Tiêu đề Phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện xhh giáo dục và hội nhập quốc tế Tác giả: Đỗ Thị Nhan Chuyên ngành: Kinh tế Quản lý Nguồn phát hành: Học viện Tài chính Sơ lược: THÔNG TIN TÓM TẮT VỀ NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ 1. Đề tài: Phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện xã hội hóa giáo dục và hội nhập quốc tế. 2. Chuyên ngành: Kế toán; Mã số: 62.34.03.01. 3. Họ và tên NCS: Đỗ Thị Nhan. 4. Hä vµ tªn c¸n bé híng dÉn khoa häc Hướng dẫn một: PGS.TS. Nguyễn Trọng Cơ Hướng dẫn hai: TS. Hoàng Đức Long 5. Những kết luận mới của luận án Xã hội hóa giáo dục và hội nhập quốc tế với cơ chế giao quyền tự chủ tài chính, việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho giáo dục đào tạo nói chung, GDĐHCĐ nói riêng được lãnh đạo các trường, các nhà quản lý các cấp rất quan tâm. Việc phân tích đ ánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác huy động và sử dụng vốn của đơn vị cũng như nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới để tìm ra các biện pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển một cách hiệu quả là rất cần thiết. Các cơ sở GD ĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương ngày càng mở rộng về quy mô và loại hình đào tạo, do vậy nhu cầu về vốn đầu tư phát triển cũng ngày càng cao. Các cơ sở đào tạo này cũng luôn quan tâm đến hiệu quả của việc huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển, tuy nhiên mức độ quan tâm cũng như phương pháp quản lý giữa các cơ sở có sự khác biệt và còn tồn tại những hạn chế cần được nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện về lý luận và thực tiễn. Luận án có những kết luận mới là: Thứ nhất, Luận án đã trình bày và phân tích có hệ thống, có căn cứ khoa học lý luận chung về phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH giáo dục và hội nhập quốc tế. Đồng thời tác giả đã đề xuất các chỉ tiêu phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH giáo dục, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của GDĐH và hội nhập quốc tế. Thứ hai, Qua nghiên nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về huy động vốn đầu tư phát triển giáo dục đại học, cơ chế quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính của 2 một số nước như: Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và Trung Quốc để tham chiếu, luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích về huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển giáo dục đại học, cao đẳng công lập ở Việt Nam. Thứ ba, Luận án đã phân tích, đánh giá đầy đủ thực trạng hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 20112013, qua kết quả khảo sát thực tế của tác giả. Thứ tư, Trên cơ sở những căn cứ khoa học và kinh nghiệm thực tế, Luận án đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển, cũng như các giải pháp tổ chức phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện XHH giáo dục và hội nhập quốc tế. Hà Nội, ngày 08 tháng 01 năm 2015
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Chuyên ngành: Kế toán
Mã số : 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS,TS Nguyễn Trọng Cơ
2 TS Hoàng Đức Long
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đỗ Thị Nhan
Trang 4Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài 1
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 9
Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GDĐHCĐ CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN XHH GIÁO DỤC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
12
1.2 HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GDĐHCĐ CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN XHH GIÁO DỤC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
18
1.2.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH giáo dục và hội nhập quốc tế
Trang 51.4.6 Tổ chức công tác phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH giáo dục và hội nhập quốc tế
65
2.1 TỔNG QUAN CÁC CƠ SỞ GDĐHCĐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 65 2.1.1 Hệ thống các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương 65
2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GDĐHCĐ CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
67 2.2.1 Cơ chế chính sách huy động vốn đầu tư phát triển 67 2.2.2 Phân tích thực trạng huy động từ nguồn ngân sách nhà nước 70 2.2.3 Phân tích thực trạng huy động từ nguồn xã hội hóa 74 2.2.4 Phân tích thực trạng nguồn thu và cơ cấu nguồn thu 78 2.2.5 Đánh giá thực trạng hiệu quả huy động vốn đầu tư 80 2.3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GDĐHCĐ CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
87
2.3.2 Phân tích thực trạng sử dụng vốn đầu tư đào tạo phát triển đội ngũ 91 2.3.3 Phân tích thực trạng sử dụng vốn đầu tư hoạt động NCKH và đào tạo 94 2.3.4 Phân tích thực trạng sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị 98 2.3.5 Phân tích thực trạng biến động vốn và cơ cấu sử dụng vốn đầu tư 99 2.3.6 Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư 101 2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÁC CƠ SỞ GDĐHCĐ CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
126
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GDĐHCĐ CÔNG LẬP VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN XHH GIÁO DỤC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
126
Trang 63.1.2 Quan điểm đổi mới cơ chế huy động và sử dụng nguồn tài chính phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH giáo dục và hội nhập quốc tế
129
3.1.3 Phương hướng phát triển GDĐHCĐ tỉnh Hải Dương giai đoạn 2015-2020 131 3.2.YÊU CẦU VÀ NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GDĐHCĐ CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN XHH GIÁO DỤC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
132
3.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GDĐHCĐ CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN XHH GIÁO DỤC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
135
3.3.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn đầu tư phát triển 142 3.3.3 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển 148 3.3.4 Giải pháp tổ chức phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển
154
3.4.3 Về phía cơ sở GDĐHCĐ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 166
Trang 7CNH, HÐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GDĐHCĐ Giáo dục đại học, cao đẳng
GDĐT Giáo dục đào tạo
Trang 81 Bảng 1.1: Chi phí cho GDĐH so với GDP 22
3 Biểu 2.2: Bảng tổng hợp nguồn thu từ NSNN cấp cho các trường đại học,
cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương qua các năm từ 2011 ÷ 2013 72
4 Biểu 2.3: Cơ cấu nguồn NSNN cấp cho các trường đại học, cao đẳng trên
địa bàn tỉnh Hải Dương qua các năm từ 2011 ÷ 2013 73
5 Biểu 2.4: Bảng tổng hợp nguồn thu sự nghiệp các trường đại học, cao đẳng
công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương qua các năm từ 2011 ÷ 2013 75
6 Bảng 2.5: Nguồn thu của các trường đại học, cao đẳng công lập trên địa bàn
7 Bảng 2.6: Nguồn vốn đầu tư các trường ĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh
8 Bảng 2.7: Số lượng sinh viên tốt nghiệp và việc làm 84
9 Bảng 2.8: Sự phù hợp của công việc với ngành nghề đào tạo của SV 84
10 Bảng 2.9: Mức độ sử dụng kiến thức chuyên môn được đào tạo 85
11 Bảng 2.10: Các khóa học bồi dưỡng mà sinh viên tốt nghiệp đã học để
12 Bảng 2.11: Các khoá học bồi dưỡng mà doanh nghiệp yêu cầu sinh viên
tốt nghiệp đang làm việc tham gia học để đáp ứng yêu cầu công việc 86
13 Bảng 2.12: Tình hình trích lập các quỹ và thu nhập tăng thêm từ nguồn
thu sự nghiệp các trường đại học, cao đẳng công lập trên địa bàn tỉnh Hải
Dương các năm 2011 † 2013
90
14 Bảng 2.13: Vốn đầu tư phát triển đội ngũ các trường đại học, cao đẳng trên
địa bàn tỉnh Hải Dương các năm từ năm 2011 † 2013 91
15 Bảng 2.14: Quy mô và chất lượng đội ngũ giảng viên CBQL trong 3 năm
16 Bảng 2.15: Vốn đầu tư NCKH và đào tạo các trường đại học, cao đẳng
công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương các năm từ năm 2011 † 2013 95
17 Bảng 2.16: Kết quả NCKH và biên soạn giáo trình các trường đại học, cao
đẳng công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương các năm từ năm 2011 † 2013 96
18 Bảng 2.17: Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị các trường
ĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương các năm từ năm 2011 † 2013 98
Trang 920 Bảng 2.19 Suất đầu tư về phòng học lý thuyết của các trường ĐHCĐ công
lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương qua các năm từ 2011 † 2013 102
21 Bảng 2.20: Thời gian sử dụng phòng học lý thuyết của các trường ĐHCĐ
công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương qua các năm từ 2011 † 2013 103
22 Bảng 2.21: Suất đầu tư phòng TH,TN của các trường ĐHCĐ công lập trên
địa bàn tỉnh Hải Dương qua các năm từ 2011 † 2013 105
23 Bảng 2.22: Thời gian sử dụng phòng TH,TN của các trường đại học, cao
đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương qua các năm từ 2011 † 2013 108
24 Biểu 2.23: Hiệu quả đầu tư thư viện của các trường ĐHCĐ công lập trên
địa bàn tỉnh Hải Dương qua các năm từ 2011 † 2013 110
25 Bảng 2.24: So sánh định mức chi quy định trong đề án với thực tế chi 112
26 Bảng 2.25: Hiệu quả đầu tư NCKH các trường ĐHCĐ công lập trên địa
27 Bảng 2.26: Lý do hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất của các trường thấp 123
28 Bảng 2.27: Lý do hiệu quả sử dụng thư viện của các trường thấp 124
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1: Chất lượng đội ngũ giảng viên CBQL từ năm 2011 đến 2013 94
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục và đào tạo có vị trí và vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc
gia, mỗi dân tộc Ở nước ta, Đảng ta đã xác định “Giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển” [17, tr.77]
Việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Mặc dù nguồn kinh phí từ NSNN còn eo hẹp, nhưng Nhà nước luôn luôn dành một tỷ trọng ngân sách đáng kể cho hệ thống giáo dục nói chung, GDĐHCĐ nói riêng Trong một thời gian dài hệ thống giáo dục đào tạo ở Việt Nam mà phần lớn là các trường công lập thực hiện cơ chế bao cấp vì thế chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính đã huy động được Thực hiện chủ trương XHH giáo dục và hội nhập quốc tế với cơ chế giao quyền tự chủ tài chính thì việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho giáo dục đào tạo nói chung, GDĐHCĐ nói riêng là rất cần thiết Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hải dương có nhiều cơ sở GDĐHCĐ công lập và các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh ngày càng mở rộng về quy mô và loại hình đào tạo, do vậy nhu cầu về vốn đầu tư phát triển cũng ngày càng cao Các cơ sở đào tạo tại tỉnh Hải dương luôn quan tâm đến hiệu quả của việc huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển, tuy nhiên mức độ quan tâm cũng như phương pháp quản lý giữa các cơ sở có sự khác biệt và còn tồn tại những hạn chế cần được nghiên cứu bổ
sung và hoàn thiện Xuất phát từ lý do trên Tác giả lựa chọn đề tài “Phân tích hiệu
quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện xã hội hóa giáo dục và hội nhập quốc tế ”
làm đề tài luận án tiến sĩ
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề đầu tư phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam là một chủ đề thu hút không ít sự quan tâm các nhà quản lý, các nhà khoa học,
Trang 11đặc biệt các nhà nghiên cứu, các viện, các trường đại học trong nước và nước ngoài
Đã có rất nhiều công trình khoa học được công bố trên các sách báo, tạp chí, yêu cầu về phương hướng, giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam cụ thể:
1.2.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
- WB (1994), Higher Education: The lessons of experience, A WB
publication, Washington, D.C
Nhưng đồng thời, cũng khuyến khích quá trình
tư nhân hóa, sự mở cửa thị trường GDĐH và các cách tiếp cận quản lý ít có sự chi phối của nhà nước;
- Hayden M and Thiep L.Q (2006), “A 2020 Vision for Higher Education in
Vietnam”, International HE, The Boston college center for international HE, No.44
Spring 2006
- Mặc dù chỉ ra được khiếm khuyết trong quản lý của Nhà nước dẫn tới sự thiếu tự chủ thực chất nhưng chưa đưa ra cách bù
đắp sự khiếm khuyết, cách tháo gỡ cơ chế bộ chủ quản;
- Ashwill M.A.(2006), “US Institutions Find Fertile Ground in Vietnam‟s
Expanding HE Market”, International HE, The Boston college center for international
HE , Number 44, Summer 2006, pp.13-14
kiểm định của Mỹ vào Việt Nam cũng như khuyến cáo Nhà nước cần quản lý chương trình để đảm bảo lợi ích cho người học Nhưng không thảo luận biện pháp giúp trách nhiệm xã hội của các nhà cung cấp GDĐH ngoại nhập được thực thi;
- Vught F V (1993), Patterns of governance in HE: Concepts and Trends,
Cemter for HE Policy Studies Đã đúc
của nhà nước mang tính bao quát là kiểm soát và giám sát; nhấn mạnh sự hội tụ và
;
Trang 12- Fielden J.(2008), Global trends in university governance
.v…
- Salmi (2009),The growing accountability agenda in tertiary education:
Progress or mixed blessing, WB Education Working Paper Series, No.16,
Washington, D.C Đã phân tích trách nhiệm xã hội của trường đại học trước yêu cầu cạnh tranh của các bên liên quan và cách thức bảo đảm trách nhiệm này, đồng thời khuyến cáo khả năng trách nhiệm xã hội có thể trở thành gánh nặng cho các trường;
- Human Development Department East Asia and Pacific Region The World
Bank (2008), Vietnam Higher Education and Skills for Growth Báo cáo đã đánh
giá hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam chưa có các công cụ cần thiết để thích ứng với sự phát triển và thay đổi nhu cầu của một nền kinh tế ngày càng năng động Hướng tới đẳng cấp trong khu vực và quốc tế, thực hiện hệ thống giáo dục đại học
sẽ đòi hỏi một tập hợp các cải cách để tạo ra sự linh hoạt và đa dạng, mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân, đầu tư phát triển một số cơ sở giáo dục đại học trọng điểm có tầm cỡ khu vực và thế giới Để đến đó, Việt Nam sẽ cần phải tạo quản trị
hỗ trợ và các khuôn khổ tài chính, với những sửa đổi xác định vai trò của khu vực công và tư nhân, được thực hiện theo ba giai đoạn: (1) tăng cường khuôn khổ cho một hệ thống giáo dục đại học cạnh tranh, (2) giúp các trường đại học tiếp cận với các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và (3) đầu tư hơn nữa trong việc xây dựng một
hệ thống giáo dục đại học đạt đẳng cấp trong khu vực và quốc tế;
- Pamela N Marcucci D Bruce Johnstone (2006), International Higher
Education Finance: An Annotated Bibliography, Boston College Center for
International Higher Educatio and ICHEFAP, USA Dự án đã đánh giá các thay đổi trên toàn thế giới trong gánh nặng chi phí giáo dục đại học từ các chính phủ và thuế đối tượng nộp cho phụ huynh và học sinh, và các chính sách trợ cấp, các khoản vay
và can thiệp khác của chính phủ được thiết kế để duy trì sự phát của giáo dục đại học cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội
1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
- Bùi Tuấn Minh (2012), Phân tích hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn kinh phí trong các đơn vị sự nghiệp đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính, Luận án tiến sĩ kinh
Trang 13tế, Học Viện tài chính, luận án đã nghiên cứu những vấn đề: lý luận về nguồn kinh phí và hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí đối với các đơn vị sự nghiệp đào tạo; Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính và hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí đối với các đơn vị sự nghiệp đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn kinh phí đối với các đơn vị sự nghiệp đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính;
- Đỗ Thị Thanh Vân (2010), Giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển
đào tạo nghề ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, luận án tập
trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động đào tạo nghề; các nguồn vốn đầu tư, thực trạng huy động vốn cho đầu phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam giai đoạn 2001-2008 và các giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển đào tạo nghề của Việt Nam đến năm 2020;
- Nguyễn Bá Cẩn (2008), Cơ sở lý luận và phương pháp hình thành chính
sách phát triển giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, luận
án nghiên cứu trên góc độ vĩ mô về quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, phương pháp và các điều kiện bảo đảm cho quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Nguyễn Hữu Hiểu (2007), Các giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn nước ngoài cho đầu tư phát triển giáo dục ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh
tế, Học viện Tài chính, luận án nghiên cứu các giải pháp và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động và sử dụng vốn ODA và FDI trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam;
- Phan Huy Hùng (2009), Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ,
tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Quản lý
hành chính công, Học viện hành chính, luận án đã đề cập những vấn đề về: sự điều chỉnh của nhà nước trong quản lý GDĐH, sự tách bạch giữa ban hành và thực thi chính sách, xác lập mối
, xây dựng cơ chế đệm phù hợp;
Ngoài ra còn có các bài viết chuyên khảo về tài chính đầu tư cho phát triển giáo dục đào tạo, đó là:
- Vũ Trường Giang (2011), “Tài chính cho giáo dục đại học ở một số nước
Trang 14trên thế giới và khuyến nghị đối với Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, tác giả nghiên
cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc huy động nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, trên cơ sở
đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm huy động nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học ở Việt Nam, như: tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học đi đôi với đổi mới phương thức cấp phát ngân sách; khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển giáo dục; các trường đại học cần nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật; tăng cường gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp; khuyến khích các cá nhân, tổ chức đóng góp từ thiện cho phát triển giáo dục;
- Nguyễn Tuấn Minh (2014), “Bàn về huy động nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, tác giả đã đã nêu các quan điểm về: Cơ chế
cấp phát tài chính từ nguồn ngân sách theo đó có 5 cách Nhà nước cung cấp tài chính cho các trường đại học; Cơ chế thu của các trường đại học; Cơ chế chi ngân sách cho giáo dục đại học;
- Phạm Thị Ly (2011), “Xã hội hóa dịch vụ công trong giáo dục đại học”,
VietNamNet; tác giả bàn về một cách hiểu cho khái niệm “xã hội hóa dịch vụ công
trong giáo dục”, theo lối hiểu phù hợp với thông lệ quốc tế và nhất quán với những chủ trương chính thức của Nhà nước XHH dịch vụ công trong giáo dục với ý nghĩa
đó bao gồm sự tham gia của nhiều bên, nhiều thành phần xã hội trong quá trình quản trị trường đại học và hệ thống đại học, nhằm giúp trường đại học thực hiện tốt nhất vai trò và sứ mạng của nó để phục vụ cho lợi ích của quốc gia Trong nhiều bên tham gia ấy, tác nhân quan trọng nhất vẫn là Nhà nước; do vậy tác giả cũng bàn đến vai trò của nhà nước trong một hệ thống giáo dục đại học đã được XHH;
- Lê Quốc Hùng (2010), “Xã hội hoá giáo dục đại học”, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, tác giả đã hệ thống những quan điểm, định hướng của Đảng về vấn đề xã
hội hóa giáo dục đại học, nêu nên những đặc trưng cơ bản của xã hội hóa giáo dục, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đối với đại học ngoài công lập;
- Phan Ái Nhi (2012), Một số suy nghĩ về vấn đề xã hội hóa giáo dục, từ
xa-hoi-hoa-giao-duc, tác giả đã nêu quan điểm: xã hội hóa giáo dục là trong sạch hóa hệ thống giáo dục, nhà nước phải tạo ra không gian xã hội, luật pháp và chính
Trang 15http://llct.cntp.edu.vn/index.php/khoa-hocgiao-duc/83-mot-so-suy-nghi-ve-van-de-trị cho việc hình thành một khu vực giáo dục mà ở đấy ai cũng có quyền đóng góp
vì sự nghiệp giáo dục, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượng giáo dục, tức là giáo dục phải thuộc về xã hội Hệ thống giáo dục đào tạo có chức năng cung ứng lao động cho xã hội, vì thế, nó cần phải hiểu rõ xã hội cần loại lao động nào và xây dựng những quy trình đào tạo phù hợp;
- Bùi Tuấn Minh (2012), “Đổi mới cơ chế quản lý sự nghiệp đối với các đơn
vị sự nghiệp đào tạo đại học, cao đẳng công lập”,Tạp chí Tài chính số 8/2012; tác
giả đã bàn về một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp đào tạo đại học, cao đẳng công lập như: Về cơ chế huy động nguồn kinh phí, tác giả đề xuất: kết nối việc hợp tác, liên kết đào tạo giữa đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập với doanh nghiệp, gắn kết chương trình đào tạo với thực tiễn nhằm tạo nguồn lực thông qua trả kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, cung cấp kinh phí cho việc nghiên cứu theo đặt hàng; Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý về chính sách học phí phù hợp làm cơ sở để các đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập quyết định mức thu; Nhà nước tạo cơ chế bằng việc sử dụng công cụ thuế, mở rộng sự đóng góp của các nhà tài trợ đối với các đơn vị sự nghiệp đào tạo ĐH, CĐ, thông qua hoạt động cung ứng dịch vụ ra bên ngoài của các đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập; Nhà nước tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập thực hiện việc vay vốn của các
tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, đi đôi với việc tạo nguồn thu từ hoạt động này là tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật; xúc tiến việc xây dựng quỹ đóng góp và hiến tặng cho các đơn vị sự nghiệp đào tạo; phát huy việc dùng tài sản mua sắm hiện có từ các nguồn khác nhau, từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp kể cả từ nguồn vốn vay, vốn huy động để có thể thế chấp vay vốn theo quy định của pháp luật thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học của các đơn vị; Về cơ chế phân phối và sử dụng nguồn kinh phí, tác giả đề xuất: công tác lập kế hoạch tài chính và ngân sách hàng năm, trung hạn của đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập cần được sử dụng như là công cụ quản lý; hoàn thiện cơ chế
tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp đào tạo;
- Vũ Quang Việt (2010), “Chi tiêu cho giáo dục”, Vietbao.vn, tác giả đã phân
tích, thống kê về chi cho giáo dục ở Việt Nam hiện nay, so sánh với các nước trên thế giới, qua đó tác giả có nhận xét đánh giá về phát triển của giáo dục ở Việt Nam hiện nay đó là: Chi phí cho giáo dục ở Việt Nam vượt xa các nước phát triển cao; Thu nhập
Trang 16của giáo viên thấp; Quy mô đào tạo ĐH tăng nhanh;
- Phạm Văn Trường (2013), “Cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học công
lập”, Tạp chí Tài chính số 7/2013, tác giả đã phân tích những vấn đề cơ bản về cơ
chế tài chính cho giáo dục đại học công lập và kết luận: với tư cách là phương thức điều hành các khoản chi, cơ chế quản lý chi cho GDĐH chịu sự chi phối bởi nhiều nhân tố, cần thiết phải xem xét để định hình nội dung của cơ chế quản lý chi Tuỳ theo mức độ, cơ cấu các khoản chi mà cơ chế quản lý chi cho GDĐH được hình thành với những nội dung thích hợp Tư tưởng chỉ đạo chung của cơ chế quản lý các khoản chi cho GDĐH là nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý tài chính của các trường đại học công lập;
Các bài đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành và một số sách chuyên khảo nêu trên còn rất hạn chế cả về dung lượng, phạm vi, nội dung và phương pháp tiếp cận Hầu như các bài viết chỉ dừng lại ở góc độ tranh luận, nêu quan điểm hay khai thác thông tin, nên chưa góp phần hệ thống hóa thành cơ sở lý luận đặt nền móng cho việc xây dựng và hoàn thiện phương pháp phân tích hiệu quả huy động và
sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập nói chung trên địa bàn
tỉnh Hải Dương nói riêng trong điều kiện xã hội hóa giáo dục và hội nhập quốc tế
Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam
liên quan đến việc phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện XHH giáo dục và hội nhập quốc tế, tác giả rút ra các nhận xét cơ bản sau:
Thứ nhất, đối với các công trình nghiên cứu ngoài nước cung
GDĐH
Những khuyến cáo đối với quản lý GDĐH ở Việt Nam
Tuy nhiên chưa được đề cập đầy đủ chuyên sâu có tính hệ thống về vấn đề hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập Những công trình này là tài liệu tham khảo được tác giả khai thác và sử dụng trong quá trình viết luận án
Thứ hai, đối với các công trình nghiên cứu trong nước được trình bày trên đã
đề cập theo các góc độ khác nhau về hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu trên bình diện chung về phát triển Giáo dục đại học, xem xét
Trang 17Giáo dục đại học như một khách thể quản lý của nhà nước, tồn tại trong một thể chế chính trị của quốc gia, chưa nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện về hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH
và hội nhập quốc tế Những công trình nghiên cứu này là tài liệu tham khảo được tác giả khai thác và sử dụng trong quá trình viết luận án
Vậy xét theo góc độ về huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập, thì giải pháp nào để nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập nói chung, GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng, các đề tài nghiên cứu trên chưa đề cập đến, hoặc theo các khía cạnh khác nhau, ở một phạm vi nhất định Do vậy tác giả lựa chọn đề
tài “Phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở
GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện XHH giáo dục và
hội nhập quốc tế ” là chủ đề nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phân tích hiệu quả huy động
và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH giáo dục, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của GDĐH và hội nhập quốc tế, đồng thời luận giải rõ hơn các ưu điểm và những hạn chế cũng như các nguyên nhân trong huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương những năm qua, luận án đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện XHH giáo dục và hội nhập quốc tế
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án tập
trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa lý luận, phương pháp luận về phân tích hiệu quả huy động
và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH và hội nhập quốc tế;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2013;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện XHH và hội nhập quốc tế
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
* Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát
triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập
* Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển
các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
* Cở sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tuởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối, quan điểm c
, thể hiện trong các văn kiện: Nghị quyết TW2 (khoá VIII), Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI, Kết luận của Hội nghị TW6 (khoá IX), Hiến pháp nước
cộng hòa XHCN Việt Nam và Luật giáo dục Đại học
* Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin được sử dụng thống nhất trong quá trình nghiên cứu của luận án
Đồng thời, vận dụng và kết hợp hợp lý các phương pháp: so sánh để tìm ra xu hướng chung và mối quan hệ nhân quả; suy luận logíc, lập luận đưa ra nhận xét và
kết luận từ các sự kiện nghiên cứu, phân tích và tổng hợp để làm rõ hiệu quả huy
động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ; thống kê miêu tả nhằm cung cấp số liệu phản ảnh nội dung và vấn đề nghiên cứu; tra cứu tài liệu để nắm và bổ sung phương pháp nghiên cứu và luận cứ; mô hình hóa nhằm tăng tính
trực quan và giúp
tiếp cận khám phá các chủ trương, đường lối, quan
điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục đào tạo nói chung, GDĐHCĐ nói riêng ở nước ta trong bối cảnh hiện nay; tiếp thu, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu có liên quan đã được công bố
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi:
1550 sinh viên tốt nghiệp tại các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương đang làm việc trong các tổ chức, doanh nghiệp Phương pháp khảo sát, tác
Trang 19giả đã gửi các phiếu hỏi đến các đối tượng khảo sát; Phương pháp phân tích số liệu khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm hỗ trợ SPSS
+ Phương pháp tổng kết thực tiễn: Phương pháp được sử dụng nhằm tổng
kết thực tiễn tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2013
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
* Ý nghĩa khoa học:
- Luận án đã luận giải một cách có hệ thống, logic những vấn đề có tính lý luận, phương pháp luận về phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH giáo dục, mở rộng quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm của GDĐH và hội nhập quốc tế;
- Luận án đã đề xuất các chỉ tiêu phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH giáo dục, mở rộng quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm của GDĐH và hội nhập quốc tế
* Ý nghĩa thực tiễn:
- Luận án đã phân tích, đánh giá đầy đủ thực trạng hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2013, qua kết quả khảo sát thực tế của tác giả;
- Luận án đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong bối cảnh hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung chính của luận án được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Lý luận cơ bản về phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu
tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện XHH giáo dục và hội nhập quốc tế;
- Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư
phát triển các trường ĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện XHH giáo dục và hội nhập quốc tế;
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu
tư phát triển GDĐHCĐ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện xãhội hóa giáo dục và hội nhập quốc tế
Trang 20Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1 TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1.1 Khái niệm và các loại hình Giáo dục đại học, cao đẳng
Theo Luật giáo dục đại học (2012): Đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học (GDĐH), gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ
Theo điều 7 Luật giáo dục đại học (2012), cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: a) Trường cao đẳng; b) Trường đại học, học viện; c) Đại học vùng, đại học quốc gia (sau đây gọi chung là đại học); d) Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ
Cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được tổ chức theo các loại hình: a) Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ
sở vật chất; b) Cơ sở giáo dục đại học tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng
cơ sở vật chất; c) Cơ sở giáo dục đại học có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; d) Cơ sở giáo dục đại học liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước [51]
Giáo dục đại học theo nghĩa rộng là đào tạo sau phổ thông, bao gồm nhiều lộ trình dài, ngắn, với mục tiêu, phương thức đào tạo khác nhau Hiểu theo nghĩa hẹp, với truyền thống hàn lâm thì đại học là những trường đại học nghiên cứu với bậc học chủ yếu là cao học và tiến sĩ hay ít nhất, bắt buộc bao gồm đào tạo sau đại học Đặc tính chung nhất của GDĐH là nơi những người trí thức góp phần phát triển những thế hệ trí thức mới Dù thiên về nghiên cứu hay nhấn mạnh đào tạo nghề nghiệp, dù trong lĩnh vực học thuật hay ngành nghề đào tạo nào, GDĐH không thể không quan tâm tạo những điều kiện tốt nhất có thể, những phương thức sáng tạo và hiệu quả nhất có thể để phát huy năng lực tư duy và ý thức trách nhiệm của người
Trang 21dạy, người học và cả những người đang quản lý đại học hay đang xa gần có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đại học cũng không thể tách rời bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nơi mình hoạt động Vì vậy, dù là bản địa hay “nhập khẩu”, đại học cũng vẫn phải tính đến bối cảnh đó để có phần thích ứng và có phần tác động ngược lại, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội
1.1.2 Xã hội hóa và hội nhập quốc tế là nền tảng phát triển của Giáo dục đại học, cao đẳng Việt Nam
1.2.2.1 Xã hội hóa giáo dục với huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển Giáo dục đại học, cao đẳng
Xã hội hóa GDĐHCĐ diễn ra trong lĩnh vực đào tạo đại học (một bộ phận của hệ thống giáo dục nước ta theo Luật giáo dục) Về bản chất xã hội hóa trong GDĐHCĐ cũng giống như xã hội hóa giáo dục và đào tạo nói chung Tuy nhiên, bên cạnh những điểm chung giống nhau, xã hội hóa trong đào tạo ĐHCĐ có những đặc điểm riêng về cách làm, phương thức thực hiện, với những chính sách và mô hình đặc thù, không giống như các bộ phận khác của hệ thống giáo dục nói chung
GDĐHCĐ có liên quan mật thiết và chịu sự tác động trực tiếp của thị trường sức lao động Số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực, trình độ đào tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội, đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của quá trình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của các doanh nghiệp Các cơ sở GDĐHCĐ phải đào tạo ra những sản phẩm, đó là những sinh viên tốt nghiệp, đáp ứng được nhu cầu nhân lực đa dạng của doanh nghiệp, doanh nghiệp cũng phải tham gia và chia sẻ những kinh nghiệm của họ vào quá trình đào tạo Đây là mối quan hệ hai chiều mà hai bên cùng có lợi Bởi vậy xuất hiện các hình thức XHH đặc trưng rất
đa dạng và phong phú trong GDĐHCĐ như: doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo, tham gia hướng dẫn sinh viên thực tập, kết hợp giữa đào tạo với lao động sản xuất, chia sẻ các thông tin, kỹ thuật và công nghệ mới, ký kết các hợp đồng đào tạo Ngược lại các cơ sở GDĐHCĐ tham gia vào các nghiên cứu ứng dụng triển khai khoa học, công nghệ với doanh nghiệp, ký kết các hợp đồng nghiên cứu khoa học, công nghệ ứng dụng, các hợp đồng đào tạo nhân lực với doanh nghiệp
XHH hoạt động GDĐHCĐ cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Công bằng xã hội không chỉ biểu hiện về mặt hưởng thụ, tức là người dân được xã hội và Nhà nước chăm lo, mà còn biểu hiện cả về mặt người dân đóng góp,
Trang 22cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người, từng địa phương Công bằng xã hội trong việc huy động các nguồn lực của nhân dân vào các hoạt động giáo dục đại học không phải là huy động bình quân, mà là vận dụng cách huy động và mức huy động tùy theo các nhóm người có điều kiện thực tế khác nhau, có mức thu nhập khác nhau
XHH hoạt động GDĐHCĐ còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đề cao trách nhiệm xã hội tham gia vào quá trình đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xã hội, đồng thời giải quyết khó khăn về vốn đầu tư của nhà nước trong việc đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại Từ lâu ở Việt Nam đã coi phát triển giáo dục và đào tạo nói chung và GDĐHCĐ nói riêng là trách nhiệm của nhà nước và của các cơ sở đào tạo Trong thực tiễn phát triển giáo dục đào tạo do chưa cụ thể hóa được chủ trương XHH phù hợp với từng cấp đào tạo và từng loại hình đào tạo nên chưa khai thác được nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển GDĐHCĐ Vì thế chưa đề cao và gắn trách nhiệm xã hội nói chung và trách nhiệm của các cơ sở sử dụng lao động sau đào tạo với quá trình đào tạo ở các trường ĐHCĐ Trong thực tế hầu hết các cơ sở sử dụng lao động (sinh viên tốt nghiệp các trường ĐHCĐ) không hề có đóng góp và có trách nhiệm gì với các cơ sơ đào tạo Thực hiện XHHGDĐHCĐ có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chủ trường của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu xã hội Một mô hình xã hội hóa giáo dục được nhiều nước phát triển áp dụng đó là mô hình “nhà trường - doanh nghiệp” Với mô hình đó nhà trường phải gắn với doanh nghiệp trong việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo từ việc xây dựng chương trình đào tạo đến việc thực hiện các phương pháp giảng dạy phù hợp Doanh nghiệp – cơ sở sử dụng lao động là nơi đặt hàng cho cơ sở đào tạo về những số lượng cũng như yêu cầu về chuyên môn được đào tạo, là nơi sinh viên thực hành nghề nghiệp XHH theo mô hình đó sẽ đề cao trách nhiệm của các cơ sở đào tạo trong việc nâng cao chất lượng đào tạo gắn nhu cầu cơ sở sử dụng lao động, đồng thời đề cao trách nhiệm của các cơ sở sử dụng lao động đối với sự phát triển của các trường ĐHCĐ
Như vậy có thể thấy XHH là thuật ngữ được sử dụng để chỉ cách làm, cách thực hiện một hoạt động xã hội nào đó bằng con đường giác ngộ, tổ chức huy động tổng lực sức mạnh của toàn dân làm cho hoạt động này không chỉ thực hiện ở một ngành, một đoàn thể hay một tổ chức xã hội nào đó, mà được tất cả các ngành, các lực lượng xã hội cũng như mỗi người dân đều nhận thấy đó là trách nhiệm của
Trang 23mình, nên đều tự nguyện và tích cực phối hợp hành động thực hiện, đồng thời chính
họ là người hưởng thụ mọi thành quả của hoạt động đó đem lại
XHH giáo dục ĐHCĐ là thực hiện mối liên hệ có tính phổ biến, có tính quy luật giữa cộng đồng với xã hội Thiết lập được mối quan hệ này là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển xã hội, mỗi người dân đều nhận thấy đó là trách nhiệm của mình, nên đều tự nguyện và tích cực phối hợp hành động thực hiện, đồng thời chính họ là người hưởng thụ mọi thành quả của hoạt động đó đem lại XHH giáo dục có hai vế: mọi người có nghĩa vụ chăm lo phát triển giáo dục để giáo dục phục
vụ cho mọi người Được học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời, học để biết cách sống trong cộng đồng, lao động để tồn tại và phát triển Hai vế này nêu rõ hai yêu cầu của XHH giáo dục là: phải xã hội hóa trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người đối với giáo dục và xã hội hóa quyền lợi về giáo dục Hai yêu cầu này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau và thực hiện liên kết hợp đồng với nhau Trong đó yêu cầu về XHH quyền lợi về giáo dục là đỉnh cao, là mục tiêu, là cốt lõi của XHH giáo dục; phải làm cho toàn xã hội đều được học tập, tiến tới xây dựng một xã hội học tập Nếu chỉ nghiêng về XHH trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người đối với giáo dục là đi chệch hướng với bản chất một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân
Quan điểm này được quán triệt trong Báo cáo chính trị của BCH Trung ương
Đảng tại Đại hội Đảng khóa X: “chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô
hình giáo dục mở-mô hình xã hội học tập” Chính vì thế, trong hoạt động thực tiễn,
cần phải phân biệt rõ tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hóa giáo dục Nếu không có định hướng rõ ràng thì tự thân hoạt động giáo dục vẫn có tính chất xã hội nhưng không bao giờ đạt được trình độ xã hội hóa đích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó
Một số nước châu Âu như Anh và Đức trước đây, cũng như một số nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô cũ, Trung Quốc trước năm 1998, và cả Việt Nam trong thập
kỷ 60-90) cũng bao cấp cho GDĐHCĐ Tuy nhiên, trong hai thập kỷ gần đây, quá trình đại chúng hóa GDĐHCĐ cùng với chi phí tăng cao dành cho việc đào tạo và nghiên cứu đã dẫn đến một hệ quả không thể tránh khỏi là chính sách bao cấp ấy phải thay đổi, và đại học càng ngày càng phụ thuộc vào học phí của sinh viên để tồn tại Tuy nhiên xã hội hóa GDĐHCĐ không phải là giao phó hệ thống giáo dục đại học cho thị trường và để nó vận hành theo quy luật thị trường Vai trò của Nhà nước
Trang 24không chỉ là thiết kế khung chính sách cho hoạt động của cả hệ thống GDĐHCĐ
mà còn là thực hiện nhiệm vụ bổ sung cho những khiếm khuyết của thị trường
Trong nền KTTT ở Việt Nam, GDÐH vừa là một quá trình, vừa là một hành động Là một hành động, GDÐH được thực hiện dưới hình thức cung cấp sức lao động của các giáo sư, giảng viên cho người học và người học mua lao động của người dạy bằng phí, học phí, hoặc đóng thuế để nhà nước trả công, trả lương cho
họ Dưới góc độ phân công lao động xã hội trong nền sản xuất hàng hoá, loại lao động giảng dạy của các giáo sư, giảng viên không sản xuất ra tư bản Theo K Marx,
đó là loại lao động phi sản xuất và khi trao đổi, nó được mua - bán như một dịch vụ
và hàng hoá thông thuờng K Marx viết: “Trong trường hợp tiền trực tiếp được
trao đổi lấy loại lao động sản xuất không sản xuất ra tư bản, do đó là lao động phi sản xuất thì lao động ấy được mua như là một dịch vụ Biểu hiện ấy nói chung chẳng qua là giá trị sử dụng đặc biệt mà lao động ấy cung cấp, giống như mọi hàng hoá khác”[40, tr.98] Như vậy, sản phẩm GDÐH là một loại dịch vụ và nó có đầy
đủ tính chất kinh tế như các loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ khác, dịch vụ GDÐH được diễn ra thông qua sự tác động trực tiếp từ người dạy đến người học Quá trình cung ứng dịch vụ cũng đồng thời là quá trình tiêu thụ dịch vụ
Ngoài ra, dịch vụ GDÐH còn có những đặc điểm riêng biệt khi so sánh với các loại sản phẩm dịch vụ khác Sản phẩm của dịch vụ GDÐH là những người công dân có ích với chính mình, có trách nhiệm với gia đình, xã hội và quốc gia Những sản phẩm như vậy được gọi là loại hàng hoá có ngoại biên thuận Nó không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho cả xã hội và lợi ích xã hội luôn luôn lớn hơn lợi ích cá nhân Tổng lợi ích xã hội sẽ tăng lên nếu như loại sản phẩm này được sản xuất nhiều hơn
GDÐH trong nền KTTT vừa có nội dung kinh tế của một sản phẩm hàng hoá, vừa có nội dung của quan hệ sản xuất xã hội Sản phẩm GDÐH có nội dung hàng hóa vì quá trình sản xuất dịch vụ GDÐH đòi hỏi sự tiêu hao các nguồn lực khan hiếm, nên nó cần đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí tiết kiệm nhất Trong trường hợp này, nhà nước độc quyền sản xuất GDÐH (dù là bao cấp miễn phí hay
có đóng học phí) không phải là biện pháp tối ưu vì không có công cụ đo luờng mức khan hiếm xã hội Ðiều này làm cho số lượng, chất lượng và ngành nghề của lực lượng lao động mà GDÐH đào tạo cung cấp có thể không hoàn toàn phù hợp với
Trang 25nhu cầu của thị trường lao động và mục tiêu phát triển quốc gia Hơn nữa, GDÐH luôn luôn gắn liền với hình thái kinh tế và chế độ chính trị - xã hội nhất định.Vì vậy trong nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, GDÐH cần có các cơ chế hoạt động phù hợp với các định chế và thể chế của nền KTTT hiện hữu
GDÐH có nội dung của quan hệ sản xuất xã hội, bởi vì giá cả dịch vụ GDÐH trong KTTT không hoàn toàn phản ánh sự khan hiếm Trước hết, cung và cầu GDÐH thường phụ thuộc vào sự khác biệt về mức lương hay thu nhập (giữa người
có và không có văn bằng đại học) Sau nữa là khả năng thành công trong việc tìm kiếm công ăn việc làm trong khu vực công nghiệp (tỷ lệ thất nghiệp của người có hoặc không có văn bằng đại học) Tiếp theo là các chi phí trực tiếp liên quan đến GDÐH (chẳng hạn như học phí và lệ phí) Cuối cùng là chi phí cơ hội hay chi phí gián tiếp liên quan đến GDÐH (số tiền người sinh viên có thể thu được nếu không đi học) Không chỉ có thế, GDÐH còn là một loại hàng hoá đặc biệt vì có những đặc tính của hàng hoá công (lợi ích xã hội lớn hơn lợi ích cá nhân, có tính bền vững đi theo suốt cuộc đời con người và người mua cuối cùng cũng là người tiêu thụ) Vì lý
do lợi nhuận ngắn hạn, một số cơ sở GDÐH có thể cung cấp những người tốt nghiệp thiếu chất lượng Sự lạm phát bằng cấp thiếu tiêu chuẩn chất lượng sẽ làm tăng tổn phí giao dịch trong thị trường lao động và làm suy giảm hiệu năng của KTTT Ngoài
ra, KTTT có thể sẽ làm cho một bộ phận người trở lên nghèo hơn nên không có khả năng chi trả học phí, mặc dù có năng lực học tập; hoặc một số cha mẹ đánh giá thấp lợi ích học vấn đại học nên không đầu tư cho con cái đi học Cho dù trường hợp nào xảy ra, để vừa hạn chế các tổn phí giao dịch trong thị trường lao động do chất lượng đào tạo thấp, vừa bảo đảm cơ hội học tập đại học ngang nhau cho mọi cá nhân trong
xã hội XHCN, giáo dục đại học phải có sự can thiệp của nhà nước Nói khác đi, xét dưới ý niệm công bằng xã hội, GDÐH là một hàng hoá mà chính phủ phải can thiệp mạnh mẽ vào thị trường thông qua các biện pháp như: Tài trợ trực tiếp cho đào tạo, nghiên cứu khoa học; khuyến khích tư nhân (kể cả tư nhân nước ngoài) đầu tư phát triển GDÐH và điều tiết chất lượng GDÐH công cũng như tư
1.2.2.2 Hội nhập quốc tế với huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển Giáo dục đại học, cao đẳng
Xu hướng đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển đang tạo ra những cơ hội và những
Trang 26thách thức lớn đối với các nước đang phát triển trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển GDĐHCĐ nói riêng
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội cho các nước đang phát triển giải quyết những khó khăn về vốn đầu tư, về khoa học và công nghệ, về quản lý kinh doanh,
về giải quyết việc làm và thị trường tiêu thụ sản phẩm
Tác động quốc tế vì thế sẽ ảnh hưởng đến phân bổ các nguồn lực trong nước
và thu hút các nguồn lực bên ngoài của mỗi quốc gia Các nguồn lực trong nước có lợi thế so sánh được phân bổ vào các ngành có thị trường bên ngoài rộng lớn Các nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là các nguồn vốn quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay dễ dàng di chuyển hơn giữa các quốc gia và tác động đến phát triển GDĐHCĐ của mỗi quốc gia Trong xu thế hội nhập quốc tế các trường ĐHCĐ có nhiều khả năng tiếp cận và thu hút các nguồn vốn cho phát triển, tiếp cận các tiến bộ công nghệ hiện đại, chuyên gia từ nước ngoài để bù đắp sự thiếu hụt trong nước, các kinh nghiệm quản lý tiên tiến, phát triển các hình thức hợp tác và liên kết trong phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thực hiện đường lối mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế, xã hội nói chung, giáo dục và đào tạo nói riêng đã và đang tạo nhiều cơ hội cho việc đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao ngay trong nước, người học không cần phải đi du học nước ngoài, tiết kiệm được kinh phí đào tạo và ngoại tệ Tùy theo điều kiện cụ thể và khả năng tiếp thu các nguồn lực này mà phát triển GDĐHCĐ có thể có sự thay đổi
Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng có những thách thức lớn đối với các nước đang phát triển trong quá trình phát triển GDĐHCĐ Đó là cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt trong lúc khả năng cạnh tranh của các cơ sở GDĐHCĐ trong nước còn thấp, khả năng tiếp cận nền giáo dục tiên tiến của thế giới còn nhiều hạn chế Mặt khác, những điều kiện cho phát triển kinh tế theo hướng mở cửa và hội nhập còn nhiều bất cập như hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và chất lượng nguồn nhân lực nói chung và hệ thống cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên, cán bộ nhân viên trong hệ thống giáo dục, đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém…Đó
là những thách thức lớn đối với các trường ĐHCĐ ở Việt Nam hiện nay Với thách thức đó buộc các trường ĐHCĐ trong nước phải đổi mới căn bản, phải cơ cấu lại các trường ĐHCĐ theo hướng các trường phải cạnh tranh với các trường quốc tế tại thị trường Việt Nam
Trang 27Ngoài ra, hội nhập kinh tế quốc tế có thể ảnh hưởng tiêu cực đến những vấn
đề xã hội và môi trường, tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập của người lao động giữa các công ty nước ngoài với các công ty trong nước, nhất là với các cơ quan Nhà nước Hiện tượng những người có năng lực, tài giỏi bỏ việc ở các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước, các trường đại học và cao đẳng công lập vào làm việc cho các trường đại học cao đẳng của nước ngoài hay liên kết với nước ngoài đang là vấn
đề thách thức đối với hệ thống giáo dục và đạo tạo ở nước ta hiện nay
Nhận thức nhân tố này, đòi hỏi Nhà nước cũng như BGD&ĐT, các trường ĐHCĐ công lập phải có chiến lược cụ thể để tận dụng cơ hội do hội nhập kinh tế quốc tế như thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển các trường ĐHCĐ mà trong nước chưa có khả năng đầu tư và chưa đủ trình độ để phát triển Đồng thời phải xây dựng chiến lược phát triển những ngành, chuyên ngành đào tạo theo hướng liên kết với các trường ĐHCĐ ở các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới và phải có
kế hoạch đầu tư đồng bộ cho các trường có khả năng hợp tác quốc tế trong đào tạo
Thu hút đầu tư nước ngoài không chỉ quan tâm đến các chính sách ưu đãi đầu tư, mà còn phải xem xét, đánh giá tác động của các dự án đầu tư cho phát triển các trường đại học, cao đẳng đó đối với phát triển kinh tế, xã hội Trong điều kiện nước ta hiện nay cần nghiên cứu tổng kết để có chủ trương thống nhất đối với các lĩnh vực đào tạo nào, cấp bậc đào tạo cần ưu tiên thu hút đầu tư Hơn nữa từng lĩnh vưc, từng ngành, địa phương cần nghiên cứu mô hình liên kết đào tạo giữa các cơ
sở đào tạo nước ngoài với trong nước phù hợp và thiết thực Cần tránh tình trạng liên kết với các cơ sở đào tạo của người ngoài không đảm bảo chất lượng, gây tốn kém tiền của xã hội, nhất là làm mất niềm tin đối với người học và các cơ sở sử dụng lao động
1.2 HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.2.1 Đầu tư phát triển và vốn đầu tư phát triển
Theo luật đầu tư năm 2005, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại
tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiến hành đầu tư theo quy định của luật này và các văn bản pháp luật khác có liên quan;
Đầu tư phát triển:
Phát triển xét theo phạm vi của một quốc gia, đó là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt của xã hội, bao gồm sự thay đổi cả lượng và chất, là quá trình hoàn thiện cả về kinh tế và xã hội của quốc gia đó
Trang 28Đầu tư phát triển chính là một phạm trù hẹp của đầu tư chỉ những hoạt động
sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó Nghĩa
là, người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm, lắp đặt trang thiết bị và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội Xét trong phạm vi quốc gia thì đó là những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có
Trên giác độ tài chính thì đầu tư phát triển chính là quá trình chi tiêu để duy
trì sự phát huy tác dụng của vốn cơ bản hiện có và bổ sung vốn cơ bản mới cho nền
kinh tế, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển xã hội trong dài hạn
Đầu tư phát triển là tiền đề, là cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác Các hình thức đầu tư gián tiếp, dịch chuyển không thể tồn tại và vận động nếu không
có đầu tư phát triển
Trong thời đại ngày nay, đầu tư phát triển là đầu tư gắn với quá trình hiện đại hóa nền kinh tế Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương
tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động cao
Vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư Như
vậy theo quan điểm kinh tế vĩ mô vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm ba nội dung chính là: Vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; Vốn đầu tư tài sản lưu động và Vốn
đầu tư vào nhà ở
Chỉ tiêu “Vốn đầu tư” với nội dung như trên là rất cần thiết cho việc tính toán các chỉ tiêu liên quan như: tích luỹ tài sản, vốn hiện có, và dùng trong phân tích về hiệu quả của đầu tư và các phân tích khác có liên quan đến vốn đầu tư, đồng
thời khái niệm này cũng bảo đảm phạm vi của chỉ tiêu trong so sánh quốc tế
Trang 29Theo Tổng cục Thống kê, “vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hay duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định Vốn đầu tư thường được thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục
đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động”
Vốn đầu tư phát triển là những chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt động đầu
tư nhằm tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn); tài sản vật chất (nhà máy, thiết bị, vật
tư, nguyên, nhiên, vật liệu, hàng hoá, cầu cống, đường xá); tài sản trí tuệ và nguồn
nhân lực (trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, trình độ khoa học kỹ thuật) Như
vậy, vốn đầu tư phát triển là một bộ phận của vốn đầu tư xã hội nói chung được đầu
tư vào các lĩnh vực nhằm tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung
và từng lĩnh vực, từng đơn vị tổ chức nói riêng, vốn đầu tư phát triển luôn gắn liền với các hoạt động đầu tư phát triển; đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và đời sống của xã hội Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra của cải mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ Hình thức đầu tư này đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế ở mỗi quốc gia
1.2.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển Giáo dục đại học, cao đẳng công lập trong điều kiện xã hội hóa giáo dục và hội nhập quốc tế
1.2.2.1 Các nguồn vốn đầu tư phát triển Giáo dục đại học, cao đẳng công lập trong điều kiện xã hội hóa giáo dục và hội nhập quốc tế
a/ Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước
- Quan điểm và đầu tư của các nước trên thế giới
Nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước cho GDĐHCĐ là những nguồn lực lớn nhất của các cơ sở GDĐHCĐ Phương thức phân phối những nguồn tài chính này là
những yếu tố cốt lõi để xác định cơ cấu tài chính của một quốc gia
Để phát triển GDĐHCĐ, nguồn vốn được huy động như thế nào giữa 3 nguồn: (a) Phần được cung cấp từ NSNN, (b) phần người học phải chi trả hay học phí, và (c) phần đóng góp của cộng đồng, kể cả đóng góp của chính cơ sở GDĐH qua các hoạt động khoa học - công nghệ và các dịch vụ có thu của cơ sở Vậy việc chia sẻ hay việc
gánh chịu của 3 nguồn cung cấp tài chính nói trên cho GDĐH như thế nào?
Theo WB, dịch vụ GDĐH là “Hàng hóa cá nhân”, có lẽ họ đã gọi theo ý nghĩa kinh tế học của nó Trong kinh tế học, người ta phân nhóm các loại hàng hóa theo 2 đặc trưng Đặc trưng thứ nhất là tính “loại trừ” (excludability) nghĩa là có thể ngăn
Trang 30cản được việc sử dụng hay không? Đặc trưng thứ hai là tính “ganh đua” (rivalry), nghĩa là khi có người sử dụng hàng hóa đó thì có làm giảm đi giá trị đối với người sử dụng khác hay không? Từ đó có thể nhóm thành 4 loại hàng hóa, bao gồm “hàng hóa
cá nhân”, “Độc quyền tự nhiên”, “Tài nguyên chung” và “hàng hóa công cộng”, hàng hóa dịch vụ GDĐH vừa có tính chất “loại trừ” vừa có tính “ganh đua” (một em dành được một chỗ học trong trường ĐH đương nhiên loại trừ và ảnh hưởng đến việc sử
dụng dịch vụ của các em khác) Vì vậy, nó là “hàng hóa cá nhân” [50, tr6]
Hơn nữa, đầu tư cho GDĐH cũng là một loại đầu tư rất có hiệu quả Vào những thập niên cuối của thế kỷ trước, người ta đã ước tính được suất thu lợi bình quân ở đây là vào khoảng 15 - 20% về mặt cá nhân và khoảng 10 -15% về mặt xã hội Nói riêng, suất thu lợi về mặt cá nhân ở các nước mới phát triển là rất cao.Ví dụ,
ở Hồng Kông: 25,7% (1976), ở Malaysia: 34,5% (1978), ở Singapore: 25,4% (1966),
ở Brazil: 28,2% (1989) v.v Như vậy, dịch vụ GDĐH là một loại “hàng hóa cá nhân”
và là một loại đầu tư cá nhân có hiệu quả cao nên người sử dụng dịch vụ cơ bản phải
gánh chịu chi phí [50, tr7]
Nhưng mặt khác, UNESCO lại gọi dịch vụ GDĐH là “hàng hóa công cộng”
Có lẽ vì rằng, dịch vụ GDĐH đồng thời thỏa mãn 2 tiêu chí cơ bản của một “hàng hóa công cộng” Tiêu chí một là “tính thiết yếu” của dịch vụ, là tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội và còn để tạo nên mối liên kết xã hội Tiêu chí hai là nó bị rơi vào vùng “cơ chế thị trường bị thất bại” (market failure) mà biểu hiện rõ nhất của nó
là “tác động ngoại biên” (externalities) cũng như “tác động lan tỏa” (spill-over) dương đối với xã hội, “Tác động ngoại biên” thể hiện ở nhiều mặt, từ việc làm cho năng suất lao động xã hội cao hơn, tỷ lệ có việc làm cao hơn, tuổi thọ cao hơn, con cái mạnh khỏe hơn, ít phụ thuộc vào trợ cấp của Nhà nước hơn…cho đến tội phạm và
tù tội ít hơn, đóng góp cho từ thiện nhiều hơn v.v., nếu có trình độ giáo dục cao hơn Chính vì vậy, theo sự “sòng phẳng” của cơ chế thị trường, Nhà nước và cộng đồng
như luôn có tài trợ cho dịch vụ GDĐH ở hầu hết các nước trên thế giới [50, tr5]
Năm 1994, Ngân hàng thế giới (WB) tuyên bố: “GDĐH đã lâm vào tình
trạng khủng hoảng trên toàn thế giới” Chính vì vậy, cải cách GDĐH cũng đã trở
thành một hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trong suốt gần 20 năm qua Và đặc biệt là, cũng theo WB, các cuộc cải cách này đều có một “Chương trình nghị sự” (Agenda) cơ bản khá giống nhau, như có “mẫu số chung” ở hầu hết các nước là
Trang 31tập trung vào hai mảng về Tài chính và Quản trị, cho dù các nước có sự khác nhau
khá lớn về hệ thống chính trị kinh tế, về trình độ phát triển kinh tế cũng như GDĐH Thậm chí có nước như Mexico đã lấy cải cách tài chính làm khâu đột phá cho cải
cách GDĐH
Nguyên nhân của tình hình nói trên có rất nhiều, nhưng về mặt tài chính chủ yếu và phổ biến là do: (1) Xu thế phát triển nhanh quy mô nền GDĐH làm cho GDĐH trở thành “đại trà” mà không một NSNN nào gánh chịu nổi, kể cả các Nhà nước Châu Âu phúc lợi; (2) Chi tiêu bình quân cho một SV, trong một năm đều đã tăng lên rất nhanh, nhanh hơn tốc độ phát triển của nền kinh tế nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh của nền GDĐH; và (3) Qua nghiên cứu kinh tế GDĐH, đặc biệt là các đặc trưng của hàng hóa dịch vụ GDĐH, người ta cho rằng: không có đủ cơ sở triết lý và kinh tế để buộc phải cung cấp tài chính cho GDĐH bằng NSNN và xu thế chung là chuyển một phần, thậm chí toàn bộ chi phí của GDĐH cho chính người học,
dựa trên nguyên tắc, gọi là “User pay principle” Đây là những thay đổi có tính
nguyên lý, do đó phải có cải cách hay đổi mới cơ bản về tài chính cho GDĐH
Phổ biến trên thế giới chi phí đơn vị được chia sẻ cho cả 3 nguồn: (a) NSNN, (b) Học phí và (c) Đóng góp của cộng đồng Tuy nhiên, do truyền thống, do đặc điểm lựa chọn chính sách của từng nước, tỷ lệ chia sẻ cho từng nguồn lại khá khác nhau giữa các nước Ở Bảng 1.1 dưới đây là tổng chi phí cho GDĐH so với GDP/đn và tỷ
lệ từ (a) NSNN trong tổng chi phí của một số nước trên thế giới [50, tr8]
Bảng 1.1: Chi phí cho GDĐH so với GDP
# 0,8
78,2 42,8 56,6 83,7 23,9 39,7 39,7 55,6 42,9
# 50,0
(1) Nếu tính đến tỷ lệ SV
trong độ tuổi (13 - 60%) thì
tỷ lệ chi phí từ GDP chênh nhau không lớn, trừ Mỹ
Trang 32Qua đó số liệu bảng 1.1, ta có một số nhận xét:
Ở các nhà nước Châu Âu phúc lợi, tỷ lệ phần NSNN trong tổng chi phí chiếm khá cao, OECD đến 78,2%, Pháp 83,7%, v.v Hàn Quốc, Nhật, Đài Loan v.v
có tỷ lệ từ NSNN chỉ chiếm khoảng 24 - 40% Ở đây, tổng chi tiêu của Chính Phủ
so với GDP rất thấp (Năm 2003, Đài Loan: 2%, Hàn Quốc: 2,6% ) Vì vậy Nhà nước chỉ đủ sức ưu tiên cho GD phổ thông, với GDĐH chủ yếu người học phải gánh chịu, gọi là mô hình J-Model
Việt Nam cũng có tỷ lệ chi tiêu của Chính phủ so với GDP khá thấp (0,8%)
Vì vậy, Việt Nam có lẽ cũng phải theo J-Model mà không thể theo chính sách của các nhà nước Châu Âu phúc lợi
Mỹ là một trường hợp rất đặc biệt, tỷ lệ chi phí cho GDĐH trong GDP lên đến 2,9%, trong đó tỷ lệ từ phần NSNN trong tổng chi phí lại chỉ ở mức trung bình 42,8% Có được tỷ lệ này là do Mỹ có truyền thống cho tặng đối với GDĐH, gọi là vốn Endowment, và do vậy họ cũng có nhiều đại học tư thục độc lập, nổi tiếng và không vì lợi nhuận
Tham gia vào tranh luận này quan điểm của tác giả là:
(1) Đồng tình với quan điểm dịch vụ GDĐHCĐ là hàng hóa công cộng (HHCC) HHCC được chia thành 2 nhóm: HHCC thuần túy (như quốc phòng, an ninh, hành chính) và HHCC không thuần túy (như giáo dục, y tế, giao thông)
(2) Khác với HHCC thuần túy, người được hưởng các dịch vụ thuộc HHCC không thuần túy phải trả tiền (phí hoặc lệ phí) Đây chính là cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề XHH trong việc huy động các nguồn thu, chi cho GDĐHCĐ ở Việt Nam
- Đầu tư ngân sách nhà nước cho GDĐHCĐ của Việt Nam: Theo Đề án đổi
mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009-2014 của BGD&ĐT cân đối ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo giai đoạn 2009-2014 cụ thể là: 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề từ năm 2009 đến
2014 (Bao gồm: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi cải cách tiền lương)
Cụ thể như sau: năm 2009 đạt 91.595 tỷ đồng; đến năm 2014 đạt 184.311tỷ đồng Tổng dự toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dục giai đoạn 2009-2014 là 796.563
tỷ đồng, chiếm 5,5% GDP và 20% tổng chi NSNN (năm 2008 là 5,6% GDP và 20% tổng chi NSNN)
b/ Nguồn vốn xã hội hoá
* Nguồn học phí
- Quan điểm của các nước trên thế giới
Trang 33Học phí ở hầu hết các nước tiêu biểu cho nguồn thu ngoài ngân sách lớn nhất của GDĐH Nó cũng tiêu biểu cho điểm gặp nhau gần như trực tiếp giữa những lực lượng cung và cầu trong cán cân tài chính Xét về nguồn cung, học phí và hỗ trợ của ngân sách nhà nước đối với các trường là hai nguồn chính trang trải cho hoạt động của các trường công Đối với các trường tư, phi lợi nhuận, học phí là nguồn thu chính, cùng với quỹ hiến tặng, tài trợ, các khoản thu từ dịch vụ khác là các nguồn
bổ sung Ở các trường vì lợi nhuận, học phí là nguồn thu cơ bản Cho nên, học phí ở tất cả các loại trường đều có thể dùng để xác định quy mô của trường thông qua số chỗ ngồi mà trường ấy có khả năng cung cấp Với trường công, học phí thường là một nguồn tài chính nhỏ hơn so với trường tư, vì ở hầu hết các nước, hỗ trợ của nhà
nước đối với GDĐH còn vượt xa những nguồn thu phát sinh trong các trường tư
Về mặt nhu cầu, học phí là thành phần chủ yếu của tổng chi phí cho việc tham dự chương trình học - cái giá mà sinh viên và gia đình họ phải trả cho GDĐH, cùng với chi phí về nơi ở, ăn uống và các chi phí sinh hoạt khác để có thể theo đuổi việc học Trong những chi phí kể trên thì học phí chiếm khoản lớn nhất Do vậy, cũng là đòi hỏi có tính chất quyết định đối với sinh viên Một yếu tố quyết định khác là số tiền Nhà nước trợ giúp cho sinh viên, vì nó làm giảm nhẹ gánh nặng học phí mà họ phải trả do đó ảnh hưởng tích cực tới khả năng của họ trong việc đáp ứng nhu cầu Có những vấn đề có thể giúp xác định cấu trúc học phí ở một nước, đó là:
Thứ nhất, ai xây dựng mức học phí?
Đối với các trường tư, không có vấn đề ai đặt ra mức học phí - đương nhiên
đó là lãnh đạo nhà trường - dù ở một số nước, Chính phủ có các quy định hướng dẫn hoặc thậm chí can thiệp cụ thể vào quá trình xây dựng mức học phí ở các trường tư phi lợi nhuận Ở Philippines chẳng hạn, nơi có tỉ lệ sinh viên theo học trường tư cao nhất thế giới, các viên chức Chính phủ duyệt xét mức học phí của các trường tư như một bộ phận trong quy chế hoạt động của trường
Đối với các trường công, có khá nhiều dạng thức đa dạng trong việc xây dựng mức học phí Trong một số trường hợp, các quan chức lãnh đạo trường công
có trách nhiệm quy định mức học phí nhưng thường với sự duyệt xét của các viên chức Chính phủ Hầu hết là do các viên chức Chính phủ chịu trách nhiệm về việc xây dựng mức học phí cho các trường công
Thứ hai, Nhà nước xây dựng mức học phí dựa trên cơ sở nào?
Khi Nhà nước chịu trách nhiệm xây dựng mức học phí, có một số cơ sở làm nền tảng cho quyết định này, bao gồm:
Trang 34- Tỉ lệ phần trăm của chi phí trên đầu sinh viên;
- Mức học phí mà các trường cùng loại, cùng cấp hiện đang thu;
- Những chỉ số kinh tế tổng quát, chẳng hạn như GDP trên đầu người hoặc thu nhập bình quân của dân trong vùng;
Đối với một số lớn các nước xác định mức học phí như một phần trong chi phí đào tạo cho mỗi đầu sinh viên, khoản phí này được xem xét cơ bản như một phương tiện trang trải cho hoạt động đào tạo của nhà trường và được coi như khoản thu nhằm bù đắp chi phí, một thuật ngữ thường được dùng trong vốn từ vựng quốc
tế Nhiều dự án của Ngân hàng Thế giới đã đề xuất xây dựng hoặc mở rộng mức học phí như một cách để bù đắp chi phí tốt hơn
Trái lại, ở Hoa Kỳ khi học phí được quy định dựa trên mức thu của các trường tương tự ở các tiểu bang khác, thì đó là một khái niệm có tính chất dựa trên thị trường hơn nhiều Khi xác định mức học phí dựa trên những chỉ số của nền kinh
tế tổng thể, hay dựa trên khả năng chi trả - như tỉ lệ GDP trên đầu người, hay thu nhập trung bình của các gia đình, hay tiền lương trung bình của người lao động, học phí thành ra một khái niệm về khả năng chi trả dựa trên sinh viên
Thứ ba, mức thu học phí
Có một sự khác nhau rất lớn trên thế giới về mức thu học phí giữa các trường công và tư Ở hầu hết các nước, trường công không thu học phí, hoặc thu học phí ở mức rất thấp - 10% hoặc ít hơn chi phí thường xuyên trên đầu sinh viên Nhưng ở nhiều nước khác, con số này có thể là 20% hoặc hơn, như một cách để bù đắp chi phí và gia tăng nguồn lực tổng thể tốt hơn
Cũng có một sự khác biệt rất đáng kể trên thế giới về học phí của các trường
tư Những thay đổi về học phí ở các trường tư có xu hướng gắn với những thay đổi của điều kiện thị trường, như sự cạnh tranh với trường công, xu thế của các nguồn thu khác từ tư nhân như các quỹ hiến tặng hay quyên góp, và sự gia tăng chi phí trong thực tế khi các trường tăng thêm những trợ giúp tài chính cho sinh viên Học phí ở các trường tư thường vượt xa con số 50% chi phí thường xuyên cho mỗi sinh viên, nhiều trường thu đủ bù chi (nhất là những trường tư vì lợi nhuận) Ở những nước như Philipines hay ở Bờ Tây và Gaza - nơi hầu hết các trường là trường tư- học phí là nguồn thu chủ yếu của các trường
Thứ tư, ai được giữ lại và sử dụng học phí?
Có hai phương thức chính:
Các trường có thể giữ lại học phí hoặc gửi đến cơ quan hữu trách của Chính phủ và số tiền đó sẽ quay lại trường như một phần của ngân sách được cấp Về
Trang 35nhiều mặt, giữ lại và sử dụng học phí thì dễ hơn nhiều so với xây dựng mức học phí, vì những lý do sau: khi học phí được đặt ra cao vượt quá chi phí đào tạo, việc giữ lại học phí là một động lực để nhà trường thu nhận thêm sinh viên Trái lại, ngay cả khi học phí tương đối cao, nếu Nhà nước giữ lại khoản thu này nhà trường
sẽ có ít động lực nhận thêm sinh viên vì họ không thấy rõ trực tiếp nguồn thu được tạo ra thêm nhờ học phí cao
Thứ năm, kiểu cơ cấu học phí
Cũng như trường hợp mức thu học phí và việc giữ lại học phí, có rất nhiều kiểu cơ cấu học phí khác nhau một cách đáng kể trên thế giới Bốn loại điển hình là:
- Học phí truyền thống
Cơ cấu học phí áp dụng ở hầu hết các nước là các trường tự thu học phí trực tiếp do sinh viên và gia đình của họ đóng Mức phí có thể giống nhau đối với mọi sinh viên, và cũng có thể khác nhau tùy theo ngành học hoặc bậc học (ví dụ: bậc cao học đóng tiền nhiều hơn bậc đại học) Nhưng đặc điểm chung ở đây
là lãnh đạo nhà trường quyết định mức thu, cũng như tổ chức thu, giữ lại và sử dụng học phí cho hoạt động của nhà trường
- Học phí do Nhà nước cấp
Ở một số nước, Chính phủ thay mặt sinh viên thanh toán học phí và thu lại số tiền này từ sinh viên qua hệ thống thuế sau khi họ tốt nghiệp và có việc làm Australia là một ví dụ của cách làm này, áp dụng từ thập kỷ 80 như một cách để bù đắp chi phí mà không tạo áp lực học phí với sinh viên khi họ bắt đầu vào học Nhiều nước khác nhìn vào mô hình này như một phương cách tài chính khả thi và đã xuất hiện trường hợp Anh Quốc đang có kế hoạch chuyển sang phương thức này trong một vài năm tới
- Học phí song song
Một phương thức khác mà phần lớn sinh viên có thể chỉ phải trả một mức tương đối thấp là Nhà nước bao cấp một phần đối với những sinh viên không đủ tiêu chuẩn để được miễn học phí Học phí song song là cách các trường dùng để có thêm nguồn thu; họ giữ lại các khoản thu này trong khi Nhà nước quản lý nguồn thu học phí của những sinh viên trong chỉ tiêu ngân sách cấp cho trường Cơ chế này thường được áp dụng ở các nước Đông Âu
- Cấu trúc học phí kiểu hai bậc
Gần đây có xu hướng phát triển loại cấu trúc học phí hai bậc, nghĩa là phần lớn sinh viên sẽ trả học phí theo mức đã được Nhà nước bao cấp phần lớn, một số
Trang 36chỗ ngồi khác sẽ được trả học phí theo mức thị trường Điều này đã được thực hiện
ở Hoa Kỳ từ lâu, những sinh viên sinh trưởng tại tiểu bang cấp ngân sách cho trường được hưởng mức học phí bao cấp, trong lúc những sinh viên đến từ bang khác sẽ phải trả mức học phí cao hơn - trong thực tế mức này bằng với chi phí đào tạo Ở hầu hết các nước cũng như vậy, sinh viên nước ngoài phải trả học phí cao hơn sinh viên bản xứ Một ví dụ của cơ cấu này là ở Australia, khi học phí của hầu hết sinh viên là do Nhà nước chi trả, trong khi tất cả sinh viên nước ngoài đều phải trả mức học phí cao hơn và trả trước mỗi năm học Trong mấy năm gần đây Australia đã mở rộng cấu trúc học phí hai bậc này bằng cách thu học phí theo mức thị trường với tất cả sinh viên trong một số ngành không được Nhà nước bao cấp
- Nguồn học phí của GDĐH ở Việt nam
Cùng với tăng đầu tư của Nhà nước, thì đầu tư của người dân qua hình thức học phí ở các trường công lập đã tăng từ 1.904 tỷ đồng năm 2001 lên đến 5.238 tỷ đồng năm 2008, tăng 2,75 lần do số người đi học trong các cơ sở công lập tăng và học phí thu ở mức trần của các khung học phí Năm 2001 học phí chiếm 8,2% tổng chi cho giáo dục ở các cơ sở công lập, năm 2008 chiếm 5,5% [2, tr 49]
Thực hiện chính sách học phí đã có ý nghĩa lớn trong việc thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục của Chính phủ, thể hiện sự chia sẻ trách nhiệm của người dân với Nhà nước trong bối cảnh nguồn NSNN còn hạn hẹp nhưng phải đối mặt với thách thức lớn về qui mô và nhu cầu học tập của xã hội Nguồn thu từ học phí và các khoản thu sự nghiệp khác cũng đã hỗ trợ tích cực cho chi thường xuyên trong trường học Một số cơ sở đào tạo công lập đã đảm bảo được toàn bộ chi phí thường xuyên của nhà trường bằng nguồn thu học phí và thu sự nghiệp khác, thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính với việc hạch toán thu chi công khai, minh bạch
- Phát huy việc dùng tài sản mua sắm hiện có từ các nguồn khác nhau, từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp kể cả từ nguồn vốn vay, vốn huy động để có thể thế
Trang 37chấp vay vốn theo quy định của pháp luật thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học của các đơn vị Tuy nhiên, việc vay vốn tín dụng của các đơn vị theo quy định tại Điều 11 Nghị định 43/2006/NĐ-CP để đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ
(trong đó có cả dịch vụ đào tạo) còn gặp khó khăn về thủ tục, chưa có hướng dẫn cụ thể điều kiện được vay vốn, yêu cầu về thế chấp tài sản còn phức tạp (Mục 3, Điều
12 Quyết định 202/2006/QĐ-TTg về Quy chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập đơn vị sự nghiệp quy định không được dùng tài sản được Nhà nước đầu tư để thế chấp vay vốn, huy động vốn dưới mọi hình thức)
* Nguồn vốn tài trợ của các tổ chức, cá nhân
Quan điểm của các nước trên thế giới
Trong lúc học phí là nguồn lực tư nhân chủ yếu hỗ trợ cho các trường đại học, vẫn có một số nguồn lực tư nhân khác ngày càng chi phối nhiều trường Ở Hoa
Kỳ và những nước mà các trường tư đang đào tạo một tỉ lệ sinh viên khá lớn, các quỹ từ thiện theo truyền thống là một nguồn tài chính quan trọng của GDĐH Các khoản này thường đến dưới hình thức quà tặng cho trường và sau đó thành một phần quan trọng của quỹ hiến tặng (một thứ quỹ vốn dự trữ chung thường được đem
đi đầu tư và tạo ra nguồn thu để sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau) Một trong các khoản chi chính yếu được trang trải bằng nguồn tài chính từ thiện này là các khoản chi không thường xuyên trong đó có xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, trang bị mới các thiết bị hiện đại, cung cấp tài chính thường trực cho các vị trí cán
bộ khoa học chủ chốt Trong mấy thập kỷ gần đây quà tặng ủng hộ thường nhằm vào việc đáp ứng những nhu cầu cụ thể chẳng hạn như mở rộng quỹ học bổng Đồng thời, những cuộc huy động vốn quy mô lớn đã trở thành phổ biến hơn nhiều ở Hoa Kỳ cũng như những nước mà các trường tư đang tìm cách mở rộng quy mô quỹ hiến tặng của mình
Trong những thập kỷ qua, nhiều trường công ở Hoa Kỳ nhất là những trường lớn và danh tiếng đã cạnh tranh với sự thành công của những trường tư tương tự như họ trong các hoạt động gây quỹ bằng cách sáng lập đủ loại quỹ (nhằm né luật ở nhiều tiểu bang không cho phép các đơn vị nhà nước có hoạt động gây quỹ) và bắt đầu huy động vốn cho họ Trường công ở những nước khác cũng gia tăng hoạt động gây quỹ bằng những nỗ lực tăng nguồn lực tư nhân như một cách làm giảm mức bao cấp của ngân sách đối với GDDH
* Nguồn vốn khác
Các dịch vụ bổ sung, chăm sóc sức khỏe và các hoạt động giao khoán Các trường đại học ở nhiều nơi trên thế giới quản lý nhiều dịch vụ bổ sung tạo ra một
Trang 38nguồn thu đáng kể chẳng hạn như ký túc xá sinh viên, căn-tin, nhà sách, và các hoạt động khác liên quan tới đời sống sinh viên Một số trường đại học Hoa Kỳ (cũng như ở vài nước khác) làm chủ hoặc điều hành cả những bệnh viện tạo ra một nguồn thu đáng kể Những nguồn thu đáng kể khác từ tư nhân còn có thể là những dự án hợp tác nghiên cứu do nhà trường tổ chức thực hiện và những sáng kiến Ở Hoa Kỳ
và nhiều nước khác, dựa vào tài chính tư nhân là một xu hướng ngày càng phát triển trong những thập kỷ gần đây, vì các trường đang tìm cách làm giảm sự phụ thuộc vào Nhà nước và học phí trong việc duy trì và mở rộng tầm hoạt động của mình
1.2.2.2 Cơ chế, chính sách, khai thác, huy động vốn đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập trong điều kiện xã hội hóa giáo dục và hội nhập quốc tế
a) Cơ chế phân cấp quản lý ngân sách GDĐHCĐ công lập
Giáo dục ĐHCĐ là sự nghiệp của toàn dân, trong đó Nhà nước đóng vai trò quan trọng Tuỳ theo quy mô và tiềm lực của NSNN, hàng năm NSNN dành một tỷ lệ nhất định chi cho giáo dục, trong đó có GDĐHCĐ công lập Trước thời kỳ đổi mới, phần NSNN dành cho GDĐHCĐ công lập chủ yếu được quản lý tập trung do Bộ Tài chính trực tiếp quản lý Từ sau đổi mới đất nước đến nay, do GDĐHCĐ công lập có quy mô ngày càng mở rộng, tổ chức GDĐHCĐ công lập đa dạng, có trường trực thuộc trực tiếp Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, có trường do các bộ chuyên ngành, UBND các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương quản lý Do đó, phần NSNN dành cho GDĐHCĐ công lập được tập trung quản lý theo những mô hình khác nhau
Đối với những trường do BGD&ĐT trực tiếp quản lý, thì phần vốn NSNN dành cho các trường này do BGD&ĐT trực tiếp quản lý Đối với các trường do các
bộ chuyên ngành, UBND các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương quản lý thì nguồn vốn NSNN dành cho các trường này do các bộ chuyên ngành, UBND các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương quản lý Tuy nhiên, đứng trên phương diện về quản lý hoạt động GDĐHCĐ về quy mô, chất lượng, chương trình, chế độ bằng cấp thì do BGD&ĐT quản lý Do đó, việc tổ chức lập dự toán NSNN cho hoạt động GDĐHCĐ công lập do BGD&ĐT trực tiếp chỉ đạo
b) Cơ chế khai thác, huy động vốn ngoài NSNN cho cho phát triển GDĐHCĐ công lập
Trong điều kiện XHH giáo dục và hội nhập quốc tế, việc huy động nguồn lực
tài chính ngoài NSNN cho sự nghiệp giáo dục nói chung và GDĐHCĐ công lập nói riêng còn có ý nghĩa là nâng cao trách nhiệm của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục
Cơ chế điều hành quá trình huy động nguồn lực, yêu cầu của cơ chế quản lý quá trình huy động nguồn lực tài chính ngoài NSNN là phải phù hợp với khả năng
Trang 39đóng góp của xã hội, đảm bảo yêu cầu công khai, minh bạch, bình đẳng, công bằng
về mặt xã hội Để đảm bảo yêu cầu này, nội dung của cơ chế quản lý quá trình huy động nguồn lực tài chính ngoài NSNN phải được xem xét trên các khía cạnh sau đây:
- Xem xét đến khía cạnh thiết lập mức động viên Mức động viên nguồn lực
tài chính ngoài NSNN cho sự nghiệp GDĐHCĐ công lập chịu sự chi phối bởi các nhân tố sau đây: (1) Mức thu nhập bình quân của xã hội nói chung, mức thu nhập của
người hưởng thụ các dịch vụ GDĐHCĐ nói riêng; (2) Chi phí cho việc cung cấp các dịch vụ GDĐHCĐ; (3) Những lợi ích thực tế mang lại cho người thụ hưởng dịch vụ
GDĐHCĐ Dựa trên những nhân tố đó để tính toán mức động viên thích hợp
- Lựa chọn phương thức động viên và lĩnh vực động viên Trong thực tế có nhiều phương thức và lĩnh vực động viên nguồn lực tài chính ngoài NSNN cho
GDĐHCĐ công lập có thể động viên qua phương thức thu học phí, qua các khoản
thu từ hoạt động NCKH, tư vấn, cung cấp dịch vụ, qua hình thức vay ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển Nói chung, để có nguồn lực tài chính phục vụ cho
sự nghiệp GDĐHCĐ công lập trong bối cảnh hiện nay cần phải sử dụng tổng hợp
các phương thức và lĩnh vực động viên Tuy nhiên, căn cứ vào sự phân tích, so sánh giữa mặt ưu việt và mặt hạn chế của từng phương thức và lĩnh vực động viên để xác định trọng tâm sử dụng phương thức và lĩnh vực động viên Ưu điểm của phương thức thu học phí của người học là gắn trách nhiệm của người học với quá trình đào tạo của nhà trường, phù hợp với nguyên lý người nào được hưởng lợi trực tiếp từ việc cung cấp dịch vụ đào tạo thì phải trả tiền Hạn chế của phương thức này nguồn thu nhập của người học có hạn lại không đồng đều, để đảm bảo yêu cầu công bằng
xã hội, tất yếu phải hình thành nhiều mức học phí, căn cứ vào mức thu nhập của người học Khó khăn khi quy định nhiều mức học phí là việc điều tra nắm được mức thu nhập của người học trong điều kiện nền kinh tế tiền mặt
Phương thức động viên thu hút nguồn lực tài chính của GDĐHCĐ công lập
thông qua việc tập trung một phần thu nhập do hoạt động NCKH, tư vấn, cung cấp dịch vụ có ưu điểm là khuyến khích thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, tư vấn - một loại hoạt động mang tầm của GDĐHCĐ Tuy nhiên, để có nguồn tài chính từ hoạt động này cần phải đầu tư ban đầu
Phương thức động viên nguồn lực tài chính bằng hình thức vay có ưu điểm là tạo ra sự ràng buộc đòi hỏi phải sử dụng nguồn vay có hiệu quả Tuy nhiên, hoạt động GDĐHCĐ không phải không có rủi ro, nhất là hoạt động NCKH và cung cấp dịch vụ Do đó, có thể dẫn đến khả năng trả nợ gặp nhiều khó khăn
Trang 401.3 SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.3.1 Các lĩnh vực đầu tư phát triển GDĐHCĐ công lập
1.3.1.1 Chi đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực đối với các trường ĐHCĐ là đội ngũ giảng viên, cán bộ
quản lý và nhân viên
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong các trường ĐHCĐ, bao gồm đầu tư
cho hoạt động đào tạo đội ngũ giảng viên, đội ngũ nghiên cứu viên và cán bộ quản lý, nhân viên có khả năng nắm bắt theo kịp thời các tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp với chuyên môn mà họ đảm nhận, đầu tư cho việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ lao động trong nhà trường
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến nâng
cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường ĐHCĐ
Một trường ĐHCĐ muốn phát triển, muốn đào tạo ra đội ngũ lao động đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội phải có đội ngũ giảng viên đạt chuẩn Đội ngũ giảng viên phải được đào tạo cơ bản không chỉ có bằng cấp cao mà phải có trình độ thực thụ về lĩnh vực chuyên môn mà họ phụ trách Làm thầy không chỉ có trình độ cao mà còn phải có khả năng truyền thụ kiến thức cho người học và phải có khả năng nghiên cứu khoa học, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ sự phát triển của nhà trường cũng như phục vụ phát triển kinh tế đất nước Ở các nước tiên tiến các trường đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực chất lượng cao, mà còn là nơi nghiên cứu khoa học Nhiều phát minh, sáng chế được nghiên cứu ra từ
các trường đại học chứ không phải chỉ ở các viện nghiên cứu
Đối với Việt Nam các trường đại học có bề dày lịch sử trên nửa thế kỉ nhưng đội ngũ giảng viên vẫn còn yếu về năng lực giảng dạy và nghiên cứu, còn các trường ĐHCĐ mới thành lập thì chất lượng đội ngũ lại càng thiếu và yếu Tình trạng cử nhân dạy cử nhân vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở nhiều trường Ngay cả đội ngũ giảng viên
có trình độ trên đại học do đào tạo chủ yếu ở các trường đại học trong nước, đào tạo
chạy theo số lượng nên chất lượng cũng còn rất hạn chế Vì vậy, đầu tư phát triển
nguồn nhân lực cho các trường ĐHCĐ ở Việt Nam hiện nay là vấn đề cấp thiết trong
xu thế cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo ngày càng cao hiện nay
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực không chỉ quan tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường ĐHCĐ, mà còn đầu tư để sử dụng lâu dài đội