1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sưu tầm và giới thiệu sản phẩm gốm tại xã mường tranh huyện mai sơn tỉnh sơn la

57 426 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi nhận thấy các sản phẩm gốm ở xã Mường Tranh huyện Mai Sơn, Sơn La là những sản phẩm truyền thống của nghề gốm cần được giới thiệu, lưu giữ, phổ biến và nghiên cứu kĩ càng để đư

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giữ gìn bản sắc văn hóa và phát huy những giá trị văn hóa trong thời đại ngày nay có một tầm quan trọng đặc biệt và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy, khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội mà nghề cổ truyền là một trong yếu tố thể hiện rất rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam Đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại diễn văn khai mạc Đại hội Đảng lần thứ VIII đã nhấn mạnh: “Khai thác và phát triển mọi giá trị văn hóa, nghệ thuật và sắc thái của các dân tộc trên đất nước, tạo ra sự thống nhất, đa dạng và phong phú của nền văn hóa Việt Nam”

Tây Bắc là miền đất chứa đựng nhiều yếu tố mang bản sắc văn hóa, tuy đã được chú ý giữ gìn nhưng nguy cơ mai một ngày càng đáng lo ngại cần được nhiều người quan tâm Riêng tỉnh Sơn La, các nghề truyền thống như chế tác nhạc cụ, chế tác đồ trang sức, vật dụng mây tre… rất phong phú nhưng nguy cơ thất truyền rất rõ

Chúng tôi nhận thấy các sản phẩm gốm ở xã Mường Tranh huyện Mai Sơn, Sơn La là những sản phẩm truyền thống của nghề gốm cần được giới thiệu, lưu giữ, phổ biến và nghiên cứu kĩ càng để đưa ra những định hướng phát triển có thể sẽ góp phần đưa nghề gốm của Mường Tranh thành nghề vừa có hiệu quả kinh tế vừa mang bản sắc văn hóa độc đáo

Trung tâm nghiên cứu Văn hóa các dân tộc Tây Bắc thuộc Trường Đại học Tây Bắc mới được thành lập và dần đi vào hoạt động một cách thiết thực với hy vọng công tác nghiên cứu ngày càng có chất lượng, góp phần vào sự bảo tồn các

di sản văn hóa vật thể và phi vật thể mang bản sắc văn hóa vùng

Với những lý do khách quan và chủ quan như trên, chúng tôi lựa chọn đề

tài : “Sưu tầm và giới thiệu sản phẩm gốm tại xã Mường Tranh huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La”

Trang 2

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Sản phẩm gốm Mường Tranh là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu, các

cơ quan ban ngành liên quan chú trọng Tuy nhiên sách viết về sản phẩm, đề tài này không nhiều Cho tới nay vẫn chỉ có một vài công trình mang tính khảo cứu rất chung chung:

+ Trong cuốn “Gốm sành nâu ở Phù Lãng” do Trương Minh Hằng chủ biên các lò gốm đầu tiên được phát hiện trong đó có sản phẩm gốm Mường Tranh, + Cuốn “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” do Nguyễn Văn Huy chủ biên cũng có sử dụng hình ảnh về sản phẩm nghề gốm của người Thái đen Mường Tranh

+ Cuốn “Một số vấn đề văn hóa phong tục của các dân tộc ít người ở Việt Nam” của dự án phát triển giáo viên Trung học phổ thông và Trung học chuyên nghiệp Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế đã đưa ra những nét khái quát

về sản phẩm gốm truyền thống của Mường Tranh Trên cơ sở đó giúp người nghiên cứu hiểu và phân tích được những giá trị vật chất cũng như giá trị tinh thần của nghề gốm

+ “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do Trần Ngọc Thêm chủ biên, mục Không gian văn hóa cũng nêu “chôn người chết trong các chum vại” [12;tr31]

+ Phần khái quát về thời kì tiền sử và sơ sử ở Tây Bắc trong cuốn “Một số vấn đề về lịch sử và văn hóa Tây Bắc” do Phạm Văn Lực chủ biên, Công cụ được tìm thấy có những mảnh gốm thô

Hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể, chi tiết và hoàn chỉnh

về sản phẩm gốm Nhiều vấn đề cần được làm rõ vì vậy đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này là hết sức cần thiết và quan trọng góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc thiểu số

Thông qua khảo sát, nghiên cứu tài liệu, thực tế điền dã tại xã Mường Tranh, Bảo tàng tỉnh, Phường Chiềng Cơi cũng góp phần vào việc giới thiệu, trưng bày, lưu giữ, bảo tồn sản phẩm gốm Mường Tranh tại Trường Đại học Tây Bắc

Trang 3

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu thực tế việc sản xuất đồ gốm tại xã Mường Tranh huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La, chúng tôi muốn sưu tầm một số hiện vật và giới thiệu về nghề sản xuất đồ gốm của địa phương

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quy trình và kết quả sản xuất đồ gốm tại xã Mường Tranh huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La

4.2 Địa bàn nghiên cứu

Xã Mường Tranh huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được những mục tiêu của đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ

sau:

- Thực địa tại xã Mường Tranh huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La

- Sưu tầm một số hiện vật đồ gốm tại xã Mường Tranh huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La

- Trưng bày và giới thiệu một số đồ gốm tại Phòng trưng bày Văn hóa ở Trường ĐH Tây Bắc

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài chúng tôi tiến hành các phương pháp:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 4

Thống kê tài liệu, tư liệu, tham khảo các văn bản, nghị quyết và các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan để xác định cơ sở lý luận chủ yếu của vấn đề nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát thực địa

- Nghiên cứu những tài liệu về kỹ thuật sản xuất đồ gốm có liên quan đến

đề tài

- Phỏng vấn, trao đổi: gặp gỡ, trao đổi, hỏi ý kiến (trực tiếp, gián tiếp)

với người sản xuất

7.3 Phân tích dữ liệu

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần Mở đầu, đề tài có cấu trúc chia thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung: Phần này trình bày các cơ sở lý luận và

thực tiễn của đề tài

Chương 2: Quy trình sản xuất đồ gốm tại xã Mường Tranh, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

Chương 3: Giới thiệu một số sản phẩm đồ gốm đã được nghiên cứu và đề

xuất trưng bày tại Phòng Trưng bày văn hóa Trường Đại học Tây Bắc

Trang 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm đồ gốm

Gốm là những sản phẩm làm từ đất sét và những hỗn hợp của nó với các phụ gia vô cơ hoặc hữu cơ, được nung qua lửa Và theo nghĩa rộng, gốm là những sản phẩm được sản xuất bằng cách nung nguyên liệu dạng bột bao gồm các khoáng thiên nhiên và các chất vô cơ tổng hợp kể cả kim loại Tuỳ theo nguyên liệu và kỹ thuật chế biến nguyên liệu, cách nung (nhiệt độ) khác nhau tạo ra các loại gốm khác nhau, phổ biến là các loại: gốm đất nung, gốm sành nâu, gốm sành xốp, gốm sành trắng, đồ bán sứ, đồ sứ Như thế, gốm là một tên gọi chung, và sứ là một trong những sản phẩm của gốm Gốm và sứ đều có thể tráng men, hoặc không (có loại sứ kỹ thuật không cần tráng men); và nếu dựa vào nhiệt độ nung để nhận biết thì đôi khi cũng không đúng, ví dụ, sành (gốm thô), đôi khi được nung ở nhiệt độ cao hơn sứ mới kết sành được …“hay gốm chịu lửa, được nung ở nhiệt độ cao hơn 1350°C, nhưng nó vẫn gọi là gốm Nhưng những sản phẩm sau, nếu gọi là sứ thì không sai lệch nhiều nếu như có những đặc điểm: xương màu trắng, đôi khi gần trong và đồng nhất; độ hút nước xấp xỉ = 0 (độ kết khối xấp xỉ 100%); hoạ tiết tinh xảo cho những sản phẩm có hoạ tiết và có những tính chất đặc biệt khác với loại gốm thông thường, ví như

độ bền axit, tính cách điện” [16,tr1]

Trong “Dấu ấn văn hóa từ đất đá”, GS Trần Kim Thạch dùng những khái niệm làm gốm là "biến đất thành đá", hay "gốm không nung" Ông cho rằng ngày nay việc làm gốm về cơ bản tương tự của người xưa, nhưng nay nhờ khoa

học kỹ thuật tân tiến nên có thể có những "hợp chất mới" Và cách tự đặt tên là

"gốm không nung" nó sẽ không được giới kỹ thuật chấp nhận bởi so với gốm nung, những chỉ tiêu về độ hút nước, độ mài mòn, độ bền hoá, độ cách điện, độ bền theo thời gian thì gốm không nung khó có thể đáp ứng Cho dù có đáp ứng

đi chăng nữa thì đối với nghệ thuật nó vẫn không có giá trị hơn gốm nung, bởi

Trang 6

nó đã bị đơn giản trong chế tác giống như tranh sơn mài ngày xưa và sơn mài ngày nay vậy

Tóm lại: Gốm là vật liệu vô cơ không kim loại, có cấu trúc đa tinh thể, ngoài ra

có thể gồm cả pha thủy tinh Nguyên liệu để sản xuất gốm gồm một phần hay tất

cả là đất sét hay cao lanh Phối liệu sản xuất gốm được tạo hình và thiêu kết ở nhiệt độ cao làm cho vật liệu có được những tính chất lý hóa đặc trưng Từ gốm còn được dùng để chỉ những sản phẩm làm từ vật liệu gốm

1.1.2 Đồ gốm sinh hoạt

Theo khái niệm về gốm đã nêu thì đồ gốm sinh hoạt bao gồm tất cả các sản phẩm đã sản xuất qua nung hoặc chưa nung bằng đất sét hay đất pha cao lanh không tạp chất Nhằm mục đích sử dụng trong sinh hoạt, lao động sản xuất, trao đổi mua bán như: chum, vại, hũ, lọ, cối thì được gọi là đồ gốm sinh hoạt hoặc đồ gốm phục vụ mục đích sử dụng của con người

Vào xã Mường Tranh đầu tiên chúng tôi đã bắt gặp hình ảnh các chum chứa nước để sinh hoạt ngay tai đầu nhà sàn, các đồ dùng trong bếp cũng được người dân sử dụng bằng sản phẩm gốm của địa phương

Sản xuất gốm phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong vùng, trước đây ở nhiều nơi thuộc tỉnh Sơn La có lò gốm “Chiềng Ly (Thuận Châu), Pống Lúa (Sông Mã), Chiềng Cơi (thành phố Sơn La) Chuyên sản xuất các đồ dùng, vật dụng lao động” [15;tr1]

1.1.3 Đồ gốm sử dụng ngoài mục đích sinh hoạt

Gặp gỡ và trao đổi với cụ Cầm Thị Chiêu, nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục Sơn La, một nhân chứng lịch sử thời chống Pháp, chúng tôi được biết từ xa xưa mỗi gia đình Mường Tranh còn có một việc làm gần như tục lệ là trong nhà

có bao nhiêu người cao niên thì làm sẵn bằng nấy cái hũ gốm để sau khi người chết được hỏa táng, phần tro hài cốt sẽ được đựng vào hũ để bảo quản lâu dài và

có thể đặt trong nhà với quan niệm người quá cố vẫn gần gũi người thân

Trang 7

1.2 Điều kiện địa lý, lịch sử, đặc điểm kinh tế và thực trạng nghề làm gốm ở Mường Tranh

1.2.1 Điều kiện địa lí

Xã Mường Tranh thuộc huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La, có vị trí nằm ở phía Bắc của huyện, cách huyện lỵ 50 km, cách Trung tâm thành phố Sơn La 22km Phía Đông giáp xã Chiềng Chung, huyện Mai Sơn; Phía Tây giáp xã Bản Lầm, huyện Thuận Châu; Phía Bắc giáp xã Hua La, Thành phố Sơn La

… “Thung lũng Mường Tranh là cánh đồng lúa mênh mông, có suối Nậm Tranh chảy từ Thuận Châu xuôi về Mường Tranh, đây là con suối cung cấp đủ lượng nước cho nông nghiệp và chăn nuôi trong vùng Các bản liền kề đan xen lẫn nhau dọc theo chân núi, bao bọc lấy cánh đồng”…[10; tr151]

Mường Tranh chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mua nhiều, phân chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô

Mường Tranh có tài nguyên đất phong phú, đất ở đây dẻo, mịn, mềm tạo điều kiện thuận lợi cho nghề gốm phát triển cung cấp một lượng lớn vật dụng bằng gốm cho các vùng lân cận Đất Mường Tranh cũng rất phù hợp cho việc trồng lúa và hoa màu

Xã có diện tích tự nhiên: 2835 ha

“Đất thổ cư: 12,3 ha Đất ruộng: 140 ha Đất rừng bảo vệ: 750 ha Đất ao cá: 14 ha” [8;tr2]

Trang 8

Bản đồ địa lí xã Mường Tranh

1.2.2 Đặc điểm kinh tế

Nhân dân trong xã chủ yếu làm ruộng nước và nương rẫy, số ít hộ làm kinh doanh buôn bán trao đổi hang hóa, hiện xã có thu nhập ổn định đời sống ngày được nâng cao, được sử dụng nhiều dịch vụ: nghe nhìn, điện lưới quốc gia, nước sạch, dịch vụ y tế, giáo dục

Phương thức kĩ thuật trồng lúa nước lâu đời đã giúp nhân dân trong vùng

có thu nhập ổn định Ngoài ra họ còn chăn nuôi gia súc gia cầm để phát triển kinh tế Phát triển nông nghiệp tự cung tự cấp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, công cụ lao động, giống và phân bón chưa được chú trọng Tài nguyên rừng bị thu hẹp do tập quán du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy …“Năm 2006, với

Trang 9

dự án 661 xã đã khuyến khích nhân dân trồng rừng với diện tích là 155ha, rừng

ở Mường Tranh đang dần khôi phục” [10;tr153]

Ngoài kinh tế nông nghiệp, Mường Tranh còn phát triển nghề gốm có thời gian dài các hộ trong vùng đều sản xuất gốm và dệt chiếu đã đáp ứng nhu cầu tại địa phương Kinh thế tiểu thủ công nghiệp vẫn bị ảnh hưởng của nông nghiệp chưa tách rời, qui mô còn nhỏ nhưng đã có những tác động về thu nhập trao đổi của một vùng rộng lớn

1.2.3 Một vài nét về lịch sử văn hóa

Mường Tranh trước đây có tên là Chiềng Quen, sau chính quyền thuộc Pháp đổi thành “Mường Tranh” chữ “Tranh” ở đây nghĩa là tranh đấu Theo kể lại, thời kỳ đó nhân dân Chiềng Quen có phong trào đấu tranh với phìa tạo địa phương và quan lại trên tỉnh chống lại các thứ thuế vô lý của bọn thực dân, đòi quyền lợi cho mình và bản làng Chính quyền thực dân sau đó đã dựa vào đặc điểm này của nhân dân Chiềng Quen để đổi tên thành “Mường Tranh”

Mường Tranh là khu căn cứ cách mạng của Sơn La và cũng là của khu Tây Bắc từ thời tiền khởi nghĩa Mường Tranh là mảnh đất có truyền thống cách mạng lâu đời, nhân dân có tinh thần yêu nước, họ đã đứng lên đấu tranh kiên cường trong suốt hai cuộc kháng chiến cực kỳ gian khổ, chống thực dân Pháp và

đế quốc Mĩ

Cũng theo cụ Cầm Thị Chiêu, trong cuộc kháng chiến chống Pháp gần như toàn bộ dân xã Mường Tranh tham gia kháng chiến và đã phải tản cư (hiện nay trong xã Mường Tranh có trên 90% gia đình đều được nhận huân huy chương do nhà nước trao tặng) Hầu hết các cán bộ Đảng của Sơn La đều có nguồn gốc là người Mường Tranh Các cán bộ cao cấp của Sơn La như nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy Sơn La Hoàng Nó, nguyên Bí thư tỉnh ủy Sơn la Cầm Liên, Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Sơn La Cầm Đoản, Hiệu trưởng Cao đẳng sư phạm Tây Bắc Cầm Quynh và rất nhiều cán bộ lãnh đạo các Ban, Ngành của Sơn La và của Khu Tây Bắc là người Mường Tranh Có thể nói Mường Tranh là mảnh đất địa linh nhân kiệt của Sơn La

Trang 10

Sau tản cư, người dân Mường Tranh hồi hương, hồi cư trên mảnh đất tro tàn bởi chính quyền thực dân phong kiến gần như đã hủy diệt toàn bộ nền tảng kinh tế của địa phương Nghề gốm được nhanh chóng khôi phục vì nó là cứu cánh cho người dân Gốm Mường Tranh lại có mặt gần như khắp vùng Tây Bắc Gốm đổi lấy gạo, lấy vải, lấy tất cả những vật dụng khác Người dân Mường Tranh đã có cách nói rất độc đáo: “Con rể dệt vải, con gái làm chăn” vì các con rể chủ yếu làm gốm để đổi lấy sợi, lấy vải

Đây là xã 90% dân tộc Thái đen Người Thái Mường Tranh giỏi làm bếp,

họ chế biến được nhiều món ăn ngon và nổi tiếng như: món xôi nhuộm màu, cơm lam, cá nướng, rượu cần và các món làm từ thịt trâu, bò…

Người Thái Mường Tranh có nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng Họ còn giữ đến ngày nay nhiều nghi lễ đậm chất nông nghiệp, nhân văn: xên bản, xên mường, lễ hội càu mưa, cúng rừng cầu may, cúng ma… tất cả các nghi lễ văn hóa tâm linh không thể thiếu sản phẩm gốm, gốm được dùng làm vật trao tặng cho các đôi trai gái lúc lên vợ lên chồng, gốm dùng để đựng hương, đựng nước trong các buổi cúng tế…

Theo một số thông tin của người dân, qua các tư liệu nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất của người thợ gốm Mường Tranh thì đây là một làng gốm rất lâu đời, thậm chí là trung tâm gốm cổ của đồng bào Thái đen trên đất Sơn La Sản phẩm làm ra đều đem trao đổi với phương thức “mua bán” giản đơn cổ xưa, kiểu đổi chác lấy các nông sản như: bông, vải, thóc,…Họ có quan niệm hàng hóa đem đổi càng xa thì giá trị càng cao Chẳng hạn, cùng một sản phẩm nếu đem đi

xa khoảng 2-3 ngày đường có thể đổi gấp đôi số nông sản so với đổi tại chỗ (nơi sản xuất) Có thể thấy, đây là sự bảo lưu quan niệm thời xa xưa về giá trị hàng hóa của dân tộc Thái đen với nghề gốm này “Những đồ gốm ở đây còn thô, rất gần với các loại gốm tối cổ được các nhà khảo cổ phát hiện và nổi tiếng với các địa danh Phù Lãng (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Bến Ngự (Thanh Hóa), Mường Tranh (Sơn La), Thổ Hà (Bắc Giang)”…[7;tr11]

Trang 11

Mường Tranh là nơi duy nhất còn tồn tại và duy trì nghề làm đồ gốm thủ công truyền thống Đồ gốm Mường Tranh nổi tiếng với các sản phẩm chính nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt đời sống của người dân như: chum, vại, hũ, lọ… được dùng với rất nhiều công dụng: đựng nước, ngâm chàm nhuộm vải, đựng muối, mỡ, mắm cá, muối dưa cà rất thơm ngon, dùng chứa hạt giống, đựng thóc, sắn, thức ăn và phục vụ nhiều mục đích khác

Việc sản xuất gốm Mường Tranh gặp rất nhiều khó khăn chủ yếu về củi đốt, sản phẩm đơn điệu, mẫu mã hạn chế về mặt thẩm mĩ… Hiện nay, cả xã chỉ còn gia đình ông Hoàng Văn Nam ở bản Nong Ten là còn duy trì nghề gốm nhưng cũng chỉ làm vài mẻ trong một năm Chính vì vậy, nghề gốm truyền thống ở Mường Tranh rất cần được sự quan tâm của các cấp, các ngành trong việc giới thiệu, quảng bá, mở rộng thị trường, phổ biến và quan tâm tới việc truyền dạy kỹ thuật, gặp gỡ trao đổi với các làng nghề gốm khác để các thế hệ tiếp theo nhằm giữ gìn và phát triển nghề gốm truyền thống của xã Mường Tranh nói riêng và của dân tộc Thái đen nói chung

Vài mươi năm gần đây, nhất là từ thời kì đổi mới, do những sản phẩm gốm ở miền xuôi cạnh tranh, chiếm ưu thế cả về chất lượng và kỹ thuật Gốm Mường Tranh lại không được cải tiến kỹ thuật, nguồn nguyên liệu làm nghề gốm bị thu hẹp mang tính địa phương tại chỗ nên nghề làm gốm gặp rất nhiều khó khăn Song những nghệ nhân làm gốm với những “đôi tay vàng” vẫn đang trăn trở cho sự tồn vong của nghề gốm – một nét văn hóa độc đáo và đặc sắc, niềm tự hào của người dân Mường Tranh nói riêng và người Thái Sơn La nói chung

Trang 12

Chương 2 QUY TRÌNH SẢN XUẤT ĐỒ GỐM TẠI XÃ MƯỜNG TRANH,

HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

2.1 Nguyên liệu sản xuất

Nguyên liệu làm gốm ở Mường Tranh chủ yếu là đất sét màu trắng nhạt,

xanh đen, vàng, đỏ rất mịn và dẻo không phải qua công đoạn xử lý hoặc pha trộn thêm cao lanh Trước đây, đất được cho vào cối dùng chày tay giã cho thật nhuyễn, ngày nay họ để đất lên bàn kê bằng gỗ và dùng gậy gỗ để đập Vì thế việc sử dụng đất không những trở lên nhẹ nhàng mà còn có năng xuất cao hơn

Vùng Mường Tranh khá dồi dào về nguyên liệu chế tác đồ gốm, có chỗ đất sét nằm ngay dưới lớp đất màu, cách mặt đất khoảng 20 – 30cm nhưng cũng

có nơi sâu tới 2 – 3m Được khai thác vào buổi sáng hoặc chiều những ngày nắng ráo Có nguồn nguyên liệu tốt nên nhìn chung họ không lọc đất qua dụng

cụ chuyên dụng như người Kinh, người Hoa, người Nùng, trong quá trình đập đất hay nặn sản phẩm nếu phát hiện tạp chất, sạn sỏi thì mới loại bỏ Người Mường Tranh cũng không hề sử dụng thêm bất kỳ chất phụ gia nào để nâng cao chất lượng sản phẩm của mình

Đất làm gốm ở Mường Tranh là loại đất dẻo, đất sét pha cao lanh có chất lượng tốt Đất được khai thác trên mỗi thửa ruộng của gia đình và được chuyển

về bằng những đôi sọt nan hoặc được nặn thành từng những viên tròn gánh về nhà Khai thác đất lên, đem về sản xuất ngay hoặc bảo quản nơi kín gió (hiện tại đất đã có tạp chất nên khi chọn lựa và khai thác mang về thường hay ủ ở gầm sàn) để dùng dần Trong các loại đất thì chất đất có tính kết dính cao nhất là đất màu hanh đỏ, nhưng hiện nay loại đất này đã mất dần mà chỉ còn lại màu vàng nhạt Trước khi tạo hình gốm, đất được gia công thật nhuyễn, loại bỏ tạp chất bằng cách giã, hay đập tùy theo từng gia đình và sở thích của người làm Sau đó người thợ sử dụng đôi bàn tay khéo léo và những công cụ tạo hình đơn giản để tạo ra những sản phẩm gốm phong phú và đa dạng Khảo sát quá trình khai thác

Trang 13

đất làm gốm chúng tôi thấy địa điểm lấy đất không xa gia đình sản xuất đồ gốm tuy không phải chỗ nào cũng có đất sét

Trang 14

- Chậu đựng nước (Áng xó nặm)

Miệng, đáy và thân tròn Chậu đựng nước để chống dính khi người thợ tạo dáng và tạo hoa văn cho sản phẩm gốm Chậu đựng nước tại đây cũng sử dụng chậu bằng gốm đã nung Đường kính đáy chậu từ 15 – 20 cm, mặt chậu 30 cm

Trang 15

- Chậu đựng tro bếp:

Chậu đựng tro để khi làm rắc lên mặt bàn xoay nhằm chống dính giữa đáy sản phẩm và mặt bàn xoay Chậu này tiếng Thái gọi là Áng tó tau Chậu có diện tích tương đương với chậu đựng nước, và cũng được làm bằng gốm đã qua nung đốt

Trang 16

- Ván để sản phẩm gốm chưa nung (péng tẳng tay):

Là một tấm ván có hình chữ nhật dài có tác dụng giữ nguyên đáy sản phẩm gốm, chống dính, biến dạng giữa sản phẩm với mặt đất, để bảo quản, giúp sản phẩm nhanh khô hơn, có tác dụng chống ẩm cho các sản phẩm gốm thô, ván được làm bằng gỗ Diện tích của ván rộng 50 cm, dài 90 cm

Trang 17

- Rìu tre cắt đất (Bi tra): Lược ráp

Là công cụ để cắt đất có phần lưỡi sắc Cán rìu khuyết, rìu có tác dụng tạo dáng hiện vật và cắt bỏ những phần thừa của sản phẩm Bi tra được làm bằng tre hoặc gỗ Bi tra có diện tích khá nhỏ phần lưỡi rộng 6 cm, dài 9 cm

Trang 18

- Vải nhúng nước để tạo dáng sản phẩm (phả hồi chụp năm):

Vải có hình chữ nhật được gấp làm bốn khâu lại thành hình chữ nhật dài, vải được các thợ thủ công nhúng nước để khi tạo dáng và làm hoa văn dễ hơn

lại không bị dính

Trang 19

- Lược gọt đất (bi kiệng): Lược đơn

Hai cái to (bi kiểng nha ứ), hai cái nhỏ (bi kiểng nọi) Lược to để tạo dáng các sản phẩm có kích thước lớn Lược nhỏ để tạo dáng các sản phẩm có kích thước nhỏ Cả 4 lược đều có cạnh sắc có tác dụng gọt đất và tạo dáng sản phẩm, Lược gọt đất được làm bằng tre, gỗ, nhựa Diện tích phần lưỡi 8 cm

Trang 20

- Dây cắt đất (Mà tắt đin):

Có cán cầm bằng tre vót tròn và một số sợi dây, dây có tác dụng cắt tạo mặt phẳng của sản phẩm, dây được làm bằng dây cây móc mọc tại địa phương

Trang 21

- Ống xít đất ( cỏng ka sít):

Được cấu tạo giống như cái bơm (pittong, si lanh), vỏ pittong là một ống tre Một đầu được đan bảo vệ còn một đầu để cả đất và mặt tre đất dóng được đục lỗ tròn để khi ấn si lanh đất đùn ra ở lỗ thành dây tròn dài và dây đất này được người thợ gắn vào sản phẩm gốm tạo thành hoa văn đường chỉ lỗ Ống dài khoảng 40 cm

Trang 22

- Ống tre dàn đất làm đáy sản phẩm (may tặp cổn hay):

Phía trong ống đựng tro bếp để rắc chống dính khi dàn mỏng đất làm đáy sản phẩm, ống được làm bằng tre dài 40 cm

Trang 23

- Dùi đục lỗ bằng tre:

Được vót bằng tre một đầu tù và một đầu nhọn Người thợ dùng dùi này

để dùi lỗ cần thiết khi sản phẩm gốm cần có hoặc theo yêu cầu của sản phẩm, dài 12 – 20 cm

Trang 24

- Kiếm tre cắt đất (láp hay):

Kiếm có hình dáng vát như một con dao hai lưỡi sắc, đầu nhọn ở phần cán có khía để tạo hoa văn song nước, kiếm tre được dùng khi cắt đáy của sản phẩm và tạo hoa văn, kiếm dài 30 cm – 35 cm

Trang 25

- Sọt đựng và ủ đất (quảy xá đin):

Sọt tròn có quai để gánh, hoặc khiêng, sọt được làm bằng tre cật chắc chắn có thể chứa được 40 kg đất

Trang 26

- Chày dã đất (xák tăm đin):

Chày được làm bằng gỗ, dài khoảng 40 – 60 cm, dùng để dã, đập làm nhuyễn đất

Trang 27

- Sọt gánh chum (Quây háp hay):

Sọt đan thưa như lồng gà, dùng để gánh khi thu hoạch sản phẩm đã ra lò hoặc vận chuyển khi trao đổi buôn bán

Trang 28

2.2.2 Kỹ thuật tạo hình gốm

Nguyên liệu chuẩn bị xong xuôi, người thợ gốm tiến hành tạo hình gốm Việc tạo hình gốm được tiến hành gay dưới sàn nhà với nhiều loại công cụ khác nhau Bộ công cụ tạo hình sản phẩm gốm của người thợ gốm Mường Chanh tương đối hoàn chỉnh, với những dụng cụ chuyên dụng có chức năng riêng nhưng khá đơn giản và thô sơ Một số ít nhiều còn mang tính đa năng Do tự chế, sản xuất tại chỗ lên ít nhiều công cụ sản xuất gốm vẫn còn hạn chế, hơi thô tính chuyên nghiệp chưa cao Quá trình tạo hình “người thợ gốm đã biết sử dụng bàn xoay” [2;tr54] Bàn xoay của người Thái Mường Chanh được chôn chặt xuống đất, mặt bàn xoay phẳng hoặc tương đương với mặt đất Trong quá trình tạo hình gốm người thợ gốm có thể tự mình xoay bàn xoay bằng ngón chân cái của bàn chân; nhưng để có độ chính sác cao hơn, đều hơn thì cần có người giúp xoay bàn xoay

Tạo hoa văn trên gốm

Ngày đăng: 12/01/2015, 14:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Châu (2010), Hỏi đáp về nghề truyền thống Việt Nam, NXB Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về nghề truyền thống Việt Nam
Tác giả: Hồ Châu
Nhà XB: NXB Thời đại
Năm: 2010
2. Dự án phát triển giáo viên THPT&THCN – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế (2013), Một số vấn đề văn hóa phong tục các dân tộc ít người ở Việt Nam, NXB Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn hóa phong tục các dân tộc ít người ở Việt Nam
Tác giả: Dự án phát triển giáo viên THPT&THCN – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế
Nhà XB: NXB Cần Thơ
Năm: 2013
3. Nhiều tác giả (2002), Bảo tàng dân tộc học Việt Nam. Đại gia đình các dân tộc Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng dân tộc học Việt Nam. Đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
4. Nguyễn Văn Huy (Chủ biên) (2003), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
5. Phạm Thanh Hà (2011), Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Tác giả: Phạm Thanh Hà
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
6. Nguyễn Thị Hằng (2008), Bước đầu tìm hiểu nghề gốm truyền thống ở Mường Tranh, Khóa luận tốt nghiệp lưu tại thư viện Trường Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu nghề gốm truyền thống ở Mường Tranh
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Nhà XB: Thư viện Trường Đại học Tây Bắc
Năm: 2008
7. Trương Minh Hằng (2011), Gốm sành nâu ở Phù Lãng, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm sành nâu ở Phù Lãng
Tác giả: Trương Minh Hằng
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
9. Phạm Văn Lực (2008), Phong trào chống Pháp của đồng bào Mông ở Tây Bắc từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1939, Đề tài KHCN cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào chống Pháp của đồng bào Mông ở Tây Bắc từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1939
Tác giả: Phạm Văn Lực
Nhà XB: Đề tài KHCN cấp Bộ
Năm: 2008
10. Phạm Văn Lực (2011), Một số vấn đề về lịch sử và văn hóa Tây Bắc, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lịch sử và văn hóa Tây Bắc
Tác giả: Phạm Văn Lực
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2011
11. Phạm Văn Lực (2012), Lịch sử Tây Bắc, Đề tài KHCN cấp cơ sở - Trường Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Tây Bắc
Tác giả: Phạm Văn Lực
Năm: 2012
12. Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
13. Trần Kim Thạch (2001), Dấu ấn Văn hóa từ đất đá, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn Văn hóa từ đất đá
Tác giả: Trần Kim Thạch
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2001
14. Vũ Từ Trang (2007), Nghề cổ đất Việt, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề cổ đất Việt
Tác giả: Vũ Từ Trang
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2007
15. La Công Ý, Nghề làm gốm của người Thái ở Mường Tranh, Tạp chí Dân tộc học số 6 – 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề làm gốm của người Thái ở Mường Tranh
8. Phạm Duy Khương (Bảo tàng tỉnh Sơn La), Khảo tả nghề thủ công làm gốm của Dân tộc Thái xã Mường Tranh huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w