Công trình này trình bày về tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế do cơ quan thuế thực hiện, đánh giá thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Quảng
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LƯU BÁCH TÙNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA,
KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH HÀ GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2LƯU BÁCH TÙNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA,
KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI ĐỨC THỌ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Các kết quả nghiên cứu của luận văn
có tính độc lập, số liệu và dữ liệu sử dụng trong luận văn được trích dẫn đúng quy định./
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Lưu Bách Tùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Quý thầy, cô, bạn bè
Trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo TS Bùi Đức Thọ,
người đã định hướng cho chủ đề nghiên cứu; nghiêm túc về mặt khoa học và tận tình giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành Luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu; các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Kinh tế; cán bộ và chuyên viên Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi về các điều kiện trong quá trình thực hiện Luận văn
Xin trân trọng cảm ơn tập thể Lãnh đạo và cán bộ, công chức Cục Thuế tỉnh Hà Giang, các Phòng nghiệp vụ chức năng thuộc Cục Thuế tỉnh Hà Giang đã cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn
Để có được kiến thức như ngày hôm nay, cho phép em gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên trong thời gian qua đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của bạn bè, đồng nghiệp
và gia đình./
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Lưu Bách Tùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài 2
5 Kết cấu luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 5
1.1 Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế 5
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế 5
1.1.1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế 5
1.1.2 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế 8
1.1.3 Yêu cầu đối với thanh tra, kiểm tra thuế 10
1.1.4 Phân loại thanh tra, kiểm tra thuế 11
1.1.5 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế 12
1.1.6 Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 16
1.2 Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 18 1.2.1 Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thuế trong thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 18
1.2.2 Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế 20
Trang 61.2.3 Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 21
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp 23
1.3.1 Các nhân tố khách quan 23
1.3.2 Các nhân tố chủ quan 25
1.4 Bài học kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra thuế của một số địa phương khác 26
1.4.1 Bài học kinh nghiệm từ Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang 27
1.4.2 Bài học kinh nghiệm từ Cục Thuế tỉnh Phú Thọ 30
1.5 Khái quát nội dung cơ bản của một số văn bản pháp quy liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế 31
1.5.1 Văn bản chung 31
1.5.2 Văn bản của ngành 32
1.5.3 Văn bản của địa phương 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
Chương 2: 35
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 35
2.2 Cách tiếp cận 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Cơ sở phương pháp luận 36
37
2.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 37
thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40
Chương 3 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH HÀ GIANG GIAI ĐOẠN 2011 - 2013 41
Trang 73.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang và cơ cấu tổ chức Cục
Thuế Hà Giang 41
3.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội 41 3.1.2 Đặc điểm và tính đặc thù người nộp thuế trên địa bàn tỉnh Hà Giang 43
3.1.3 Tổ chức bộ máy của Cục Thuế tỉnh Hà Giang 44
3.1.4 Tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra thuế ở Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang 45
3.2 Thực trạng công tác thanh tra thuế, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang 49
3.2.1 Công tác lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 49
3.2.2 Công tác tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 55
3.2.3 Đánh giá chung về công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang thời gian qua 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75
Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH HÀ GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI 76
4.1 Quan điểm đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế 76
77
78
79
79
4.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Hà Giang trong thời gian tới 80
Trang 84.2.1 Tiếp tục phát triển về số lƣợng, chất lƣợng nguồn nhân lực trong hệ
thống thanh tra, kiểm tra thuế 80
4.2.2 Nhóm các giải pháp về c - 82
4.2.3 Nhóm giải pháp khác 90
4.3 Các điều kiện thực hiện giải pháp 92
4.3.1 Bổ sung thẩm quyền cho cơ quan thuế 92
4.3.2 Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm hành chính về thuế 93
4.3.3 Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra 93
94
4.3.5 Xây dựng chế độ đãi ngộ đối với công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế 94
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GTGT : Giá trị gia tăng TNDN : Thu nhập doanh nghiệp TNHH : Trách nhiệm hữu hạn SXKD : Sản xuất kinh doanh TSCĐ : Tài sản cố định
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng người nộp thuế phải kiểm tra hồ sơ khai thuế giai
đoạn 2011 - 2013 của Cục Thuế tỉnh Hà Giang 52Bảng 3.2: Kế hoạch thanh tra thuế giai đoạn 2011 - 2013 của Cục Thuế
tỉnh Hà Giang 54Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế giai đoạn 2011 - 2013 của Cục
Thuế tỉnh Hà Giang tổng hợp theo số hồ sơ khai thuế 56Bảng 3.4: Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại Cục Thuế tỉnh Hà Giang
giai đoạn 2011 - 2013 tổng hợp theo số doanh nghiệp kiểm tra 57Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế giai đoạn 2011 -
2013 của Cục Thuế tỉnh Hà Giang 60Bảng 3.6: Kết quả thanh tra thuế giai đoạn 2011 - 2013 của Cục Thuế tỉnh
Hà Giang 61Bảng 3.7: Số liệu kết quả Thanh tra thuế năm 2012 tại Công ty TNHH Trí
Hưng Hà Giang 65
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng nhất trong công tác quản lý thuế, bởi vì thanh tra, kiểm tra thuế là cách thức cơ bản để
cơ quan thuế cảnh báo, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những gian lận thuế Thanh tra, kiểm tra thuế cũng giúp phát hiện những bất hợp lý trong chính sách thuế và pháp luật thuế để nghiên cứu bổ sung, sửa đổi kịp thời nhằm phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong việc đảm bảo số thu cho ngân sách Nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu quả quản lý thuế, một trong những việc mà cơ quan thuế các cấp phải làm là thường xuyên hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Trong những năm qua, ngành Thuế tỉnh Hà Giang đã hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách, tốc độ tăng trưởng năm sau luôn cao hơn năm trước Trong kết quả chung của ngành Thuế tỉnh Hà Giang có phần đóng góp không nhỏ của công tác thanh tra, kiểm tra thuế Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Hà Giang vẫn còn những hạn chế nhất định, cần nghiên cứu hoàn thiện để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế Đặc biệt, tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang nơi quản lý số thu của các doanh nghiệp vừa và lớn của tỉnh, công tác thanh tra, kiểm tra thuế tuy đã có nhiều
cố gắng song vẫn còn những bất cập, chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang” là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn thiết thực
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu là công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp do Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang trực tiếp quản lý trong giai đoạn từ năm 2011 - 2013 Đề tài không nghiên cứu hoạt động thanh tra,
Trang 12kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp tại tỉnh Hà Giang nhưng phân cấp quản lý cho các Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế tỉnh Hà Giang
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận văn là tìm các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh
Hà Giang
Các mục tiêu cụ thể của luận văn là:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang; chỉ ra những thành công và hạn chế cũng như những nguyên nhân chủ quan, khách quan
- Đề xuất phương hướng, giải pháp thích hợp để hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp; qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý thuế của Cục Thuế tỉnh Hà Giang
4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài
Thanh tra, kiểm tra thuế là chức năng rất quan trọng của hoạt động quản lý thuế nên thời gian qua ở Việt Nam có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này với sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý, nghiên cứu sinh và học viên cao học Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau đây:
- “Giáo trình Quản lý thuế” của Học viện Tài chính có một chương
viết về thanh tra, kiểm tra thuế (chương 6) Tài liệu này đã cung cấp những vấn đề lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế và giới thiệu nghiệp vụ cơ bản của công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam Đây là công trình mang tính học thuật, trang bị lý luận cơ bản để tiếp cận và nghiên cứu chuyên sâu về thanh tra, kiểm tra thuế
- Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh với công trình nghiên cứu “Công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh” trình bày tại Hội
Trang 13nghị tổng kết công tác thuế năm 2011 của Tổng cục Thuế Công trình này trình bày về tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế do cơ quan thuế thực hiện, đánh giá thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh năm 2011, chỉ ra những nguyên nhân của thành công
và hạn chế trong thực tế và đề xuất những định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh Như vậy, công trình này không nghiên cứu toàn diện về công tác thanh tra, kiểm tra thuế, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, mà chỉ tập trung nghiên cứu sâu thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại tỉnh Quảng Ninh
- Luận văn thạc sĩ kinh tế “Kiểm tra thuế trong điều kiện quản lý thuế hiện nay tại Cục Thuế Hải Phòng” (2012) của Nguyễn Hữu Thọ Đề tài này
hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kiểm tra đối với người nộp thuế Từ nghiên cứu lý luận, đề tài đề cập đánh giá thực trạng của công tác kiểm tra thuế trên địa bàn thành phố Hải Phòng, chỉ ra những bất cập
và nguyên nhân của việc tuân thủ pháp luật về thuế, nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra thuế ở Cục Thuế Hải Phòng
- “Tác động của công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với công tác quản lý thuế” của thanh tra Tổng cục Thuế trong báo cáo chuyên đề tại Hội nghị tổng
kết công tác thuế năm 2012 của Tổng cục Thuế Tác giả phân tích làm rõ các nội dung liên quan đến kết quả công tác thanh tra thanh tra, kiểm tra thuế
2012, kế hoạch và giải pháp năm 2013 trong toàn ngành Thuế
- “Thanh tra 585 doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá” của Tuấn
Việt, Tạp chí Thuế Nhà nước số 45 (355)-Kỳ I/12/2011 Tác giả phân tích làm rõ các nội dung liên quan đến công tác thanh tra theo chuyên đề chống chuyển giá tại các doanh nghiệp FDI trên phạm vi cả nước đến hết năm 2010,
từ đó tập hợp đưa ra các hành vi vi phạm và các biện pháp tổ chức thực hiện trong thời gian tới đối với cơ quan thuế các cấp
- “Cục Thuế tỉnh Thái Bình: Một số kinh nghiệm trong công tác thanh tra chống chuyển giá” của Xuân Thị Vinh, trang thông tin Cục Thuế tỉnh Thái
Trang 14Bình (thaibinh.gdt.gov.vn) ngày 17/01/2013, tác giả đánh giá tổng quát về nội dung thanh tra chống chuyển giá, kết quả thực hiện của Cục Thuế tỉnh Thái Bình, các kinh nghiệm rút ra qua công tác thanh tra, biện pháp hoàn thiện
- “Hiện đại hóa công tác thanh tra thuế - Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam” (2005) của Nguyễn Đẩu- Tổng Cục Thuế;
Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh nhất định của thanh tra, kiểm tra thuế như:
- “Giải pháp khắc phục những bất cập của thuế GTGT” (2011) của
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được trình bày trong 4 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế và những vấn đề
cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011 - 2013
Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối
với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang trong thời gian tới
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP 1.1 Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình
hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về
tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra (Học viện Tài chính (2010), Giáo trình Quản lý thuế, tr214)
Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm
công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát
hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật (Học viện Tài chính (2010), Giáo trình Quản lý thuế, tr214)
Thanh tra là một hoạt động kiểm tra nên giữa thanh tra và kiểm tra có những điểm giống nhau
Điểm giống nhau cơ bản của thanh tra và kiểm tra là chúng đều phải xem xét tình hình thực tế của đối tượng nhằm phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình, làm rõ đúng sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục Do vậy, giữa thanh tra và kiểm tra có thể có cùng nội dung hoặc phương pháp tiến hành trong những phạm vi công việc nhất định
Tuy nhiên, giữa kiểm tra và thanh tra có các điểm khác nhau cơ bản sau: Thứ nhất, chủ thể của thanh tra không đồng nhất với đối tượng thanh tra
Chủ thể thanh tra là tổ chức thanh tra chuyên trách của Nhà nước; đối tượng thanh tra là đối tượng quản lý của Nhà nước Chủ thể của kiểm tra có thể đồng nhất, có thể không đồng nhất với đối tượng kiểm tra Chẳng hạn, khi
Trang 16đơn vị tự kiểm tra thì chủ thể và khách thể kiểm tra là một Chủ thể kiểm tra thuế có thể là cơ quan nhà nước, có thể không phải là cơ quan nhà nước
Thứ hai, tính chất của thanh tra là một hoạt động quyền lực của cơ quan
quản lý nhà nước Kiểm tra là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực quản lý nhà nước, mà có thể là hoạt động quản lý đơn thuần
Thứ ba, mục đích của thanh tra là phát hiện, ngăn chặn những hành vi
trái pháp luật Mục đích của kiểm tra là phát hiện những sai lệch của đối tượng kiểm tra để điều chỉnh và ngăn chặn những sai lệch ấy (sai lệch có thể là vi phạm pháp luật, có thể chỉ là không đúng kế hoạch, không đúng yêu cầu, )
Thứ tư, hoạt động kiểm tra có phạm vi rộng hơn, diễn ra ở tất cả các
hoạt động kinh tế - xã hội và được thực hiện một cách thường xuyên liên tục Hoạt động thanh tra có phạm vi hẹp hơn vì hoạt động thanh tra là kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh Hoạt động thanh tra phải giải quyết các “tồn đọng” trong quản lý, giải quyết các khiếu tố đối với các vi phạm của đối tượng kiểm tra
Thứ năm, về hình thức tổ chức: để tiến hành hoạt động thanh tra phải
thành lập đoàn thanh tra, trong khi kiểm tra có thể phải thành lập đoàn kiểm tra, có thể chỉ do một người tiến hành, không nhất thiết phải thành lập đoàn Cũng có trường hợp cấp trên yêu cầu cấp dưới tự kiểm tra một hoặc một số nội dung và báo cáo kết quả bằng văn bản cho cấp trên
Công tác thanh tra và kiểm tra tuy có những điểm khác nhau song đều
là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý của Nhà nước Việc phân biệt thanh tra và kiểm tra không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, tránh sự chồng chéo,
giảm bớt phiền hà cho các đối tượng được thanh tra, kiểm (Học viện Tài chính (2010), Giáo trình Quản lý thuế, tr215-216)
Trang 171.1.1.2 Đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế có phạm vi rộng Đối tượng thanh tra,
kiểm tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành Thuế, là đối tượng nộp thuế bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các Luật thuế
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì
nó đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế Để che giấu các hành vi trốn thuế nhằm bảo vệ lợi ích vật chất của mình, các đối tượng nộp thuế thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực
chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ công chức làm việc trong lĩnh vực này Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng thanh tra, đòi hỏi người công chức thuế không chỉ nắm chắc các Luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng thanh tra, tức
là người công chức thanh tra còn phải có sự am hiểu sâu rộng về kinh tế, giỏi
kế toán, sâu sắc trong tư duy lô gíc Đồng thời, người công chức thanh tra thuế cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất
Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động có tính chất pháp lý cao, liên quan
đến lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội Do đó, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan,
trung thực, xử lý đúng người đúng tội, không bao che, quy chụp cho các đối tượng được thanh tra, kiểm tra Đây chính là những yêu cầu hàng đầu của thanh tra, kiểm tra thuế vì chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này mới đạt được
Trang 18mục đích của công tác thanh tra, kiểm tra thuế, mới làm cho thanh tra, kiểm tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý, mới có được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp
thời, tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến Đảm bảo công khai, dân chủ là yêu cầu quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
vì thông qua đó phát huy được sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác giám sát tuân thủ pháp luật Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý Nhà nước; ngăn chặn đúng lúc các hành vi tiêu cực, tránh những tổn thất nặng nề cho Nhà nước và nhân dân
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật
thuế, ngăn ngừa, loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác thanh tra, kiểm tra thuế; đạt được yêu cầu này thì công tác thanh
tra, kiểm tra thuế mới làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình (Học viện Tài chính (2010), Giáo trình Quản lý thuế, tr217)
1.1.2 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Để đạt được mục đích trên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Đó là các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm
Trang 19tra thuế; ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hoá hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất cứ một cơ quan hoặc cá nhân nào Kết luận thanh tra, kiểm tra theo đúng quy định pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật
- Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan
Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác thanh tra, kiểm tra Có trung thực, chính xác, khách quan trong công tác thanh tra, kiểm tra thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người đúng việc, đúng pháp luật
Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỷ mỷ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn
- Nguyên tắc công khai, dân chủ
Tính công khai trong thanh tra, kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như: Công khai quyết định thanh tra, tiếp xúc công khai với các đối tượng
có liên quan và công bố công khai kết luận thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, tùy trường hợp cụ thể mà xác định phạm vi công khai và hình thức công khai cho
Trang 20phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả thanh tra, kiểm tra cao nhất
Dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc Dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm lôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như là những tai mắt của lực lượng thanh tra, kiểm tra Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra, kiểm tra được trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyết các khiếu nại,
tố cáo của công dân
- Nguyên tắc bảo vệ bí mật
Cần quán triệt nguyên tắc này trong thanh tra, kiểm tra thuế là vì trong qúa trình thanh tra, kiểm tra người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật quốc gia Nếu để lộ cho những đối tượng không đựơc phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp Do vậy, họ chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền được biết
- Nguyên tắc hiệu quả
Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho thanh tra, kiểm tra thuế đạt được mục đích của nó Nguyên tắc này đòi hỏi thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính
sách thuế (Học viện Tài chính (2010), Giáo trình Quản lý thuế, tr218-219)
1.1.3 Yêu cầu đối với thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động có tính chất pháp lý cao, liên quan
đến lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội Do đó, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Trang 21Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan,
trung thực, xử lý đúng người đúng tội, không bao che, quy chụp cho các đối tượng được thanh tra, kiểm tra Đây chính là những yêu cầu hàng đầu của thanh tra, kiểm tra thuế vì chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này mới đạt được mục đích của công tác thanh tra, kiểm tra thuế, mới làm cho thanh tra, kiểm tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý, mới có được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp
thời, tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến Đảm bảo công khai, dân chủ là yêu cầu quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
vì thông qua đó phát huy được sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác giám sát tuân thủ pháp luật Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý Nhà nước; ngăn chặn đúng lúc các hành vi tiêu cực, tránh những tổn thất nặng nề cho Nhà nước và nhân dân
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các Luật
thuế, ngăn ngừa, loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác thanh tra, kiểm tra thuế; đạt được yêu cầu này thì công tác thanh tra, kiểm tra thuế mới làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình
1.1.4 Phân loại thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế được chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại Cụ thể như sau:
- Theo yếu tố thời gian:
+ Thanh tra, kiểm tra thuế thường xuyên: Đây là hoạt động thanh tra,
kiểm tra diễn ra định kỳ, lặp đi lặp lại theo chu kỳ hàng ngày, hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm Hoạt động kiểm tra thường xuyên thường được tiến hành tại cơ quan thuế đối với hồ sơ khai thuế của người nộp thuế và được thực hiện
Trang 22thường xuyên đối với nội bộ cơ quan thuế Hoạt động thanh tra, kiểm tra thường xuyên hàng năm thường được tiến hành tại trụ sở của người nộp thuế đối với những người nộp thuế được xếp vào nhóm rủi ro cao về thuế
+ Thanh tra, kiểm tra thuế bất thường: Đây là một trong những hình
thức chủ yếu của thanh tra trong lĩnh vực xét và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân; thường được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra hay do lãnh đạo đơn vị đặt ra
- Theo yếu tố phạm vi:
+ Thanh tra, kiểm tra từng phần: thường được áp dụng với một sắc
thuế nhất định hoặc một phần của quy trình thu nộp
+ Thanh tra, kiểm tra toàn phần: Áp dụng trên toàn diện các mặt công
tác của một cơ quan thuế, một cá nhân hay toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế với tất cả các sắc thuế có liên quan của một đối tượng nộp thuế
- Theo địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra:
+ Thanh tra, kiểm tra tại bàn (tại cơ quan thuế): Công tác kiểm tra các
hồ sơ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh được thực hiện tại cơ quan thuế
+ Thanh tra, kiểm tra tại cơ sở kinh doanh: Công việc thanh tra, kiểm
tra được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế; cho phép công chức thanh tra, kiểm tra tiếp cận với tình hình thực tế, tài liệu cụ thể của cơ sở như sổ sách chứng từ kế toán, quỹ tiền mặt thực tế, sản phẩm tồn kho thực tế…
1.1.5 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế
Phương pháp thanh tra, kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra Những phương pháp được sử dụng trong công tác thanh tra, kiểm tra bao gồm: Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro; phương pháp đi từ tổng hợp đến chi tiết; phương pháp đối chiếu, so sánh; các phương pháp kiểm tra chứng từ gốc; các bổ trợ Cụ thể như sau:
Trang 231.1.5.1 Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro
Xét riêng trong lĩnh vực quản lý thuế, rủi ro được hiểu là những tổn thất
có thể xảy ra phát sinh từ các hoạt động không tuân thủ pháp luật thuế trong một môi trường, hoàn cảnh cụ thể
Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro, rủi ro bao gồm: Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện và rủi ro thanh tra Trong đó:
- Rủi ro tiềm tàng (IR): Là rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong một môi
trường nhất định Trong thanh tra thuế, rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính và các hồ sơ khai thuế, tồn tại độc lập với tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ và việc có thực hiện thanh tra thuế hay không Khi thanh tra, kiểm tra, để xác định loại rủi ro này, công chức thanh tra cần phải nắm được những kiến thức liên quan tới hoạt động của người nộp thuế, nhận biết yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng ở các mức độ tổng thể và chi tiết; xác định rõ mức độ rủi ro tiềm tàng của từng cơ sở kinh doanh để làm cơ sở xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra
- Rủi ro kiểm soát (CR): Là rủi ro về khả năng kiểm soát tại chỗ không
chặt chẽ nên không ngăn ngừa được những sai sót trọng yếu có thể xảy ra Rủi ro kiểm soát cũng nằm ngoài tầm kiểm soát của cán bộ thanh tra, kiểm tra
vì nó luôn tồn tại, dù có tiến hành thanh tra, kiểm tra hay không Ví dụ: Để giảm việc không vào doanh thu các khoản thu tiền mặt khi bán hàng, hệ thống kiểm soát nội bộ yêu cầu sử dụng các hóa đơn thu tiền đã được đánh số sẵn để ghi nhận các khoản doanh thu bằng tiền Kết quả kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ cho thấy nhân viên hạch toán các khoản doanh thu này chỉ hạch toán trong quý đầu của năm kiểm tra Khi đó, rủi ro kiểm soát xảy ra cao trong 9 tháng cuối năm
- Rủi ro phát hiện (DR): Là rủi ro mà thanh tra thuế không phát hiện
được qua các báo cáo tài chính gian lận Rủi ro phát hiện xuất hiện xuất phát
từ chất lượng của hoạt động thanh tra, hay là từ các quy định của pháp luật, chất lượng của quy trình, trình độ công chức thanh tra, kiểm tra thuế
Trang 24- Rủi ro thanh tra (AR): Là rủi ro mà các báo cáo tài chính gian lận
được chấp nhận như các báo cáo tài chính trung thực Rủi ro thanh tra tổng thể chịu sự tác động của ba nhân tố IR, CR và DR:
AR = IR * CR * DR Quản lý rủi ro về thuế là một quá trình nhận diện, đánh giá, phân tích
để có phương án giải quyết một cách có hệ thống nhằm tối đa hóa khả năng xảy ra khi có hiệu quả tích cực và tối thiểu hóa khả năng xảy ra khi có hiệu quả tiêu cực Quản lý rủi ro có thể được hiểu là quá trình lựa chọn và thực hiện các giải pháp trong bối cảnh nguồn lực có hạn để giảm thiểu nguy cơ xấu
đe dọa đến sự thành công của tổ chức Quản lý rủi ro cũng là một quá trình đo lường hay đánh giá về quy mô và tính chất nghiêm trọng của một sự việc, một hiện tượng, một vấn đề, trên cơ sở đó lập chiến lược quản lý rủi ro Như vậy, điều quan trọng trong quản lý rủi ro là dành ưu tiên mọi nguồn lực vào quản
lý những rủi ro có thể xảy ra tổn thất lớn nhất và những rủi ro có nhiều khả năng xảy ra nhất, tiếp đến là quản lý những rủi ro có tổn thất thấp hơn và ít có khả năng xảy ra hơn
Việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thực chất
là việc phân loại, đánh giá người nộp thuế dựa trên hệ thống những tiêu thức rủi ro về thuế nhằm xác định những người nộp thế có mức độ tuân thủ thấp và khả năng gian lận cao về thuế để tập chung nguồn lực thanh tra, kiểm tra theo nguyên tắc ưu tiên nguồn lực thanh tra, kiểm tra những người nộp thuế có thể mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm có nhiều khả năng xảy ra nhất
1.1.5.2 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp đối chiếu, so sánh là phương pháp nghiệp vụ được sử dụng chủ yếu trong suốt quá trình tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế
Công chức thanh tra, kiểm tra thuế cần tiến hành so sánh, đối chiếu các nội dung cần thanh tra, kiểm tra để xác định tính hợp lý, khách quan, trung thực của nội dung cuộc kiểm tra: đối chiếu tài liệu, số liệu của đơn vị được kiểm tra với đơn vị khác; đối chiếu giữa báo cáo kế toán với sổ kế toán, giữa sổ kế toán
Trang 25tổng hợp với chi tiết, giữa số liệu và chứng từ, giữa số liệu báo cáo và thực tế, giữa nội dung tài liệu, báo cáo sổ sách, chứng từ với chuẩn mực kế toán…
1.1.5.3 Phương pháp kiểm tra đi từ tổng hợp đến chi tiết
Phương pháp này gọi là phương pháp kiểm tra ngược chiều, khi kiểm tra thì kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết chứ không phải từ chi tiết đến tổng hợp như trình tự hạch toán kế toán Kiểm tra từ tổng hợp tới chi tiết giúp công chức phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề chính, những bất thường để tiến hành thanh tra, kiểm tra, tránh dàn trải không trọng tâm
Kiểm tra số liệu tổng hợp được tiến hành với các số liệu đã được tổng hợp theo nội dung kinh tế, phản ánh trên các báo cáo tài chính (Bảng cân đối
kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ), rút ra nhận xét tổng quát và vấn đề cần đi sâu kiểm tra
Kiểm tra số liệu chi tiết là kiểm tra số liệu của từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thể hiện trên chứng từ gốc hoặc bảng kê chi tiết
1.1.5.4 Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc
Các phương pháp được sử dụng:
- Kiểm tra chứng từ theo trình tự thời gian phát sinh;
- Kiểm tra theo loại hình nghiệp vụ: Chứng từ thu, chứng từ chi tiền mặt; chứng từ nhập xuất vật tư…;
- Kiểm tra điển hình: Là lựa chọn ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ nào đó để kiểm tra, xem xét và rút ra kết luận chung
1.1.5.5 Phương pháp kiểm tra bổ trợ
Các phương pháp kiểm tra bổ trợ bao gồm:
- Phương pháp quan sát: Là quan sát trực tiếp, kín đáo và không gây trở ngại những công việc có liên quan đến nội dung thanh tra tại hiện trường
- Phương pháp phỏng vấn: Nhằm thu thập thông tin từ những người có quan hệ trực tiếp đến nội dung thanh tra
- Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần (phương pháp phối hợp kiểm tra nhiều nguồn): Theo phương pháp này, số liệu được đối chiếu với nhiều nguồn, nhiều nguồn thông tin để kiểm tra đảm bảo khớp đúng sự việc
Trang 26Công chức kiểm tra phải có văn bản xác nhận về từng phần việc đã được xác minh, trên cơ sở xác nhận từng phần để đi đến xác nhận toàn bộ
- Phương pháp toán học như số học, toán kinh tế… nhằm tính toán đối chiếu và tổng hợp số liệu
1.1.6 Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế nhằm kiểm tra tính đầy
đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế
1.1.6.1 Đối với kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế
Cơ quan thuế thực hiện việc kiểm tra nội dung kê khai trong hồ sơ khai thuế (Tờ khai thuế và các phụ lục của tờ khai theo quy định của pháp luật), đối chiếu với cơ sở dữ liệu của người nộp thuế và tài liệu có liên quan về người nộp thuế, để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện các trường hợp khai chưa đầy đủ dẫn tới việc thiếu thuế hoặc trốn thuế, gian lận thuế
1.1.6.2 Thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Căn cứ vào quyết định thanh tra, kiểm tra thuế, đoàn kiểm tra phải thực hiện quá trình tập hợp và phân tích rủi ro các thông tin chuyên sâu tại cơ quan thuế, nhằm kiểm tra tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính, các nghi vấn cần doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin hoặc những nội dung nghi ngờ cần tiếp xúc với doanh nghiệp để làm rõ (thông tin chung
về doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức hạch toán, liên doanh liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng, tăng giảm tài sản, biên bản xác nhận công nợ nội bộ, công nợ người bán, người mua ) Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp tại trụ sở của người nộp thuế được thực hiện tuỳ theo phạm vi, quy mô, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra
* Các nội dung kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp gồm:
- Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký sử dụng hoá đơn
Trang 27- Kiểm tra đối chiếu tài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của doanh nghiệp: Báo cáo quyết toán tài chính quý, năm; tờ khai thuế giá trị gia tăng, tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quý, tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tự quyết toán năm và các tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế khác liên quan đến nội dung ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra
- Kiểm tra việc mở sổ kế toán và tính hợp pháp: Sổ cái, các sổ theo dõi chi tiết theo các chuẩn mực kế toán Nhà nước quy định, đối chiếu số liệu tổng hợp giữa sổ chi tiết với bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản
Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài liệu, hồ sơ liên quan khác: số thuế đầu kỳ trước chuyển sang, xác nhận của cơ quan thuế, cơ quan Kho bạc Nhà nước về số nộp ngân sách trong kỳ, các tài liệu liên quan đến hoàn thuế, miễn giảm thuế
* Kiểm tra chi tiết, lập hồ sơ chứng lý tại trụ sở người nộp thuế gồm các nội dung sau:
- Kiểm tra sổ sách, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung kiểm tra, thanh tra thuế
- Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: đối chiếu số liệu hạch toán, số liệu tính, kê khai, thu nộp thuế và hạch toán thực tế của doanh nghiệp với các chuẩn mực nhà nước quy định (quy định luật, pháp lệnh thuế
và các văn bản hướng dẫn thi hành; các cơ chế tài chính và chuẩn mực kế toán nhà nước ban hành )
- Thực hiện lập hồ sơ chứng lý thanh tra, kiểm tra Hồ sơ chứng lý được coi là tài liệu gốc để lập biên bản thanh tra, kiểm tra, gồm: Các biên bản ghi nhận kết quả đối chiếu; các bản sao chụp các tài liệu có liên quan kể cả các bức ảnh, đoạn băng ghi lại những việc làm sai của doanh nghiệp (phân tán kho quỹ, cất giấu chứng từ, tài liệu )
- Trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu giữ tài liệu ghi rõ tình trạng của tài liệu đó (kể cả hiện vật nếu có) để yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giám định
Trang 281.2 Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
1.2.1 Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thuế trong thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Theo quy định của Luật Quản lý thuế, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành thì cơ quan thuế có trách nhiệm và quyền hạn sau trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế:
1.2.1.1 Đối với hoạt động kiểm tra thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế
- Chỉ đạo thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định kiểm tra thuế;
- Áp dụng biện pháp tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế;
- Gia hạn kiểm tra trong trường hợp cần thiết;
- Quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành vi hành chính, quyết định hành chính của công chức quản lý thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của công chức quản lý thuế khi thực hiện kiểm tra thuế
- Thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định kiểm tra thuế;
- Yêu cầu người nộp thuế cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra;
- Lập biên bản kiểm tra thuế; báo cáo kết quả kiểm tra với người đã ra quyết định kiểm tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của biên bản, báo cáo đó;
- Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với người có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm
Trang 291.2.1.2 Đối với hoạt động thanh tra thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra thuế
- Chỉ đạo, kiểm tra đoàn thanh tra thuế thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định thanh tra thuế;
- Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra thuế cung cấp thông tin, tài liệu đó;
- Áp dụng các biện pháp: Khám nơi cất giấu, tạm giữ tài liệu và tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế;
- Trưng cầu giám định về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế;
- Tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ việc làm khi xét thấy việc làm đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về thuế; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quyết định xử lý về thanh tra thuế;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến trách nhiệm của trưởng đoàn thanh tra thuế, các thành viên khác của đoàn thanh tra thuế;
- Kết luận về nội dung thanh tra thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng đoàn thanh tra thuế
- Tổ chức, chỉ đạo các thành viên trong đoàn thanh tra thuế thực hiện đúng nội dung, đối tượng, thời hạn đã ghi trong quyết định thanh tra thuế;
- Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế; khi cần thiết có thể tiến hành kiểm kê tài sản của đối tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra thuế;
Trang 30- Áp dụng biện pháp tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế;
- Lập biên bản thanh tra thuế;
- Báo cáo với người ra quyết định thanh tra thuế về kết quả thanh tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của báo cáo đó;
- Xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền ban hành quyết định xử lý vi phạm;
Nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên đoàn thanh tra thuế
- Thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của trưởng đoàn thanh tra thuế;
- Kiến nghị xử lý những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế;
- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với trưởng đoàn thanh tra thuế
1.2.2 Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
1.2.2.1 Quyền của người nộp thuế (trong đó có doanh nghiệp) trong thanh tra, kiểm tra thuế
- Từ chối việc thanh tra, kiểm tra khi không có quyết định thanh tra, kiểm tra thuế Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu không liên quan đến nội dung kiểm tra thuế; thông tin, tài liệu thuộc bí mật Nhà nước, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác;
- Nhận biên bản thanh tra, kiểm tra thuế và yêu cầu giải thích nội dung biên bản thanh tra, kiểm tra thuế; bảo lưu ý kiến trong biên bản thanh tra, kiểm tra thuế;
- Khiếu nại với người ra quyết định thanh tra, kiểm tra thuế về quyết định, hành vi của trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra thuế, thành viên đoàn thanh tra, kiểm tra thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, người khiếu nại vẫn phải thực hiện các quyết định đó;
Trang 31- Khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế
1.2.2.2 Trách nhiệm, nghĩa vụ của người nộp thuế (trong đó có doanh nghiệp) trong thanh tra, kiểm tra thuế
- Chấp hành quyết định thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan quản lý thuế;
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra thuế; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp;
- Ký biên bản thanh tra, kiểm tra thuế trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc thanh tra, kiểm tra;
- Chấp hành yêu cầu, kết luận thanh tra thuế, quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế, trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra thuế và cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền;
1.2.3 Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế là trình tự và các bước công việc và thời gian thực hiện cụ thể, lô-gich và chặt chẽ, bắt buộc công chức thuế phải tuân thủ khi thực hiện công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Để cụ thể hoá các quy định về công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, hiện nay cơ quan thuế các cấp đang thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo 02 quy trình, đó là: Quy trình kiểm tra thuế và Quy trình thanh tra thuế Cụ thể như sau:
1.2.3.1 Quy trình kiểm tra thuế
Quy trình kiểm tra thuế ban hành kèm theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Nội dung chính quy định về việc thực hiện các công việc:
+ Công tác kiểm tra và xử lý kết quả kiểm tra hồ sơ thuế tại cơ quan thuế gồm các bước:
Trang 32o Duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ khai thuế (lập danh sách người nộp thuế phải kiểm tra hồ sơ khai thuế theo đánh giá rủi ro);
o Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế;
o Xử lý kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế
+ Kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế:
o Trình tự, thủ tục kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế;
o Lập biên bản kiểm tra;
o Xử lý kết quả kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế;
o Tổng hợp, báo cáo và lưu giữ tài liệu kiểm tra thuế
1.2.3.2 Quy trình thanh tra thuế
Quy trình thanh tra thuế ban hành kèm theo Quyết định số TCT ngày 05 tháng 5 năm 2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
460/QĐ-Nội dung chính quy định về việc thực hiện các công việc:
+ Lập kế hoạch thanh tra năm:
o Bước 1 Thu thập, khai thác thông tin dữ liệu về người nộp thuế
o Bước 2 Đánh giá, phân tích để lựa chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra
o Bước 3 Trình, duyệt kế hoạch thanh tra thuế năm
o Bước 4 Điều chỉnh, bổ sung kế hoạch thanh tra
+ Tổ chức thanh tra tại trụ sở của người nộp thuế:
o Bước 1 Chuẩn bị thanh tra
o Bước 2 Công bố Quyết định thanh tra thuế
o Bước 3 Phân công công việc và lập nhật ký thanh tra thuế
o Bước 4 Thực hiện thanh tra theo các nội dung trong Quyết định thanh tra
o Bước 5 Thay đổi, bổ sung nội dung thanh tra hoặc gia hạn thời gian thanh tra
o Bước 6 Lập Biên bản thanh tra thuế
Trang 33o Bước 7 Công bố công khai Biên bản thanh tra
+ Xử lý kết quả sau thanh tra:
o Bước 1 Báo cáo kết quả thanh tra; dự thảo kết luận thanh tra; dự thảo Quyết định xử lý truy thu thuế; dự thảo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế
o Bước 2 Ký kết luận thanh tra; Quyết định xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế
o Bước 3 Lưu hành kết luận thanh tra; Quyết định xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong cơ quan thuế
o Bước 4 Giao kết luận thanh tra; Quyết định xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế cho người nộp thuế
o Bước 5 Nhập số liệu vào hệ thống cơ sở dữ liệu hỗ trợ thanh tra thuế của Ngành
+ Tổng hợp báo cáo và lưu giữ tài liệu thanh tra thuế
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp
Trong quá trình triển khai thực hiện, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế có nhiều nhân tố tác động đến, cả khách quan và chủ quan Cụ thể là:
1.3.1 Các nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan là những nhân tố không thuộc về cơ quan thuế
mà thuộc về các cơ quan, tổ chức khác trong xã hội Cụ thể là:
- Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về thuế nói riêng: Pháp luật càng hoàn thiện thì càng tạo ra một cơ sở pháp lý rõ
ràng, đầy đủ, vững chắc, làm cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được thuận lợi Pháp luật thiếu minh bạch thì cơ sở xác định sai phạm không vững chắc, có thể gây những tranh luận không có hồi kết về mức độ đúng sai trong hành vi của người nộp thuế và của cơ quan thuế Pháp luật không đầy đủ thì
Trang 34không có cơ sở pháp lý để tiến hành một số nội dung thanh tra, kiểm tra thuế cần thiết
- Sự phối hợp của các cơ quan nhà nước có liên quan: Để tiến hành
công tác thanh tra, kiểm tra thuế, cơ quan thuế cần sự phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước như: Công an, Quản lý thị trường, địa chính, kho bạc Hoạt động phối hợp có ý nghĩa quan trọng trong xác định thông tin về hoạt động kinh doanh và tình hình chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế Thậm chí trong một số trường hợp, hoạt động phối có còn có tác động trực tiếp đến việc có hay không hành vi vi phạm pháp luật về thuế và mức độ
vi phạm cụ thể như thế nào Bởi vậy, nếu sự phối hợp tốt thì giúp cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được thuận lợi và ngược lại
- Trình độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế:
Người dân có tác động đến hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trên hai phương diện: (i) Họ là người nộp thuế, là đối tượng của thanh tra, kiểm tra thuế; (ii)
Họ là quần chúng nhân dân có thông tin về đối tượng thanh tra, kiểm tra Trên phương diện thứ nhất, với trình độ dân trí cao và ý thức chấp hành pháp luật tốt thì người nộp thuế phối hợp tốt với cơ quan thanh tra, kiểm tra; tạo sự thuận lợi cho công tác thanh tra, kiểm tra Hơn nữa, trình độ dân trí cao, ý thức chấp hành pháp luật thuế tốt sẽ giúp giảm khối lượng công tác thanh tra, kiểm tra thuế Trên phương diện thứ hai, trình độ dân trí càng cao thì người dân càng chủ động đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật nói chung
và pháp luật thuế nói riêng, người dân sẽ tích cực giúp đỡ cơ quan thuế trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế
- Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc của cơ quan thuế: Sự đầu tư
của Nhà nước về cơ sở vật chất và phương tiện làm việc có tác động không nhỏ đến hiệu quả và chất lượng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc hiện đại giúp nâng cao hiệu suất làm việc của công chức thanh tra, kiểm tra thuế
Trang 35- Chế độ đãi ngộ đối với người làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế: Chế
độ đãi ngộ đối với công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế nằm trong tổng thể chế độ tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức Một chế độ đãi ngộ thỏa đáng sẽ tạo động lực làm việc tốt cho mỗi cán bộ công chức nói chung
và mỗi công chức thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng Chế độ đãi ngộ thỏa đáng, đảm bảo đời sống của công chức sẽ góp phần giảm động cơ tham nhũng
- Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của công chức thanh tra, kiểm tra thuế: Con người là nhân tố quyết định đến sự thành bại của mọi hoạt
động kinh tế - xã hội Con người là nhân tố trung tâm của mọi hệ thống quản
lý Lĩnh vực thanh tra, kiểm tra thuế cũng không phải là ngoại lệ Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của công chức thanh tra, kiểm tra thuế càng cao thì chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra càng tốt và ngược lại
- Hệ thống cơ sở dữ liệu và việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho việc khai thác, phân tích thông tin về người nộp thuế: Thông tin là một
trong những cơ sở tiên quyết của mọi quyết định quản lý Trong thanh tra, kiểm tra thuế, thông tin là cơ sở để lựa chọn đúng đối tượng thanh tra, kiểm tra; là cơ sở để lựa chọn phương pháp và phạm vi, trọng tâm tiến hành thanh tra, kiểm tra; là cơ sở để xác định có hay không hành vi vi phạm pháp luật thuế của đối tượng thanh tra, kiểm tra Cơ sở dữ liệu thông tin càng đầy đủ,
Trang 36chính xác và kịp thời thì hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế càng cao Thông tin được tổng hợp xử lý tốt hay không phụ thuộc vào việc ứng dụng công nghệ thông tin vào thanh tra, kiểm tra thuế Bởi vậy, cơ sở dữ liệu thông tin về người nộp thuế và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa rất quan trọng trong thanh tra, kiểm tra thuế
- Công tác tổ chức, chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan thuế: Người lãnh
đạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi hệ thống quản lý mà trong quản
lý thuế không phải là một ngoại lệ Tài năng, đạo đức và uy tín của người lãnh đạo cơ quan thuế có tác động quan trọng đến chất lượng và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
- Sự nghiêm minh trong xử lý vi phạm: Chế tài là một trong ba bộ phận
cơ bản cấu thành của một quy phạm pháp luật Chế tài có chức năng áp dụng hình phạt với hành vi vi phạm pháp luật Chức năng này sẽ không được thực hiện đầy đủ khi việc tổ chức thực hiện pháp luật không nghiêm minh Khi xử
lý vi phạm không nghiêm minh sẽ khiến cả công chức thanh tra, kiểm tra và người nộp thuế nhờn luật; giảm tác động cảnh báo, ngăn ngừa của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Sự ảnh hưởng của mỗi nhân tố đều có tác động hai mặt, cả tích cực và hạn chế Chính vì vậy, cơ quan thuế phải có các biện pháp, giải pháp hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực, phát huy tác dụng tích cực để nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
1.4 Bài học kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra thuế của một số địa phương khác
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng nhất trong công tác quản lý thuế Trong kết quả chung của Cục Thuế các tỉnh có phần đóng góp không nhỏ của công tác thanh tra, kiểm tra thuế vào việc thực hiện hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước hàng năm Do vậy, công tác
Trang 37thanh tra, kiểm tra thuế luôn được Cục Thuế các tỉnh chú trọng và quan tâm trong công tác chỉ đạo điều hành
Xác định vai trò và tầm quan trọng của thanh tra, kiểm tra trong công tác quản lý thuế Do vậy, hàng năm Cục Thuế các tỉnh thường tổ chức trao đổi, tọa đàm và đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn nhằm giúp công chức thuế kịp thời nhận biết các dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế mới phát sinh để nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế Tác giả đưa ra một số kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra thuế của Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang và Cục Thuế tỉnh Phú Thọ thời gian vừa qua, để có thể vận dụng trong phân tích những kinh nghiệm thực tế một cách có chọn lọc công tác tác thanh tra, kiểm tra thuế của một số Cục Thuế, qua đó rút ra
những vấn đề cơ bản có thể áp dụng ở văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang
1.4.1 Bài học kinh nghiệm từ Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang
Qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế Cục Thuế tỉnh Tuyên Quangđã đưa
ra được một số kinh nghiệm về hành vi vi phạm cũng như cách thức phát hiện đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, lắp đặt, đó là:
1.4.1.1 Hành vi vi phạm
- Kê khai doanh thu chậm hơn so với thời điểm quyết toán hoặc bàn
giao công trình; giá trị kê khai nhỏ hơn giá trị công trình được nghiệm thu, bàn giao
- Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng có kê khai hưởng ưu đãi miễn giảm thuế do thành lập mới từ dự án đầu tư đã xác định các điều kiện ưu đãi thuế không đúng quy định
- Hiểu sai thời điểm, căn cứ xác định doanh thu dẫn đến vi phạm về kê khai thuế GTGT, thuế TNDN, cụ thể: Công trình đã hoàn thành đã có quyết toán công trình hoặc quyết toán giai đoạn nhưng chưa thu được tiền của chủ đầu tư nên chưa kê khai thuế GTGT hoặc quyết toán thuế TNDN
Trang 38- Không thực hiện ghi ngày, tháng trên biên bản nghiệm thu, phiếu giá thanh toán, kê khai doanh thu tính thuế theo tiến độ thanh toán Thanh lý tài sản cố định không kê khai thuế GTGT, kê khai thấp hơn quy định
- Doanh nghiệp thường có nợ phải thu phải trả, các khoản vay lớn và kéo dài nhiều niên độ kế toán; hạch toán vào chi phí chờ dở dang lớn nhưng kết chuyển doanh thu thấp
- Không hạch toán các công trình do bên chủ đầu tư không yêu cầu hoá đơn, nhưng vẫn hạch toán các chi phí xây dựng phát sinh (trường hợp này thường xảy ra đối với doanh nghiệp chỉ sử dụng duy nhất tài khoản 154 để hạch toán tập trung tất cả các khoản mục chi phí, chi phí của nhiều công trình)
- Thực hiện kiểm tra đối chiếu các hợp đồng xây lắp ký với các chủ đầu
tư, so sánh với sổ sách, hạch toán kế toán Đối chiếu từng hạng mục hoàn thành theo thời gian với việc ghi chép trên sổ sách kế toán
- Đối chiếu việc thanh toán với các hạng mục công trình hoàn thành
- Đối chiếu chi phí tập hợp quyết toán trên sổ sách kế toán với chi phí quyết toán trên từng công trình của bộ phận xây lắp
- Đối chiếu số liệu thực quyết toán với số dự toán được lập khi xây dựng dự toán ban đầu hoặc tham gia đấu thầu
- Đối chiếu xác định doanh thu tính thuế GTGT; doanh thu tính thuế TNDN của hoạt động xây nhà và doanh thu tính thuế chuyển quyền, doanh thu tính thuế TNDN từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất
Trang 39- Kiểm tra xác định các công trình hoàn thành nhưng chưa nghiệm thu, công trình đã hoàn thành nhưng chủ đầu tư chưa thanh toán, các công trình ghi giảm doanh thu của các năm trước, ghi giảm của năm báo cáo
- Đối chiếu chi phí trên sổ sách kế toán với chi phí quyết toán trên các hạng mục công trình để xác định các khoản chi phí nằm ngoài hạng mục, nằm ngoài quyết toán
- Đối chiếu các khoản chi phí trích trước theo trình tự thời gian để xác định số thuế GTGT của doanh thu tính trước
- Xác định cụ thể các công trình hạng mục công trình chịu thuế và không chịu thuế GTGT
- Kiểm tra thông qua tài khoản chi phí SXKD dở dang (tài khoản 154): kiểm tra hồ sơ công trình, hạng mục công trình xác định hồ sơ có nghiệm thu
kỹ thuật, điểm dừng kỹ thuật từng hạng mục công trình xây dựng như: Phần móng nhà, phần xây thô nhà, phần cọc hoặc ép cọc bê tông kiểm tra tài khoản chi phí SXKD dở dang (TK 154) xác định được chi phí vật tư xuất dùng vào công trình, hạng mục công trình
- Phát hiện thông qua nhóm tài khoản công nợ như: Kiểm tra phát hiện
số cuối kỳ có số dư tài khoản 131 Qua đó đối chiếu hồ sơ giao nhận thầu của công trình xác định được số tiền nhận được là tương ứng với khối lượng công việc xây dựng đã hoàn thành được nghiệm thu kỹ thuật giữa bên A và bên B
- Kiểm tra về chi phí nhân công: Trong xây dựng cơ bản, chi phí nhân công là một khoản chi chiếm tỷ trọng không nhỏ trong giá thành xây dựng Khoản chi này không quy định phải có hoá đơn tài chính Vì vậy doanh nghiệp thường lập bảng kê thanh toán chi trả tiền lương cho công nhân tùy ý Kiểm tra khoản chi trả tiền lương công nhân chú ý phải căn cứ vào định mức được duyệt để làm cơ sở xác định chi phí hợp lý
Trang 401.4.2 Bài học kinh nghiệm từ Cục Thuế tỉnh Phú Thọ
Qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế Cục Thuế tỉnh Phú Thọđã đưa ra được một số kinh nghiệm về hành vi vi phạm cũng như cách thức phát hiện đối với các doanh nghiệp sản xuất, đó là:
1.4.2.1 Hành vi vi phạm
Các hành vi vi phạm của doanh nghiệp sản xuất được phát hiện chủ yếu
là các hành vi như hạch toán trùng giá vốn, hạch toán trong giá vốn các khoản chi phí vượt định mức tiêu hao do chính người nộp thuế xây dựng, thực hiện tính toán và phân bổ chi phí không theo chế độ kế toán quy định tại các khoản mục chi phí như chi phí khấu hao TSCĐ, các khoản chi phí phát sinh một lần nhưng sử dụng trong nhiều năm tài chính Trong chi phí tính thuế thu nhập còn hạch toán nhiều khoản chi phí không hợp lệ về hồ sơ chứng từ, và không hợp lệ về nội dung khoản mục được tính vào chi phí theo quy định
1.4.2.2 Cách thức phát hiện
- Kiểm tra về điều kiện được hưởng ưu đãi thuế (miễn, giảm thuế) kiểm tra việc hạch toán riêng các hoạt động (hoạt động có ưu đãi và hoạt động không ưu đãi) có phù hợp với chuẩn mực kế toán hay không (đối với chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí hoạt động tài chính hạch toán riêng hay thực hiện phân bổ theo tiêu thức nào)
- Kiểm tra chi phí hợp lý:
+ Mức trích khấu hao TSCĐ được tính vào chi phí hợp lý theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ
+ Chi phí để nâng cấp TSCĐ được phản ánh tăng nguyên giá TSCĐ, không hạch toán chi phí này vào chi phí kinh doanh trong kỳ
+ Kiểm tra chi phí tiêu hao nguyên vật liệu: So sánh mức tiêu hao thực
tế so với định mức tiêu hao Theo quy định của chế độ kế toán thì các khoản hao hụt về nguyên vật liệu, nhiên liệu trong định mức được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh và vượt định mức thì không được tính Giám đốc cơ sở