Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm
Trang 1Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các phòng ban Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, Ban Giám hiệu Trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ khóa học
Hà Nội, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Hương
Trang 2DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC QUA DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 9
1.1 Cơ sở lí luận của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh 9
1.1.1 Đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 9
1.1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thanh niên 19
1.1.3 Vai trò của dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên 22
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh 26
1.2.1 Khái quát về Trường Đại học Tây Bắc 26
1.2.2 Thực trạng và sự cần thiết giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh 28
1.2.3 Đổi mới phương pháp dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc 32
Kết luận chương 1 39
Trang 4Chương 2: THỰC NGHIỆM GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC QUA DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH 40
2.1 Kế hoạch thực nghiệm 40
2.1.1 Mục đích thực nghiệm 40
2.1.2 Giả thuyết thực nghiệm 40
2.1.3 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm và đối chứng 40
2.1.4 Nội dung thực nghiệm 41
2.2 Các bước tiến hành thực nghiệm 41
2.2.1 Khảo sát trước thực nghiệm 41
2.2.2 Thiết kế các bài giảng thực nghiệm 44
2.2.3 Tiến hành dạy thực nghiệm 66
2.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 66
2.3.1 Kết quả sau khi dạy thực nghiệm 66
2.3.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 69
Kết luận chương 2 70
Chương 3: QUY TRÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC QUA DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 72
3.1 Quy trình thực hiện 72
3.1.1 Quy trình thiết kế bài giảng 72
3.1.2 Quy trình thực hiện bài giảng trên lớp 78
3.1.3 Quy trình đánh giá kết quả học tập của sinh viên 81
3.2 Điều kiện thực hiện 84
3.2.1 Điều kiện thực hiện đối với giảng viên 84
3.2.2 Điều kiện thực hiện đối với sinh viên 87
3.2.3 Điều kiện thực hiện đối với Nhà trường và các cấp quản lý 88
3.3 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên trong Trường Đại học 89
Trang 53.3.1 Nâng cao nhận thức của Nhà trường, của ngành Giáo dục - Đào tạo và của toàn xã hội đối với bộ môn TTHCM và việc giáo dục đạo đức 89 3.3.2 Nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò của sinh viên 90 3.3.3 Tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho quá trình dạy và học 91 3.3.4 Cần kết hợp với các tổ chức khác để giáo dục đạo đức cho sinh viên 92
Kết luận chương 3 93
KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 6“Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [510, 39] Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định: Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đạt được nhiều thành tựu, tạo điều kiện,
cơ hội cho thanh niên rèn luyện, phấn đấu và khẳng định mình Song tác động của mặt trái kinh tế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến đạo đức của một
bộ phận thanh niên, trong đó có sinh viên
Trong các Trường Đại học nói chung, Trường Đại học Tây Bắc nói riêng
đã có một bộ phận sinh viên phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, hút xách, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng cấp… Đây là những biểu hiện không thể coi thường
Vì vậy, giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục đạo đức cho thanh niên, trong đó có sinh viên, là một vấn đề quan trọng trong chiến lược con
Trang 7người của Đảng ta Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật nhất là trong thế hệ trẻ” [23, 126]
Nhận thức được vấn đề trên, Trường Đại học Tây Bắc đã chú trọng việc giáo dục đạo đức cho sinh viên thông qua một số môn học và các phong trào hành động cách mạng của thanh niên Tiêu biểu là các phong trào: “Thanh niên lập nghiệp và tuổi trẻ giữ nước”, “Thanh niên tình nguyện”, “Chiến dịch mùa hè xanh”, phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, gây quỹ từ thiện, ủng hộ người nghèo… Giáo dục đạo đức cho sinh viên chủ yếu được lồng ghép trong chương trình môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh Riêng sinh viên chuyên ngành
Lý luận Chính trị được học thêm môn Đạo đức học và SV chuyên ngành Văn
- GDCD được học môn Đạo đức và giáo dục đạo đức Trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, có thuận lợi cơ bản đây là môn học có nội dung bổ ích, gần gũi, dễ hiểu Tuy nhiên, khó khăn trong dạy học môn học này ở Trường Đại học Tây Bắc cũng không ít Hiện nay, đội ngũ giảng viên dạy Tư tưởng
Hồ Chí Minh còn thiếu, đa phần là giảng viên trẻ nên chưa nhiều kinh nghiệm, lại phải dạy quá nhiều giờ nên có ít thời gian nghiên cứu khoa học, chuẩn bị kỹ bài giảng trước khi lên lớp Thêm vào đó đội ngũ giảng viên đa phần còn hạn chế về ngoại ngữ, nắm bắt các phương tiện giáo dục hiện đại… nên ít áp dụng phương pháp mới mà chủ yếu là cách dạy truyền thống, giảng viên đọc, sinh viên ghi, không nghiên cứu tài liệu trước
Nội dung phần “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” giáo trình trình bày bố cục rất ngắn gọn, rõ ràng nhưng còn nặng về lý luận mà chưa gắn với thực tiễn nên với cách dạy học truyền thống hiện đang được áp dụng thì không kích thích được tính tích cực của sinh viên dẫn đến kết quả là sinh viên chưa liên hệ được nhiều với cuộc sống của bản thân các em và tác dụng giáo dục đạo đức cho sinh viên chưa cao
Trang 8Từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên tôi nhận thấy việc nghiên cứu thực trạng xây dựng quy trình, tìm ra biện pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên, nâng cao chất lượng dạy học môn TTHCM rất cần thiết, nên tôi chọn đề tài “Giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh”, làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Lịch sử nghiên cứu
Đạo đức và các biện pháp giáo dục đạo đức là những vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước, đã có rất nhiều công trình, sách báo, bài viết nghiên cứu đề cập đến Cách tiếp cận vấn
đề này cũng ở các góc độ khác nhau
Trên thế giới: Nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức đã được các
nhà sư phạm quan tâm từ rất sớm
Khổng Tử (551-479 TCN), người sáng lập ra Nho giáo, nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại của Trung Quốc cổ đại đã nghiên cứu về con người, về đạo đức Ông hướng triết học của mình vào mục đích tối thượng là GDĐĐ cho con người: “cũng như viên ngọc dù nó là một sản vật quý hiếm nhưng cũng phải mài dũa thì mới trở thành đồ dùng có giá trị Con người nếu không được giáo dục thì cũng không biết được đạo lí làm người” (Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo) [7, 11] Theo ông, người quân tử phải là người có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín mà xã hội (nhà vua và triều đình phong kiến) phải chú trọng giáo dục những đức tính đó cho con người Thông qua những nguyên tắc chặt chẽ trong mọi quan hệ xã hội, đạo đức Nho giáo có sức sống lâu dài cả hàng ngàn năm lịch sử Theo giáo sư Vũ Khiêu thì: “Xưa nay chưa
có một học thuyết đạo đức nào lại có tác dụng lâu bền như thế” [71, 26]
Phật giáo không đề cập đến khái niệm đạo đức, song triết thuyết Phật giáo hướng con người đến việc tu thân, tích đức, diệt khổ nhằm đạt đến trạng thái niết bàn, hạnh phúc Triết lí nhân sinh của Phật giáo thể hiện qua thuyết
“Tứ diệu đế” (4 nỗi khổ) gồm khổ đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế Trong đó, đạo
đế chủ yếu đề cập đến con đường tu hành để hoàn thiện đạo đức cá nhân Phật
Trang 9giáo đưa ra tám con đường chân chính để tu thân gọi là “Bát chính đạo”, bao
gồm: chính kiến (hiểu tứ diệu đế); chính tư duy (suy nghĩ đúng đắn); chính ngữ (nói năng đúng đắn); chính nghiệp (giữ nghiệp đúng đắn); chính mệnh (giữ ngăn dục vọng đúng đắn); chính tinh tiến (nỗ lực đúng đắn); chính niệm (tâm niệm vững chắc); chính định (kiên định, tư tưởng tập trung cao độ) Ngoài ra Phật giáo còn đưa ra năm điều răn để giúp con người giữ mình: không sát sinh (bất sát); không tà dâm (bất dâm); không nói dối (bất vọng ngữ); không uống rượu (bất ẩm tửu); không trộm cướp (bất đạo chích)
Ở phương Tây, từ rất sớm các nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức cũng đã được đề cập đến, đặc biệt là trong giai đoạn cận đại và hiện đại, tiêu biểu như Cômenxky (1592-1670) nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp khắc (cũ), đã bằng cả cuộc đời của mình để nghiên cứu về giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng Đóng góp lớn của ông cho nhân loại chính là tấm gương về đạo đức của cuộc đời mình và những phương pháp giáo dục đạo đức cho người thầy giáo mà ông đã khẳng định: “Nếu anh không như một người cha thì cũng
không thể là một người thầy” [9, 85]
A.X Makarenco (1888-1939) nhà giáo dục vĩ đại người Nga, trong tác
phẩm “Bài ca sư phạm” và các tác phẩm khác, ông đã đặc biệt nhấn mạnh vai
trò của giáo dục đạo đức, của biện pháp giáo dục đúng đắn Ông nhấn mạnh
sự cần thiết của một nền giáo dục sớm đề cao uy quyền và dựa vào sự nêu gương Nguyên tắc giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể của ông được nhiều nhà sư phạm trên thế giới trong nhiều thập kỷ qua chú ý và đã áp dụng thành công trong công tác giáo dục của mình
Trong nước: sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng đạo đức
và vấn đề giáo dục đạo đức Bác đánh giá cao vai trò của giáo dục trong việc hình thành nhân cách của con người:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Một số tác giả cũng nghiên cứu giáo dục đạo đức ở các góc độ khác nhau:
Trang 10Nguyễn Minh Đức nghiên cứu và trình bày cơ sở tâm lí – giáo dục học của giáo dục đạo đức
Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức
Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lí học để khảo sát hành vi
và hoạt động; nghiên cứu đạo đức, thực hiện giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất để đạt được chất lượng giáo dục
Nguyễn Nghĩa Dân đã nghiên cứu và đánh giá cao phương pháp dạy học môn Đạo đức và Giáo dục công dân bằng hành động, kết hợp giữa học với hành, cũng như coi trọng việc tự học, trong cuốn: “Đổi mới phương pháp dạy học môn Đạo đức và Giáo dục công dân”
Tác giả Phạm Khắc Chương - Nguyễn Thị Yến Phương tập trung tới
việc GDĐĐ mới cho HS phổ thông trong cuốn “Đạo đức học” Theo tác giả:
“Đạo đức là một hình thái ý thức thường xuyên biến đổi, thường xuyên có những yếu tố mới nảy sinh và phát triển cùng với các điều kiện kinh tế, vật chất của xã hội Theo quan điểm đó thì đạo đức trong gia đình, đạo đức trong học tập, trong tình bạn, tình yêu…cũng có những nội dung mới” [10, 76]
Tác giả Trần Đăng Sinh - Nguyễn Thị Thọ đề cập đến ý nghĩa của việc giáo dục đạo đức cho công dân trong giai đoạn mới hiện nay, cũng như các hình thức giáo dục đạo đức cơ bản khác Theo tác giả: “Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc đang trở thành một nguồn sức mạnh tinh thần của sự nghiệp đổi mới đất nước, có không ít vấn đề đang đặt
ra đòi hỏi phải giải quyết Đó là cuộc đấu tranh giữa hai lối sống: lối sống có lí tưởng, lành mạnh, trung thực, sống bằng lao động của chính mình, có ý thức bảo
vệ thành quả lao động, chăm lo lợi ích của cộng đồng và lối sống thực dụng, ích
kỉ, dối trá, ăn bám, chạy theo đồng tiền bất chính…” [58, 164]
Trang 11Tác giả Bùi Văn Tân trong luận văn thạc sỹ: “Một số biện pháp tổ chức giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh” cho
rằng: “Thông qua việc dạy các môn học mà làm cho người được giáo dục tự giác chiếm lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, giúp họ định hướng đúng những hiện tượng xã hội để lựa chọn cách thích ứng đúng đắn trong các tình huống đạo đức” [59, 13]
Tác giả Võ Thị Thu Hiền trong luận văn thạc sỹ: “Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thành phố Thanh Hóa trong môn Giáo dục công dân” cho rằng: “Giáo dục đạo đức cho học sinh là làm cho nhân cách thế hệ
trẻ phát triển đúng đắn về mặt đạo đức, có kỹ năng và bản lĩnh ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ cá nhân và xã hội” [45, 16]
Tác giả Nguyễn Ngọc Dương trong luận văn thạc sỹ: “Vận dụng tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Ninh Giang - Hải Dương, thông qua dạy học phần
“công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10” cho rằng: “Vận
dụng tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giảng dạy, giáo dục cho học sinh học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thực chất cũng là giáo dục những truyền thống tốt đẹp nhất của đạo đức dân tộc Việt Nam” [12, 18]
Trần Sỹ Phán trong luận án Tiến sĩ Triết học đã nghiên cứu Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Phạm Bá Lượng luận án tiến sĩ triết học đã nghiên cứu Giá trị đạo đức truyền thống trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên công an nhân dân Việt Nam hiện nay
Có thể nói rằng, những bài viết, những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến việc giáo dục đạo đức ở mức khái quát dưới góc độ tiếp cận là khoa học giáo dục, khoa học đạo đức hoặc gợi ý cho việc giáo dục, rèn luyện các phẩm chất, các mặt đạo đức, hoặc các biện pháp GDĐĐ cho học sinh
Trang 12THCS, THPT, sinh viên Việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Đại học thông qua dạy học, đặc biệt thông qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh thì chưa
được đề cập nhiều Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh” để nghiên cứu và thực nghiệm tại Trường Đại học Tây Bắc
Đây là đề tài khoa học mới mẻ gắn liền với các điều kiện về kinh tế - xã hội, văn hóa có tính đặc thù, và cần có những công trình nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống nhằm làm cho vấn đề được nghiên cứu ngày càng cụ thể hơn
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Qua việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, luận văn đề xuất quy trình và điều kiện tổ chức dạy học theo hướng đổi mới phương pháp dạy học
phần “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm
nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu việc dạy - học phần “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm giáo dục đạo đức
cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay
5 Những luận điểm cơ bản và đóng góp của luận văn
5.1 Những luận điểm cơ bản
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức cho thanh niên
+ Làm rõ thực trạng giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc qua dạy học phần “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh từ đó khẳng định sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên
Trang 13+ Đổi mới PPDH phần “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên, thể hiện thông qua tiến trình thực nghiệm và đối chứng
+ Đề xuất quy trình và điều kiện thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học phần “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
5.2 Những đóng góp của luận văn
Về mặt khoa học, luận văn góp phần cung cấp cơ sở lí luận cho việc đổi
mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học học
phần “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nói
riêng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục cũng như hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Trường Đại học Tây Bắc nói riêng và các Trường Đại học trên cả nước nói chung
Về mặt thực tiễn, luận văn xây dựng quy trình và phương pháp vận
dụng phương pháp dạy học theo hướng đổi mới trong dạy học phần “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh qua đó góp
phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên, luận văn có thể hỗ trợ
cho các giảng viên và sinh viên học tập phần “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh làm tài liệu tham khảo về phương pháp nghiên cứu và học tập Từ đó luận văn góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: so sánh, thống kê, điều tra xã hội học, thực nghiệm khoa học để thực
hiện mục đích đặt ra
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục Phần nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC QUA DẠY HỌC
Đạo đức hình thành và phát triển gắn liền với yêu cầu khách quan của
sự tồn tại và phát triển xã hội Thuật ngữ đạo đức bắt nguồn từ cổ Hy lạp
"Êthôs" có nghĩa là thói quen, tính khí, phẩm chất Trong tiếng La tinh có từ
cổ "Mos"; "Moris"; "Moralis" cũng có nghĩa là phong tục, tập quán [6, 128]
Ở Việt Nam, từ "đạo đức” lúc đầu chịu ảnh hưởng của học thuyết Phật giáo và Nho giáo Phật giáo quan niệm người có đạo đức, phải là từ bi, hỉ, xả, luôn luôn làm những điều thiện, tránh những điều ác Đạo đức của Nho giáo được luận giải tập trung ở cương thường và mở rộng đến luân thường
"Đạo” chính là năm mối quan hệ cơ bản của con người: Vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn, gọi chung là ngũ luân Trong đó, ba mối quan
hệ quan trọng nhất: Vua tôi, cha con, chồng vợ được gọi là tam cương [69, 39] "Đức" theo Khổng Tử là: trí, nhân, dũng Sau đó Mạnh Tử đã thay đức dũng bằng nghĩa và lễ Đến đời Hán, Đồng Trọng Thư lại bổ sung thêm đức tín, tạo thành: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín được gọi ngũ thường [69, 39]
Như vậy, theo Nho giáo, đạo đức là sự kết hợp tam cương với ngũ thường (nghĩa hẹp) hoặc kết hợp ngũ luân với ngũ thường thành luân thường (nghĩa rộng) Cương thường và luân thường là nguyên tắc chi phối mọi tư duy và hành động của con người - đó là cốt lõi của tư tưởng đạo đức và luân lý Nho giáo [69, 39]
Đạo đức Phật giáo và Nho giáo đều ảnh hưởng đến tình cảm và tư duy đạo đức của người Việt Nam, song ảnh hưởng của Nho giáo là hết sức sâu
Trang 15sắc Tác giả Quang Đạm cho rằng: "Trong hệ tư tưởng xã hội Việt Nam, dấu
ấn quan điểm đạo đức sâu đậm nhất trải qua bao nhiêu thế kỷ trước Cách mạng Tháng Tám là dấu ấn Nho giáo" [14, l03] Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta, khi bàn về đạo đức đã kế thừa các khái niệm, phạm trù đạo đức của Phật giáo và Nho giáo Song, nội dung của những khái niệm, phạm trù đó đã hoàn toàn đổi mới, tạo thành nền tảng của đạo đức cách mạng - đạo đức cộng sản chủ nghĩa
Khái niệm đạo đức còn được nhiều nhà tư tưởng nêu lên trong các công trình nghiên cứu của mình, như:
Trong Từ điển Triết học (1976), NXB Sự thật, Hà Nội đã viết: Đạo đức
là quy tắc của sinh hoạt chung trong xã hội và của hành vi của con người, quy định những nghĩa vụ của người này đối với người khác và đối với xã hội, đạo đức là một trong những hình thái của ý thức xã hội
Trong tác phẩm Thuật ngữ đạo đức - giáo dục công dân (1999), NXB
Giáo dục do Phan Ngọc Liên (chủ biên) đã viết: "Đạo đức là toàn bộ những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan
hệ của con người với nhau và với xã hội" [52, 81]
Trong tác phẩm Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội - GS.TSKH Huỳnh Khái Vinh (chủ biên) đã viết: "Đạo đức là một hình
thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ người - người” [69, 44]
Trong Giáo trình Đạo đức học - NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội do
GS TS Nguyễn Ngọc Long (chủ biên) đã viết: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội" [53, 8]
Trang 16Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức, nhưng các định nghĩa đó đều có những điểm nhất quán với nhau: Đều thừa nhận đạo đức
là một hiện tượng xã hội nhằm điều chỉnh những quan hệ giữa người với người trong xã hội, nhằm kết hợp những lợi ích cá nhân và những lợi ích xã hội Để làm được nhiệm vụ đó, một hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực và những phạm trù (khái niệm) có tính chất định giá và tính chất "mệnh lệnh" đối với hành vi của con người trong ứng xử, thể hiện bản chất xã hội của con người
1.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
HCM là một trong những nhà tư tưởng, một lãnh tụ cách mạng thế giới
đã bàn nhiều về vấn dề đạo đức và giáo dục đạo đức Tư tưởng đạo đức HCM rất sâu sắc, phong phú cả về lý luận và thực tiễn, đã trở thành một bộ phận vô giá của văn hóa dân tộc và nhân loại, một sức mạnh to lớn làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Khi đánh giá vai trò của đạo đức trong đời sống, từ rất sớm, HCM đã khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [32, 252-253] Người cho rằng làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [36, 283]
Người nói, cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân phục thì không phải cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức” [32, 552] “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?” [32, 253]
Trang 17Tư tưởng đạo đức HCM là đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thực
tế làm thước đo Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn đức với tài, lời nói đi đôi với hành động và hiệu quả trên thực tế
Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí MInh, đức và tài, hồng và chuyên, phẩm chất và năng lực thống nhất làm một Trong đó, đức là gốc của tài; hồng
là gốc của chuyên; phẩm chất là gốc của năng lực Tài là thể hiện cụ thể của đức trong hiệu quả hành động
Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội chưa phải là ở lý tưởng cao xa, ở mức sống vật chất dồi dào, ở tư tưởng được tự do giải phóng,
mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của những người cộng sản ưu tú, bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho lý tưởng đó trở thành hiện thực
Hồ Chí Minh cho rằng, phong trào cộng sản công nhân quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh của loài người không chỉ do chiến lược
và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành một sức mạnh vô địch
Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm của Người về những chuẩn mực đạo đức cách mạng:
- Trung với nước, hiếu với dân
“Trung” và “hiếu” là những khái niệm cũ trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt Nam và phương Đông phản ánh mối quan hệ lớn nhất và cũng là phẩm chất đạo đức bao trùm nhất: “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”
Hồ Chí Minh đã mượn khái niệm “trung, hiếu” trong tư tưởng đạo đức truyền thống dân tộc và đưa vào đó một nội dung mới: “Trung với nước, hiếu với dân”, tạo nên một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức Người nói:
“Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [33, 320-321]
Hồ Chí Minh cho rằng, trung với nước phải gắn liền hiếu với dân Vì nước là của dân còn dân lại là chủ nhân của nước; bao nhiêu quyền hành và
Trang 18lực lượng đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, cán bộ là đầy tớ của dân chứ không phải là “quan cách mạng”
Trung với nước là sự trung thành, yêu quý, báo ân, báo đáp của mỗi người với sự nghiệp dựng nước và giữ nước Nước ở đây được hiểu ở ba cấp độ: là đất và nước, lãnh thổ, tài nguyên, môi trường giới hạn bởi biên giới quốc gia; là quốc vong, quốc túy, quốc hồn, tựu trung trong quốc thể, hình thành từ những quan hệ đan xen giữa chính trị, kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ, tâm lý và truyền thống lịch sử; là bộ máy công quyền, hệ thống quyền lực thực thi quyền lực chính trị, nhà nước thực thi sức mạnh của nhân dân
Hiếu với dân thể hiện ở chỗ thương dân, tin dân, phục vụ nhân dân hết lòng Để làm được như vậy phải gần dân, kính trọng và học tập nhân dân và lấy dân làm gốc Đối với cán bộ lãnh đạo, HCM yêu cầu phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, thường xuyên quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí
Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự
do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị - đạo đức cho mỗi người Việt Nam, không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt mà còn lâu dài về sau
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Đây là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của mỗi người, là đại cương đạo đức Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ thực hiện mà lại bắt nhân dân tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo là để đem lại hạnh phúc cho dân Với ý nghĩa như vậy, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cũng là một biểu hiện cụ thể, một nội dung của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”
Trang 19Cũng như khái niệm “trung, hiếu”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” cũng là những khái niệm cũ trong đạo đức truyền thống dân tộc, được Hồ Chí Minh lọc bỏ những nội dung không phù hợp và đưa vào những nội dung mới đáp ứng yêu cầu của cách mạng
Cần là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai, lao động có kế hoạch, có năng suất cao với tinh thần tự lực cánh sinh
Kiệm là tiết kiệm (tiết kiệm thời gian, tiết kiệm công sức, tiết kiệm của cải…) của nước, của dân; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” [32, 636], không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù
Liêm là luôn tôn trọng của công và của dân Phải “trong sạch, không tham lam” [32, 640] tiền của, địa vị, danh tiếng
Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn Người đưa ra một số yêu cầu
1 Mình đối với mình
2 Mình đối với người
3 Mình đối với việc
Đối với mình
Chớ tự kiêu tự đại Tự kiêu tự đại là khờ dại Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình Mình giỏi còn nhiều người giỏi hơn mình Tự kiêu tự đại tức là thoái bộ
Luôn luôn cầu tiến bộ Không tiến bộ thì là ngừng lại Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu Tiến bộ không giới hạn Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình
Đối với người
Chớ nịnh hót người trên, chớ xem khinh người dưới Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết Phải học người và giúp người tiến tới Phải thực hành chữ Bác - Ái
Trang 20Đối với việc
Phải để công việc nước trên, trước việc tư, việc nhà Đã phụ trách việc
gì, thì quyết làm cho kì được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm thành công Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh
HCM cho rằng, các đức tính cần, kiệm, liêm, chính, có quan hệ chặt chẽ với nhau, ai cũng phải thực hiện, song cán bộ, đảng viên phải là người thực hành trước để làm kiểu mẫu cho dân Người cho rằng những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hạn Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân
Đói với một quốc gia, cần, kiệm, liêm, chính là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, thể hiện sự văn minh, tiến bộ Cần, kiệm, liêm, chính còn là nền tảng của đời sống mới, của các phong trào thi đua yêu nước
Chí công vô tư là công bằng, công tâm Không thiên tư, thiên vị; làm việc gì cũng không nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì dân tộc, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” (tiên thiên hạ chi ưu như ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc) Chí công vô tư là nêu cao chủ nghĩa tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là vết tích của xã hội cũ, đó là lối sống ích kỷ, chỉ biết có riêng mình, chỉ thấy công lao của mình mà quên mất công lao của người khác Chủ nghĩa cá nhân là đồng minh của đế quốc; là một thứ vi trùng rất độc Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm, như: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí, tham danh, trục lợi, thích địa vị, quyền hành, coi thường tập thể, tự cao tự đại, độc đoán, chuyên quyền Đó “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc” [36, 284] Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa xã hội không thể thắng lợi nếu không loại trừ chủ nghĩa cá nhân
- Thương yêu con người, sống có tình nghĩa
Trang 21Yêu thương con người được HCM xác định là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất Người nói, người cách mạng là người giàu tình cảm, có tình cảm cách mạng mới đi làm cách mạng Vì yêu thương nhân dân, yêu thương con người mà chấp nhận mọi gian khổ hy sinh để đem lại độc lập,
tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc cho con người
Tình yêu thương con người đó là một tình cảm rộng lớn, trước hết dành cho những người nghèo khổ, những người bị mất quyền, những người bị áp bức, bị bóc lột không phân biệt màu da, dân tộc Người cho rằng, nếu không
có tình yêu thương như vậy thì không thể nói đến cách mạng, càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Tình yêu thương con người phải được xây dựng trên lập trường giai cấp công nhân, thể hiện trong mối quan hệ hằng ngày với bạn bè, đồng chí, anh em
Nó đòi hỏi mỗi người phải chặt chẽ và nghiêm khắc với mình; rộng rãi, độ lượng
và giàu lòng vị tha với người khác Nó đòi hỏi thái độ tôn trọng những quyền của con người, nâng con người lên kể cả những người nhất thời lầm lạc, chứ không phải là thái độ dĩ hòa vi quý, không phải hạ thấp, càng không phải dập vùi con người Người dạy: “Hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là
hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được” [39, 554] Trong Di chúc, Người căn dặn:
“Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” [39, 510]
- Có tinh thần quốc tế trong sáng
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức cộng sản chủ nghĩa Nó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân, nhằm vào mối quan hệ rộng lớn, vượt ra khỏi quốc gia dân tộc
Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn
và sâu sắc Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp
vô sản toàn thế giới, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, với những người tiến bộ trên toàn cầu, chống lại mọi sự chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng
và phân biệt chủng tộc; chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sôvanh, biệt lập
Trang 22và chủ nghĩa bành trướng bá quyền Hồ Chí Minh chủ trương giúp bạn là tự giúp mình
Đoàn kết quốc tế là nhằm thực hiện những mục tiêu lớn của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là hợp tác và hữu nghị theo tinh thần: bốn phương vô sản, bốn bể đều là anh em
Người đưa ra quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới:
- Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức
Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong xây dựng một nền đạo đức mới Nói đi đôi với làm là đặc trưng bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - đạo đức cách mạng Nói đi đôi với làm đối lập hoàn toàn với thói đạo đức giả của giai cấp bóc lột, nói một đằng làm một nẻo, thậm chí nói mà không làm
Nêu gương về đạo đức là một nét đẹp của truyền thống đạo đức văn hóa phương Đông Nói đi đôi với làm phải gắn liền với nêu gương về đạo đức Hồ Chí Minh cho rằng hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, trong việc xây dựng một nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng phải đặc biệt chú trọng “đạo làm gương” Người nói: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới” [39, 558] Để làm được như thế phải chú ý phát hiện, xây dựng những điển hình người tốt, việc tốt rất gần gũi trong đời thường, trong các lĩnh vực lao động sản xuất, trong chiến đấu, trong học tập bởi theo người từng giọt nước chảy về một hướng mới thành suối, thành sông, thành biển cả
- Xây đi đôi với chống
Để xây dựng một nền đạo đức mới, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa xây
và chống Trong đời sống hàng ngày, những hiện tượng tốt – xấu, đúng – sai, cái đạo đức và cái vô đạo đức thường đan xen nhau, đối chọi nhau thông qua hành vi của những con người khác nhau, thậm chí trong mỗi con người Chính vì vậy, việc xây và chống trong lĩnh vực đạo đức không đơn giản Xây phải đi đôi với chống, muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây
Trang 23Xây dựng đạo đức mới, đạo đức cách mạng trước hết phải được tiến hành bằng việc giáo dục những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức mới Việc giáo dục đạo đức phải được tiến hành phù hợp với từng giai đoạn cách mạng; phù hợp với từng lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp, tầng lớp và trong từng môi trường khác nhau; phải khơi dậy được ý thức đạo đức lành mạnh ở mỗi người
Xây phải đi đôi với chống, với việc loại bỏ cái sai, cái xấu, cái vô đạo đức trong đời sống hàng ngày HCM cho rằng trên con đường đi tới tiến bộ và cách mạng, đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng thành công trên cơ sở kiên trì mục tiêu chống chủ nghĩa đế quốc, chống những thói quen và tập quán lạc hậu và loại trừ chủ nghĩa cá nhân
- Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
Một nền đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở sự tự giác tu dưỡng đạo đức của mỗi người HCM chỉ ra rằng, phải làm thế nào đó để mỗi
người tự nhận thấy sâu sắc việc trau dồi đạo đức cách mạng là một việc “sung sướng vẻ vang nhất trên đời” Người nhắc lại luận điểm của Khổng Tử “chính
tâm, tu thân” và chỉ rõ: “Chính tâm, tu thân tức là cải tạo Cải tạo cũng phải trường kỳ gian khổ, vì đó là một cuộc cách mạng trong bản thân mỗi người Bồi dưỡng tư tưởng mới để đánh thắng tư tưởng cũ, đoạn tuyệt với con người
cũ để trở thành con người mới không phải là một công việc dễ dàng Dù khó khăn gian khổ nhưng muốn cải tạo thì nhất định thành công” [34, 148]
Đạo đức cách mạng là đạo đức dấn thân, đạo đức trong hành động vì độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân Chỉ có trong hành động, đạo đức cách mạng mới bộc lộ rõ những giá trị của mình Do vậy, đạo đức cách mạng đòi hỏi mỗi người phải tự giác rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn, trong công việc, trong các mối quan hệ của mình, phải nhìn thẳng vào mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; phải thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện của mình để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác của mình để khắc phục; phải kiên trì rèn luyện, tu dưỡng suốt đời HCM đưa ra một lời khuyên rất dễ hiểu: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh,
Trang 24rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài cáng sáng, vàng càng luyện càng trong” [36, 293]
1.1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thanh niên
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân ta luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò của đoàn viên, thanh niên Người luôn dành tình cảm,
sự quan tâm chăm lo, bồi dưỡng, động viên đến các thế hệ thanh niên của nước nhà
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư
cách của người cách mạng Trong trang đầu cuốn Đường Kách Mệnh - Người
đã ghi 23 điều tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với việc Đó là những chuẩn mực:
“Tự mình phải: Cần kiệm Hòa mà không tư Cả quyết sửa lỗi mình Cẩn thận mà không nhút nhát Hay hỏi Nhẫn nại (chịu khó) Hay nghiên cứu, xem xét Vị công vong tư Không hiếu danh, không kiêu ngạo Nói thì phải làm Giữ chủ nghĩa cho vững Hy sinh Ít lòng ham muốn về vật chất Bí mật
Đối với người phải: Với từng người thì khoan thứ Với đoàn thể thì nghiêm Có lòng bày vẽ cho người Trực mà không táo bạo Hay xem xét người
Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng Quyết đoán Dũng cảm Phục tùng đoàn thể” [29, 260]
Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên Đán năm 1946, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” [31, 167] Bác dặn: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên…mỗi thanh niên, nhất là một cán bộ phải kiên quyết làm bằng được những điều sau này:
Trang 25a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc)
b) Các việc đáng làm thì khó mấy cũng cố chịu quyết tâm làm cho kỳ được c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân Không ham địa vị và công danh phú quý
d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc
e) Quyết tâm làm gương về mọi mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết…” [32, 185]
Nhìn nhận đoàn viên, thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ vị trí, vai trò "Là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai" [37, 488] Do vậy, Người đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên thanh niên thành đội xung kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc
Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc Đi đôi với việc giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng bởi theo Người: "Thanh niên phải có đức, có tài Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì lợi ích cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người" [36, 172] Đạo đức cách mạng ấy là sự triệt để trung thành với cách mạng, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, sẵn sàng xả thân cho đất nước, điều đó được thể hiện ở ngay trong suy nghĩ và hành động hàng ngày của mỗi đoàn viên, thanh niên Để tuổi trẻ trở thành người cách mạng chân chính, những con người mới XHCN, Người nhấn mạnh việc cần
Trang 26thiết phải giáo dục đoàn viên, thanh niên tính trung thực, ngay thẳng, tác phong khiêm tốn, giản dị, tinh thần lao động tích cực, siêng năng, táo bạo và sáng tạo Đoàn viên, thanh niên phải luôn có tinh thần cố gắng vươn lên, sống cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, phải thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
Không những thế, Người còn yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải chống tâm lý tự ti, tự lợi, chỉ lo vun vén cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình, chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của đoàn viên, thanh niên
Thương yêu hết lòng và đặt niềm tin trọn vẹn vào đoàn viên, thanh niên, Người nhấn mạnh: Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà Phải học tập mãi, tiến bộ mãi mới thật là thanh niên Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho đoàn viên, thanh niên "Muôn vàn tình thương yêu", Người đánh giá: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ" [39, 510]; và căn dặn "Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết” [39, 510] Từ bức thư tâm huyết gửi thanh niên Việt Nam hồi đầu thế kỷ đến lời “Di chúc” cuối cùng, Bác Hồ luôn dành cho đoàn viên, thanh niên tình cảm thương yêu, trìu mến, sự chăm sóc ân cần
Không chỉ chăm lo và giáo dục, cổ vũ đoàn viên, thanh niên học tập và phấn đấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một mẫu mực của tấm gương đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng và nhân dân Suốt đời phấn đấu vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân
Trang 271.1.3 Vai trò của dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên
Giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên là một trong những vấn đề quan trọng trong mục tiêu giáo dục bậc Cao đẳng, Đại học ở nước ta từ trước đến nay Để thực hiện điều này, Bộ giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường Cao đẳng, Đại học thực hiện nhiều nội dung, với nhiều hình thức thông qua chương trình, giáo trình giảng dạy, học tập; thông qua vai trò của tổ chức Đảng, Đoàn thanh niên và Hội sinh viên trong nhà trường; thông qua việc phối hợp với gia đình sinh viên và toàn xã hội, trong đó có vai trò của môn học Tư tưởng
Hồ Chí Minh
Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa môn Tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy ở các trường Cao đẳng, Đại học đã làm hoàn chỉnh hệ thống các môn Lý luận Chính trị, góp phần khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản
vô giá của toàn Đảng, toàn dân ta, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng
tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng; nâng cao nhận thức chính trị và lý tưởng cách mạng cho sinh viên Đặc biệt, bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh còn có một vị trí quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống mới văn minh, lành mạnh cho sinh viên, vị trí này các bộ môn khác không thể thay thế được Điều này xuất phát từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ cách mạng, nhà tư tưởng quan tâm
hàng đầu đến vấn đề đạo đức Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài và gian khổ của mình, Người luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức
và lý tưởng cách mạng cho mọi người, nhất là cán bộ đảng viên và thế hệ trẻ Người luôn coi đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng Người dạy: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được được nặng
và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng,
Trang 28mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [36, 283] Người còn căn dặn: Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa
“hồng” vừa “chuyên
Những vấn đề về đạo đức được Hồ Chí Minh xem xét một cách toàn diện, sâu sắc, hình thành một hệ thống lý luận về đạo đức từ vị trí, vai trò của đạo đức, đến các chuẩn mực đạo đức cơ bản và các nguyên tắc để xây dựng đạo đức Hồ Chí Minh là nhà đạo đức học vĩ đại, khai sinh ra một nền đạo đức mới là đạo đức cách mạng, ý nghĩa khoa học và nhân văn từ tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người là rất lớn
Thứ hai, Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực, sáng ngời về đạo
đức cách mạng, không chỉ thể hiện ở lý tưởng cách mạng suốt đời Người theo đuổi là cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, một lòng một dạ tận tuỵ phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc mà còn thể hiện nhất quán, rõ nét trong phong cách làm việc, sinh hoạt, giao tiếp, nếp sống hàng ngày của Người Tấm gương đạo đức Bác Hồ có sức cuốn hút lớn, có sức cảm hoá lan toả tới tất cả mọi người, kể cả kẻ thù của dân tộc Bản thân tấm gương
đó có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, đúng như Bác đã viết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ làm một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [28, 263]
Thứ ba, Hồ Chí Minh là người gần gũi với các thế hệ người Việt Nam,
“Người là Cha, là Bác, là Anh” trong mỗi gia đình Việt Nam Dù Người đã từ biệt thế giới này hơn 40 năm nhưng hình ảnh của Người vẫn sống mãi một cách thân thương trong tâm thức của mỗi người Khi nói về cuộc đời và đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta không hề thấy sự xa lạ Đó là một thuận lợi của việc giáo dục đạo đức
Thứ tư, Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh do Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng phát động và cùng
Trang 29với nó là cuộc thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong những năm qua đã thực sự tạo ra được những hiệu quả thiết thực trong việc tuyên truyền, giáo dục và nâng cao đạo đức cách mạng, làm cho mọi người càng thêm tôn kính, biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, thôi thúc mọi người sống và làm theo tấm gương đạo đức của Người Cuộc vận động và cuộc thi trên đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, mọi cấp, mọi ngành, trong đó có ngành Giáo dục nhiệt tình, hưởng ứng, thực hiện và tham gia Trong các trường Cao đẳng, Đại học, bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần to lớn trong việc đưa lại hiệu quả cho cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong sinh viên
Qua những vấn đề trên, chúng ta có thể kết luận rằng: Giáo dục tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những nội dung cơ bản của bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Cao đẳng, Đại học, góp phần rất lớn vào việc giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên
Giáo dục đạo đức qua bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh cần tập trung vào
2 nội dung chính sau:
Một là, giáo dục lẽ sống cách mạng cho sinh viên qua tư tưởng và cuộc
đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
Lẽ sống là một phạm trù cơ bản của đạo đức học Lẽ sống sẽ quyết định mục đích cuộc sống, động lực của sự phấn đấu, đồng thời cũng quyết định toàn bộ tình cảm cũng như hành vi đạo đức của mỗi người Cuộc đời Hồ Chí Minh vô cùng đẹp đẽ và cao thượng vì Người có một lẽ sống cao đẹp và phấn đấu cho lẽ sống đó suốt cả cuộc đời Lẽ sống đó là đấu tranh cho độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân Người kiên định lẽ sống đó từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi giã biệt thế giới này Vì lẽ sống đó, Người đã chấp nhận mọi khó khăn gian khổ, “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”
Trang 30Ngày nay, nước ta đã được độc lập, tự do, hoà bình, thống nhất nhưng vẫn là một trong những nước có thu nhập trung bình thấp, có nguy cơ tụt hậu, lạc hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; đời sống của
đa số người dân vẫn khó khăn, gian khổ; các tệ nạn, tiêu cực xã hội vẫn tồn tại
và phát sinh, chưa được khắc phục triệt để Trong tình hình đó thì sinh viên - thanh niên trí thức phải suy nghĩ và hành động như thế nào để góp phần thực hiện lẽ sống của Bác Hồ, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, làm cho nước Việt Nam phát triển để có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác hằng mong muốn?
Vấn đề lẽ sống có thể được đề cập đến trong tất cả các bài giảng (các chương) của chương trình giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể coi đây là trục cốt lõi trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên qua môn học này
Hai là, giáo dục đạo đức cho sinh viên thông qua nội dung tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức trong Chương VII của chương trình và giáo trình môn
Tư tưởng Hồ Chí Minh và liên hệ tới việc Bác Hồ đã thực hiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng như thế nào trong hoạt động cách mạng và trong đời công cũng như đời tư của mình
Nếu giảng viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh chú
ý đúng mức đến những vấn đề này thì tin chắc rằng sẽ tạo ra hiệu quả thiết thực trong việc giáo dục đạo đức, định hướng lý tưởng, lẽ sống cao đẹp cho sinh viên trong thế kỷ mới và mãi mãi về sau Tư tưởng Hồ Chí Minh giáo dục đạo đức, tư cách, phẩm chất cách mạng cho thanh niên, sinh viên và toàn dân biết sống hợp đạo lý, yêu cái tốt, cái thiện, ghét cái ác, cái xấu Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp nâng cao lòng tự hào về Người, về Đảng Cộng Sản,
về Tổ quốc Việt Nam, tự nguyện “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo
gương Bác Hồ vĩ đại”
Trên cơ sở kiến thức đã được học, sinh viên vận dụng vào cuộc sống, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, hoàn thành tốt chức trách của mình, đóng góp thiết
Trang 31thực và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng, con đường cách mạng mà HCM
và Đảng ta đã lựa chọn
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1 Khái quát về Trường Đại học Tây Bắc
Trường Đại học Tây Bắc được thành lập trên cơ sở Trường Cao đẳng
Sư phạm Tây Bắc, có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho các tỉnh Tây Bắc, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, triển khai các dịch vụ kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tây Bắc
Có thể nói, sự ra đời của Nhà trường (theo quyết định số 267/QĐ ngày 30/6/1960 của Bộ Giáo dục) đã góp phần đặt nền móng cho sự nghiệp đào tạo cán bộ, giáo viên khu vực Tây Bắc Nhà trường đã xây dựng được đội ngũ cán
bộ giảng viên và sinh viên đảm bảo về số lượng và chất lượng
Trường gồm 10 khoa, đào tạo 26 ngành học hệ đại học và 18 ngành học
hệ cao đẳng trong đó bao gồm các ngành sư phạm như Toán học, Tin học, Vật
lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Chính trị, Tiếng Anh, Thể chất, Tiểu học, Mầm non, Sinh - Hóa, Sử - Địa, Toán - Lý, Văn - Giáo dục công dân Và những ngành ngoài sư phạm như Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Lâm sinh, Chăn nuôi, Bảo vệ thực vật, Nông học, Kế toán, Quản trị kinh doanh Ngoài ra nhà trường còn liên kết đào tạo đại học ngành Công nghệ thông tin, Tài chính ngân hàng, Quản trị kinh doanh Nhà trường cũng
đã liên kết với một số trường đại học: Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Kinh
tế quốc dân, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Đại học Lâm nghiệp Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, mở được 26 lớp thạc sỹ thuộc các chuyên ngành: Ngữ văn, Toán học, Lịch sử, Địa lý, Hóa học Chính trị, Vật lý, Khoa học máy tính, Giáo dục Thể chất, Nông học, Lâm sinh, Kinh tế, Quản lý giáo dục… Địa bàn tuyển sinh được mở rộng quy mô toàn quốc, chất lượng tuyển đầu vào ngày càng được nâng cao
Trang 32Số sinh viên Nhà trường ở cả 3 hệ Cao đẳng, Đại học chính quy và Đại học liên kết đào tạo hiện nay là 8 906 sinh viên Trong đó hệ Cao đẳng là 1
653 sinh viên, hệ đại học chính quy là 6 917 và hệ Đại học liên kết đào tạo là
336 sinh viên Sinh viên trường Đại học Tây Bắc đến từ rất nhiều các dân tộc khác nhau Dân tộc Kinh là 2 473 sinh viên còn lại là sinh viên các dân tộc thiểu số như Thái, Mường, Kháng, H’ Mông, Sán Chỉ, Tày, Khơ Mú, Dao, Hà Nhì, La Ha, Giáy, Lào… và 61 du học sinh Lào
Trường chuyển xuống cơ sở mới tại tổ 2 phường Quyết Tâm thành phố Sơn La được 6 năm, cơ sở vật chất bước đầu được hình thành đã phần nào đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu và hoạt động của sinh viên trong trường
Trường có tổ chức Đoàn vững mạnh, kinh nghiệm, thường xuyên tổ chức các phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, các câu lạc bộ trẻ…
đã tạo được môi trường học tập, sân chơi lành mạnh lôi cuốn được đông đảo sinh viên tham gia đồng thời giúp rèn luyện lý tưởng, kỹ năng sống, tránh xa các tệ nạn xã hội
Tuy nhiên, Nhà trường còn tồn tại nhiều khó khăn do yếu tố khách quan mang lại Trường được xây dựng tại tỉnh Sơn La nằm ở trung tâm vùng Tây Bắc, là một tỉnh biên giới nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu Sinh viên Trường Đại học Tây Bắc phần lớn là đồng bào các dân tộc thiểu số đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ, Họ có sự hạn chế về nhiều mặt như trình độ nhận thức, điều kiện kinh tế, các tập tục của bản làng Tính cộng đồng rất cao, múa hát tập thể và rượu cần là nét văn hóa đặc trưng của họ vì vậy sinh viên dân tộc thiểu số hay bỏ học đi uống rượu hoặc nghỉ học quá số buổi nhà trường cho phép trong những dịp lễ hội Trung thực, thẳng thắn, có tính tự ái, tự ti cao khi
bị học lại, trượt ca hoặc bị xúc phạm họ sẵn sàng bỏ học
Tình yêu nam nữ thể hiện rất sớm, một số trường hợp sinh viên nữ đã lập gia đình, có con sau đó mới thi đỗ và học nên thường xuyên phải xin nghỉ
Trang 33học khi con ốm đau Không ít sinh viên sẵn sàng xin bảo lưu, thậm chí là bỏ học để lập gia đình riêng, sinh con
Khả năng tài chính của một số sinh viên vùng đặc biệt khó khăn là rất hạn hẹp nếu không được sự hỗ trợ của nhà nước, các nhà hảo tâm thì rất có thể các em phải bỏ học đi tìm việc làm kiếm tiền
1.2.2 Thực trạng và sự cần thiết giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, trước xu thế toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế, sinh viên Trường Đại học Tây Bắc luôn kiên định
lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công vun trồng Họ đã và đang chứng tỏ bản lĩnh, sức trẻ, sự sáng tạo và tinh thần dám nghĩ, dám làm của mình Họ đang ra sức tu dưỡng, học tập và rèn luyện về mọi phương diện, tích cực lao động sản xuất, tiến vào khoa học - công nghệ,
để cùng với toàn Đảng, toàn dân thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Rất nhiều phong trào thi đua, như Thanh niên tình nguyện, Thanh niên lập nghiệp, Tuổi trẻ học đường được đông đảo sinh viên hưởng ứng, thực hiện
Nhằm mục đích chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên, Trường Đại học Tây Bắc nhận định bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên, là bộ môn có nội dung sát với nội dung giáo dục đạo đức nói chung ở các trường Cao đẳng, Đại học, đồng thời việc nghiên cứu, học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những nội dung quan trọng của cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng phát động trong toàn Đảng, toàn dân ta
Qua tìm hiểu cho thấy phần lớn SV được hỏi cho rằng môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh rất bổ ích Từ học môn này, nhiều SV đã cố gắng phấn đấu toàn diện cả về học tập, tu dưỡng đạo đức để trở thành đoàn viên ưu tú, cảm
Trang 34tình đảng và đảng viên Tuy nhiên, chúng tôi thấy đang có khó khăn cần có những giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn rất quan trọng này
Hiện nay, đội ngũ giảng viên dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh còn thiếu Cả trường có 11 giảng viên (GV) dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh kèm nhiều môn học khác Đội ngũ GV môn Tư tưởng Hồ Chí Minh gồm 1 GV chuyên ngành TTHCM, 3 GV chuyên ngành Lịch sử Đảng và TTHCM, 3 GV chuyên ngành CNXH, 1 GV chuyên ngành Xã hội học và 3 GV được đào tạo GDCT Trong
đó có 5 GV trình độ thạc sỹ còn lại 6 GV đang học Cao học GV phải dạy quá nhiều giờ do quy mô đào tạo tăng gồm cả hệ ĐH và CĐ, hệ sư phạm và ngoài
sư phạm Thực trạng này làm cho ĐNGV có ít thời gian nghiên cứu khoa học, chuẩn bị kỹ bài giảng trước khi lên lớp
Cán bộ giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh còn hạn chế về ngoại ngữ, nắm bắt các phương tiện giáo dục hiện đại… nên rất ít áp dụng phương pháp mới mà chủ yếu là cách dạy truyền thống, giảng viên đọc, sinh viên ghi, không nghiên cứu tài liệu trước Vẫn còn tồn tại tình trạng GV lấy nhiệt tình
bù tri thức, đơn giản hoá khi phân tích lý luận khoa học; chưa nhìn thẳng vào
sự thật, đánh giá đúng sự thật, chỉ thiên về thành tích, ưu điểm, theo ý muốn chủ quan, hoặc dựa trên những kết luận có sẵn Bên cạnh đó, khâu kiểm tra, đánh giá chất lượng giảng dạy thiếu thường xuyên, chưa coi trọng công tác tổng kết thực tiễn để rút kinh nghiệm và bổ sung những nội dung mới về lý luận vào bài giảng Hình thức thảo luận tại tổ, lớp tuy có áp dụng nhưng hạn chế; tổ chức xem phim tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác, tham quan các viện bảo tàng chưa nhiều Việc sử dụng các thiết bị, phương tiện hiện đại vào giảng dạy như đèn chiếu, mô hình, đĩa CD còn ít
Đại bộ phận SV chưa có suy nghĩ rằng Tư tưởng Hồ Chí Minh là môn học chính, chưa nhận thức được tính khoa học và sự cần thiết của môn học này Sinh viên thường quen cách “học thuộc lòng” nên không nắm được bản chất vấn đề, ít suy nghĩ vận dụng, liên hệ giữa lý luận và thực tiễn
Kết quả giáo dục đạo đức cho sinh viên qua dạy học môn TTHCM:
Trang 35Kết quả giáo dục đạo đức cho sinh viên qua dạy học môn TTHCM chưa thực sự đạt hiệu quả Tiến hành khảo sát trên 248 sinh viên K51 hệ đại học, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1.1: Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của môn TTHCM Nhận thức về môn học Số lượng (SV) Tỷ lệ (%)
Qua việc điều tra cho thấy đa số sinh viên chưa nhận thức đúng ý nghĩa
và tầm quan trọng của môn học Phần lớn cho rằng đây là môn học học cũng được mà không học cũng được Một số sinh viên còn cho rằng đây là môn học phụ, không cần thiết cho nghề nghiệp sau này nên phần lớn sinh viên không đầu tư nhiều thời gian, công sức vào môn học này
Nhìn vào bảng số liệu, ta cũng thấy được đa số sinh viên không hứng thú lắm (mức độ bình thường) với môn học và số lượng sinh viên cảm thấy nhàm chán với môn học cũng không phải là nhỏ
Sự hứng thú với môn học là vấn đề hết sức quan trọng, nó sẽ góp phần nâng cao năng lực tự nhận thức và tích cực học tập Khi không có hứng thú với môn học thì sinh viên sẽ không tích cực và chủ động nhận thức, ít tìm tòi các phương pháp học tập có hiệu quả, việc học tập mang tính đối phó Giáo dục đạo đức cho sinh viên qua dạy học môn TTHCM có đạt hiệu quả cao hay không, khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn có tốt hay không thì trước hết sinh viên phải có hứng thú với môn học TTHCM
Kết hợp với Phòng Công tác chính trị và quản lý người học và qua theo dõi sổ ghi đầu bài chúng tôi nhận thấy tình trạng sinh viên đi học muộn, bỏ tiết, nghỉ học không lý do, bỏ học, vi phạm quy chế thi…diễn ra khá phổ biến
Trang 36Do ảnh hưởng từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng như của xu thế toàn cầu hóa, và đặc biệt, do không nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu, một bộ phận sinh viên trường Đại học Tây Bắc đang có những biểu hiện tiêu cực đáng lo ngại, như phai nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống buông thả, lười học tập và tu dưỡng đạo đức, thích hưởng thụ, ngại lao động, chuộng những sinh hoạt thiếu lành mạnh hoặc phản văn hóa làm ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh niên, nhất là khi thiếu kiến thức về vấn đề này Thậm chí còn có tình trạng sinh viên tham gia vào đường dây ghi số đề, cờ bạc, cho vay nặng lãi, dẫn đến sinh viên này trở thành chủ nợ của sinh viên khác với số tiền từ một vài triệu lên đến hàng trăm triệu… Thêm vào đó Nhà trường lại được đặt tại Sơn La một điểm nóng về nạn buôn bán ma túy chuyển từ Lào về Việt Nam nên một số sinh viên thiếu bản lĩnh đã rơi vào vòng nghiện ngập, thậm chí vi phạm pháp luật Những hiện tượng đó, trước hết là nguy cơ đe dọa tương lai của chính bản thân họ, đồng thời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ và văn minh của xã hội Mặt khác, cũng cần nói rằng, các thế lực thù địch đang “chờ đợi”
và sẽ ra sức khai thác, lợi dụng những hiện tượng đó để tiến hành chiến lược
“diễn biến hòa bình” hòng chống phá và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng
Để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết cần làm rõ những nguyên nhân nào khiến sinh viên ít hứng thú với môn học này
Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng thực trạng trên xuất phát từ những nguyên nhân: Nội dung môn học liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng ở tầm khái quát cao nên tương đối trừu tượng, khó hiểu, khó nhớ, khó học; PPDH chủ yếu là đọc - chép nên dễ gây nhàm chán cho người học; sinh viên ít được trải nghiệm thực tế, ít được liên hệ thực tế với những biểu hiện đa dạng phức tạp nên cho rằng môn học này không cần thiết cho nghề
Trang 37nghiệp của các em sau này Trong số đó, nguyên nhân được sinh viên lựa chọn nhiều nhất là nguyên nhân về nội dung và phương pháp dạy học
Ngoài ra, giảng viên bộ môn cho rằng môn học chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức, việc thông qua nội dung dạy học để hình thành phẩm chất, thái độ, kỹ năng cho người học thường ít được đề cập vì lượng kiến thức, nhiệm vụ của môn học thì lớn nhưng số đơn vị học trình thì ngày càng bị cắt giảm, số lượng sinh viên thường quá đông Vì vậy, việc giáo dục đạo đức cho sinh viên qua dạy học môn TTHCM thường không có hiệu quả hoặc ít được đề cập đến
Qua điều tra về những nguyên nhân dẫn đến thực trạng dạy và học môn TTHCM thì vấn đề PPDH là mục có thứ tự thứ nhất về tầm quan trọng
Vì vậy việc đổi mới PPDH môn TTHCM có thể coi là một trong những giải pháp có hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên
1.2.3 Đổi mới phương pháp dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc
1.2.3.1 Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học môn TTHCM
Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động, phối hợp thống nhất giữa giáo viên và người học nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học của nhà trường Như vậy, PPDH bao gồm cả phương pháp dạy và phương pháp học
PPDH TTHCM là hệ thống những biện pháp, những thủ thuật dạy và học có hiệu quả nhất dựa trên cơ sở lý luận dạy học, đặc điểm về đối tượng, phương pháp nghiên cứu, chức năng dạy học môn TTHCM cũng như đối tượng và mục tiêu đào tạo
PPDH truyền thống là phương pháp đã có từ lâu đời, được cải tiến trong nhiều năm nên có rất nhiều ưu điểm và có những đóng góp quý giá cho
sự nghiệp đào tạo Tuy nhiên nó lại có những hạn chế nhất định, nhất là không phát huy được tính tích cực học tập của người học
Trang 38Nhiệm vụ phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đang đòi hỏi chúng ta nhanh chóng đổi mới nội dung cũng như tìm ra được PPDH khoa học, mang lại chất lượng và hiệu quả như mong muốn
Nhất là trong bối cảnh phương pháp dạy học môn TTHCM ở Trường Đại học Tây Bắc hiện nay chủ yếu vẫn theo phương pháp truyền thống Đa số giảng viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực và phát triển tư duy của sinh viên, làm cho sinh viên học tập một cách thụ động Hình thức tổ chức dạy học đơn điệu, đa số lớp học môn TTHCM có số sinh viên đông nên rất khó tổ chức thảo luận nhóm và một số hình thức dạy học tích cực khác Việc tạo động cơ học tập đúng đắn cho sinh viên thông qua các phương pháp lượng giá thường xuyên còn rất hạn chế, vẫn tập trung chủ yếu vào các bài kiểm tra điều kiện và kì thi kết thúc học phần Thực trạng dạy học như trên đã dẫn đến kết quả học tập môn TTHCM nói chung và kết quả giáo dục đạo đức qua dạy học môn TTHCM nói riêng chưa thực sự hiệu quả
Vì vậy, để đáp ứng được những đòi hỏi của thời đại về đào tạo nguồn nhân lực nói chung và để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức qua dạy học môn TTHCM nói riêng thì việc đẩy mạnh đổi mới PPDH là hết sức cần thiết
1.2.3.2 Những yêu cầu trong việc lựa chọn phương pháp dạy học môn THCM nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên trong trường đại học
Đổi mới PPDH môn TTHCM tất yếu phải tuân thủ những yêu cầu chung của phương pháp sư phạm Đồng thời cũng có những đặc trưng riêng phụ thuộc vào đối tượng, mục đích, yêu cầu của môn học, bài học…
Đổi mới phương pháp dạy học phải đảm bảo các nguyên tắc dạy học Các nguyên tắc dạy học môn TTHCM trong trường đại học chỉ đạo toàn bộ hoạt động của giảng viên và người học từ việc xác định nội dung, lựa chọn phương pháp đến việc quyết định hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với quy luật nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng người học
Trang 39nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ dạy học môn TTHCM Các nguyên tắc
đó là: nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục, tính khoa học, tính Đảng, tính thực tiễn và tính vừa sức Đặc biệt là đảm bảo nguyên tắc tính Đảng và tính khoa học trong giáo dục đạo đức cho sinh viên
Đổi mới phương pháp dạy học phải quán triệt yêu cầu phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học là tạo mọi điều kiện để cho người học phát triển trí tuệ của mình Cần thay đổi việc dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm, còn giảng viên đóng vai trò là người hướng dẫn, tổ chức quá trình dạy học Dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhằm mục đích tích cực hóa quá trình dạy học, phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo của học sinh, nhằm bồi dưỡng kĩ năng tự nhận thức, tự xử lý thông tin của học sinh Muốn vậy, giảng viên phải chịu khó tìm tòi suy nghĩ, biết đặt ra những câu hỏi hấp dẫn kích thích sự tìm tòi khám phá, tạo không khí học tập sôi nổi, cuốn hút và thoải mái Giảng viên cần tạo cho người học
sự tự tin, phương pháp tìm hiểu và xử lý thông tin, trình bày vấn đề, biết làm việc theo nhóm, có tinh thần tập thể và thực hiện hoạt động học tập một cách
và rèn luyện cũng như của nghề nghiệp trong tương lai
Trang 40Đảm bảo thực hiện lượng giá thích hợp trong dạy học
Lượng giá cần được thực hiện thường xuyên với mỗi bài học để tạo động lực cho người học Lượng giá là cơ sở giúp cho thầy biết được trò đã học được gì, thầy cần bổ sung những gì Lượng giá với những thông tin phản hồi từ thầy cũng giúp cho sinh viên biết được các mục tiêu, yêu cầu mà họ chưa đạt, cần phải phấn đấu thêm để hoàn thành
1.2.3.3 Đổi mới theo hướng sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn TTHCM nhằm giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc
“Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng để chỉ những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tất cả khả năng cho phép học tập của người học dưới sự hướng dẫn của thầy nhằm giúp người học đạt được mục tiêu học tập tốt nhất” [57, 25]
Nội dung cơ bản của PPDH tích cực bao gồm:
+ Dạy và học thông qua việc tổ chức các hoạt động của người học + Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
+ Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Hệ thống các PPDH quen thuộc trong các nhà trường hiện nay cũng
có nhiều phương pháp tích cực Nhiều tài liệu về lý luận dạy học đã chỉ rõ,
về mặt hoạt động nhận thức, thì tính tích cực được tăng dần theo chiều hướng: Phương pháp dùng lời - phương pháp trực quan - phương pháp thực hành, trong đó các phương pháp thực hành là “tích cực” hơn các phương pháp trực quan
Lý luận dạy học cũng đã chỉ rõ cần quan tâm tới mặt bên trong của PPDH theo hướng phát huy tính tích cực của người học thì cần khai thác các mặt tích cực của phương pháp dùng lời, đồng thời phát triển các phương pháp thực hành và trực quan, ở mức tìm tòi bộ phận hoặc nghiên cứu, nhất là đối với các môn khoa học thực nghiệm