Giới hạn của đề tài Không gian nghiên cứu: đề tài nghiên cứu tỉnh Lai Châu, ranh giới hành chính của tỉnh được phân định theo điều chỉnh Nghị quyết số 22/2003/QH11, ngày 26/11/2003 của
Trang 1Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu hiện nay không còn là vấn đề của riêng một đất nước, một quốc gia dân tộc nào, sự thay đổi khí hậu đã tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống Vấn đề biến đổi khí hậu đã trở thành chương trình nghị sự của toàn nhân loại, là một thách thức của thế kỷ XXI
Việt nam là một trong năm nước hàng đầu phải chịu sự tác động của biến đổi khí hậu Khoảng 50 năm qua, nhiệt độ của Việt Nam đã tăng khoảng 0,70C, mực nước biển dâng khoảng 20cm, El-nino, La-nina ngày càng biểu hiện rõ, bão lũ, hạn hán ngày càng ác liệt, gió mùa lạnh tần suất biểu hiện ít đi, bão lớn tăng cường và
có xu hướng lùi về phía nam Biến đổi khí hậu đã, sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng cho nước ta Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước ta đã quán triệt, xây dựng thành một phần trong Nghị Quyết Trung Ương VII về vấn đề cấp bách hiện nay, Nghị quyết Trung Ương VII đã được phổ biến đến mọi tầng lớp, tổ chức và trở thành chương trình Hành động Quốc gia
Là một tỉnh miền núi của khu vực Tây Bắc Việt Nam, Lai Châu mới được tái lập (2004) từ tỉnh Lai Châu cũ (bao gồm Điện Biên và Lai Châu), nền KT - XH của tỉnh phát triển còn chưa ổn định và đang được kiện toàn, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trong khí đó, biến đổi khí hậu đang tác động ngày một mạnh mẽ đến đời sống của người dân nơi đây Trong những năm qua, biểu hiện biến đổi khí hậu đã tác động đến Lai Châu, như: lượng mưa trung bình giảm, nhưng ngày mưa lớn bất thường lại tăng lên; lũ quét tăng cường, các hiện tượng thời tiết cực đoan sương muối, giá rét, mưa đá… có biểu hiện thất thường và gia tăng
Nhằm làm sáng tỏ một số biểu hiện của biến đổi khí hậu của Lai Châu, từ đó
có cái nhìn chân thực hơn về biến đổi khí hậu trên địa phương này, đề xuất các giải pháp ứng phó là việc làm vừa có giá trị khoa học, vừa đảm bảo tính nhân văn và thời sự
Trang 2Xuất phát từ những lý do trên, đề tài lựa chọn “Biến đổi khí hậu Lai Châu
và một số biện pháp ứng phó” làm nội dung nghiên cứu, nhằm giải quyết các
nhiệm vụ cấp bách nêu trên
- Đề xuất giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, giúp giảm thiểu tác động,
ổn định đời sống người dân
3 Giới hạn của đề tài
Không gian nghiên cứu: đề tài nghiên cứu tỉnh Lai Châu, ranh giới hành chính của tỉnh được phân định theo điều chỉnh Nghị quyết số 22/2003/QH11, ngày 26/11/2003 của Quốc hội nước CHXHCNVN;
Thời gian: chuỗi thời gian 50 năm từ 1960 đến 2010, có liên hệ với thời kỳ trước;
Nội dung: nghiên cứu biến đổi khí hậu Lai Châu thông qua chế độ nhiệt độ, lượng mưa và hiện tượng thời tiết đặc biệt
Trang 34 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khí hậu là thành phần tự nhiên tác động mạnh mẽ đến tự nhiên và đời sống
xã hội con người, nên những nghiên cứu về khí hậu cũng như biến đổi khí hậu đã được quan tâm có bề dày không chỉ trên thế giới mà cả ở nước ta Nhất là trong hoàn cảnh thiên nhiên chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, vì vậy nước ta có nhiều nghiên cứu về biến đổi khí hậu, việc nghiên cứu ở cả tầm quốc gia cũng như cấp tỉnh (như Lai Châu), có thể khái lược về những nghiên cứu này
Trần Thục, Lê Nguyên Tường, Khí hậu, biến đổi khí hậu và các biện pháp
thích ứng, Báo cáo Hội nghị khoa học trường ĐH Thủy Lợi, 2006 Trong báo cáo,
các tác giả đã trình bày lý thuyết khí hậu, chỉ ra những biểu hiện của biến đổi khí hậu của thế giới và Việt Nam, đưa ra 3 giải pháp thích ứng, nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào lý luận là chính, phân tích biến đổi khí hậu ở Việt Nam chưa cụ thể, chưa phân vùng biến đổi khí hậu
Trung tâm Khoa học Công nghệ Khí tượng thủy văn & Môi trường, Nâng
cao nhận thức và tăng cường năng lực cho địa phương trong việc giảm nhẹ biến đổi khí hậu, góp phần thực hiện Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc và Nghị Định thư Kyoto về biến đổi khí hậu, 2007 Là tài liệu tập huấn cho địa phương, tài
liệu đã có các thống kê số liệu biến đổi khí hậu, nhưng chủ yếu là thế giới, có liên
hệ đến Việt Nam Bên cạnh đó, nhóm biên soạn cũng đã trình bày một số nội dung
cơ bản về Công ước Khung và Nghị Định thư Kyoto Những văn liệu này mang tính chất toàn cầu và nguy cơ chung, có liên hệ đến nước ta
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Nghiên cứu BĐKH ở Đông Nam Á và đánh
giá tác động tổn thương và biện pháp thích ứng, Đề tài hợp tác với SEA
STARTRC, 2007; Bộ Tài nguyên và Môi trường, Kịch bản biến đổi khí hậu, nước
dâng cho Việt nam, Tháng 6, năm 2011 Đây là bộ tài liệu cơ bản về biến đổi khí
hậu chung của khu vực và Việt Nam Trong đó tài liệu đã đưa ra 4 loại kịch bản phát thải biến đổi khí hậu trên thế giới và các kịch bản ứng với Việt Nam
Trang 4- Tỉnh Lai Châu: Sở tài nguyên và môi trường Lai Châu, Kế hoạch hành
động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Lai Châu, Lai Châu 2011 Đây là bộ tài liệu
của tỉnh Lai Châu thuộc chương trình Mục tiêu Quốc Gia Bộ tài liệu phân tích biến đổi khí hậu Lai Châu qua diễn thế nhiệt và mưa, đồng thời kiến nghị kịch bản trung bình cho Lai Châu Báo cáo biến đổi khí hậu và thiệt hại hàng năm của sở tài Nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu
Như vậy các tài liệu từ cấp Nhà nước, cấp tỉnh, với đề tài, báo cáo việc phân tích vẫn mang tính chất chung, chưa phân tích cụ thể các biểu hiện biến đổi khí hậu cho một lãnh thổ tỉnh như tỉnh Lai Châu Đề tài với số liệu từ tỉnh Lai Châu, Viện Khí Tượng và Thủy Văn trình bày các biểu hiện biến đổi khí hậu trên các yếu tố khí hậu, đề ra một số giải pháp ứng phó là một tài liệu chi tiết mang tính địa phương
5 Phương pháp nghiên cứu
5 1 Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích tài liệu
Đây là phương pháp truyền thống, nhưng được sử dụng thường xuyên trong
đề tài Tài liệu, văn liệu về địa phương rất đa dạng về thể loại và phong phú về mặt nội dung, trên cơ sở thu thập các tài liệu về Lai Châu chúng cần phải chọn lọc, xử lí
và phân tích để lựa chọn, tập hợp đưa vào đề tài Chỉ khi có sự lựa chọn, phân tích thì mới xác định được đúng ý tưởng của tài liệu và mục đích của đề tài; để làm được việc đó, trong quá trình thu thập tài liệu thực hiện, đề tài luôn xác định phương pháp này là phương pháp chủ đạo cho nghiên cứu
5 2 Phương pháp dự báo
Dự báo là phương pháp nội suy hoặc ngoại suy, căn cứ vào các dấu hiệu, cứ liệu khoa học có thể đề xuất các nhận định để dự báo diễn biến và sự thay đổi của các khu vực, các đối tượng nghiên cứu Phương pháp này sẽ giúp ta thấy được những xu hướng của sự biến đổi, từ đó có cách khai thác, hoặc tác động tới lãnh thổ hợp lí tránh được những tai biến, tổn thất, đảm bảo tính bền vững
Trang 5Đề tài sử dụng phương pháp dự báo sau khi đã đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của tỉnh cùng phân tích biến đổi khí hậu, lấy đó làm
cơ sở cho việc kiến nghị các biện pháp khai thác lãnh thổ
5 3 Phương pháp hệ thống thông tin Địa lý – GIS
Hệ thông tin địa lí GIS là một hệ thống thông tin về Địa lí, gồm nhiều hệ thống phương tiện hỗ trợ cung cấp thông tin, đây là một trong những phương pháp hiện đại nhưng có giá trị to lớn, hỗ trợ cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, trong đó Địa lí là khoa học đang được ứng dụng nhiều, để nghiên cứu, đánh giá hiện trạng và khai thác, sử dụng lãnh thổ
5 4 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp truyền thống nhưng không thể thiếu trong nghiên cứu, nhất là với khoa học Địa lí Bản thân tác giả là người Lai Châu (cũ), nên các tuyến thực địa, các địa điểm thực địa trong đề tài được tác giả xây dựng và thực hiện nghiêm túc, là cơ sở thực nghiệm có căn cứ thực tiễn, chứng minh cho những nhận định của mình
5 5 phương pháp bản đồ, biểu đồ
Đây là phương pháp đặc trưng của bộ môn Địa Lý, bản đồ, biểu đồ không chỉ khái quát hóa nội dung mà còn chỉ ra được các mối quan hệ giữa đối tượng nghiên cứu và với thành phần tự nhiên khác Biểu đồ có thể phản ảnh tốt các yếu tố động lực và diễn thế cùng những minh chứng cụ thể của đối tượng, nhất là nghiên cứu biến đổi khí hậu Bản đồ phản ảnh tính chất không gian của đối tượng Đề tài
sử dụng phương pháp bản đồ, biểu đồ để phân tích không gian và diễn thế biến đổi các yếu tố khí hậu Lai Châu
Trang 6Góp phần nâng cao năng lực, nhận thức và trách nhiệm của mọi người trong việc bảo vệ môi trường sống của mình
7 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận đề tài bao gồm các chương sau:
Chương I Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương II Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Tỉnh Lai Châu
Chương III Tình hình biến đổi khí hậu Lai Châu và biện pháp ứng phó CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Khí hậu và biến đổi khí hậu
Khí hậu theo quan điểm của (alixôp): “khí hậu là trạng thái khí quyển ở một
nơi nào đó được đặc trưng bằng các chỉ số trung bình nhiều năm về nhiệt độ, độ
ẩm, lượng mưa, lượng bốc hơi, gió, mây, giữa các thành phần này có mối quan hệ thống nhất và hoàn chỉnh”
Khái niệm mang tính chất địa lý của khí hậu theo Sneiderkarius như sau:
“Khí hậu là một cơ quan điển hình của một nơi nào đó hoặc là tập hợp các trạng
thái khí quyển và các quá trình thời tiết của một khoảng không gian lớn quan sát được gần mặt đất có tác động đến bề mặt trái đất trong một khoảng thời gian dài”
Tập hợp này được biểu thị bằng sự phân bố của các giá trị trung bình được lặp lại thường xuyên và các giá trị cực trị
Khái niệm khí hậu địa phương: là khí hậu của một khu vực nào đó có quy mô địa phương được tạo nên bởi quan hệ giữa điều kiện địa hình(hướng dốc và độ dốc), địa mạo (kiểu dạng địa hình của khu vực đó) với điều kiện bức xạ mặt trời từ mối quan hệ này sẽ hình thành nên các điều kiện nhiệt độ, không khí, chế độ gió, chế độ mưa khác nhau ở các khu vực đó
Biến đổi khí hậu: là sự thay đổi khí hậu từ trạng thái này sang trạng thái khác, mà biểu hiện là sự thay đổi của các thành phần đặc trưng
Trang 7Ban đầu biến đổi khí hậu được lấy tên là Elnino, theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “bé trai”, nguyên nhân là sự thay đổi khí hậu do dòng biển nóng, lạnh có tính quy luật và hoang mạc Atacama Elnino trong khí tượng còn được gọi là “dao động phương Nam”
Ngược lại với Elnino là Lanina, còn gọi là “bé gái” Lanina là hiện tượng ngược của Elnino, về cơ bản, khi Lanina xuất hiện sẽ làm cho hoàn lưu khí quyển trở về trạng thái bình thường ở khu vực Thái Bình Dương Tại Nam Mỹ thời tiết trở lại lại như vốn có, còn khu vực Đông Nam Á, Bắc Úc lại mưa lớn kéo dài
Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu: “Biến đổi khí hậu là
“những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản
lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.
1.1.2 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu
Khí hậu là thành phần quan trọng cấu thành nên sự sống của trái đất các nhân tố khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm, khí áp, gió…luôn có mối quan hệ tương hỗ và phụ thuộc, những mối quan hệ đó khá đa dạng và phức tạp, luôn biến đổi theo không gian và thời gian, chúng được phản ánh một cách sinh động qua thời tiết và các hợp quần khác của tự nhiên
Khí hậu luôn biến đổi theo thời gian Quá trình sinh tồn và phát triển, con người thường xuyên tác động đến tự nhiên, sự tác động này ngày càng mạnh mẽ không ngừng gia tăng cả về bề rộng lẫn chiều sâu, điều này đã góp phần dẫn đến sự biến đổi của tự nhiên, trong đó có khí hậu Khí hậu biến đổi trong những năm gần đây, đặc biệt từ thời kì tiền công nghiệp (nửa cuối thế kỉ XIX), biểu hiện là sự nóng lên toàn cầu, kéo theo hàng loạt những biến động của môi trường tự nhiên: bão lụt, hạn hán, Elnimo, Lanina…sự dâng cao của mực nước biển Đây một phần là hậu
Trang 8quả con người can thiệp sâu vào môi trường tự nhiên; nhưng một phần cũng do yếu
tố tự nhiên
- Sự biến đổi trong quỹ đạo Trái Đất: Trong các yếu tố tác động đến khí hậu,
sự thay đổi trong quỹ đạo của Trái Đất là yếu tố có ý nghĩa quan trọng làm thay đổi năng lượng Mặt Trời, bởi vì dù chỉ có sự thay đổi rất nhỏ trong quỹ đạo Trái Đất cũng đã dẫn tới những sự thay đổi trong sự phân phối của ánh sáng Mặt Trời khi tiến tới bề mặt Trái Đất
Độ lệch tâm, độ nghiêng của trục và tuế sai là 3 chu kì chi phối tạo ra sự thay đổi trong quỹ đạo Trái Đất Sự kết hợp hiệu quả của các biến thể trong 3 chu kì này
đã tạo ra sự thay đổi trong sự tiếp nhận theo mùa vụ của bức xạ Mặt Trời trên bề mặt Trái Đất Như vậy, chu kì Milankovitch (tên gọi cho hiệu ứng tổ hợp của các thay đổi trong chuyển động của Trái Đất lên khí hậu) ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hay giảm bức xạ Mặt Trời mà Trái Đất nhận được, từ đó sẽ ảnh hưởng đến hoàn lưu khí quyển, đồng thời cũng ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống băng hà trên Trái Đất
- Hoạt động núi lửa: Phun trào núi lửa là một quá trình vận chuyển vật liệu từ
dưới sâu lòng đất lên bề mặt, như là một phần của tiến trình mà Trái đất loại bỏ sự quá dư thừa về nhiệt độ và áp suất bên trong lòng nó Sự phun trào núi lửa là sự giải phóng ở các mức độ khác nhau những vật liệu đặc biệt vào trong bầu khí quyển Trong một thế kỉ mà xảy ra vài vụ nổ núi lửa sẽ có tác động ít nhiều đến khí hậu toàn cầu, điển hình là chúng có thể gây ra hiện tượng “mát” cho một giai đoạn kéo dài khoảng một năm hoặc nhiều hơn thế Sự hoạt động của núi lửa Pinatubo năm
1991, hoạt động phun trào núi lửa lớn thứ hai trên Trái Đất trong thế kỉ XX (chỉ sau hoạt động của núi lửa Novarupta xảy ra vào năm 1912) là một ví dụ, làm cho khí hậu bị ảnh hưởng đáng kể, nhiệt độ toàn cầu giảm đi 0, 5o
C, tầng ôzôn bị suy yếu đi đáng kể
Núi lửa cũng là một phần làm gia tăng lượng khí Cacbon có trong khí quyển Tuy nhiên, theo sự khảo sát của các đoàn địa chất Hoa Kì, đã ước tính rằng các
Trang 9hoạt động của con người còn tạo ra một khối lượng khí cacbon nhiều gấp 130 lần lượng khí được tạo ra do hoạt động núi lửa
- Tác động của con người
Các hoạt động của con người là nguyên nhân chủ yếu làm thay đổi môi trường Những giả thuyết cho rằng con người đã gây ra sự biến đổi khí hậu đã được tranh luận trong nhiều năm qua, cho đến nay, cuộc tranh luận khoa học này đã chuyển từ “chủ nghĩa hoài nghi” thành “khoa học đồng lòng”: chính hoạt động của con người là nguyên nhân gây ra sự biến đổi nhanh chóng của khí hậu toàn cầu trong một vài thập kỉ gần đây Trong hầu hết các mối quan tâm về những tác động
do con người gây ra, thì mối quan tâm hàng đầu hiện nay đó là sự gia tăng của lượng khí CO2 do việc đốt các nhiên liệu có nguồn gốc hóa thạch, việc sản xuất xi măng… Các yếu tố khác, bao gồm cả việc sử dụng đất, lỗ thủng tầng ô zôn, sản xuất nông nghiệp và nạn phá rừng… cũng đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu
- Hiệu ứng nhà kính: Trái Đất nhận năng lượng từ Mặt trời dưới dạng các bức
xạ sóng ngắn Bức xạ sóng ngắn dễ dàng xuyên qua các lớp khí CO2 và lớp ôzôn để xuống mặt đất Khi xuống mặt đất, một phần của năng lượng này được phản xạ vào không khí, một phần bị các chất trên mặt đất hấp thu, làm cho bề mặt trái đất nóng lên Khi bề mặt Trái Đất nóng lên lại bức xạ năng lượng vào khí quyển dưới dạng các bức xạ bước sóng dài, chủ yếu là các bức xạ nhiệt Các bức xạ sóng dài không
có khă năng xuyên qua “khí nhà kính”, gồm khí CO2, hơi nước, CH4, các hợp chất chloroflorocacbon (CFC) và NO2 Khí nhà kính có mặt trong khí quyển sẽ hấp thụ những bước xạ sóng dài, được sưởi nóng và lại phản xạ ra mọi phía trong đó có phía lên bề mặt của Trái Đất Kết quả là bề mặt Trái Đất bị ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái Đất cũng bị nóng lên Hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng nhà kính” vì trong quá trình nóng lên của Trái Đất tương tự như quá trình nóng lên trong nhà kính, có sự tăng khí CO2 và các chất bức xạ nhân tạo, lớp khí này có tác dụng như lớp kính giữ
Trang 10nhà kính là CO2, có khả năng hấp thụ các tia bức xạ bước sóng dài và nóng lên Do vậy, người ta cho rằng sự phát sinh CO2 ngày càng nhiều trong khí quyển sẽ làm bầu khí quyển nóng lên, (CO2 tăng lên là kết quả của đốt cháy nhiên liệu, củi, than
đá, giao thông vận tải, cháy rừng làm mất nguồn hấp thu bớt CO2 nhả O2) Sự tăng nhiệt độ làm thay đổi khí hậu của khí quyển toàn cầu
Các nguồn phát sinh khí nhà kính bao gồm:
+Tự nhiên: CO2, hơi nước, CH4, O3 và NO2
+Nhân tạo: trong khoảng 50 năm trở lại đây, hàm lượng CO2, CH4, NO2 đã gia tăng nhanh chóng, và hợp chất mới xuất hiện CFC’s- chất làm lạnh, dung môi, thuốc xịt, … Một phần tử CFC có thể hấp thụ các tia hồng ngoại gấp 12000-16000 lần so với CO2
Một số nguyên nhân làm tăng lượng khí nhà kính:
+ Quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch
+ Phá rừng làm giảm nguồn hấp thu CO2
+Sản phẩm phụ của quá trình đốt cháy nylon
Tác nhân chính gây hiệu ứng nhà kính: CO2 (50%), CH4 (13%), N2O (5%), hơi nước (3%); ngoài ra còn có CFC’s (24%), CO, NOx và hợp chất hữu cơ dễ bay hơi Suy thoái lớp ozone do nhiều chất khí CFC’s, clo… làm số lượng tia cực tím
UV chiếu thẳng vào khí quyển nhiều hơn, là nguyên nhân gián tiếp thúc đẩy hiệu ứng nhà kính
Ngày nay, con người được nghe nói nhiều đến tác hại của hiệu ứng nhà kính Thực tế hiệu ứng nhà kính tự nhiên có vai trò quan trọng đối với Trái Đất:
+ Nhờ hiệu ứng nhà kính mà nhiệt độ trung bình của bề mặt Trái Đất vào khoảng 60o
F Nếu không có hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ sẽ vào khoảng -70oF (hay
-22oC)
+ Giữ trạng thái “cân bằng nhiệt” trên bề mặt Trái Đất Bình thường sự gia tăng nhiệt độ trên bề mặt Trái Đất ảnh hưởng đến cân bằng nhiệt theo hai cách: khí nhà kính tăng trong giới hạn cho phép, nhiệt độ không khí đảm bảo ở mức cân bằng
Trang 11Khi các nhà kính vượt quá giới hạn và phát sinh khí nhà kính mới, thì “hiệu ứng nhà kính” gây hậu quả nghiêm trọng Một trong số hậu quả nghiêm trọng của hiệu ứng nhà kính đó là sự nóng dần lên của Trái Đất Nhiệt độ Trái Đất tăng lên, hiện tượng băng tan ở hai cực, mực nước biển tăng; khu vực bờ biển mong manh dễ bị tràn ngập sóng gió Bão tố xảy ra thường xuyên hơn, nước mặn thấm vào mực nước ngầm, hủy hoại nông nghiệp và ảnh hưởng đến việc cung cấp nước ngọt, khí hậu thay đổi bất thường, ảnh hưởng đến chế độ mưa toàn cầu, những vùng hiện nay đang có đủ nước ngọt sẽ lâm vào cảnh thiếu nước ngọt thường xuyên hơn
1.1.3 Những biểu hiện của biến đổi khí hậu
- Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung;
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất;
- Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển;
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái Đất, dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các
hệ sinh thái và hoạt động của con người;
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác;
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, các địa quyển
Trong các biểu hiện biến đổi khí hậu, biểu hiện dễ nhân thấy hơn là sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu và sự gia tăng của mực nước biển
1.1.3.1 Sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu
- Tất cả các trạm đo nhiệt độ đều có thể đo, đánh giá và xác nhận được bằng chứng về biến đổi khí hậu Trong mấy chục năm vừa qua nhiệt độ trung bình toàn cầu
đã tăng lên tới 0,3 - 0,40C và hiện đang có xu hướng tăng tiếp
Trang 12- Theo các mô hình nghiên cứu trong thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của Trái Đất có thể tăng từ 1,1 - 60C, khả năng xảy ra từ 1,8 - 40C trong đó tùy theo sự phát thải hiệu ứng nhà kính được cắt giảm đến mức độ nào để làm giảm bớt các khí
CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính
- Nếu như ngay từ lúc này, nhân loại dừng phát thải khí nhà kính thì nhiệt độ
bề mặt Trái Đất vẫn tiếp tục nóng lên, nước biển vẫn tiếp tục dâng lên trong vòng
50 năm nữa Nhiệt độ trái đất nóng lên làm cho băng của các dãy Himalaya, Nam cực, Bắc cực và các vùng khác tan chảy Những núi băng này tan chảy sẽ làm cho mực nước biển tăng lên từ 28 - 43cm Nhưng có thể mực nước biển này còn cao hơn nữa, tùy theo sự phát thải của hiệu ứng nhà kính và tác động của con người
- Như vậy, nhiệt độ trên bề mặt Trái Đất đã tăng 0,74 ± 0180C trong thời gian cuối thế kỉ Ban Hội thẩm quốc tế về biến đổi khí hậu toàn cầu đã kết luận rằng, các khí gây hiệu ứng nhà kính là thủ phạm chính đối với sự gia tăng nhiệt độ
đã quan sát được từ giữa thế kỉ XX, trong khi các hiện tượng tự nhiên như sự biến đổi của năng lượng Mặt Trời và các hoạt động núi lửa lại là nguyên nhân chính gây
ra sự nóng lên của Trái Đất từ thời kì tiền công nghiệp đến năm 1950 (và về sau này có một chút tác dụng làm mát) Những kết luận cơ bản này đã được xác nhận bởi hơn 40 học viện khoa học xã hội và tự nhiên, bao gồm tất cả các viện hàn lâm quốc gia của các nước công nghiệp lớn
1.1.3.2 Sự gia tăng của mực nước biển
Từ năm 1961 đến 2003, mực nước biển toàn cầu đã tăng trung bình 1,8mm/năm Giai đoạn 1993 - 2003, tỷ lệ này đã tăng nhanh hơn khá nhiều, khoảng 3,1mm/năm Cho dù tỷ lệ có sự tăng nhanh hơn trong giai đoạn 1993 – 2003, phản ánh sự biến thiên trong thời kì 10 năm, nhưng chưa thể kết luận được rằng sẽ có xu hướng gia tăng trong giai đoạn dài hơn Mực nước biển đã được quan sát từ thế kỉ XIX đến thế kỉ XX và chắc chắn rằng là có sự gia tăng, mực nước biển gia tăng trong suốt thế kỉ XX ước chừng khoảng 0,17m
Trang 13Ở Việt Nam, tác động của BĐKH cũng đã được nhận thấy qua nhiều dấu hiệu Trước hết, những diễn biến bất thường của thời tiết, khí hậu trong nhiều năm gần đây có liên quan đến sự biến đổi của các hệ thống hoàn lưu khí quyển, đại dương qui mô lớn, cũng như sự biến đổi trong hoạt động của gió mùa châu Á Bão,
áp thấp nhiệt đới có xu hướng dịch chuyển về phía nam và có qũy đạo phức tạp, khó dự báo hơn Hạn hán, lũ lụt dường như xảy ra bất thường hơn Hiện tượng nắng nóng có xu hướng gia tăng cả về cường độ, tần suất và độ dài các đợt Số ngày rét đậm, rét hại giảm đi nhưng mức độ khắc nghiệt và độ kéo dài các đợt
có dấu hiệu gia tăng Nhìn chung, biến đổi khí hậu dường như đã làm gia tăng những hiện tượng cực đoan, dẫn đến sự gia tăng các thiên tai có nguồn gốc khí tượng, tác động xấu đến nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội và môi trường
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Hiện trạng biến đổi khí hậu trên thế giới
Khí hậu toàn cầu có sự thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt từ giữa thế kỷ XIX nhiệt độ không khí toàn cầu có sự gia tăng và biểu hiện rõ nhất là ở Bắc cực, thuộc Bắc Đại Tây Dương
Đến thế kỷ XX, tồn tại hai quan niệm khác nhau về xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu Quan niệm thứ nhất, một số nhà khoa học cho rằng, khả năng tiếp tục lạnh đi của khí hậu vẫn còn tồn tại Quan niệm thứ hai, bằng những chứng cứ xác thực, các nhà khoa học đã phát hiện xu hướng nóng lên của khí hậu, từ sau những năm thứ 7 của thế kỷ này và dự đoán khí hậu thế giới sẽ nóng lên từ 0,50C đến 10
C
ở cuối thế kỷ
Khí hậu đang thay đổi, những hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện ngày càng nhiều gây thiệt hại không nhỏ tới sản xuất và đời sống Hiện tượng hạn hán, lũ lụt, bão tuyết diễn ra trên phạm vi rộng cả vùng nhiệt đới và vùng ôn đới Năm
1972, Liên Xô đã phải trải qua đợt hạn hán nghiêm trọng với kỷ lục thế kỷ về nhiệt
độ, độ hụt lượng mưa và lượng nước sông, gây mất mùa nặng và nạn cháy rừng
Trang 14hoành hành Mùa hè năm 1976 ở Tây Âu, miền Trung và miền Tây nước Mỹ, Canada Úc phải trải qua đợt hạn hán nghiêm trọng
Trái đất nóng lên với tốc độ ngày càng tăng, biểu hiện là nhiệt độ trung bình của trái đất tăng từ 0,30C đến 0,60C trên bề mặt, tốc độ gia tăng chưa từng thấy trong gần 1.000 năm qua Riêng giai đoạn 1885 - 1990, nhiệt độ Trái Đất đã tăng 0,50C xuất phát từ sự thay đổi hàm lượng CO2 trong khí quyển, từ 0,027% lên 0,035% Theo tính toán, khi hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi, thì nhiệt
độ Trái Đất tăng lên khoảng 30
C, và có khu vực có thể tăng lên 4,90C - 5,40C, ở các vĩ độ cao của Bắc bán cầu có thể tăng lên 7 - 80
C Ngiên cứu của các nhà khoa
học Mỹ cho biết: “nếu nồng độ CO 2 tăng gấp 4 lần trong vòng 500 năm tới, thì nhiệt độ trên toàn lục địa sẽ cao hơn nhiệt độ hiện nay từ 7 0 C đến 10 0
C”.
Những năm 90 của thế kỷ XX được ghi nhận là thập kỷ nóng nhất kể từ
1861, khi có số liệu trắc quan bằng máy và thậm chí là nóng nhất trong 1000 năm qua Ở bán cầu Bắc, hai giai đoạn có nhiệt độ tăng nhanh nhất là từ 1910 - 1945 và
từ năm 1976 đến nay, mức tăng khoảng 0,150C một thập kỷ
Sự gia tăng nhiệt độ trung bình của Trái Đất ngày càng rõ ràng hơn Nhiệt độ Trái Đất đã tăng thêm 0,750C so với thời kỳ tiền công nghiệp, 11 năm nóng nhất trong vòng 125 năm qua đã xảy ra ra từ những năm 90 của thế kỷ XX, gần nhất là năm 2005 và cũng là năm nóng nhất
Gia tăng nhiệt độ hiện nay ngày càng có xu hướng tăng nhanh so với dự báo của các nhà khoa học Tuy nhiên xét ở những điều kiện, vị trí địa lí cụ thể thì mức gia tăng nhiệt độ có sự khác biệt giữa các vùng; giới khoa học cảnh báo, Bắc cực sẽ
là nơi đầu tiên bị ảnh hưởng bởi hiện tượng “ấm hóa” toàn cầu, băng và tuyết phản
xạ từ 80 đến 90% bức xạ Mặt Trời Tuy nhiên, khi những bề mặt băng này biến mất thì đất và biển ở bên dưới sẽ hấp thụ nhiều bức xạ hơn dưới dạng nhiệt Chính lượng nhiệt này sẽ tác động trở lại, làm băng và tuyết tan nhiều
Bắc cực ấm lên sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sinh vật và con người Các sinh vật trong vùng Bắc cực nằm trong nguy cơ tuyệt chủng cao Ở các
Trang 15khu vực châu Âu và vĩ độ trung bình, nhiệt độ cũng đã tăng lên (bằng chứng là mùa
hè trở nên nóng hơn nhiều so với trước đây), gây ra tình trạng tử vong cao ở khu vực này
Bên cạnh đó hiện tượng lạnh đi khác thường của khí hậu cũng đáng được quan tâm, mùa thu 1976, tại nhiều nơi thuộc Liên Xô (cũ) nhiệt độ đã giảm xuống
ra quan ngại đến xu thế thay đổi xấu hơn nữa của khí hậu Trái Đất Tháng 6 năm
1976, tổ chức Khí tượng thế giới phải ra tuyên bố đặc biệt, kèm theo những giải thích cần thiết về biến đổi khí hậu trên thế giới Nhiều giả thuyết và phỏng đoán được đưa ra, những câu hỏi về khí hậu thế giới đặt ra ngày càng nhiều Hàng loạt hội nghị chuyên đề hợp tác khoa học giữa các nước, các tổ chức có liên quan diễn
ra, nhằm nghiên cứu sâu hơn về biến đổi khí hậu quy mô toàn cầu
Những năm cuối thế kỷ XX sang những năm đầu thế kỷ XXI, loài người đang phải ghánh chịu nhiều thảm họa thiên tai khốc liệt mà nguyên nhân căn bản bắt nguồn từ sự biến đổi khí hậu
1.2.2 Hiện trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam và Lai Châu
Trước những tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu chung, khí hậu Việt Nam cũng biến đổi tiêu cực như: nhiệt độ tăng, bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng cao .Việt Nam đã và đang phải đương đầu với những biểu hiện ngày càng gia tăng của những hiện tượng thời tiết này
Theo Thông báo Quốc gia lần thứ 2 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Kể từ năm 1958 đến năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng 0,5
- 0,70C Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam Cụ thể như năm 2007, nhiệt độ trung
Trang 16bình cả năm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931- 1940 là 0, 8 - 1,30C; cao hơn thập kỷ 1990 - 2000 là 0,4 - 0,50
C Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trên lãnh thổ nước ta biểu hiện bất thường qua các thời kỳ và các vùng khác nhau Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa trong 50 năm qua đã giảm khoảng 2% Tuy vậy, biến đổi lượng mưa có xu hướng cực đoan, tăng trong mùa mưa và giảm mạnh trong mùa khô
Bên cạnh đó, số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam cũng giảm rõ rệt trong 2 thập kỷ qua Các biểu hiện thời tiết dị thường xuất hiện ngày càng nhiều, tiêu biểu như đợt lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 30 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ, đã gây thiệt hại lớn về cây trồng, vật nuôi cho các địa phương
Đặc biệt, do tác động của biến đổi khí hậu, trong khoảng 5 - 6 thập kỷ gần đây, tần số xoáy thuận nhiệt đới hoạt động trên biển Đông tăng lên với tốc độ 0,4 cơn mỗi thập kỷ; tần số xoáy thuận nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam tăng với tốc
độ 0,2 cơn mỗi thập kỷ và có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn Quỹ đạo của bão
có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía Nam và mùa mưa bão kết thúc muộn hơn Nhiều cơn bão có đường đi bất thường và không theo quy luật Điển hình như
“siêu” bão số 8, hoàng hành suốt dọc các tỉnh ven biển từ Nghệ An đến tận Quảng Ninh trong mấy ngày đầu của tháng 10 năm 2013, để lại nhiều hậu quả
Một biểu hiện đáng lo ngại của biến đổi khí hậu nữa là mực nước biển dâng,
đã gây ngập lụt trên diện rộng, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam cho thấy, tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình hiện nay là 3mm/năm, tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới Trong 50 năm qua, mực nước biển tại trạm hải văn Hòn Dấu (Hải Phòng) tăng lên khoảng 20cm
Trang 17Cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc, khí hậu tỉnh Lai Châu đã chịu ảnh hưởng nhiều tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Theo khảo sát của các cơ quan chức năng, những biểu hiện dễ nhận thấy nhất là sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa
và gia tăng các hiện tượng thời tiết tiêu cực như: gió Tây khô nóng, rét đậm, rét hại, sương muối, giông lốc, mưa đá, lũ quét, sạt lở đất, xuất hiện với tần suất và mức độ lớn hơn
Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam của Bộ Tài nguyên và Môi trường, biến đổi khí hậu sẽ tác động đến các tỉnh vùng núi và trung
du Bắc Bộ trong đó có Lai Châu gồm; các khu vực này thường chịu ảnh hưởng của
lũ, lũ quét, sạt lở đất, cháy rừng, hạn hán Các lĩnh vực: an ninh lương thực Lâm nghiệp, giao thông vận tải, môi trường, tài nguyên nước, đa dạng sinh học, y tế, sức khỏe cộng đồng, các vấn đề xã hội khác thuộc vùng núi và trung du Việt Nam đều
có nguy cơ chịu tác động của biến đổi khí hậu
Lai Châu là tỉnh có điều kiện và tiềm năng để phát triển phát triển kinh tế -
xã hội, song cũng chịu nhiều tai biến thiên nhiên Khí hậu Lai Châu mang đặc thù của nhiệt đới vùng núi hơi lạnh và hơi khô, chịu tác động mạnh của tính phi địa đới theo đai cao Trong những năm gần đây, các tai biến thiên nhiên như lũ lụt, lũ ống,
lũ quét, trượt lở đất…các hiện tượng khí hậu cực đoan như rét đậm, rét hại cũng xuất hiện ngày càng nhiều, hiện tượng băng tuyết bắt đầu xuất hiện tại vùng núi cao như đèo Ô Quy Hồ, Sìn Hồ ngoài ra tình trạng hạn hán trên nhiều địa bàn của Lai Châu xảy ra thường xuyên hơn và vi ảnh hưởng ngày càng rộng Các tai biến thiên nhiên không chỉ gây thiệt hại nặng nề về người và của, mà còn gây ra tâm lí hoang mang, lo lắng cho nhân dân ở vùng bị thiệt hại nói riêng và của cả tỉnh nói chung
Trang 18CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI LAI CHÂU
2 1 Vị trí địa lí
Vị trí địa lí không phải là thành phần cấu tạo nên tự nhiên, nhưng với hệ tọa độ địa lí (quy luật địa đới) thì các đặc trưng khác của tự nhiên sẽ biến đổi theo nó, vị trí địa lí sẽ giúp cho tự nhiên có một đặc điểm riêng của mình
Là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc của Tổ Quốc, cách xa thủ đô Hà Nội 450km về phía Tây Bắc, Lai Châu có toạ độ địa lí xác định như sau:
Vĩ độ: từ 210
40’ đến 22050’ vĩ độ Bắc;
Kinh độ: từ 1020
20’ đến 1030 kinh độ Đông (*) Phía Bắc: giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc
Phía Đông: giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La
Phía Tây và Tây Nam: giáp tỉnh Điện Biên
Với vị trí địa lí như trên Lai Châu có vị trí đặc điểm sau: tỉnh có 273km đường biên giới với Trung Quốc, có cửa khẩu Ma Lù Thàng cùng nhiều tuyến đường trên tuyến biên giới Việt – Trung, giúp tỉnh trực tiếp giao lưu với các tỉnh phía Tây Nam (Trung Quốc); được nối với khu vực tam giác tăng trưởng kinh tế của cả nước là: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, các đường quốc lộ: 6, 4D, 70,
32, 279, 12, 127, đường sông Lai Châu còn nằm trên tuyến du lịch Tây Bắc - Hà Nội - Lào Cai - Sa Pa - Lai Châu - Điện Biên - Sơn La - Hoà Bình - Hà Nội Nằm trong tam giác năng lượng khoáng sản Yên Bái - Lào Cai - Phong Thổ Vị trí địa lí
đã giúp Lai Châu có tiềm năng để phát triển dịch vụ - thương mại, xuất nhập khẩu
và đặc biệt là du lịch, đồng thời cũng có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia ngoài ra Lai Châu còn
là vùng đầu nguồn và phòng hộ đặc biệt chủ yếu của sông Đà, đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia, hiện đang trực tiếp đang xây dựng công trình thủy điện Lai Châu trên sông Đà (tại Nậm Hàng – Nậm Nhùn)
Vị trí địa lí kết hợp với địa hình Lai Châu là vùng núi trung bình và núi cao của khu vực Tây – bắc, núi cao tập trung ở phía bắc, tây bắc và đông – bắc Lai
Trang 19Châu, ở đây là phần cuối cùng của cao nguyên Vân Qúy (Trung Quốc) Nhìn chung các dãy núi cao có hướng tây bắc – đông nam, phần phía bắc một số đỉnh cao từ 2.000 – 2.500m; dãy Hoàng Liên Sơn án ngữ ở tây – bắc, có nhiều đỉnh cao từ 2.500 – 3.000m, trong đó bao gồm đỉnh Fan Xi Păng cao nhất cả nước Mặt khác,
về cấu trúc địa hình còn mang một số đặc điểm trung là: Núi thấp dần, đổ dồn xuống các sông và suối lớn, núi non xen kẽ với các thung lũng sông, khe suối và các bồn địa Lọt vào các dãy núi có rất nhiều dải trũng rộng, tạo thành những cánh đồng hẹp kéo dài, trong đó đáng chú ý là cánh đồng Than Uyên Vùng núi tương đối bằng phẳng của Bình Lư nối liền với cánh động rộng Than Uyên cùng các dãy núi phía đông là bộ phận kéo dài của hệ thống núi bắc Lào, hướng núi cùng hướng với sự sắp xếp của các sông suối trong tỉnh, thường có hướng bắc – nam, hoặc tây bắc – đông nam, có đỉnh không vượt quá 2 000m Do cấu trúc địa hình đặc biệt ở đây, đã ảnh hưởng rất lớn đến tác động của gió mùa và hệ quả in đậm lên lãnh thổ
Do nằm phía tây dãy Hoàng Liên Sơn, tác động của gió mùa cực đới đã suy yếu đáng kể; mặt khác Lai Châu nằm sau dãy núi ở bắc Lào, nên toàn bộ lãnh thổ được bao bọc chung quanh các dãy núi cao, kết hợp với điều kiện nhiệt - ẩm của khí hậu nhiệt đới, gió mùa tạo cho Lai Châu có kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, ngày nóng đêm lạnh và có sự phân hóa cao Chính những điều kiện trên đã tác động đến các thành phần tự nhiên khác của tỉnh như: thổ nhưỡng, thủy văn, sinh vật… làm nên kiểu tự nhiên rừng nhiệt đới ẩm gió mùa thường xanh vùng núi
2 2 Địa chất
Địa chất kiến tạo là nền rắn của tự nhiên, là cơ sở để xác định nguồn gốc và quá trình phát triển của tự nhiên Nền rắn là kết quả mối quan hệ tương tác giữa nội lực và ngoại lực diễn ra từ hàng triệu năm trước và là cơ sở nền móng cho các quá trình địa lí khác phát triển, có thể nói nền rắn như là “khiên”, là “nền tảng” cho sự phân bố, sắp xếp các loại hình tự nhiên Đặc điểm địa chất kiến tạo sẽ quy định các hình thái địa hình, không chỉ thế, các loại nham thạch, thành hệ đá cũng sẽ ảnh
Trang 20hưởng đến hoạt đống ngoại sinh, thổ nhưỡng, sinh vật,…góp phần tạo nênsắc thái chung cho các loại hình tự nhiên
Theo Vũ Tự Lập và nnk, về cơ bản Việt Nam nằm ở nơi tiếp xúc của nhiều
hệ thống tự nhiên, là nơi giao thoa, hội tụ của nhiều địa hệ, trong đó có cấu trúc địa chất Theo các nhà nghiên cứu, Việt Nam có hai cấu trúc kiến tạo chính là cấu trúc địa chất kiến tạo Việt – Trung (xứ miền nền Hoa Nam, bắc Việt Nam) và kiến trúc Đông Dương (kiên Kong Tum, nam Việt Nam) Cấu trúc địa chất miền nền Hoa Nam bắc Việt Nam, với khối nhô vòm Sông Chảy cùng các đá cổ kết tinh tiền Cambri như Gơnai, mica… có trình độ biến chất cao, cùng địa hình có tính chất chuyển tiếp của khu vực miền Bắc Việt Nam là biểu hiện rõ nhất cho cấu trúc địa chất này Tương tự như vậy, với cấu trúc địa chất phía nam nước ta, khiên Kong Tum với các đá biến chất cổ tiền Cambri là biểu hiện sự có mặt của cấu trúc này trên lãnh thổ Việt Nam Nếu ta phân chia Việt Nam theo các đơn vị địa chất nhỏ hơn thì rất khó và phức tạp, bởi vì từ hai cấu trúc địa chất chính đã nói còn được phân hóa thành nhiều đơn vị nhỏ hơn Ngoài ra, lãnh thổ Việt Nam còn có các cấu trúc địa chất khác như cấu trúc địa chất Miễn – Thái – Mã, chạy qua tây nam (Hà Tiên) và tây bắc (Mường Tè) nước ta
Phân tích ở trên ta thấy, Lai Châu nằm ở hai cấu trúc kiến tạo lớn của đất nước ta là kiến tạo Đông Dương và Miễn – Thái – Mã Nếu ta xét đến lịch sử kiến tạo địa chất và các đơn vị kiến tạo thì “rất phức tạp”, mặc dù vậy, đặc điểm địa chất của Lai Châu có tính chất sau:
2 2 1 Các hệ thống đứt gãy địa chất Lai Châu
Nằm trong khu vực Tây Bắc, Lai Châu về cơ bản có lịch sử và cấu trúc địa chất gắn liền với khu vực này Trong quá trình phát triển, khu vực đã trải qua các giai đoạn địa chất khá phức tạp, cơ bản lãnh thổ hoàn thiện trong đại Trung sinh (Merozoi) và các tác động mạnh mẽ của Tân sinh đại, các vận động kiến tạo đã ảnh hưởng tới khu vực và làm cho Lai Châu có 6 đứt gãy kiến tạo lớn và các đứt gãy kiến tạo nhỏ
Trang 21* Đứt gãy Điện Biên – Lai Châu: Thuộc kiến tạo lớn này được chia thành 2
đơn vị địa chất nhỏ hơn là đới kiến tạo Pu Si Lung và đới kiến tạo Mường Nhé – Mường Tè Các đới kiến tạo này được phân chia với nhau bởi các đứt gãy Mường
Tè Thành phần thạch học và mức độ biến cải của nó phụ thuộc rất nhiều vào lịch
sử phát triển của các đới kiến trúc địa chất và cường độ hoạt động của đứt gãy
* Đứt gãy Vạn Yên – Nậm Xe: Ở Lai Châu, đứt gãy Vạn Yên – Nậm Xe
phân bố từ Vạn Yên qua Nậm Xe đến biên giới Việt – Trung, bao gồm một số đứt gãy có hướng tây – nam Dọc theo các đứt gãy ta còn thấy sự xuất hiện của một số phun trào mafic thuộc hệ tầng Viên Nam (T1vn), phun trào mắcma axit phức hệ Tú
Lệ, ngoài ra còn có các xâm nhập axit, kiềm chúng có tuổi từ Creta đến Paleogen Dọc theo các đứt gãy, ta còn phát hiện nhiều nguồn nước nóng, nước khoáng như: Pắc Tà, Nà Bao, Tả Pa Hồ… Về mặt địa mạo, các đứt gãy đã tạo nên các dạng địa hình dạng thung lũng dốc và hẹp
* Đứt gãy Phong Thổ - Vạn Yên: Trên địa bàn Lai Châu, đứt gãy Phong
Thổ - Vạn Yên có hướng tây bắc – đông nam, kéo dài từ biên giới Việt – Trung, qua Phong Thổ, Đông Pao đến phía nam Đứt gãy này có các phun trào mafic thuộc
hệ tầng Viên Nam, phun trào bazơ hệ tầng Pu Tra và các xâm nhập kiềm phức hệ
Pu Sam Cáp
* Đứt gãy Sông Đà: Đứt gãy này chạy dọc theo bờ trái (tả ngạn) sông Đà,
dọc theo thung lũng suối Nậm Quế và suối Nậm Mạ, qua Nậm Nga, Phìn Hồ kéo dài về phía Tây Bắc, tới biên giới Việt – Trung Dọc theo đứt gãy còn có các phun trào mafic hệ tầng Viên Nam, tại Huổi Lá có sụt hố nhỏ với trầm tích chứa than hệ tầng Suối Bàng Về địa mạo, dọc theo đứt gãy hình thành các thung lũng hẹp: Nậm Quế, Pa Há…kèm theo chúng còn có các suối nước nóng
* Đứt gãy Sơn La: Đới đứt gãy này gồm có một số đứt gãy gần như song
song, chạy từ phía đông cao nguyên Tà Phìn, từ Tả Sìn Thàng qua Ca Sin Chải, đến biên giới Việt – Trung Dọc theo hệ thống đứt gãy có phun trào mafic tuổi Pecmi
Trang 22muộn – Tiriat sớm xuất hiện ở vùng Hồng Thu, xâm nhập kiềm tuổi Paleogen ở Ma
Lu Thàng
* Đứt gãy Mè Giảng – Nà Hừ: Đứt gãy này có vị trí ở phía tây bắc của tỉnh
và hướng cắm về phía đông (hướng á kinh tuyến) Dọc theo đứt gãy có các thân xâm nhập thuộc phức hệ Điện Biên
Ngoài ra, Lai Châu còn có các đứt gãy nhỏ khác là bộ phận thuộc các đứt gãy chính trên như: đứt gãy Mường Tè (Mè Giảng - Nà Hư), đứt gãy Pac Ma, đứt gãy Nậm Chà, đứt gãy Mường Toong, đứt gãy Nậm Sa, đứt gãy Nậm Pô…
2.2.2 Các nham thạch chính của Lai Châu
Từ lịch sử và đặc điểm địa chất đã phân tích ở trên, về nham thạch Lai Châu theo Hoàng Xuyên và nnk có 3 loại nham thạch chính là: đá Macma, đá Vôi và
Diệp thạch [Đặc điểm thủy văn tỉnh Lai Châu tr13]
Macma: đây là các loại đá kiến tạo, hình thành từ quá trình địa chất macma
và núi lửa, nên chúng thường xuất hiện ở những khu vực kiến tạo lớn như ở phía bắc và đông bắc của tỉnh, đó cũng chính là những khu vực núi cao, đồ sộ được cấu tạo bởi đá Granite cứng, rắn chắc vì vậy tạo nên các dạng địa hình sắc sảo, nhọn và
có nhiều khe nứt
Đá vôi: loại nham thạch này có mặt chủ yếu ở trên cao nguyên Tà Phìn và Sín Trải, ngoài ra còn nằm rải rác ở một số khu vực khác của tỉnh Loại nham thạch này bị phong hóa mạnh, nhất là trong điều kiện khí hậu của Lai Châu là nhiệt đới lượng mưa lớn nên hoạt động kastơ diễn ra mạnh mẽ, tạo ra nhiều dạng địa hình kastơ Đặc biệt là với hình thức canh tác của một số dân tộc thiểu số, dạng địa hình của nham thạch này càng trở nên cực đoan và mất dần lớp phủ thổ nhưỡng
Diệp thạch: đây là loại nham thạch phổ biến của Lai Châu, bao gồm các loại như diệp thạch sút, diệp thạch than, diệp thạch sét… các loại nham thạch này xuất hiện hầu hết ở các địa phương của tỉnh
Ngoài ra, còn một số loại đá khác như: sa thạch than, cuội kết, dăm kết, sỏi kết, phiến thạch… nhưng không nhiều lắm Nếu chúng ta phân loại theo đặc điểm
Trang 23của từng loại đá, theo Báo cáo tổng kết điều tra khoáng sản – tai biến địa chất Lai Châu 2006, thành tạo địa chất đá Lai Châu được chia thành 14 nhóm
2.2.3 Tài nguyên khoáng sản Lai Châu
Theo kết quả điều tra của dự án điều tra tổng thể tài nguyên khoáng sản – tai biến địa chất tỉnh Lai Châu năm 2006, cho đến nay, Lai Châu đã đăng kí được 169
mỏ và điểm quặng thuộc 6 nhóm và phân bố như sau:
* Nhóm nguyên liệu cháy: trên địa bàn tỉnh Lai Châu đã xác định được 4
điểm thuộc nhóm nguyên liệu cháy – than đá là: Nậm Than, Huổi Lá, Vàng Sôn và Kan Hồ Các vỉa và thấu kính than nằm ở hệ tầng Suối Bàng, bên trên các lớp than
là các lớp trầm tích bột kết phân lớp mỏng, còn bên dưới là cá lớp cát kết màu xám Than đá có màu nâu, ánh kim, sờ bẩn tay, có chỗ nát vụn
* Nhóm Kim loại: đây là nhóm có số lượng và trữ lượng thuộc loại phong
phú nhất, bao gồm các loại như: sắt, đồng, chì – kẽm, vàng, Molybden, thiếc, phóng xạ, đất hiếm
* Nhóm không kim loại: Lai Châu có 3 loại khoáng sản không kim loại là đá
quý – đá bán quý, pyrit và cao lanh
* Nhóm nguyên liệu hóa: trong tỉnh Lai Châu mới chỉ phát hiện 2 nhóm
khoáng sản thuộc nhóm này là barit và potat – xút
* Nhóm vật liệu xây dựng: nhóm khoáng sản này bao gồm các loại là đá ốp
lát, đá vôi, đá phiến, sét gạch ngói, cuội sỏi – cát
* Nhóm nước nóng – nước khoáng: nước nóng và nước khoáng của Lai
Châu khá phong phú và đa dạng, chất lượng tốt Hiện nay đã xác định được 21 điểm nước nóng và nước khoáng như: Nà Ban, Tả Pao Hồ, Vàng Bó, Nậm Ngà,…, các mỏ nước nóng và nước khoáng hầu hết là nguồn nước chảy xuống từ các đứt gãy lớn và có nhiệt độ từ 40 đến 700C, thành phần khoáng chủ yếu là bicabonat, natri – kali, có tác dụng trong việc chữa bệnh, du lịch và phơi sấy nông sản
Trang 242 3 Địa hình địa mạo
2 3 1 Đặc điểm địa hình Lai Châu
Cấu trúc địa hình với các hướng sơn văn, hướng sườn và các dạng địa hình lớn, nhỏ sẽ tác đồn đến tác động đến các khối khí, làm phân bố lại chế độ nhiệt -
ẩm, từ đó sẽ làm thay đổi các thành phần và đặc trưng khác trong các thành tố tự nhiên và làm thay đổi đặc trưng địa phương Như vậy, địa hình là nhân tố trong sự phân hóa mang tính phi địa đới, ảnh hưởng đến sự phân hóa địa phương của tự nhiên, làm cơ sở cho sự phân hóa đa dạng tự nhiên của các hệ thống lãnh thổ nhỏ
Lai Châu nằm trong khu vực tây bắc Việt Nam, có cấu trúc chủ yếu là núi đất, xen kẽ là các dãy núi đá vôi có dạng địa chất castơ tạo nên các hang động và sông suối ngầm Đặc biệt, mức độ hoạt động kiến tạo rất mãnh liệt xảy ra trong những giai đoạn khác nhau gây nên những đứt gãy lớn, uốn nếp và lún sụt nhiều Địa hình của Lai Châu rất phức tạp và đa dạng, cấu trúc địa hình mang tính chất miền núi, núi trung bình là phổ biến và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh Núi ở đây bị bào mòn mạnh, tạo thành những bán bình nguyên rộng lớn với chiều dài hàng trăm kilômét Ngoài ra còn có dạng địa hình thung lũng, sông, suối, bãi bồi, hang động Kastơ, hố sụt võng và chịu ảnh hưởng hoạt động của Tân kiến tạo
Địa hình Lai Châu với đặc điểm chính là địa hình là núi và cao nguyên, bị cắt
xẻ mạnh, có độ chia cắt sâu và ngang lớn Phía tây, tây bắc tỉnh là dãy Hoàng Liên Sơn chạy dài gần 80km, với đỉnh Phan Xi Păng cao nhất nước ta (cao 3.143m) Phía đông, đông bắc tiếp giáp với dãy núi sông Mã với độ cao 1.800m, và Mường Nhé – Điện Biên qua phần đất thuộc vùng núi thấp, tương đối rộng và lưu vực sông
Đà, ở đây có các cao nguyên đá vôi dài 400km, rộng từ 1 – 25km, cao 600 – 1.000m Phía bắc có đỉnh Pu Si Lung cao 3.076m, trên 90% diện tích có độ dốc trên 25º, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam, xen kẽ là các thung lũng có địa hình tương đối bằng phẳng như Mường So, Tam Đường, Bình Lư, Than Uyên…Nhìn chung, Lai Châu có đặc điểm cấu trúc địa hình
là núi thấp dần và đổ dồn xuống các sông và suối lớn, núi non xen kẽ với các thung
Trang 25lũng sông, khe suối và các bồn địa úi đồi cao và dốc, các thung lũng sâu và hẹp có nhiều sông suối, nhiều thác ghềnh, dòng chảy lưu lượng lớn lên có tiềm năng về thuỷ điện
* Đặc điểm sơn văn: hệ thống sơn văn của Lai Châu có thể chia thành 4 loại
chính: vùng núi cao, vùng núi trung bình, núi thấp và cao nguyên
Núi cao: Phân bố ở phía bắc và tây bắc, kéo dài theo phương tây bắc – đông nam, dọc biên giới Việt – Trung như: Pu Si Lung, Pu Đen Đing, Pu Sam Sao các núi được cấu tạo từ đá xâm nhập, địa hình mang sắc thái của vùng núi kiến tạo
- xâm thực với sống núi hẹp, các đỉnh có độ cao 2.000 – 3.000m Sườn núi chủ yếu phát triển quá trình xâm thực, bóc mòn xâm thực và đổ lở Hiện tại sườn của các khối núi bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, và các dòng chảy tạm thời
Vùng núi trung bình: đây là các vùng núi uốn nếp nằm ở độ cao 1.000 – 2.000m, là các dãy núi song song trải rộng lại bị chia cắt đã tạo nên các cánh núi rừng trùng điệp, đây là dạng địa hình núi phổ biến của vùng Địa hình đang bị chia cắt bởi hoạt động xâm thực của sông Đà và hệ thống phụ lưu của nó Quá trình ngoại sinh chủ yếu là xâm thực, bóc mòn và bóc mòn tổng hợp Hiện tại, dạng địa hình chủ yếu là các dạng sườn trọng lực với đường phân thuỷ thoải hẹp Bề mặt san bằng 1.000 – 1.500m còn giữ lại được với các mảnh bằng khá rộng Hệ thống sông suối có hai hướng chảy chính: hướng chảy tây bắc - đông nam phù hợp với hướng cấu trúc địa chất, và hướng chảy đông bắc - tây nam cắt qua phương cấu trúc địa chất và đổ vào sông Đà
Núi thấp: là các địa hình dạng đồi, núi thấp có độ cao dưới 1 000m, đây cũng là loại địa hình phổ biến của tỉnh, vì Lai Châu là địa hình miền núi, dạng khối tảng, lại có khí hậu nhiệt đới, lượng mưa khá phong phú nên ngoại sinh khá phát triển, cắt xẻ và hạ thấp địa hình, làm cho các dạng đồi núi thấp cũng khá phổ biến, dạng địa hình này phân bố hầu hết tại các địa phương trong tỉnh, và cũng là một trong những dạng địa hình được sử dụng mạnh mẽ trong các hoạt động kinh tế
Trang 26Cao nguyên: Lai Châu có cao nguyên Tà Phìn – Sín Chải với độ cao 1 100 –
1 300m, nằm kẹp giữa lưu vực sông Đà và dãy Hoàng Liên Sơn, có hướng Tây Bắc – Đông Nam, đây là cao nguyên đá vôi đồ sộ, có bề mặt kém bằng phẳng Phía bắc của cao nguyên Tà Phìn có địa hình hiểm trở, hang động kastơ phát triển, đôi khi còn gặp cả hang động dạng suối ngầm, phía nam địa hình mềm mại hơn Cao nguyên là địa bàn cư trú của một số dân tộc thiểu số như H’Mông, Dao, Hà Nhì… Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, độ ẩm cao, rừng phát triển và che phủ thì cao nguyên sẽ giảm bớt mức độ chia cắt và tính chất hoang vu, nhưng do sự khái thác không hợp lí của người dân nơi đây, rừng bị tàn phá mạnh mẽ, nhiều nơi ngoại sinh bóc mòn, rửa trôi làm trơ đá gốc, kết hợp với cường độ và mức độ chia cắt của ngoại sinh tăng cường thêm cảnh tượng hoang vu và hùng vĩ cho cao nguyên này
Dạng địa hình đồi và đồng bằng: Địa hình đồi và đồng bằng chiếm diện tích nhỏ, nằm ở rìa xen kẽ giữa những dãy núi cao là các đồi sót liền kề với các thung lũng hoặc các lòng chảo có địa hình tương đối bằng phẳng như: Mường So, Tam Đường, Bình Lư, Than Uyên, Sìn Hồ thích hợp cho sản xuất lương thực, nhưng diện tích không lớn Kiểu địa hình đồi có dạng bát úp, là dạng địa hình mềm mại,
độ dốc nhỏ, vỏ phong hóa dày, phân bố chủ yếu ở các thung lũng Mường Nhé, Bình Lư, Tam Đường, Nậm Mạ Các đồng bằng chủ yếu chạy dọc thung lũng sông suối, là kết quả của quá trình bồi tụ, Lai Châu có các đồng bằng bồi tụ thung lũng như: Sìn Hồ, Bình Lư, Than Uyên
* Phân chia khu vực địa hình: trên tổng thể địa hình ta có thể phân chia địa
hình thành 3 khu vực khu tây – tây bắc, khu dông – đông nam và khu vực trũng thấp gần ở trung tâm
Khu vực tây – tây bắc: đây là hệ thống đối núi cao thuộc bộ phận kéo dài của
hệ thống hoàng Liên Sơn, ở đây địa hình có hướng tây bắc – đông nam chung của
hệ thống địa hình núi Lai Châu Hướng địa hình thoải nhanh theo hướng tây – đông
và thấp dần theo hướng tây bắc – đông nam Phía tây, tây bắc có các đỉnh núi cao thuộc dãy Hoàng Liên Sơn đó là: Phan Xi Păng, Pu Sam Cáp,… Pu Si Lung
Trang 27Khu vực đông – đông bắc: đây là phần địa hình khá cao, là hệ thống núi chạy dọc theo thung lũng sông Đà, tiếp giáp với Mường Nhé Điện Biên và qua đó tiếp giáp với hệ thống núi Sông Mã Địa hình cũng có hướng phù hợp với hướng của sông Đà là hướng tây bắc – đông nam, chạy từ Mường Tè (biên giới Việt Nam – Trung Quốc) cho đến Mường Lay, tiếp kề với hệ thống núi phía tây qua sông Nậm
Na Địa hình có đặc điểm là sườn phía đông, tiếp xúc với sông Đà, có sườn dốc, các vách đá dựng đứng, nên càng tạo ra cho khu vực này cảnh tượng hoang vu, hùng vĩ Càng sang phía tây, địa hình càng mềm mại hơn, chúng thuộc các hệ thống núi đất sa thạch, diệp thạch Xu thế địa hình cũng có hướng thấp dần từ đông bắc xuống tây nam
Khu vực trũng thấp gần ở trung tâm: đây là khu vực có địa hình thấp nhất của Lai Châu, khu vực này rải rác theo địa hình lẹp giữa hai khu vực núi phía đông
và tây, thực chất đây là các khu vực đồng bằng bãi bồi, vùng trũng giữa núi, bao gồn các khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng như Mường So, Tam Đường, Bình Lư, Than Uyên… đây cũng chính là nơi tập trung dân cư, sản xuất của tỉnh Đáng chú ý nhất là đồng bằng Than Uyên, đây là một sụt võng Kastơ được tích tụ trầm tích hàng năm, tạo nên một đồng bằng trù phú và là một trong bốn cánh đồng nổi tiếng của khu vực Tây Bắc
2.3.2 Đặc điểm địa mạo Lai Châu
Địa mạo là bề mặt địa hình, là nơi mà các quá trình địa chất, địa lí biểu hiện Địa mạo của Lai Châu được tạo thành từ các hoạt động ngoại sinh trên nền địa hình miền núi, vì vậy theo đặc điểm đó địa mạo Lai Châu có hai dạng hoạt động khác nhau là bóc mòn và tích tụ Bóc mòn sẽ xảy ra ở các khu vực địa hình núi, trên các sườn địa hình và khu vực núi đá vôi Ngược lại địa hình tích tụ sẽ xảy ra ở các vùng thung lũng, trũng của địa hình
- Hoạt động bóc mòn: bóc mòn diễn ra ở các sườn dốc, địa hình núi, kết hợp với điều kiện bóc mòn Lai Châu có các địa hình bóc mòn sau:
Trang 28+ Sườn bóc mòn trọng lực: phân bố chủ yếu ở trên các dãy núi cao, các sống núi sắc nhọn và không liên tục, tại đây các hoạt động bóc mòn trọng lực diễn ra mạnh mẽ Ở những khu vực này, nếu kết hợp với hoạt động khai thác lớp phủ thực vật rừng không hợp lý, trong hoàn cảnh khí hậu ẩm mưa nhiều, phân hóa theo mùa rất dễ xảy ra hiện tượng đất đá lở, lũ quét
+ Sườn bóc mòn – xâm thực và xâm thực – bóc mòn: là dạng phổ biến và phân bố rộng ở tỉnh, thường có ở các dãy núi cao, sườn dốc, đường phân thủy sắc nhọn, thảm thực vật không dày lắm, nếu không khai thác và sử dụng hợp lí lớp phủ rừng thì sẽ dẫn đến sự mất cân bằng tự nhiên, tạo điều kiện cho các hoạt động xói mòn, rửa trôi, tạo điều kiện cho các tai biến địa chất, địa lí, lũ quét xảy ra
+ Sườn bóc mòn tổng hợp: phân bố trên các núi trung bình đến núi cao, độ dốc sườn từ hơi dốc đến dốc, đường phân thủy chủ yếu là tròn, thoải là chủ yếu thảm thực vật là rừng thưa, rừng trồng, trảng cỏ, cây bụi hoặc đất trống, đồi trọc Trên dạng địa hình này rất dễ xảy ra các hiện tượng tai biến xói mòn bề mặt, trượt đất, lũ lụt, lũ quét, lũ bùn…
+ Sườn bóc mòn trên các đá dễ hòa tan: phát triển trên các sườn có cấu tạo từ các đá vôi dễ hòa tan Ở các khu vực này, thường có diện phân bố hẹp, chỉ có ở những khu vực đá vôi xuất hiện Sườn có trắc diện phẳng, ngắn, bị phân cắt bởi các khe rãnh và sông suối không liên tục Trên bề mặt đôi nơi còn có các phễu Kastơ hoặc các vùng trũng, hố sụt Thảm thực vật rừng không dày lắm, nếu khai thác quá mức như hiện nay, rất dễ làm nảy sinh hiện tượng tai biến địa chất, mất đất, mất nước trên bề mặt, khan hiếm nước ngầm
+ Sườn bóc mòn – rửa trôi: có diện phân bố hẹp ở các vùng đồi núi thấp, khu vực có địa hình lượn sóng, thoải Sườn thoải, lớp phủ thực vật khá dày, nhưng đây cũng chính là khu vực đang bị khai thác mạnh mẽ vì vậy hiện tượng bóc mòn, rửa trôi xảy ra mạnh mẽ, nguy cơ mất đất canh tác, tai biến địa chất là rất cao
+ Bề mặt kastơ - bóc mòn: là các bề mặt cao nguyên bóc mòn, đây là dạng địa hình cao nguyên, phân bố ở các vùng cao nguyên Tà Phìn, Sín Trải Ở vùng
Trang 29này, thảm thực vật nguyên sinh khá dày, nhưng bị khai thác mạnh nên hiện tượng
ăn mòn, rửa trôi diễn ra khá mạnh
- Hoạt động tích tụ: phong hóa, vận chuyển của hoạt động ngoại sinh, một phần đã vận chuyển sản phẩm phong hóa đi khỏi địa bàn của tỉnh, nhưng cũng vận chuyển một phần lớn xuống các bề mặt vùng trũng thấp của địa hình, theo quy luật tích tụ ở đỉnh - sườn – chân
+ Bề mặt tích tụ hỗn hợp aluvi – proluvi – deluvi: phân bố rải rác trong các vùng rìa hoặc vùng trũng, thung lũng giữa núi Diện phân bố hẹp, dạng dải, độ dốc nhỏ, đôi nơi còn là dạng biểu hiện của nón phóng vật Lớp phủ thổ nhưỡng mỏng, đây thường là khu dân cư hoặc canh tác, đồng thời cũng là những khu vực dễ xảy ra hiện tượng đá rơi, đất trượt từ trên xuống, lũ lụt, lũ ống, lũ quét từ các dòng chảy sông suối dâng lên
+ Bề mặt tích tụ hỗn hợp aluvi – proluvi: phân bố rải rác ở các vùng trũng, thung lũng sông suối giữa núi, diện phân bố hẹp, dạng trũng giữa núi Địa hình khá bằng phẳng, hơi nghiêng về phía lòng sông suối hoăc nơi trũng Lớp phủ thổ nhưỡng không dày lắm, ở đây là các khu dân cư, đường giao thông, đất canh tác…, khu vực này cũng dễ xảy ra hiện tượng đá rơi, đất trượt từ trên xuống, lũ lụt, lũ ống, lũ quét từ các dòng chảy sông suối dâng lên
+ Bề mặt tích tụ aluvi: có diện phân bố chủ yếu ở các thung lũng sông như sông Đà, sông Nậm Na, sông Nậm Mu,…tích tụ đạng bãi bồi, thềm có độ cao khác nhau, địa hình bằng phẳng Đây là khu vực quần cư hoặc là nơi canh tác sản xuất,
là khu vực dễ bị ảnh hưởng của lũ lụt
Theo sự phân tích ở trên ta thấy, nền rắn với đặc điểm địa hình của Lai Châu vừa có tính thống nhất, vừa có sự phân hóa Cấu trúc địa hình chủ yếu là địa hình miền núi, các núi và cao nguyên, bị cắt xẻ mạnh, có độ chia cắt sâu và ngang lớn tạo nên kiểu cảnh quan vùng núi chung cho tỉnh Sự thống nhất lại bị phân hóa theo các yếu tố địa hình và quá trình địa mạo (bóc mòn, tích tụ), làm cho cảnh quan Lai
Trang 30Châu lại được phân hóa thành các lớp cảnh quan theo cấu trúc địa hình là lớp cảnh quan núi, cao nguyên, và cảnh quan đồng bằng thung lũng tích tụ giữa núi
2.4 Khí hậu
Nhân tố quan trọng thứ hai trong việc thành tạo và quyết định tự nhiên là khí hậu, với nền nhiệt - ẩm và hệ thống hoàn lưu, khí hậu là nhân tố đem lại màu sắc và đặc trưng cho các loại hình tự nhiên các cấp
Căn cứ trên các bản đồ về khí hậu và dựa trên số liệu của các trạm khí tượng Lai Châu (xem bảng 1), đây là các trạm đã xây dựng và đang hoạt động, có số liệu
về khí hậu thủy văn của Lai Châu
Bảng 1: Các trạm khí tượng hiện đang hoạt động của Lai Châu
2 Điện biên Điện biên 1958 T0kk, X, W, e, P, N
3 Tuần Giáo Tuần Giáo 1960 T0kk, X, W, e, N
4 Mường Tè Mường Tè 1960 T0kk, X, W, e, N
5 Phong Thổ Phong Thổ 1960 T0kk, X, W, e, N
7 Tủa Chùa Tủa Chùa 1960 T0kk, X, W, e, N
Nguồn: Đặc điểm thủy văn Lai Châu 2013, Tr22
Trang 31tuyến, khí hậu điển hình của vùng nhiệt đới núi cao vùng Tây Bắc có ngày nóng, đêm lạnh, ít chịu ảnh hưởng của bão Khí hậu trong năm chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng IV đến tháng X có nhiệt độ và độ ẩm cao; mùa khô bắt đầu tư tháng XI đến tháng III năm sau, khí hậu lạnh, độ ẩm và lượng mưa thấp Nhiệt độ không khí bình quân năm là 22,250C, lượng mưa bình quân hàng năm từ 2.500 - 2.700mm, phân bổ không đều, mưa lớn tập trung vào tháng XI, XII, XIII chiếm đến 80% lượng mưa cả năm, các tháng khô hạn bắt đầu từ tháng XII năm trước đến tháng III năm sau Đây là khu vực chịu ảnh hưởng của gió Tây và Đông nam, ít chịu ảnh hưởng của bão và gió mùa Đông Bắc Ngoài ra còn có mưa đá, gió lốc thường xảy ra vào đầu mùa mưa với tần suất xuất hiện trung bình 1,3 - 1,5 ngày/năm, có xuất hiện sương muối vào mùa đông, cá biệt còn có tuyết tại các vùng núi cao
Vùng có độ cao trung bình từ 300m đến 700 - 800m, bao gồm các thung lũng
ở thượng nguồn và các vùng núi thấp, nhiệt độ ở đây đã giảm khoảng 2 – 30
C Vùng núi cao bao gồm những dãy núi có độ cao từ 700 - 800m trở lên, tập trung chủ yếu ở phía Tây Bắc và biên giới Việt - Trung So với vùng thấp, nhiệt độ trung bình đã giảm 4 – 50C ở độ cao 1.000m, đến độ cao 1.500m thì nhiệt độ không
Trang 32khí trung bình năm vào khoảng 160C, tương ứng với tổng nhiệt năm là 4.3000
C (xem bảng 2)
Bảng 2: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm ( 0
Nguồn: Viện Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường
Mùa đông nhiệt độ tương đối cao so với các vùng núi khác ở Bắc bộ Tháng
có nhiệt độ thấp nhất trong năm là tháng I, với nhiệt độ trung bình khoảng 170
C vùng thấp, 14–150C ở độ cao 500-700m và 130C ở độ cao 1 000m, 100C ở độ cao 1 500m Nhiệt độ tối thấp trung bình trong tháng này có thể xuống tới 13-13,50C ở vùng thấp, 90C ở độ cao 1.000m và 60C ở độ cao 1.500m
Mùa nóng ở những vùng thấp kéo dài 5 tháng, từ tháng V đến tháng IX với nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng 25,5-26,60
C Lên đến độ cao 700-800m hầu như không còn mùa nóng nữa, nhiệt độ trung bình trong các tháng này dao động trong khoảng 22–230C và đến độ cao 1.500m thì quanh năm là mùa lạnh, nhiệt độ trung bình trong các tháng đều dưới 200
C
2.3.2 Chế độ mưa, ẩm
* Chế độ mưa: Lai Châu là tỉnh có lượng mưa khá lớn trong cả nước, lượng
mưa bình quân hàng năm từ 2.500 - 2.700mm, phân bổ không đều, mưa lớn tập trung vào tháng 6,7,8 chiếm đến 80% lượng mưa cả năm.Các tháng khô hạn bắt đầu từ tháng XII năm trước đến tháng III năm sau
Chế độ mưa có sự phân hoá rõ rệt thành hai mùa.Mùa mưa trùng với mùa gió mùa mùa hạ, trung bình kéo dài 7 - 8 tháng (từ tháng IV đến tháng X và tháng XI ở trung tâm mưa lớn với lượng mưa trên 3.000mm).Tổng lượng mưa mùa mưa chiếm
Trang 3389-95% lượng mưa toàn năm ở vùng có lượng mưa trên 2.000mm, và 78 - 87% ở vùng có lượng mưa <2.000mm.Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VII, với lượng mưa trung bình dao động trong khoảng 450 - 750mm ở vùng có lượng mưa trên 2.000mm/năm và 340 - 400mm ở vùng có lượng mưa <2.000mm.Các tháng còn lại trong mùa mưa có lượng mưa trung bình dao động trong khoảng 100mm đến trên 300mm/tháng
Mùa ít mưa trùng với thời kỳ mùa gió mùa Đông bắc trong mùa đông, nhìn chung mùa ít mưa kéo dài từ tháng XI đến tháng III.Trong đó tháng I và tháng II là hai tháng ít mưa nhất với lượng mưa <40mm/tháng ở khu vực có lượng mưa từ 2.000mm/năm trở lên và <30 mm/tháng ở khu vực có lượng mưa <2.000 mm/năm trở xuống với tổng lượng mưa hai tháng này chiếm 2 - 4% tổng lượng mưa năm
2.3.3 Chế độ gió
Hướng gió thay đổi từng nơi phụ thuộc mạnh mẽ vào dạng địa hình nhỏ của khu vực, ở những nơi thoáng gió, mùa đông thịnh hành gió Đông bắc với tần suất
10 - 15%; mùa hè thịnh hành gió Tây Nam với tần suất 8 - 11% Tần suất lặng gió
ở khu vực lớn, dao động trong khoảng 47 - 60% Trong các thung lũng, gió thường thổi theo hướng thung lũng có khi đối lập với hướng hoàn lưu chung Ở Mường Tè, quanh năm gió thường thổi theo hướng tây và tây bắc với ưu thế tuyệt đối 60 - 80% Tốc độ gió trong các thung lũng thường nhỏ 0,5 - 0,8m/s
Bảng 3: Tốc độ gió trung bình tháng và năm (m/s)
STT Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Trang 34Nhân tố thủy văn có vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa vật chất trong
tự nhiên, nó cũng là một trong những thành tố góp phần tạo nên tính chất của tự nhiên các cấp ở các đơn vị cảnh khác nhau Thủy văn của Lai Châu khá đa dạng và phong phú, phân hóa thành hai loại là nước trên mặt và nước dưới đất
Dựa trên số liệu của các trạm thủy văn Lai Châu, đây là các trạm đã xây dựng và hiện đang hoạt động, có số liệu về khí hậu - thủy văn của Lai Châu (xem
bảng 5)
Bảng 5: Các trạm thủy văn đang hoạt động ở Lai Châu
STT Trạm Sông Huyện Năm bắt đầu Yếu tố quan trắc
Trang 35, trong
đó đa phần các sông, suối lớn đều có nước chảy quanh năm Tổng lượng dòng chảy năm toàn tỉnh khoảng 16,87 triệu m3, phân bố giảm dần từ bắc xuống nam
* Đặc điểm các lưu vực sông
Lưu vực Sông Đà Lưu vực sông Đà có diện tích 52.500km2
trong đó thuộc phần lãnh thổ Việt Nam có diện tích 27.000km2, chiếm 51,4% bao gồm phần trung
và hạ lưu sông Bắt nguồn từ độ cao 2 440m của vùng núi Ngụy Sơn thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), sông Đà có chiều dài dòng chính là 980km (trong đó thuộc lãnh thổ Việt Nam là 540km) đổ vào dòng chính sông Hồng tại Trung Hà (Phú Thọ) Lưu vực sông Đà có dạng hình thuôn dài, chạy dọc theo thung lũng sâu của các dãy núi cao với chiều dài lưu vực 690km và chiều rộng bình quân lưu vực 76km (chiều rộng lưu vực lớn nhất 165 km thuộc về trung lưu)
Nậm Mạ là lưu vực nằm kẹp giữa sơn nguyên Tà Phìn (phía tây), dãy Pusamcap (phía đông) và sơn nguyên Sín Chải (phía nam) Độ cao trung bình của lưu vực 785m, cao nhất là 2.547m thuộc đỉnh Pu Sam Cap, độ dốc trung bình ở đây cũng thấp hơn các lưu vực tả ngạn sông Đà khác, hơn 170
Sông Nậm Mạ có tổng lượng dòng chảy năm là 4 100x106
m3, diện tích lưu vực khoảng 930km2, chảy qua các vùng thấp của huyện Sìn Hồ, độ dốc khá nhỏ, lưu lượng dòng chảy trung bình
Trang 36Lay, Nậm Na, Nậm Rốm, Nậm Pô) đã xảy ra nhiều lần lũ quét thì tại đây vẫn chưa
có trận lũ quét nào xảy ra, song đến ngày 3 tháng 10 năm 2000, trận lũ quét đầu tiên được ghi nhận đã xuất hiện ở bản Nậm Coóng - xã Nậm Cuổi (Sìn Hồ)
Nậm Mu là lưu vực có diện tích nhỏ nhất, gần 52.672ha, chiếm 3,11% diện tích toàn tỉnh, là phần thượng nguồn của suối Nậm Mu, phần lớn lãnh thổ còn lại của lưu vực chảy trong địa phận tỉnh Lào Cai, được giới hạn bởi dãy Phanxipăng (phía đông) và dãy Pusamcap (phía tây), ở giữa là thung lũng Bình Lư hiện là vùng chè tập trung của Lai Châu Sông Nậm Mu có tổng lượng dòng chảy năm là 4.144x106m3, chảy dọc thung lũng Bình Lư, Than Uyên, chiều dài sông chính khoảng 121km, diện tích lưu vực khoảng 2 620km2
Nậm Na là phụ lưu lớn nhất bên tả ngạn của sông Đà, phần lớn diện tích lưu vực thuộc sơn nguyên đá vôi Tà Phìn, Ma Lù Thàng và hơn một nửa diện tích sườn tây dãy Phan Xi Păng Độ cao trung bình của lưu vực đạt 1.088m, cao nhất thuộc dãy Phan Xi Păng Sông nậm Na bắt nguồn từ vùng núi cao trên 1.500m ở Trung Quốc, tổng diện tích lưu vực đạt 6.680km2, chiều dài là 235km
Lưu vực Nậm Bum là sườn phía nam dãy Pu Si Lung, độ cao trung bình trên 1.100m, độ cao lớn nhất là 2.995m, hơn 4/5 diện tích thuộc 3 đai cao: 600–1.000; 1.000–1.500 và trên 1.500m Đây là lưu vực có độ dốc trung bình lớn nhất tỉnh (trên 230), 64,55% diện tích có độ dốc từ 15 đến 350, độ dốc dưới 80
chỉ chiếm hơn 9% diện tích toàn lưu vực
Các lưu vực hữu ngạn sông Đà gồm Nậm Pô, Nậm Mức, Nậm Lay đều thuộc vùng có lượng mưa năm nhỏ nhất tỉnh, từ 1.600 đến 2.400 mm/năm, lượng mưa tăng dần từ nam lên bắc (Nậm Pô có lượng mưa năm lớn hơn Nậm Lay và lớn hơn Nậm Mức) Địa hình phần lớn là núi trung bình và núi thấp (Theo Vũ Tự Lập: núi trung bình có độ cao từ 500 đến 1.500m), cấu tạo chủ yếu bằng đá phiến, sa thạch
và cuội kết, độ dốc trung bình từ 15 đến 190, độ dốc từ 150
đến 250chiếm gần 1/3 diện tích mỗi lưu vực Ngoài các lưu vực chính của Lai Châu trên, tỉnh còn có nhiều sông suối khác như: Nậm Củm, Nậm Phì Hồ, Nậm Cầy, Nậm So, Nậm Tăm,
Trang 37Nậm Ban, Nậm Cuổi, Nậm Chắt, Nậm Hồ, Nậm Sạp… các sông suối này đều mang đặc điểm chung của sông ngòi Lai Châu, là các sông suối có lòng chảy hẹp, ngắn dốc và lắm thác ghềnh, tốc độ xâm thực rất mạnh
* Đặc điểm thủy chế sông ngòi Lai Châu
Do đặc điểm khí hậu và địa hình, thủy chế sông ngòi Lai Châu cũng mang đặc điểm tương đồng Thủy chế sông ngòi Lai Châu phân thành hai mùa, mùa lũ trùng với mùa mưa và mùa cạn trùng với mùa khô
- Mùa lũ: mùa lũ ở Lai Châu kéo dài từ tháng VI đến tháng X, có lượng dòng
chảy chiếm 78,6% lượng dòng chảy năm và lưu lượng trung bình mùa lũ là 1 610m3/s đây là những lưu vực sông có tỷ lệ dòng chảy mùa lũ cao của nước ta Ba tháng có lượng dòng chảy lớn nhất (VII - IX) chiếm 58% lượng dòng chảy năm với moduyn trung bình đạt 76,2 l/s/km2
, trong đó tháng có lượng dòng chảy lớn nhất (tháng VIII) chiếm tới 22,8% lượng dòng chảy năm, moduyn dòng chảy tháng lớn nhất là 89,8l/s/km2
- Mùa kiệt: Các dãy núi chạy song song thuận lợi cho gió mùa Tây Nam đi sâu
vào thung lũng sông Đà, đó cũng là nguyên nhân ngăn cản sự ảnh hưởng của các hoàn lưu Đông Bắc tới lưu vực trong mùa kiệt Lượng mưa trong mùa khô trên lưu vực sông của Lai Châu nhỏ, chỉ chiếm 13,8% lượng mưa năm và liên tục từ tháng XII tới tháng III lượng mưa nhỏ hơn 50 mm/tháng Lượng nước trong sông phụ thuộc vào dòng chảy ngầm, nhưng ở đây tỷ lệ dòng chảy ngầm so với dòng chảy toàn phần không cao (chiếm 28%) Tháng IV có dòng chảy nhỏ nhất có moduyn dòng chảy trung bình 6,5l/s/km2, chiếm 1,65% lượng dòng chảy năm Giá trị moduyn dòng chảy mùa kiệt trên lưu vực thuộc vào loại thấp nhất ở miền Bắc
* Hệ thống ao, hồ
Hệ thống ao, hồ của Lai Châu khá ít và rải rác theo các khu vực dân cư (do đặc điểm địa hình của tỉnh), phần lớn là các ao hồ nhỏ để tích nước và nuôi cá của nhân dân, đáng kể là các hồ: Hồ Hoàng Hồ, Pa Khóa, Đông Pao, Nậm Mạ Dao
Trang 38Lai Châu, Bản Chát, Huội Quảng…, các công trình này đã và đang hình thành những vùng hồ nước lớn, không chỉ có giá trị thủy điện mà còn là nguồn nước mặt cung cấp cho các hoạt động dân sinh, xản xuất, du lịch và giao thông vận tải đường thủy của Lai Châu
2.5.2 Nước ngầm
Nước ngầm hay là nước dưới đất của Lai Châu được đánh giá là phong phú và giàu, nhưng hiện nay việc khai thác và sử dụng còn hạn chế, lí do là do thói quen của người dân còn chưa sử dụng khai thác loại nước này Nếu sử dụng, thì cũng chỉ dẫn chuyền bằng đường ống tre, nhựa về hoặc hứng gùi tại các điểm lộ nước ngầm mang
về để sử dụng
Theo dự án điều tra tổng thể tài nguyên khoáng sản và tai biến địa chất Lai Châu, nếu không tính đến nước nóng nước khoáng, nước ngầm được phân thành 2 loại, nước lỗ hổng và nước khe nứt
2.6 Thổ nhƣỡng
Thổ nhưỡng có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phân hóa tự nhiên,
“đất được ví như tấm gương phản ảnh tự nhiên, vì đây là nhân tố duy nhất chỉ ra
mối tương tác giữa thành phần sống và không sống” Đất là nhân tố luôn được xem
xét trong các cấp phân vị tự nhiên, bởi vì nó là khâu liên kết giữa các thành phần vô sinh với hữu sinh, nên khi phân chia các cấp tự nhiên, thổ nhưỡng luôn là thành phần được xét đến, nhất là các cấp phân vị cấp thấp
Trong sự phân hóa tự nhiên ở bất kỳ lãnh thổ nào nói chung, cũng như của Lai Châu; nếu khí hậu, địa hình, thủy văn đóng vai trò chủ đạo, sinh vật chỉ thị thì thổ nhưỡng đóng vai trò “bổ trợ” cho việc phân chia đó Với Lai Châu, tuy lãnh thổ không lớn, nhưng với một nền khí hậu, một kiểu địa hình, thủy văn sẽ có một hệ thổ nhưỡng và sinh vật xác định Với đặc điểm địa chất đa dạng, địa hình phong phú, thời gian tương đối lâu, thổ nhưỡng Lai Châu cũng khá đa dạng
Nhìn chung, thổ nhưỡng Lai Châu cũng như thổ nhưỡng của các khu vực vùng núi, là có sự phân hóa theo quy luật phân bố của địa hình, từ chân là các sản
Trang 39phẩm tích tụ, sườn là các sản phẩm alit và trên đỉnh là các alit mùn trên núi hoặc núi cao Kết hợp với cấu trúc địa chất, thổ nhưỡng Lai Châu tuy mỏng, nhưng khá
đa dạng và phong phú, nếu xét về vỏ phong hóa, Lai Châu có tới 5 loại còn xét về thổ nhưỡng có tới 2 kiểu, 7 nhóm và 15 loại đất khác nhau
2.6.1 Các loại vỏ phong hóa
Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, ngày nóng, đêm lạnh; kết hợp với cấu trúc địa chất đa dạng và địa hình chia cắt, Lai Châu có tới 5 kiểu loại
vỏ phong hóa, làm cho thổ nhưỡng đa dạng
* Vỏ phong hóa Saprolit (Sa): là dạng thành tạo do quá trình phong hóa vật
lí vật lí tạo nên Phong hóa vật lí làm cho các đá gốc bị nứt vỡ, mềm bở và thường được phân bố ở độ cao 600 – 800m lên đến 3 000m, thuộc các khu vực Phan Xi Păng, Pu Sam Cáp, Tú Lệ, Pu Si Lung…
* Vỏ phong hóa Sialit (SiAl): loại vỏ phong hóa này thường hình thành trên
các đá axit (granit, riolit, pergmatite…) Các loại vỏ phong hóa sialit có phạm vi phân bố rộng, thuộc các dãy Phan Xi Păng, Pu Si Lung,…
* Vỏ phong hóa Sialferit (SiAlFe): loại này thường phát triển trên các loại
đá granit, ryolit, đá phiến, đá lục nguyên xen phun trào axit, đá phiến kết tinh, thạch anh felspat, phân bố khá rộng, thuộc Phan Xi Păng, Pu Si Lung,…
* Vỏ phong hóa Ferosialit (FeSiAl): đây là loại vỏ phong hóa phỏ biến,
phát triển trên toàn lãnh thổ, trên hầu hết các loại đá và các dạng địa hình khác nhau
* Vỏ phong hóa Sialit (FeAl): vỏ phong hóa sialit là giai đoạn cuối của quá
trình phong hóa Sản phẩn phong hóa là các sản phẩm tích tụ của các oxyt và hydroxit Al và Fe Tuy mức độ của chúng chưa đạt đến các dạng setkyoxyt của đất xấu, nhưng cần phải lưu ý, nếu không rất dễ dẫn đến các sản phẩm kết von, làm mất đất
Trang 402.6.2 Đặc điểm thổ nhưỡng Lai Châu
Thổ nhưỡng Lai Châu khá đa dạng, nếu phân kiểu thì chúng có hai kiểu là
kiểu đất có nguồn gốc phong hóa (FeAl, FeSiAl, SiAlFe, Sa) và kiểu đất nguồn gốc
bồi tụ (đất phù sa, đất mùn trên núi, đất dốc tụ, đất bồi tụ chân núi) Khi phân thành từng loại ta có 7 loại đất với các đặc trưng sau:
* Đất Phù sa: Lai Châu, các sông suối chủ yếu bắt nguồn từ các vùng núi
trung bình - cao phát triển trên granit, đá biến chất và đá sét, do chúng chảy trong vùng thượng - trung nguồn có địa hình chia cắt mạnh, nên đất phù sa sông và ngòi suối có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ - thịt trung bình, tầng đất mặt khá giàu hữu
cơ và nhìn chung khá màu mỡ Đất phù sa nằm trên bãi bồi ở sát ven sông rất hẹp
và mở rộng hơn ở vùng ngã ba các suối lớn: sông Đà, Nậm Na, Nậm Bum, Nậm Mu… Mít Luông Loại đất này thường xuyên bị ảnh hưởng của lũ lụt, gây khó
khăn cho đời sống và sản xuất
* Đất Đỏ vàng (đất Feralit): Đất đỏ vàng (đất Feralit) thường phân bố ở độ
cao dưới 900m Dưới tác động ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều loại đá mẹ bị phong hoá sâu và khá triệt để, khiến các khoáng vật nguyên sinh, trừ thạch anh, hầu như không còn; thành phần các khoáng vật sét của đất chủ yếu là caolinit, halôizit (Caolinit ngậm nước) , tạo nên vỏ phong hoá thổ nhưỡng - feralit đỏ - vàng phân bố trên khắp các vùng đất đồi, núi thấp - trung bình dưới 900m của Lai Châu Lớp phủ đất đỏ vàng vừa là tầng sinh học của vỏ phong hoá vừa là hệ quả của quá trình phong hoá thổ nhưỡng – feralit
* Đất Mùn - Vàng đỏ (đất Mùn - Feralit): Đất Mùn - Vàng đỏ trong khu
vực phân bố trên đai cao từ 900 - 1 800m thuộc vùng đỉnh hoặc đỉnh sườn các núi trung bình - cao, thường là vùng chia nước hay vùng núi đầu nguồn ranh giới giữa các huyện Mường Tè - Mường Lay, Mường Tè - Mường Nhé; giữa Mường Tè - Trung Quốc và Mường Nhé - CHDCND Lào; Than Uyên, Tân Uyên, Tam Đường – Lào Cai; Phong Thổ, Sìn Hồ - Trung Quốc; Sìn Hồ với Nậm Nhùn Do đó, đất có