để thu sinh khối sợi nấm

Năm 1987, Song và Cho bắt đầu nghiên cứu nuôi cấy chìm hệ sợi Lentinus edodes trong môi trường tổng hợp [122] Các nhà khoa học Nhật Bản như Fukushima, Okada, Kawai và Motai (1991) đã xây dựng một hệ thống nuôi cấy chìm liên tục tự động [49] Thành phần môi trường nuôi cấy (trong 1 lit) là 50 g glucose; 2,5 g pepton; 2,5 g cao nấm men; 2,0 g KH2PO4; 1,0 g MgSO4 và 1,0 g CaCl2, nhiệt độ nuôi cấy là 250C, tốc độ khuấy là 250rpm Sau 10 ngày nuôi cấy có thể thu sinh khối liên tục Sinh khối sợi nấm thu hoạch có thể đạt 20mg khô/ml, thu hoạch liên tục trong 70 ngày Các nhà khoa học Hungary như Lelik (1997) cũng có những nghiên cứu về nuôi cấy hệ sợi nấm hương với qui mô sản xuất và nghiên cứu hoạt tính sinh học của hệ sợi nấm [82]

Công nghệ nuôi cấy thu sinh khối hệ sợi nấm hương là một công nghệ mới, có thể sản xuất với quy mô công nghiệp, thu sinh khối sợi nấm trong một thời gian ngắn Đây thực sự là một công nghệ có nhiều triển vọng

4.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm hương

Tình hình sản xuất và tiêu thụ trên thế giới

Nấm hương có lịch sử nuôi trồng khoảng 1000 năm (Wang, 1313) [30] Cho đến ngày nay, nấm hương chủ yếu vẫn được trồng trên gỗ khúc Đến những năm 70, kỹ thuật nuôi trồng nấm hương trên mùn cưa bắt đầu xuất hiện [61] Kỹ thuật này ngày càng cải tiến và có hiệu suất sinh học (BE) cao hơn hẳn so với kỹ thuật nuôi trồng trên gỗ khúc

Nhờ hương vị đặc biệt thơm ngon và có nhiều dược tính quý mà việc nuôi trồng nấm hương ngày càng phát triển Số liệu thống kê sản lượng nấm hương trên toàn thế giới không ngừng tăng lên trong những năm qua [31], [66], [108]

Theo số liệu thống kê của Chang (1993, 2005) sản lượng nấm hương đứng thứ

ba sau nấm mỡ (Agaricus bisporus) và nấm bào ngư (Pleurotus sp.) (Bảng 2.2):

Bảng 2.2: Sản lượng của một số nấm ăn trên thế giới (Chang, 1993)

Tên nấm Tên khoa học Năm 1986

(tấn) Năm (tấn) 1991 Số % tăng Nấm mỡ Agaricus

bisporus

1.215.000 1590.000 30.9 Nấm hương Lentinula

21

Trang 22

Hiện nay trên thế giới ba nước nuôi trồng nấm hương chủ yếu là Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan Sản lượng nấm hương của ba nước này chiếm trên 90% tổng sản lượng toàn thế giới [31] Ngoài ra một số nước khác nuôi trồng với sản lượng đáng kể như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Canada, Singapore, Thái Lan [108], [100], [110]

Giá nấm trên thị trường thế giới biến thiên từ 15 – 30 USD/1kg nấm khô Năm

1979 sản lượng nấm hương là 179.000 tấn trị giá 334 triệu USD Nếu chỉ tính giá tương đương thời điểm này thì năm 1991 sản lượng nấm hương trên toàn thế giới có giá trị hàng tỷ USD [31]

Tình hình nuôi trồng nấm hương ở Việt Nam

Nấm hương chưa được nuôi trồng phổ biến ở Việt Nam Ở miền Bắc nấm hương

chủ yếu mọc tự nhiên ở vùng núi Tây Bắc và Đông Bắc trên cây sồi (Quercus spp.), cây dẻ (Castanea spp.), cây côm (Elaeocarpus sylvestris) Thời điểm thu hái nấm tự

nhiên từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Trước đây, Bộ Ngoại thương có trồng nấm hương ở Sa Pa để xuất khẩu, nhưng kết quả còn hạn chế [4], [5] Gần đây, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn có chương trình hướng dẫn nuôi trồng nấm hương cho đồng bào dân tộc vùng cao để hạn chế trồng cây thuốc phiện

Ở miền Nam, ngay từ những năm 70 một số nhà sản xuất từ Đài loan đã triển khai trồng nấm donko ở Dalat, mà sau đó Ban KHKT tỉnh Lâm đồng khi bắt đầu được thành lập đã tiếp tục mở rộng (1979) trồng trên gỗ dẻ Năm 1986 khoa Sinh học trường Đại học Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh kết hợp với xí nghiệp nấm miền Nam đã nghiên cứu trồng thử nghiệm nấm hương trên mùn cưa cao su tại Đà Lạt, bước đầu thu được kết quả khả quan [4] Để tiếp tục chương trình này chúng tôi

đã hợp tác tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện qui trình trồng nấm hương (Lentinula edodes) cho Tây Nguyên”, địa điểm nuôi trồng tại Đà Lạt và Buôn Ma Thuột Võ Thị Phương Khanh et al 1998, 1999) Kết quả thu được rất khả quan trên quy mô nuôi trồng với trang trại 8000 bịch tại Đà Lạt và 2500 bịch tại Buôn Ma Thuột, năng suất bình quân là 300 g nấm tươi/bịch với bịch có khối lượng 1,5 – 1,7 kg, hiệu suất sinh học (BE) là ≤50%, tương đương với kết quả nuôi trồng của Nhật Bản, Trung Quốc Giá nấm tiêu thụ là từ 2 – 3 USD/kg tươi tại hai địa bàn

là thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt Tuy nhiên đang tiếc là trong 20 năm qua các kết quả này chỉ dừng ở các nghiên cứu khảo nghiệm mà không mở rộng sản xuất, bỏ trồng một tiềm năng to lớn

4.1.5 PHƯƠNG PHÁP LAI TẠO CHỌN GIỐNG NẤM HƯƠNG

Trong nuôi trồng nấm hương, giống là một trong những yếu tố quyết định sự thành công Đặc biệt nấm hương là loại nấm rất nhanh bị thoái hóa sau một thời gian nuôi trồng liên tục và rất nhạy cảm với các điều kiện sinh thái Do đó công tác lai tạo giống mới phải được chú trọng và mỗi vùng sinh thái phải có một bộ giống phù hợp

Tiêu chuẩn của một giống lai mới là phải phù hợp tốt nhất đối với nuôi trồng thương mại Một số tính chất mong muốn của giống nấm mới là năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với các điều kiện nuôi trồng, kháng bệnh tốt và cuối cùng tất cả

những tính chất trên phải ổn định Riêng đối với nấm Lentinula edodes theo

Trang 23

Ellingboe (1993), các tính trạng như kích cỡ, hình dạng, màu sắc tai nấm đều rất quan trọng Đặc biệt là phải quan tâm đến hương vị của nấm, nhất là hậu vị Chất lượng của nấm hương còn liên quan đến hương vị nấm sau thu hoạch, chế biến, bảo quản [44]

Có ba phương pháp chọn tạo giống nấm hương và lai giữa hai dòng đơn nhân, dung hợp tế bào trần (protoplast) và gây đột biến

Lai giữa bắt cặp giữa hai dòng đơn nhân

Phương pháp lai bắt cặp giữa hai dòng đơn nhân lần đầu tiên được thực hiện vào năm 1954 ở nấm Collybia velutipes bởi Takemaru [130] Tuy nhiên phương pháp này chỉ phổ biến vào cuối những năm 70 dựa trên những nghiên cứu về tính bất tương hợp (incompatible) giữa các dòng đơn nhân của Raper năm 1966 [109] Nghiên cứu lai tạo giống nấm hương thực sự chỉ bắt đầu sau những nghiên cứu về tính bất tương hợp ở nấm hương của Mori (1972) và Tokimito (1973) [93], [134] Năm 1974, Mori (Nhật Bản) nghiên cứu lai tạo nấm hương giữa các chủng nuôi trồng của Nhật Bản với các chủng hoang dại của Đài Loan và New Guinea [94] Shimomura (1992) tiến hành lai bắt cặp giữa các chủng địa lý khác nhau [120] Theo Ellingboe (1993) ở Hoa Kỳ chương trình nghiên cứu di truyền, lai tạo giống nấm hương cũng chỉ mới bắt đầu vào những năm 1986 [44]

Theo Miles và Chang (1986) do nấm hương chủ yếu nuôi trồng trên gỗ khúc và sau 3 – 6 năm mới kết thúc một chu kỳ sản xuất nên thời kỳ đầu gặp khó khăn trong đánh giá kết quả lai Kỹ thuật nuôi trồng nấm hương trên mùn cửa trong bịch đã rút ngắn chu kỳ sản xuất xuống còn 6 tháng, nhờ đó mà các chương trình lai tạo giống được đẩy nhanh hơn [89]

Phương pháp lai tạo giống bằng cách bắt cặp giữa các dòng đơn nhân là một phương pháp đơn giản, ít tốn kém nhưng hiệu quả và hiện nay vẫn là phương pháp được áp dụng chủ yếu để tạo giống mới

Phương pháp này bao gồm các bước sau:

Phương pháp tách dòng đơn nhân

Mỗi chủng làm vật liệu khởi đầu sẽ được nuôi trồng để cho ra quả thể Để có thể thu quả thể nhanh, Mihara (2000) có phương pháp nuôi trồng trên khối nguyên liệu nhỏ với công thức 8 g mùn cưa, 2 g cám gạo, 30 mg lignin, 0,5 g cám lúa mì, ẩm độ 65% Sau 50 ngày thu được quả thể [87] Chọn lấy quả thể mỗi chủng, cắt bỏ chân, dùng cồn lau nhẹ để thu bào tử Có nhiều phương pháp thu nhận bào tử và tách dòng đơn nhân khác nhau Ellingboe (1993) cho bào tử phóng lên đĩa agar trong vòng 2 giờ, sau đó bào tử được hòa vào nước cất vô trùng rồi trải trên môi trường 1% malt agar Những bào tử nảy mầm lại được tách ra và cấy lên môi trường 1% malt agar Ellingboe dùng 12 chủng nấm hương làm vật liệu khởi đầu Kết quả cho thấy các chủng này có tỷ lệ nảy mầm rất thấp, từ 1 – 10% Các khuẩn lạc mọc từ những đơn bào tử có tốc độ sinh trưởng rất khác nhau Một số khuẩn lạc bị chết sau khi hình thành những khuẩn lạc nhỏ Từ một chủng, Ellingboe tách được ít nhất 25 dòng đơn nhân [44]

Sau khi tách các dòng đơn nhân, để tăng hiệu quả của chương trình lai người ta tiến hành xác định kiểu di truyền bất tương hợp của từng dòng Có hai phương pháp

để xác định là tiến hành lai với các dòng đã biết trước kiểu di truyền (tester monokaryons) [75], [98] hoặc dựa trên kết quả nghiên cứu esterase isozyme của các dòng đơn nhân [105], [116], [111]

23

Trang 24

Để kiểm tra tổ hợp lai ngoài phương pháp của Raper, hiện nay người ta còn sử dụng phương pháp tế bào học là kiểm tra sự hình thành mấu liên kết (clamp connection) Nếu hai dòng đơn nhân tương hợp bắt cặp thì sau 7 – 10sẽ hình thành mấu liên kết, chứng tỏ nó là sợi thứ cấp (dikaryons) và hữu thụ Đây là một phương pháp đơn giản, chính xác, ít tốn kém, do đó hiện nay nó vẫn được sử dụng rộng rãi [44]

Gần đây, để kiểm tra tổ hợp lai các nhà khoa học sử dụng các phương pháp hiện đại khác như sử dụng các marker hóa sinh như phân tích alloenzyme của esterase [105], [116] Ngoài ra còn sử dụng phương pháp sinh học phân tử như RFLPs (restriction fragment lengh polymorphisms) hay RAPDs (Ranhdom amplified polymorphic DNA) [36] Đây là phương pháp hiện đại, chính xác nhưng đòi hỏi kỹ thuật, trình độ và chi phí rất cao, do đó trên thực tế các chương trình lai với số lượng tổ hợp lai lớn thì các phương pháp này khó thực hiện

Phương pháp chọn lọc dòng lai

Chọn lọc chủng lai dựa trên những tiêu chuẩn của một chủng tốt là năng suất cao,

ổn định, chất lượng tốt, hương vị, màu sắc, kích cỡ quả thể phải phù hợp với thị hiếu Ngoài ra quả thể ra tập trung cũng là một yếu tố quan trọng để rút ngắn chu kỳ sản xuất Chủng mới phải có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và các yếu tố bất lợi của môi trường Năng suất cao là một tiêu chuẩn quan trọng nhất của một chủng lai mong muốn Để chọn lọc chủng lai có năng suất cao phải tiến hành nuôi trồng các chủng trên môi trường chuẩn với quy mô thí nghiệm Tuy nhiên do số lượng các chủng lai thường rất lớn do đó rất tốn kém Để khắc phục tình trạng này, làm tăng hiệu quả của quá trình chọn lọc người ta thường sử dụng phương pháp chọn lọc sơ

bộ (pre – screening method) dựa trên tốc độ sinh trưởng của sợi nấm hoặc gián tiếp thông qua hoạt tính enzyme (Kitamoto, 1993) [75]

Theo Kiamoto (1993) và Tokimoto (1998) có sự tương quan thuận giữa tốc độ sinh trưởng của sợi nấm với năng suất quả thể Bởi vì sợi nấm tích lũy dinh dưỡng và khơi mào cho hình thành quả thể [75], [139] Tốc độ sinh trưởng của sợi nấm là một yếu tố cần thiết của một chủng có năng suất cao Tuy nhiên để có thể chọn lọc chủng năng suất cao không chỉ dựa vào tốc độ tăng trưởng của sợi nấm Mặc dù vậy dựa trên kết quả này cũng có thể loại bỏ nhiều chủng có sức sống kém, giảm bớt số chủng cần chọn lọc

Hoạt tính enzyme phenol oxidase cũng là một tiêu chuẩn quan trọng để có thể đánh giá sơ khỏi chủng lai có năng suất cao hay không Kitamoto cũng sử dụng lai

có tỷ lệ thuận với hoạt tính enzyme phenol oxodase của sợi nấm nuôi trong môi trường dung dịch Hệ số tương quan này là r = 0,58 [75]

Trang 25

Ngoài ra để chọn lọc sơ bộ các nhà lai tạo giống còn dựa vào các marker dinh dưỡng, marker hình thái hoặc các marker kháng với các chất chống chuyển hóa (antimetabolites) như thuốc kháng sinh hoặc thuốc trừ nấm [89], [90]

Sau khi chọn lọc sơ bộ các chủng còn lại sẽ được nuôi trồng trên môi trường sản xuất để đánh giá chính xác năng suất của từng chủng Ngoài ra cũng cần chú ý đến

sự ổn định của chủng lai mới [44]

Phương pháp dung hợp tế bào trần (protoplast)

Kỹ thuật dung hợp tế bào trần lần đầu tiên đươc De Vries và Wessel thực hiện trên một số nấm đảm như nấm mỡ Agaricus bisporus vào năm 1973 [42] Sau đó kỹ thuật này phổ biến trên các đối tượng nấm ăn như nấm bào ngư Pleurotus spp., nấm linh chi Ganoderma lucidum vào những năm 80 [29], [37], [42], [52], [146], [149] Kawasumi (1987) có những nghiên cứu dung hợp tế bào trần đối với nấm hương [72] Ngày nay kỹ thuật này được áp dụng khá nhiều trong nghiên cứu lai tạo giống nấm hương [48], [72], [139]

Ưu điểm của kỹ thuật dung hợp tế bào trần là có thể lai giữa các dòng đơn nhân không tương hợp (incompatible) mà phương pháp lai bắt cặp giữa các dòng đơn nhân không thể thực hiện được Dung hợp tế bào trần có thể lai trong cùng loài (intrasoecies), khác loài (iterspecies), thậm chí có thể lai hai loài ở hai bộ khác nhau (interorder) Chẳng hạn dung hợp tế bào trần giữa nấm Pleurotus cornucopiae và Lentinus edodes MYB – 1 cho quả thể bình thường [102] Bằng kỹ thuật dung hợp

tế bào trần có thể vượt qua rào cản của tự nhiên, tạo ra những con lai đặc biệt mang đặc tính di truyền của cả hai loài khác biệt nhau Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong việc tạo ra những chủng mới, loài mới mang tổ hợp những tính trạng quý của cả hai loài cha mẹ Tuy nhiên theo Chiu (1993) những kết quả kỹ thuật lai dung hợp tế bào trần mới chỉ có ý nghĩa trong phòng thí nghiệm, rất hiếm chủng được đưa ra sản xuất thương mại [35] Sơ đồ về phương pháp lai tạo giống mới bằng kỹ thuật dung hợp tế bào trần Ogawa (1993) tóm tắt như sau [102]:

Phương pháp gây đột biến

Đột biến cũng là một phương pháp để tạo giống nấm, tuy không thông dụng như trong tạo giống cây trồng Theo Elliott (1982), Miles và Chang (1986) có ba phương thức để thu nhận, chọn lọc những chủng đột biến là đột biến tự nhiên, đột biến bằng chiếu xạ tử ngoại (UV irradiation) và gây đột biến bằng hóa chất Các đột biến chọn lọc thường là đột biến về hương vị, màu sắc, giá trị dinh dưỡng, tính thích ứng với nhiệt độ ( nhiệt độ cao hay thấp) đến sinh trưởng sợi nấm và ra quả thể Đặc biệt là các đột biến về năng suất, thời gian lan tơ ngắn, ra quả thể sớm và tính kháng bệnh [45], [90]

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đang quan tâm nghiên cứu tạo ra những chủng đột biến không có hoặc có rất ít bào tử Bào tử củ nấm là nguyên nhân gây ra dị ứng, các bệnh về đường hô hấp cho người trồng do tính kháng nguyên trên

bề mặt của bào tử Ngoài ra bào tử còn làm giá trị thương phẩm, giá trị dinh dưỡng của nấm và tăng nguy cơ nhiễm bệnh, côn trùng trong môi trường nhà nuôi nấm

Năm 1987, Murakami đã phát hiện, chọn lọc được một chủng nấm hương Lentinula

edodes không có bào tử là TMI – 1597 Chủng này có hình thái quả thể bình thường [97] Hasebe (1991) sử dụng tác nhân là bức xạ tử ngoại để gây đột biến không có

bào tử của các chủng Lentinula edodes [55] Murakami (1993) cũng có những

nghiên cứu tạo các chủng đột biến mất bào tử bằng phương pháp chiếu xạ tử ngoại,

25

Trang 26

nghiên cứu di truyền, lai tạo của các chủng đột biến mất bảo tử ở Lentinula edodes

và Agrocybe cylindracea [98] Murakami nhận thấy các chủng đột biến không có

bào tử của Agrocybe cylindracea có quả thể nhỏ, mũ nấm rất mỏng, cuống nấm thon, mảnh hơn các chủng bình thường Với các chủng nấm bào ngư Pleurotus spp

Phóng rất nhiều bào tử và gây dị ứng mạnh cũng được Imbernon (1989) gây đột biến và chọn lọc được các đột biến không có hoặc có rất ít bào tử [64]

4.1.6 NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN HỆ SỢI CỦA CÁC LOÀI NẤM HƯƠNG

4.1.6 1 Khảo sát tốc độ sinh trưởng của các loài trong chi Lentinula trên

môi trường PGA cải tiến

Khảo sát tốc độ sinh trưởng của các loài trong chi Lentinula

Sau khi tiến hành phân lập, tinh khiết và nhân giống các chủng trong chi

Lentinula hiện có ở Việt Nam bao gồm các chủng : 2 chủng Nhật Bản (kí hiệu D2

và N5), chủng thu thập ở Trường Sa Trung Quốc (Kí hiệu: TSTQ), chủng thu thập ở Vân Nam Trung Quốc (kí hiệu: VNTQ), chủng có nguồn gốc từ Hoa Kì (kí hiệu: L170), và chủng thu thập từ tự nhiên ở Sapa (Kí hiệu: SP) Tiến hành khảo sát tốc

độ phát triển hệ sợi của chúng trên môi trường PGA Mục đích nhằm so sánh những tương đồng và sai biệt giữa các loài về phương diện hệ sợi

Hình 3.6: Sự tăng trưởng của hệ sợi sau 15 ngày nuôi cấy ở nhiệt độ 18 0

-

21 0 C

Bảng 1: tốc độ sinh trưởng của các loài trong chi Lentinula ở nhiệt độ 18-220

C Thời gian Tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm trên môi trường PGA (mm)

Trang 27

Biểu đồ 1: tốc độ lan tơ của các chủng shiitake trên môi trường PGA

Nhận xét: Trong quá trình theo dõi, nhận thấy rằng sau 4 ngày thì hệ sợi nấm bắt đầu phát triển Trong quá trình phát triển thì tốc độ phát triển của các chủng Nhật Bản (D2), Vân Nam Trung Quốc, Hoa Kì và Trường Sa Trung Quốc phát triển tương đối bằng nhau Hệ sợi của chủng nấm shiitake shiitake Sapa phát triển tương đối chậm hơn và dày hơn so với các chủng giống Nhật Bản, Trung Quốc và Hoa Kì Sau 15 ngày nuôi cấy thì các chủng Nhật Bản, Trung Quốc, và Hoa Kì đã lan đầy đĩa petri, nhưng chủng Sapa sau 16 ngày mới lan đầy đĩa

Trang 28

Khảo sát ở nhiệt độ thường (34 ± 2 o

NOV Không mọc Không mọc Không mọc Không mọc

Biểu đồ 2: Biểu diễn tốc độ lan tơ của các loài ở nhiệt độ thường

Trang 29

Nhận xét: Kết quả trên cho thấy ở điều kiện nhiệt độ phòng lạnh (28 ± 2oC) hệ

sợi của các chủng loài trong chi Lentinula phát triển tốt nhất Đáng chú ý nhất là loài L edodes chỉ sau 12 ngày cấy hệ sợi lan đầy đĩa petri Tiếp đến là chủng Cao

Bằng sau 15 ngày cấy hệ sợi đã lan đầy đĩa petri Còn đối với loài L lateritia thì sau

18 ngày cấy là mọc đầy đĩa petri Điều kỳ lạ là loài L novaezelandieae và loài L

boryana có sự phát triển rất đối nghịch Trong 7 – 12 ngày sau khi cấy thì tốc độ

phát triển của loài L boryana rất mạnh, và tương đương với loài L lateritia nhưng sau đó nó phát triển yếu nhất Còn loài L novaezelandieae sau, lúc đầu phát triển

yếu nhất nhưng sau 12 ngày cấy trở đi thì tốc độ phát triển mạnh nhất

29

Trang 30

Hình Tăng trưởng của hệ sợi các loài ở nhiệt độ phòng lạnh (28 ± 2 o

C) sau

15 ngày

Ở nhiệt độ thường tại Tp Hồ Chí Minh (30-33oC) thì tốc độ phát triển của các

loài rất yếu, có thể nói có loài gần như là không mọc, đó là loài L lateritia và loài

L novaezelandieae Mặc dù ở nhiệt độ phòng lạnh thì cả hai loài này đều phát triển

tốt nhất Điều này chứng tỏ cả hai loài L lateritia và L novaezelandieae chỉ mọc

được tốt ở nhiệt độ thấp

Ngược lại với hai loài trên là loài L edodes (L170) và chủng Cao Bằng Cả hai

loài đều mọc nhưng chỉ sau 9 ngày cấy thì dường như cả hai loài này đều ngừng phát triển Trong 7 ngày nuôi cấy ta nhận thấy tốc độ lan tơ của chủng Cao Bằng có

lẽ là mạnh hơn loài L edodes (L170) một chút (tốc độ tăng trưởng mỗi ngày tương ứng của hai loài là: 2,28 mm đối với chủng L-170 L edodes và 3,58 mm đối với chủng Cao Bằng)

Hình Phản ứng nhiệt của L lateritia và L novaezelandieae trên môi trường

PGA

Loài L boryana sau khi cấy có bung tơ và mọc được khoảng 10 mm (sau 7 ngày cấy) thì dừng lại, không phát triển nữa Sau 12 ngày cấy quan sát thấy có hiện tượng làm trắng đục môi trường

Trang 31

Như vậy có thể thấy rằng khả năng thích ứng của nấm Hương Cao Bằng cao hơn cả Chủng L170 cũng có khả năng thích ứng với nhiệt độ cao song do ít nhiều

đã qua lai tạo, chọn lọc kỹ (vì là chủng thương mại)

Và có thể xếp các loài L novaezelandieae, L lateritia, L boryana vào nhóm ưa

chịu mát, nghĩa là đòi hỏi phải có nhiệt độ tương đối lạnh mới mọc

A: ở nhiệt độ mát 28±2o

C

Hình Phản ứng nhiệt của chủng Cao bằng và chủng L-170 thuộc L edodes

Nhân giống trong môi trường gạo lức

Sau khi tinh sạch và nhân giống trên môi trường PGA Tiến hành nhân giống trên môi trường gạo lức bao gồm các chủng: chủng thu thập tự nhiên ở Sapa (kí hiệu: SP), 2 chủng ngoại nhập có nguồn gốc Nhật Bản (kí hiệu: N5 và D2), chủng ngoại nhập có nguồn gốc Hoa kì (kí hiệu: L170), 2 chủng ngoại nhập có nguồn gốc Trung Quốc chủng thu ở Trường Sa (kí hiệu: TSTQ) và chủng thu ở Vân Nam (kí hiệu: VNTQ) Thực hiện nhân giống nhằm giúp giống thích nghi dần với môi trường nghèo dinh dưỡng, giúp giống khỏe hơn và đồng thời tăng số lượng giống trước khi cấy vào môi trường mùn cưa

Bảng 1: tốc độ sinh trưởng của các loài trong chi Lentinula ở nhiệt độ 18-220

C

31

Trang 32

Biểu đồ 2: tốc độ lan tơ của các chủng shiitake trên môi trường gạo lức

Nhận xét: Qua theo dõi, chúng tôi nhận thấy rằng tốc độ lan tơ của chủng

shiitake Sapa và chủng shiitake Nhật Bản (N5) chậm rõ rệt Sau một tuần thì chủng shiitake Sapa mới bắt đầu có dấu hiệu lan tơ, chủng shiitake Nhật Bản (N5) thì lan

tơ khá chậm so với các chủng shiitake Nhật Bản (D2), Trường Sa Trung Quốc (TSTQ), Vân Nam Trung Quốc (VNTQ), và chủng shiitake Hoa Kì Chủng shiitake

Nhật Bản (D2) và chủng shiitake Hoa Kì (L170) có tốc độ lan tơ nhanh nhất sau 35 ngày thì lan hết ống nghiệm

Trang 33

3 Khảo sát sinh khối của tơ nấm Hương Cao Bằng:

Nếu chú trọng về giá trị dược học của Nấm Hương thì nuôi trồng thu quả thể có chu kỳ dài, năng suất không cao Trong khi đó hệ sợi nấm Hương cũng có đầy đủ những dược tính như quả thể Những phát hiện gần đây về những dược tính đặc biệt của nước chiết cơ chất – hệ sợi nấm Hương (LEM) và những ưu điểm của phương pháp lên men công nghiệp đã mở ra một công nghệ mới về nuôi trồng nấm Hương

để thu sinh khối sợi nấm Vì thế, chúng tôi tiến hành nuôi cấy trên môi trường lỏng nhằm khảo sát khả năng lên men của chủng nấm Hương Cao Bằng

Đối với môi trường PG:

Bảng số liệu mà thực nghiệm thu được:

Bảng 3: Kết quả sinh khối tơ nấm Hương Cao Bằng trong môi trường PG

Thời gian nuôi cấy (n)

Sinh khối tơ nấm (mg) trong môi trường PG

Biểu đồ sinh khối tơ nấm Hương Cao Bằng trong môi trường PG

Sau 15 ngày nuôi cấy có thể thu được sinh khối liên tục Sinh khối sợi nấm sau thu hoạch có thể đạt 0,55mg/ml, thu hoạch liên tục trong vòng 30 ngày Trong quá

0 20 40 60 80 100 120

15 ng 20 ng 25 ng 30 ng

33

Trang 34

Hình: nuôi cấy nấm hương Cao Bằng trong môi trường PGA có bổ sung SA Bảng: kết quả sinh khối tơ nấm Hương Cao Bằng trong môi trường PG +

SA

Thời

gian nuôi

cấy (ng)

Sinh khối tơ nấm (mg) trong môi trường PG + SA

Biểu đồ: sinh khối nấm hương Cao Bằng trong môi trường có bổ sung SA

Thời gian nuôi cấy

Trang 35

Trong môi trường PG có bổ sung 0,25 SA chúng tôi nhận thấy thu được sinh khối nhiều hơn khi nuôi trong môi trường PG nhưng cũng không vượt trội hơn nhiều (cụ thể là sinh khối sợi nấm thu hoạch có thể đạt 0,58mg/ml)

Công nghệ nuôi cấy thu sinh khối hệ sợi nấm hương là một công nghệ mới có thể sản xuất với quy mô công nghiệp, thu sinh khối sợi nấm trong một thời gian ngắn Đây thật sự là một công nghệ có nhiều triển vọng

Hình Nuôi cấy nấm Hương Cao Bằng trong môi trường có bổ sung SA

3 Khảo sát tốc độ lan sâu của tơ nấm

Hiện nay trên thế giới nuôi trồng nấm hương trên mùn cưa thường sử dụng 3 dạng cơ chất giống như là mùn cưa (sawdust spawn), giống hạt (grain spawn) và giống dung dịch (liquid spawn) Trong đề tài này chúng tôi thử nghiệm những nguồn nguyên liệu phổ biến và rẻ tiền ở Việt Nam để nhân giống cho sản xuất như gạo lức

Bảng: kết quả tốc độ lan sâu của tơ nấm trên các môi trường hạt

Trang 36

Hình: tốc độ lan tơ của nấm Hương Cao Bằng trên các môi trường hạt

VII Thử nghiệm nuôi trồng

Nuôi trồng thu thể quả nấm hương khá thông dụng ở nước ta, đang được tích cực phổ biến vì khả năng dễ áp dụng ở nhiều địa phương có khí hậu với nhiệt độ

Môi trường hạt

Trang 37

tương đối thấp, ôn hòa, tận dụng các nguồn phụ phế liệu trong sản xuất nông, lâm, công nghiệp, góp phần giải quyết bài toán môi trường Nuôi trồng shiitake quảng canh trên gỗ khúc sồi dẻ đã có từ hơn 1000 năm về trước ở Trung quốc, Hàn quốc,

Nhật bản và cả Việt nam, hiện nay phổ biến là các chủng L edodes ngoại nhập trên

cơ chất hỗn nền mùn cưa nhồi trong bịch cỡ 300-500 g Lên men thu sinh khối hệ sợi là hướng mới có triển vọng công nghiệp ở Nhật bản (Yamamoto et al., 1997), và

cả ở châu Âu (Lelik et al., 1997), để thu nhận các dạng chế biến và bào chế đặc biệt, cần được xúc tiến ở Việt nam, song theo một hướng công nghệ mới tích tụ các hoạt chất quí Đặc biệt cần lưu ý về các chủng nấm shiitake hoang dại – nguồn tài nguyên gene quí của nước ta Dùng nấm shiitake làm thực – dược phẩm cao cấp (không phải chỉ là gia vị), theo phương châm phòng bệnh với thực phẩm chức năng, đồng thời tìm hiểu các công nghệ bào chế để sản xuất các sản phẩm mới bồi bổ sức khỏe toàn dân là hướng đi thích hợp ở Việt nam

Nấm hương shiitake ngoại nhập đã được nuôi trồng nhiều năm ở nước ta, nhưng nấm shiitake bản địa đến nay vẫn chưa được chính thức đưa vào nuôi trồng, vì năng suất thấp, không có khả năng cạnh tranh kinh tế Trong chuyên luận này chúng tôi tiến hành nuôi trồng nấm shiitake bản địa cùng với các chủng nấm shiitake ngoại nhập bao gồm hầu hết các loài với các chủng điển hình nhằm so sánh về tốc độ phát triển hệ sợi trên môi trường PGA và những sai khác về hình thái quả thể

Nhiều tác giả ở Việt Nam đã nuôi trồng nấm hương từ lâu (Trịnh Tam Kiệt et al., 1986 ; Lê Duy Thắng, 1993,…), kết qủa nuôi trồng nấm hương ở Đà Lạt cũng

đã trở nên thông dụng, đặc biệt các chủng ưa lạnh cũng được nuôi trồng có kết quả quanh năm, mà các địa phương khác có thể bảo đảm được Đây là hướng thông dụng ở nước ta, đang được phổ biến vì khả năng dễ áp dụng ở nhiều địa phương, tận dụng các nguồn phế liệu xơ-sợi nông, lâm, công nghiệp, góp phần giải quyết bài toán môi trường Dùng nấm hương làm thực phẩm cao cấp, theo phương châm phòng bệnh, đồng thời tìm hiểu các công nghệ bào chế để sản xuất các sản phẩm mới bồi bổ sức khỏe là hướng đi thích hợp ở Việt Nam

Thử nghiệm nuôi trồng nấm shiitake tại phòng thí nghiệm thuộc Khoa Sinh học Trường Đại học Đà Lạt trên môi trường mùn cưa

Chọn mùn cưa làm nguồn gốc cơ chất chủ yếu để trồng nấm hương Ngoài ra

có bổ sung các nông phẩm và chế phẩm như 10% cám gạo, 10% cám bắp, bột bánh dầu, 0.5% DAP, và 1% CaCO3 Sau khi nguyên liệu cơ chất được phối trộn đủ ẩm, thì được nhồi vào bịch PP Sau đó, ta đem hấp khử trùng ở 1210C, 1atm trong 120 phút và hấp lại lần 2 sau 24 giờ

1 NUÔI TRỒNG NẤM HƯƠNG (LENTINULA EDODES)

1.1 Theo dõi qúa trình lan tơ trên cơ chất

Sau khi chuẩn bị các bịch cơ chất xong, hấp khử trùng, để nguội Sau 48 giờ mới cấy giống cấp 2 (hạt lúa) vào, khoảng 5 ngày sau khi cấy thì tơ nấm đã bung lên xung quanh hạt lúa Sau đó tơ nấm bắt đầu lan xuống bịch chứa cơ chất Khoảng

thời gian từ 2 đến 2,5 tháng thì tơ nấm lan kín bịch cơ chất

Do nấm hương thích hợp ở khí hậu lạnh nên qúa trình theo dõi các bịch cơ chất cho thấy hệ sợi phát triển khá tốt trong điều kiện nhiệt độ tại Đà Lạt

Chúng tôi đã tiến hành trồng tại phòng nấm

37

Trang 38

Hình 3.14: Bịch cơ chất nâu hóa

1.2 Giai đoạn ra qủa thể

Sau khi tơ nấm lan đầy bịch, thì tiến hành đem bịch phôi ra phòng sáng, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp vào Trước khi hình thành qủa thể nấm thì bề mặt bịch phôi sẽ hình thành một lớp màu nâu có chức năng như vỏ của cây Lớp vỏ màu nâu này tạo vi môi trường thuận lợi cho sự hình thành nụ nấm, đồng thời chống mốc, chống khuẩn và chống mất nước Sau đó lột một phần hoặc lột hoàn toàn bịch nylon để nấm ra qủa thể Aåm độ không khí qúa cao sẽ ức chế hình thành nụ nấm, ngược lại ẩm độ qúa thấp làm bịch phôi khô nhanh cũng làm nụ nấm bị thui chột Do lột bịch phôi vào khoảng tháng 3, là thời điểm mùa khô, nên ta tưới nước chủ động 2 lần/ngày bằng cách tưới phun sương, thời gian khoảng 2-3 giờ cho mỗi lần tưới Aåm độ không khí từ 85 – 95% là thích hợp nhất Nhiệt độ thích hợp là 10 – 200C, nụ nấm bắt đầu hình thành sau vài ngày đem trồng tương ứng với các bịch phôi khác nhau

Trang 39

Sau khi nụ nấm hình thành, thì qua ngày tiếp theo nụ nấm lớn hơn và trở thành cây nấm, cho đến ngày thứ 7 thì nấm đã trưởng thành có thể thu hái được Nhiệt độ thích hợp trong giai đọan này là 13 – 200C, nhiệt độ ảnh hưởng tới tốc độ thành thục và độ dày của qủa thể Aùnh sáng ảnh hưởng tới màu sắc của mũ nấm Aåm độ thích hợp từ 75 – 95%

Sau mỗi lần thu hái, có một chu kỳ nghỉ từ 15-20 ngày Nấm thu họach từ 3-4 đợt trong thời gian từ 3 đến 4 tháng hoặc hơn nữa tùy theo điều kiện môi trường, thành phần và khối lượng cơ chất Vì thế chúng tôi chỉ thu hái đợt đầu mà không tiến hành thu hái ở đợt tiếp theo

1.3 Quan sát hình thái cấu tạo quả thể nấm hương (Lentinula

edodes)

Đối với nấm Lentinula edodes, các tính trạng như kích cỡ, hình

dạng, màu sắc tai nấm đều rất quan trọng Đặc biệt là phải quan tâm đến hương vị của nấm, nhất là hậu vị Chất lượng của nấm hương còn liên quan đến hương vị nấm sau thu họach, chế biến và bảo quản

+ Đặc điểm hình thái của qủa thể nấm hương:

Quả thể của nấm hương có dạng tán dù Mũ nấm lúc đầu có hình nón bầu, sau trải rộng và phẳng Mép của mũ nấm cuộn vào trong, mang những vết rách thuộc màng che phủ phiến khi còn non Phiến nấm màu trắng, cuốn nấm hình trụ, có lớp vảy mỏng màu trắng bao phủ Thịt nấm màu trắng, hơi dầy, là chất da nên hơi dai khi ăn Nấm hương có mùi và vị rất đặc biệt

+ Kích thước mũ nấm (cm): lớn nhất từ 11 – 13, trung bình từ

6 – 8

+ Màu sắc mũ nấm: màu nâu đậm

+ Đặc trưng mũ nấm: mũ nấm có nhiều vết nứt, có nhiều vảy trắng xếp theo những vòng tròn đồng tâm

+ Cuống nấm: dài từ 3 – 7 cm Đường kính từ 5 – 7 mm

39

Trang 40

2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG MỘT SỐ CHỦNG NẤM HƯƠNG

Ngày đăng: 13/01/2015, 10:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.12: Khả năng tích tụ Se trong nấm hương Lentinula edodes (ppm) - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Bảng 3.12 Khả năng tích tụ Se trong nấm hương Lentinula edodes (ppm) (Trang 53)
Hình 2: Quả thể nấm Macrocybe crassa mọc trên cây Me - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 2 Quả thể nấm Macrocybe crassa mọc trên cây Me (Trang 74)
Hình 5: Sự  tăng trưởng của quả thể trên môi trường hạt - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 5 Sự tăng trưởng của quả thể trên môi trường hạt (Trang 83)
Hình 7: Hệ sợi nấm Schizophyllum commune trên môi trường thạch PGA bổ sung,  thời - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 7 Hệ sợi nấm Schizophyllum commune trên môi trường thạch PGA bổ sung, thời (Trang 139)
Hình 11: Thu nhận sinh khối nấm S. commune trên môi trường PGA bổ - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 11 Thu nhận sinh khối nấm S. commune trên môi trường PGA bổ (Trang 144)
Hình 15:Nấm Chân chim (Schizophyllum commune) được nuôi trồng theo qui - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 15 Nấm Chân chim (Schizophyllum commune) được nuôi trồng theo qui (Trang 148)
Hình 1. Hệ sợi nấm sinh trưởng và ra mầm thể quả trên môi trường thuần khiết - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 1. Hệ sợi nấm sinh trưởng và ra mầm thể quả trên môi trường thuần khiết (Trang 171)
Hình 4. Sự phát triển của hệ sợi nấm sau 10 ngày cấy ( 22 0 ±2 C) - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 4. Sự phát triển của hệ sợi nấm sau 10 ngày cấy ( 22 0 ±2 C) (Trang 246)
Hình 9. Sự phát triển hệ sợi nấm trên hỗn hợp mùn cưa - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 9. Sự phát triển hệ sợi nấm trên hỗn hợp mùn cưa (Trang 251)
Hình 3.38. Thể quả Ganoderma microsporum  non và trưởng thành với lớp bụi bào tử - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 3.38. Thể quả Ganoderma microsporum non và trưởng thành với lớp bụi bào tử (Trang 261)
Hình 53. Hệ sợi trên hỗn hợp mùn cưa sau 28 ngày - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 53. Hệ sợi trên hỗn hợp mùn cưa sau 28 ngày (Trang 281)
Hình 55. Thể quả non của Ganoderma tropicum dạng không cuống - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 55. Thể quả non của Ganoderma tropicum dạng không cuống (Trang 283)
Hình 56.  Thể quả Ganoderma tropicum dạng không cuống sau 50 - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 56. Thể quả Ganoderma tropicum dạng không cuống sau 50 (Trang 285)
Hình 20. Thể quả khi mới hình thành - một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ,bờ biển từ quảng ngãi đến kiên giang
Hình 20. Thể quả khi mới hình thành (Trang 292)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w