Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Việt Nam chỉ rõ: Hỗ trợ phát triển chính thức ODA được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN ĐỨC LỢI
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nội dung nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này chưa hề được công bố
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn TS Trần Đức Lợi đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Tôi xin trân thành cảm ơn Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học – Trường ĐH Kinh tế và QTKD đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá học và trình bày luận văn này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp đã chia sẻ nhiều tư liệu và kinh nghiệm quý báu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
5 Kết cấu của đề tài 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐẾN GIẢM NGHÈO 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Nguồn vốn phát triển chính thức (ODA) 4
1.1.2 Lý luận về giảm nghèo 15
1.1.3 Tác động của nguồn vốn ODA đối với giảm nghèo 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Hiện trạng tình hình sử dụng nguồn vốn ODA cho giảm nghèo tại
một số quốc gia trên thế giới………28
1.2.2 Hiện trạng tình hình sử dụng nguồn vốn ODA cho giảm nghèo ở một số địa phương trên cả nước……… 31
1.2.3.Bài học rút ra cho tỉnh Quảng Ninh 34
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 36
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 36
Trang 52.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 36
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 36
2.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá và phương pháp phân tích 36
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN ODA TỚI GIẢM NGHÈO TẠI TỈNH QUẢNG NINH 42
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 42
3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu của tỉnh Quảng Ninh 42
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 45
3.1.3 Dân số, lao động và mức sống dân cư 48
3.2 Thực trạng đói nghèo và nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Ninh 57
3.2.1 Thực trạng về đói nghèo ở tỉnh Quảng Ninh 57
3.2.2 Thực trạng về nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Ninh 62
3.3 Tác động của nguồn vốn ODA đối với giảm nghèo ở tỉnh Quảng Ninh 66
3.3.1 Kênh tăng trưởng kinh tế và chỉ số bất bình đẳng trong dân cư 66
3.3.2 Phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở 68
3.3.3 Về hướng dẫn cách làm ăn - khuyến nông - lâm - ngư, dạy nghề, hỗ trợ phát triển ngành nghề cho hộ nghề, tạo điều kiện giảm nghèo trên diện rộng 70
3.3.4 Về giáo dục, y tế, môi trường và cải thiện an sinh xã hội 71
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của nguồn vốn ODA đến giảm nghèo của tỉnh Quảng Ninh 72
3.4.1 Quy trình vận động, thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA 72
3.4.2 Mối quan hệ với các nhà tài trợ 73
3.4.3 Chiến lược, chương trình, mục tiêu về giảm nghèo 73
3.4.4 Cơ chế phê duyệt và thủ tục giải ngân 73
3.4.5 Cơ chế triển khai, giám sát thực hiện các chương trình giảm nghèo 73
3.4.6 Quan hệ phi Nhà nước 74
3.4.7 Vấn đề con người 74
Trang 63.4.9 Sử dụng vốn ODA cho các nhóm ngành kinh tế 74
3.5 Đánh giá chung về tác động của ODA đến xóa đói giảm nghèo tỉnh Quảng Ninh 74
3.5.1 Những kết quả đạt được 74
3.5.2 Hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế 76
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA NGUỒN VỐN ODA NHẰM GIẢM NGHÈO TẠI TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2011-2020 80
4.1 Mục tiêu giảm nghèo tỉnh Quảng Ninh 80
4.1.1 Mục tiêu chung 80
4.1.2 Mục tiêu cụ thể 80
4.2 Quan điểm sử dụng hiệu nguồn vốn ODA cho xóa đói giảm nghèo tỉnh Quảng Ninh 81
4.3 Giải pháp phát huy tác động tích cực của nguồn vốn ODA cho giảm nghèo tỉnh Quảng Ninh 83
4.3.1 Hoàn thiện quy trình vận động thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA cho giảm nghèo 83
4.3.2 Nâng cao hiệu quả trong quan hệ với các nhà tài trợ 84
4.3.3 Xây dựng chiến lược, chương trình mục tiêu về xoá đói giảm nghèo 85
4.3.4 Cải tiến cơ chế và thủ tục giải ngân các dự án 86
4.3.5 Xây dựng cơ chế giám sát thực hiện các chương trình giảm nghèo và môi trường pháp lý 87
4.3.6 Mở rộng các quan hệ phi nhà nước 88
4.3.7 Con người 89
4.3.8 Tăng c ng, m ươ , d 91
4.3.9 Giải quyết vốn đối ứng 92
4.3.10 Sử dụng vốn ODA cho phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ tăng trưởng và giảm nghèo 93
Trang 74.3.11 Sử dụng ODA hỗ trợ phát triển các ngành nghề, lĩnh vực phục vụ
tăng trưởng và giảm nghèo 94
4.3.12 Đầu tư mạng lưới an sinh xã hội cho người nghèo 96
4.4 Một số kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan 97
4.4.1 Đối với Chính Phủ 97
4.4.2 Đối với Bộ Tài chính 100
4.4.3 Đối với Bộ Kế hoạch - Đầu tư 102
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 8ASEAN : Association of Southeast Asian Nations
GINI : Hệ số Lorenz
XH-CN : Xã hội chủ nghĩa
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
WB : Ngân hàng thế giới
UNICEF : Quỹ nhi đồng liên hợp quốc
ADB : Ngân hàng phát triển Châu Á
FAO : Tổ chức nông lương thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Cơ cấu lao động 2006 - 2011 49
Bảng 3.2 Tổng sản phẩm nội địa qua các năm (năm cơ sở 1994) 51
Bảng 3.3 Tăng trưởng kinh tế của cả nước và các tỉnh đồng bằng Sông Hồng (theo giá so sánh 1994) 52
Bảng 3.4 Thu nhập bình quân đầu người 53
Bảng 3.5 Số hộ nghèo tỉnh Quảng Ninh giai đạn 2006-2010 58
Bảng 3.6 Nguồn vốn ODA giai đoạn 2007 - 2011 62
Bảng 3.7 Vốn ODA phân theo hình thức hỗ trợ 63
Bảng 3.8 Vốn ODA phân theo nhóm ngành kinh tế 64
Bảng 3.9 Phân tích nguồn vốn ODA 67
Bảng 3.10 Một số chương trình ODA đầu tư vào cơ sở hạ tầng tỉnh Quảng Ninh năm 2011 69
Bảng 3.11 Danh mục chương trình, dự án ODA trong nông nghiệp 70
Bảng 3.12 Danh mục chương trình, dự án ODA trong giáo dục, y tế, cải thiện môi trường xã hội 71
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 So sánh số lƣợng lao động / dân số 49 Biểu đồ 3.2 Chuyển dịch cơ cấu lao động 2006 – 2011 50 Biểu đồ 3.3 Tổng sản phẩm nội địa tỉnh Quảng Ninh 51 Biểu đồ 3.4 Tổng sản phẩm nội địa một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng
năm 2011 52 Biểu đồ 3.5 Vốn ODA phân theo hình thức hỗ trợ 63 Biểu đồ 3.6 Cơ cấu nguồn vốn ODA tỉnh Quảng Ninh năm 2011 64
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn ODA là một phần của nguồn tài chính chính thức mà Chính phủ các nước phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội cho các quốc gia này Không thể phủ nhận những tác động to lớn mà nguồn vốn ODA mang lại cho các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng Nó là một nguồn lực quan trọng giúp các nước đang phát triển trên con đường xóa đói, từng bước đi lên bắt kịp với sự phát triển của toàn thế giới
Việt Nam bắt đầu chính thức nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng quốc
tế cho mục tiêu phát triển thông qua nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) từ năm 1993 Tuy là quốc gia không phụ thuộc về viện trợ nhưng cũng như các nước đang phát triển khác, ODA là nguồn ngoại lực bổ sung quan trọng đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam Thật vậy, hơn 60% khối lượng ODA được giải ngân đã đổ vào đầu tư cho cơ
sở hạ tầng chính yếu, lĩnh vực được coi là cốt lõi để giúp Việt Nam duy trì mức tăng trưởng cao và giảm nghèo nhiều hơn Với gần 20 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA, Việt Nam tỏ ra là một quốc gia nhận nhiều viện trợ và sử dụng viện trợ tương đối hiệu quả Điều này được thể hiện rõ qua những
thành tựu trong phát triển kinh tế và xóa đói
Trong kết quả đó, Quảng Ninh là một trong những tỉnh có đóng góp đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế và giảm nghèo và vươn lên làm giàu Mục tiêu thu hút của tỉnh nhằm vào các lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, môi trường , giải quyết các vấn đề bức xúc xã hội hiện nay Quảng Ninh đã nhận thức được thực trạng nghèo đói và tác động của nó đến quá trình phát triển Mục tiêu ưu tiên của Tỉnh trong giai đoạn hiện nay là phát triển nền kinh tế tăng trưởng bền vững, thực hiện có hiệu quả chính sách giảm nghèo thông qua việc huy
Trang 12động các nguồn lực trong và ngoài nước Hằng năm, tỉnh nhận được một lượng vốn ODA từ các tổ chức quốc tế và nhà tài trợ nhưng tác động mà nguồn vốn này đem lại cho địa phương vẫn chưa thực sự có hiệu qủa Vì vậy, vấn đề sử dụng có hiệu quả vốn ODA của tỉnh cũng trở thành vấn đề luôn được quan tâm, đặc biệt cho lĩnh vực giảm nghèo do số tiền đầu tư vào lĩnh vực này tương đối lớn Do đó, việc kiểm soát vốn đầu tư và hiệu quả của nó trở thành một bài toán khó
Xuất phát từ thực trạng đó, việc nghiên cứu công tác quản lý và đặc biệt là vấn đề sử dụng nguồn vốn ODA với mục đích giảm nghèo và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ODA đã và đang là yêu cầu cấp thiết Vì
vậy tác giả lựa chọn đề tài: “Tác động của nguồn vốn ODA đến giảm nghèo
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ cơ sở lý luận về vốn ODA và tác động của nguồn vốn ODA Làm rõ tác động của vốn ODA đến việc giảm nghèo ở tỉnh Quảng Ninh thông qua các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến các tác động đó
- Trên cơ sở lý luận, nghiên cứu và phân tích thực tế tác động của nguồn vốn ODA đến giảm nghèo tại tỉnh Quảng Ninh Từ đó rút ra đánh giá chung
về tác động của nguồn vốn ODA đến giảm nghèo tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn vừa qua, đồng thời có chỉ ra những mặt tích cực và điểm còn hạn chế cùng những nguyên nhân của hạn chế
- Từ những phân tích và nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tế, đề xuất một
số giải pháp và đưa ra một số kiến nghị đến các cơ quan ban ngành và tỉnh
Trang 13Quảng Ninh để phát huy mặt tích cực của nguồn vốn ODA đến giảm nghèo ở tỉnh Quảng Ninh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của nguồn vốn ODA và tình hình
sử dụng nguồn vốn ODA cho giảm nghèo tại Quảng Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 - 2011
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về tác động của nguồn vốn ODA và tình hình sử dụng nguồn vốn ODA cho giảm nghèo tại Việt Nam
- Phân tích thực trạng tác động của nguồn vốn ODA và tình hình sử dụng nguồn vốn ODA cho giảm nghèo tại Quảng Ninh từ 2006- 2011
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực của nguồn vốn ODA cho giảm nghèo tại Quảng Ninh giai đoạn 2011 – 2020
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của ODA đến giảm nghèo
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Tác động của nguồn vốn ODA đến giảm nghèo tại tỉnh Quảng Ninh
Chương 4: Một số giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực của nguồn vốn ODA để giảm nghèo tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011- 2020
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN
ODA ĐẾN GIẢM NGHÈO 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Nguồn vốn phát triển chính thức (ODA)
1.1.1.1 Khái niệm ODA
Đại chiến Thế giới thứ 2 kết thúc cũng là thời điểm mở đầu cho cuộc chiến tranh lạnh giữa phe Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô và Hoa Kỳ Hai cường quốc này đã thực thi nhiều biện pháp, đặc biệt
là về kinh tế để củng cố hệ thống đồng minh của mình Hoa Kỳ, để ngăn chặn
sự phát triển, mở rộng của phe Xã hội chủ nghĩa (XHCN), đã triển khai kế hoạch Marshall viện trợ ồ ạt cho các nước phương Tây nhằm tăng cường sức mạnh đồng minh Về phía mình, Liên Xô với tinh thần “quốc tế vô sản” đã tài trợ cho nhiều quốc gia trên thế giới để củng cố và gia tăng số lượng các nước
gia nhập phe XHCN
Viện trợ của Hoa Kỳ cho các nước Tây Âu và của Liên Xô cho các nước XHCN được coi là khoản ODA đầu tiên Mặc dù mục tiêu chính là chính trị nhưng chúng đã có tác dụng nhất định giúp các nước tiếp nhận phát triển kinh tế xã hội (KT-XH) Đến năm 1960, trước sự đấu tranh mạnh mẽ của các nước đang và kém phát triển, cộng với nhận thức thay đổi của các nước giàu đối với nước nghèo, vào tháng 12 năm 1960 tại Pari, các nước đã ký thỏa thuận thành lập tổ chức hợp tác quốc tế và phát triển (OEDC) Tổ chức này gồm 20 thành viên ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung cấp ODA song phương cũng như đa phương Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OEDC đã lập ra Ủy ban Hỗ trợ phát triển (DAC), ủy ban này
có nhiệm vụ yêu cầu, khuyến khích và điều phối viện trợ của các nước OEDC cho các nước đang và kém phát triển Kể từ khi bản báo cáo đầu tiên của DAC ra đời vào năm 1961, thuật ngữ ODA được chính thức sử dụng, với ý
Trang 15nghĩa là sự trợ giúp có ưu đãi về mặt tài chính của các nước giàu, các tổ chức quốc tế cho các nước nghèo
Theo cách hiểu chung nhất, ODA (tên gọi viết tắt của Official Development Assistance) là tất cả các khoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn với lãi suất thấp của Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, ADB, WB…) dành cho các nước nhận viện trợ không hoàn lại, vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán (theo định nghĩa của OECD nếu ODA là khoản vay ưu đãi thì yếu tố cho không phải đạt 25% trở lên) Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần GNP từ bên ngoài vào một quốc gia, do vậy ODA được coi là một nguồn lực từ bên ngoài
Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Việt Nam chỉ rõ: Hỗ trợ phát triển chính thức ODA được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức song phương
và các tổ chức liên quốc gia hoặc Chính phủ
1.1.1.2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA
a Tính ưu đãi
ODA là nguồn vốn vay ưu đãi, không phải là vốn vay mang tính thương mại, nên trong tổng số vốn vay bao giờ cũng có hai phần Một phần là cho không, chiếm ít nhất 25% khoản vay, còn lại là phần ưu đãi cho vay với lãi suất thấp hoặc không có lãi suất
b Điều kiện tiếp nhận ODA
Các nước nhận ODA phải là những nước có thu nhập dưới mức trung bình tính theo chuẩn của Liên Hợp Quốc hay còn gọi là các nước đang phát triển Đồng thời ODA chủ yếu được dùng để phát triển kinh tế, xã hội thuần túy và không mang tính lợi nhuận nhằm giúp các nước đang phát triển thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo Lĩnh vực được đầu tư nhiều nhất bằng
Trang 16ODA hiện nay là phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- kỹ thuật và xã hội, y tế, giáo dục, giảm nghèo, phát triển nông thôn, ô nhiễm môi trường Mục tiêu sử dụng vốn ODA có thể tùy vào đối tượng mà nước tiếp nhận ưu tiên nhưng phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cho vay và bên tiếp nhận ODA
ODA do chính các nước nhận viện trợ quản lý và sử dụng nhưng luôn
có sự giám sát từ phía các nhà tài trợ, tuy nhiên sự giám sát này là không trực tiếp Do vậy ODA nhiều khi sử dụng kém hiệu quả hoặc không hiệu quả nếu như nước tiếp nhận ODA thiếu hoặc chưa nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc quản lý và sử dụng nguồn viện trợ này sao cho hiệu quả Mặt khác, cùng với sự ưu đãi từ nguồn viện trợ này như việc vay ưu đãi với lãi suất thấp, chỉ bằng 1/10 so với vốn vay thông thường và một phần cho không, thời gian trả nợ dài với thời hạn là 40-50 năm đã dẫn đến một số người có tư tưởng xem nhẹ hiệu quả sử dụng ODA với tư cách là khoản vay cần trả nợ
c Vốn ODA có tính ràng buộc
Theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định Những điều kiện ràng buộc này có thể là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh
tế, xã hội và thậm chí cả ràng buộc về chính trị Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường là các điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ
Viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tại song song Thứ nhất,
nó thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở các nước đang phát triển Các nhà tài trợ hay các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình thông qua
Trang 17việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển, từ đó có thể mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư Về lâu dài, viện trợ khi gắn với các điều kiện kinh tế thì các nhà đầu tư sẽ có lợi về mặt an ninh kinh tế, chính trị khi các nước nghèo tăng trưởng Mục tiêu mang tính cá nhân này được kết hợp với tinh thần nhân đạo, tính cộng đồng như các vấn đề mang tính toàn cầu như sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi trường sống, bình đẳng giới, phòng chống dịch bệnh, giải quyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo… đều cần đến sự hợp tác, giúp đỡ của cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt nước giàu nước nghèo Mục tiêu thứ hai, thông qua viện trợ, các nước viện trợ tăng cường vị thế chính trị của mình: xác định vị thế và ảnh hưởng chính trị của mình tại các nước tiếp nhận ODA Do vậy, hình thức viện trợ là công cụ để thiết lập và duy trì lợi ích kinh tế, vị thế chính trị cho các nhà tài trợ Các nước tiếp nhận cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của các nước viện trợ
để không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài
d ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp vào sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ Mặt khác,
do tính chất ưu đãi khi tiếp nhận vốn nên ban đầu gánh nặng nợ nần chưa xuất hiện, nếu không sử dụng hiệu quả ODA sẽ có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau thời gian lại lâm vào tình trạng nợ nần do không có khả năng trả nợ ODA là nguồn vốn lâu dài, do ban đầu chưa phải trả nợ ngay nên ODA thường sử dụng lãng phí, không hiệu quả Khi trả nợ thì người phải trả lại là thế hệ sau, vì vậy nó kìm hãm khả năng phát triển lâu dài của nguồn vốn trong nước Do đó, khi hoạch định chính sách sử dụng ODA cần phải phối hợp với các loại nguồn vốn để tăng cường kinh tế và khả năng xuất khẩu
e ODA là nguồn vốn không ổn định
ODA hiện nay khối lượng có xu hướng giảm Bởi các nhà tài trợ chính ODA là các nước thuộc nhóm OECD, đây là nhóm nước phát triển nhất thế
Trang 18giới như các tổ chức phi chính phủ như UNDP, WB, ADB, IMF, và các tổ chức khác cũng do nhóm các nước này chi phối, đóng góp và có ảnh hưởng lớn Vào giai đoạn 1990-2002, khối lượng ODA thế giới tăng liên tục trên 7%/năm Nhưng những năm gần đây, do khủng hoảng kinh tế cũng như các nước OECD đang phải đấu tranh để kiểm soát thâm hụt ngân sách và kiềm chế gia tăng của chi tiêu của Chính phủ nên khối lượng ODA có giảm sút Mặc dù viện trợ cho nước ngoài chiếm một phần rất nhỏ của ngân sách nhưng
nó cũng nằm trong nội dung đầu tiên cần phải cắt giảm
1.1.1.3 Phân loại nguồn vốn ODA
a Theo phương thức hoàn trả
+ ODA không hoàn lại: Là hình thức cung cấp ODA mà bên nhận tài trợ không phải hoàn trả cho bên tài trợ Có thể coi viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu của ngân sách Nhà nước, được sử dụng theo hình thức Nhà nước cấp phát lại cho các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 25% trong tổng số vốn ODA trên thế giới Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng: Hỗ trợ kỹ thuật và Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật
+ ODA vay ưu đãi: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền, với các điều kiện ưu đãi về lãi suất (thấp hơn lãi suất thị trường), thời gian ân hạn và thời gian trả nợ; hoặc không chịu lãi mà chỉ chịu chi phí dịch vụ Vay
ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn vay ODA trên thế giới, là nguồn thu phụ thêm để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước
+ ODA vay hỗn hợp: Là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại Nhìn chung hiện nay các nước cung cấp ODA đang có chiều hướng giảm viện trợ không hoàn lại và tăng hình thức tín dụng ưu đãi và ODA hỗn hợp
b Theo nguồn cung cấp
+ ODA song phương: Là các khoản tài trợ phát triển chính thức từ nước này cho nước kia (nước phát triển cho nước đang hoặc kém phát triển)
Trang 19thông qua Hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ Trong tổng số ODA lưu chuyển trên thế giới, phần tài trợ song phương chiếm tỷ trọng lớn, có khi lên tới 80%, lớn hơn nhiều so với tài trợ đa phương
+ ODA đa phương: Là các khoản tài trợ phát triển chính thức của một
số tổ chức tài chính quốc tế và khu vực như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), …; hoặc các tổ chức phát triển của Liên hợp quốc như: Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP), Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Tổ chức nông lương thế giới (FAO),…; hoặc Liên minh Châu Âu (EU), các tổ chức thuộc Liên minh Châu Âu, và các tổ chức phi chính phủ (NGOs)…cho các nước đang hoặc kém phát triển
c Theo mục đích sử dụng
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: Là các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân sách của Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng: Chuyển giao tiền tệ hoặc hiện vật cho nước nhận ODA; Hỗ trợ nhập khẩu (tài trợ hàng hoá): Chính phủ nước nhận ODA tiếp nhận một lượng hàng hoá có giá trị tương đương với các khoản cam kết, bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ
+ Hỗ trợ theo chương trình: Là hỗ trợ theo khuôn khổ đạt được bằng hiệp định với các nhà tài trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA trong một khoảng thời gian mà không phải xác định trước một cách chính xác nó sẽ sử dụng như thế nào Đây là loại hình ODA trong đó các bên lồng ghép một hay nhiều mục tiêu với tập hợp nhiều dự án, hay nhiều hợp phần
+ Hỗ trợ theo dự án: Là khoản hỗ trợ, trong đó nước nhận hỗ trợ phải chuẩn bị chi tiết dự án Loại hình hỗ trợ này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn ODA và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, kinh tế – xã hội Trị giá vốn của các dự án đầu tư thường lớn hơn và thời gian thực hiện dài hơn các loại dự án khác
Trang 20+ Hỗ trợ kỹ thuật: Là loại hình thường tập trung chủ yếu vào chuyển giao kiến thức hoặc tăng cường cơ sở, lập kế hoạch, tư vấn, nghiên cứu tình hình thực tiễn, nghiên cứu tiền khả thi…Vốn của dự án hỗ trợ kỹ thuật dành chủ yếu cho thuê tư vấn quốc tế, tư vấn trong nước, tổ chức đào tạo, nghiên cứu khảo sát và mua sắm thiết bị văn phòng Trị giá vốn của các dự án hỗ trợ
kỹ thuật thường không lớn
1.1.1.4 Tác động của nguồn vốn ODA đến nền kinh tế
a Đối với các nước xuất khẩu vốn
Viện trợ song phương tạo điều kiện cho các công ty của hai bên cung cấp hoạt động thuận lợi hơn tại các nước nhận viện trợ một cách gián tiếp Cùng với sự gia tăng của vốn ODA, các dự án đầu tư của nước viện trợ cũng tăng theo với những điều kiện thuận lợi, kéo theo sự gia tăng về buôn bán giữa hai quốc gia Ngoài ra, nước viện trợ còn đạt được những mục đích về chính trị, tạo nên sức ảnh hưởng đến kinh tế - văn hóa của các nước nhận viện trợ
Nguồn ODA đa phương cũng giúp các nước tiếp nhận khôi phục và phát triển kinh tế nhưng đồng thời cũng dễ tạo ra nạn tham nhũng trong quan chức Chính phủ hoặc phân phối giàu nghèo trong tầng lớp dân chúng nếu không có những chính sách kiểm soát và quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn này trong nước
b Đối với các nước tiếp nhận
Viện trợ nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong từng sự biến đổi, đóng góp các ý tưởng về chính sách phát triển, đào tạo các nhà hoạch định chính sách công, tài trợ cho cải cách và mở rộng các dịch vụ công cộng
Thứ nhất: ODA là nguồn vốn bổ sung cho đầu tư phát triển Các khoản
vay ODA có thời gian trả nợ rất dài và có mức lãi suất ưu đãi Thành tố viện trợ không hoàn lại trong các khoản vay ODA tối thiểu là 25% theo quy định của các nước OECD Theo số liệu của Bộ Tài chính từ năm 1993 đến năm
1999 Việt Nam đã ký vay ODA là 11.627 triệu USD trong đó có 9.632 triệu
Trang 21USD (chiếm 83%) là vay với thời hạn 30-40 năm và lãi suất từ 0,75% đến 2%/năm Thành tố viện trợ không hoàn lại của các khoản vay này đạt từ 25% đến 80% Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện vay ưu đãi như vậy Chính phủ mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án hạ tầng kinh tế lớn như xây dựng đường xá, điện, nước, thuỷ lợi, cảng, và các dự án hạ tầng xã hội như giáo dục
y tế, có thời gian hoàn vốn lâu và tỷ lệ hoàn vốn thấp
Thứ hai: ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ cho đất nước và bù đắp cán
cân thanh toán Hiện nay ở một số nước ASEAN, tỷ lệ tiết kiệm nội địa khá cao từ 35-40% GDP, song tại các nước này vẫn có thâm hụt cán cân vãng lai Vốn ODA vào các nước này là nguồn bù đắp quan trọng cho cán cân vãng lai Trong điều kiện đồng tiền nội tệ không có khả năng tự do chuyển đổi thì một
dự án nếu đã chuẩn bị đủ 100% vốn đầu tư bằng nguồn vốn trong nước nhưng nếu nhu cầu chuyển đổi tiền nội tệ ra ngoại tệ để nhập khẩu trang thiết bị cho
dự án không được đáp ứng đầy đủ thì chắc chắn dự án không khả thi Như vậy, số tiền tiết kiệm nội địa không thể chuyển thành đầu tư Trường hợp của Việt Nam, vừa thiếu hụt cán cân tiết kiệm - đầu tư, vừa thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai, nên vốn ODA vào Việt Nam cùng một lúc phát huy hai tác dụng
Thứ ba: Các dự án sử dụng vốn vay ODA thường đòi hỏi áp dụng công
nghệ tiên tiến, có chất lượng cao và phương thức quản lý tiên tiến Từ năm
1993, khi vốn ODA bắt đầu vào Việt Nam đến nay, rất nhiều cán bộ Việt Nam có điều kiện tiếp cận và hiểu biết các quy trình công nghệ mới trong các lĩnh vực cầu, đường, điện Các cán bộ quản lý dự án, các cán bộ công chức của Chính phủ làm quen dần và ngày càng hiểu rõ hơn các quy tắc tổ chức đấu thầu quốc tế, giải ngân và quản lý thực hiện dự án Có thể nói các dự án phát triển là các cơ sở thử nghiệm cho các ý tưởng hay khái niệm mới đối với một số nước, chứng minh cho Chính phủ hoặc nhân dân của các nước đó thấy được tác dụng của những công việc như thầu khoán các dịch vụ công cộng,
Trang 22vận động các nhóm những người hưởng lợi từ dự án tham gia vào công tác quản lý Dự án ODA cũng có thể giúp phá vỡ những quan điểm trói buộc khu vực công cộng vào những cơ chế không hiệu quả Chính phủ dù có tư tưởng đổi mới cũng thấy khó thực hiện các ý tưởng mới, nhất là khi các ý tưởng đó lại ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân Ví dụ, khi dân cư đã quen với việc sử dụng các dịch vụ công cộng (đường, điện, nước .) không phải trả tiền hoặc trả rất ít, nếu Chính phủ thay đổi chính sách yêu cầu người dân phải trả tiền cho các dịch vụ công cộng này để có nguồn đầu tư cho các
dự án mới thì chắc chắn Chính phủ sẽ gặp phải sự phản đối từ phía dân cư và chính sách mới sẽ khó được thông qua Trong khi đó, các nhà tài trợ có thể tài trợ cho các dự án đường, thuỷ lợi, nước sạch đồng thời yêu cầu nước tiếp nhận có chính sách thu phí thích hợp để duy tu bảo dưỡng công trình, đảm bảo tính bền vững của dự án Việc thay đổi chính sách để đáp ứng yêu cầu của Nhà tài trợ sẽ được nhân dân dễ dàng chấp thuận hơn như là điều kiện để tiếp nhận vốn mới Như vậy, dự án ODA đã góp phần đổi mới chính sách tại nước tiếp nhận vốn và đổi mới nếp nghĩ của người dân được trực tiếp thụ hưởng
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên mà các nước nghèo thường cố gắng để tranh thủ thu hút được càng nhiều vốn ODA càng tốt, vốn ODA cũng hàm chứa các mặt trái của nó
Thứ nhất: Vốn ODA trong một số trường hợp đi liền với yếu tố chính
trị, hơn là các yếu tố hiệu quả kinh tế
Thứ hai: Vay vốn ODA làm tăng gánh nợ quốc gia Vốn vay ODA dù
vay với thời gian dài 30-40 năm vẫn không phải là vốn cho không, đến một lúc nào đó nước tiếp nhận phải dùng tiền của mình để trả nợ Hơn thế nữa rủi
ro tỷ giá là một trong những nguy cơ đáng quan tâm nhất Thực tế nhiều năm qua trên thế giới đã chỉ rõ: cái được coi là lợi ích của các khoản ODA cho vay với lãi suất thấp và thời hạn dài ngày hôm nay có thể không bù lại được cho những thiệt hại to lớn do sự thay đổi bất lợi về tỷ giá hối đoái trong tương lai
Trang 23Vì vậy, nếu như nước tiếp nhận không có chính sách quản lý nợ thận trọng sẽ dẫn đến mất khả năng trả nợ Bài học kinh nghiệm từ các nước Châu Phi cho thấy từ những năm 1960 các nước này chủ yếu là vay vốn ODA và đến cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 các nước nghèo ở Châu Phi lâm vào khủng hoảng mất khả năng trả nợ
Thứ ba: Các khoản vay ODA gắn với chính sách hỗ trợ cho các doanh
nghiệp của nước tài trợ nên thông thường có sự ràng buộc của Nhà tài trợ trong việc lựa chọn dự án, thuê tư vấn, chọn nhà thầu, nhà cung ứng hàng hoá thiết bị cho dự án Do đó, giá cả trong các hợp đồng sử dụng vốn ODA thường cao hơn các hợp đồng cùng loại theo hình thức thương mại thông thường Cá biệt có trường hợp mức chênh lệch giá nói trên đến 30% Hơn nữa vốn ODA khi đã được chỉ định cho một số dự án nhất định thì việc thay đổi quy mô dự án hoặc điều chuyển vốn từ dự án này sang dự án khác là rất khó khăn hoặc không thể thực hiện được, đặt nước đi vay vào tình thế hoặc chấp nhận dự án hoặc không được vay
Thứ tư: Thủ tục để sử dụng được vốn vay ODA thường là phức tạp
và mất nhiều thời gian để dự án được chấp thuận Vì vậy, các dự án chuẩn
bị để sử dụng vốn ODA thường phải thay đổi Nghiên cứu khả thi do thời gian từ khi xây dựng Nghiên cứu khả thi ban đầu đến khi được Nhà tài trợ thẩm định cách nhau khá xa Ngoài ra, các chi phí khác như chi quản lý dự
án, giải phóng mặt bằng của các dự án ODA cũng cao hơn các dự án cùng loại sử dụng vốn trong nước do Nhà tài trợ can thiệp trực tiếp vào các quy trình này
1.1.1.5 Vai trò của nguồn vốn ODA
a Vốn ODA với phát triển kinh tế
- Viện trợ bổ sung cho nguồn vốn trong nước: các nước đang phát triển
là những nước rất cần vốn cho phát triển, vốn được lấy từ nguồn vốn trong nước là chính, nhưng nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế lại rất hạn hẹp
Trang 24nên cần bổ sung bằng nguồn vốn ngoài nước Do đó, muốn đưa nền kinh tế phát triển một cách liên tục và ổn định phải đảm bảo tỷ lệ vốn đối ứng trong nước một cách hợp lý
- Viện trợ tăng cường khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) và phát triển nguồn nhân lực: nhờ viện trợ mà các nước nhận tài trợ
có cơ chế quản lý tốt sẽ tạo ra được môi trường thuận lợi, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài như: cơ sở hạ tầng vững chắc, giao thông thuận lợi, có hệ thống pháp luật ổn định,… Từ đó sẽ thu hút nhiều hơn và sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn FDI Khi có viện trợ, nền kinh tế tăng trưởng cao hơn, các chỉ tiêu xã hội được cải thiện trong đó có các chỉ tiêu phát triển tổng hợp về con người HDI Mặt khác, thông qua hình thức hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, viện trợ giúp các nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, kỹ năng chuyên môn cao Các nhà tài trợ tin tưởng rằng việc phát triển của một quốc gia có quan hệ mật thiết với phát triển nguồn nhân lực Đây là lợi ích căn bản lâu dài của các nước nhận viên trợ
- Viện trợ ODA giúp thúc đẩy đầu tư tư nhân trong nước: ở các nước có
cơ chế quản lý tốt thì viện trợ nước ngoài không thay thế cho đầu tư tư nhân
mà đóng vai trò như nam châm thu hút tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD/ 1 USD viện trợ Viện trợ có thể cải thiện môi trường đầu tư cho đầu tư tư nhân bằng cách tạo ra lòng tin đối với các chương trình cải cách và giải quyết những khó khăn về cơ sở hạ tầng Viện trợ tăng với quy mô 1%GDP sẽ làm tăng đầu tư tư nhân trên 1,9 % GDP Do vậy các nhà đầu tư tư nhân rất hoan nghênh sự kết hợp giữa cơ chế quản lý tốt và viện trợ bên ngoài, tạo sức mạnh thúc đẩy đầu tư tư nhân
- Viện trợ ODA giúp cải thiện thể chế và chính sách tăng trưởng: Cải
thiện thể chế và chính sách ở các nước đang phát triển là chìa khóa để tạo bước nhảy vọt về lượng thúc đẩy tăng trưởng làm giảm đói nghèo Nếu biết
Trang 25kết hợp giữa thể chế và chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ sẽ giúp tạo nền kinh tế vĩ mô ổn định, hạn chế tham nhũng, tạo điều kiện tăng trưởng cao và giảm nghèo đói Trên thực tế, không phải nước nào nhận viện trợ nhiều cũng đưa đến một thể chế và chính sách tốt mà muốn có kết quả tốt cần đòi hỏi phải có sự vận động một cách nỗ lực ở các nước nhận viện trợ
b Vai trò của ODA đối với giảm nghèo
Mục tiêu chính của viện trợ là giảm nghèo, ODA đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn Quá trình giảm nghèo đói
ở các nước đang phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với tăng thu nhập đầu người Với các nước tăng trưởng nhanh, thu nhập của những nước nghèo sẽ tăng nhanh, mức độ nghèo đói sẽ giảm xuống Nhưng ở các nước có thu nhập không tăng và phân phối thu nhập ổn định thì tình trạng đói nghèo sẽ không được cải thiện Như vậy tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người tỷ lệ nghịch với thay đổi nghèo bình quân
1.1.2 Lý luận về giảm nghèo
1.1.2.1 Khái niệm về đói nghèo
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu không thỏa mãn nhu cầu cơ bản của cuộc sống như: sự thiếu thốn về cả vật chất và phi vật chất, có cuộc sống thấp, nhà ở tạm bợ, thiếu tiện nghi sinh hoạt trong gia đình, không có vốn để sản xuất, con em không được đến trường hoặc không có điều kiện học cao lên, bệnh không được đến bác sĩ, không tiếp cận với thông tin, không có thời gian và điều kiện vui chơi giải trí,…Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống nhỏ hơn mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì sự sống
Theo Word Bank: Nghèo là đói, thiếu nhà, bệnh không được đến bác sĩ, không được đến trường, không biết đọc, biết viết, không có việc làm, lo sợ cho cuộc sống tương lai, mất con do bệnh hoạn, ít được bảo vệ quyền lợi và tự do
Trang 26Định nghĩa đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đưa ra tháng 9/1993 là: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân
cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội
và phong tục tập quán của địa phương Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng, trong đó có Việt Nam
1.1.2.2 Các phương pháp, chỉ tiêu đo lường, xác định chuẩn nghèo
a Phương pháp tiếp cận
Chuẩn nghèo là thước đo mức sống dân cư để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo Hiện nay, trên thế giới sử dụng ba phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo chủ yếu sau: Phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu, Phương pháp dựa vào thu nhập thực tế, Phương pháp dựa vào đánh giá của người dân Trong ba phương pháp trên thì 2 phương pháp đầu được các quốc gia sử dụng khá phổ biến
b Các chỉ tiêu đo lường đói nghèo
* Chỉ tiêu thu nhập:
Thu nhập bình quân theo đầu người là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh được quy mô, trình độ phát triển kinh tế và mức sống của người dân trong một nước Có hai phương pháp tính toán chủ yếu của WB như sau:
- Phương pháp Atlas ( phương pháp theo tỉ giá hối đoái): WB phân ra làm 6 loại nước ( là mức thu nhập năm 1990) Nhóm nước cực giàu> 25.000 USD/năm; nước giàu: 20.000 - <25000 USD/năm; nước khá giàu: 10.000 - < 20.000 USD/năm; nước trung bình: 2.500 - <10.000 USD/năm; nước nghèo:
500 - <2.500 USD/ năm; nước cực nghèo: < 500 USD/năm
Tuy nhiên theo phương pháp trên, việc chuyển đổi thường bị sai lệch không phản ánh được tính ngang giá của sức mua Do đó, từ đầu nhưng năm
1990, Liên hợp quốc đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (PPP)
Trang 27- Phương pháp sức mua tương đương (PPP): đây là phương pháp được
sử dụng rộng rãi chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người giữa các nước, nhằm đưa ra chỉ tiêu định lượng so sánh giữa các nước bằng cách đưa đồng tiền của mỗi nước về một đơn vị đo lường thống nhất đồng USD WB sau nhiều cuộc điều tra đã đưa ra ngưỡng nghèo chung (theo PPP) Đối với các nước thu nhập thấp: < 1 USD/người/ngày; đối với các nước thu nhập trung bình thấp: < 2 USD/ người/ngày
* Chỉ tiêu dinh dưỡng:
Nhu cầu dinh dưỡng là nhu cầu cơ bản và tốt thiểu của con người để tồn tại, hoạt động và tái tạo sức lao động Chỉ tiêu cơ bản nhất về lượng dinh dưỡng đưa vào cơ thể là lượng calo tiêu dùng hàng ngày Để xây dựng một ngưỡng nghèo cần phải xác định nhu cầu tiêu dùng của toàn bộ dân số Lượng dinh dưỡng 2.100 kcalo mà tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra dựa trên nhiều lần đánh giá, kiểm nghiệm
Ngưỡng nghèo hay mức nghèo, là mức chi dùng tối thiểu, được xác
định như tổng số tiền chi cho giỏ tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực, thực phẩm và đồ dùng cá nhân cần thiết bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành và các khoản chi bắt buộc khác, WB xây dựng ngưỡng nghèo trên cơ sở xác định nhu cầu tiêu dùng về lương thực của con người, cụ thể:
- Ngưỡng nghèo thứ nhất: là số tiền cần thiết để mua số lượng lương thực Lượng lương thực phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đủ 2100 kcalo cho mỗi người mỗi ngày (gồm 40 loại sản phẩm), được gọi là ngưỡng nghèo lương thực
- Ngưỡng nghèo thứ hai: bao gồm chi tiêu cho sản phẩm lương thực và phi lương thực gọi là ngưỡng nghèo chung
Nghèo đói chịu tác động của nhiều nhân tố nên chưa thể coi ba phương pháp trên là căn cứ để đánh giá mức độ giàu nghèo của một quốc gia Vì vậy,
Trang 28LHQ đã sử dụng chỉ số nghèo đói Human Poverty Index (HPI) Cách tính HPI dành cho các nước đang phát triển được tính theo công thức:
Ngoài ra, còn sử dụng hệ số GINI, là thước đo được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu bất bình đẳng về phân phối thu nhập, hệ số nhận giá trị biến thiên từ 0 đến 1 Chỉ số này càng lớn thì mức độ bất bình đẳng càng cao
c Một số tiêu chí để xác định chuẩn nghèo
Nghèo khổ là vấn đề mang tính đa diện nên cần có cách tiếp cận tổng thể để nghiên cứu Căn cứ vào quan niệm về nghèo đói của nhiều tổ chức, nhiều học giả trên thế giới, từ định nghĩa: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương mà cộng đồng đó
cư trú tại một thời điểm nhất định” Thiếu hụt về sinh lý học là không đáp ứng
đủ nhu cầu về vật chất và sinh học như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục và nhà
ở Thiếu hụt về mặt xã hội liên quan đến các khái niệm như bình đẳng, rủi ro
và được tự chủ, tôn trọng trong xã hội Như vậy định nghĩa này bao hàm hai tiêu chí định tính và định lượng
* Tiêu chí định lượng:
Một trong những nhân tố phản ánh rõ rệt đời sống của người nghèo về tiêu chí kinh tế được thể hiện qua thu nhập và nhóm tiêu chí về chi tiêu Đây
Trang 29là chỉ số có liên quan đến việc duy trì cuộc sống gia đình có thể hỗ trợ tích cực cho việc đo lường tình trạng nghèo khổ và nhìn nhận một số đặc điểm của nghèo đói
- Về thu nhập: Thu nhập của người nghèo nhìn chung rất thấp và không
ổn định Mỗi hộ gia đình có thể thu nhập từ một hoặc nhiều nguồn, có thể kể đến các khoản thu từ việc làm (việc làm chính, việc làm phụ ở các lĩnh vực nông nghiệp, phi nông nghiệp) và ngoài việc làm (lương hưu, than nhân, giúp đỡ ) Mặt khác, ảnh hưởng đến thu nhập bình quân nhân khẩu của các hộ gia đình còn là hệ số phụ thuộc, tức tỷ lệ phần trăm số người ăn theo trên số người có thu nhập
- Về chi tiêu: Đi đôi với thu nhập là chi tiêu của hộ gia đình Phân tích
về chỉ tiêu này còn là một phương thức khám phá sự bố trí ngân sách gia đình cho những vấn đề ưu tiên hay không ưu tiên, đặc biệt ở các hộ nghèo Phân tích mối liên hệ giữa thu nhập và chi tiêu cho thấy rằng, có một cách thức chi tiêu tương ứng với sự khá giả hay nghèo khó của các hộ gia đình Sự gia tăng chi tiêu phản ánh trên bình diện chung một mức sống khá hơn, nhưng điều này không hoàn toàn là sự nâng cao mức sống vì chi tiêu mang tính ổn định nhưng dễ bị đột biến theo những biến cố của gia đình Nhìn chung, mức chi cho ăn uống chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu thường xuyên của các hộ gia đình nhưng do nguồn thu nhập ít ỏi nên hầu như phần lớn thu nhập chủ yếu được sử dụng để đáp ứng nhu cầu ăn uống thường ngày của người nghèo Lương thực thực phẩm chiếm 60-70% chi tiêu hàng tháng của những gia đình nghèo, còn lại để chi tiêu cho khám chữa bênh, hiếu hỉ…, trong đó chi cho học hành của con cái vẫn chiếm một tỷ lệ nhất định trong ngân sách gia đình Thực ra chi tiêu chỉ có ảnh hưởng gián tiếp đến vấn đề có hay không vượt được nghèo
* Tiêu chí định tính:
Các tiêu chí định tính được thể hiện tương đối phong phú ở một số khía cạnh như: nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, hưởng thụ văn hóa, việc làm
Trang 30(khả năng nắm bắt và chuyển đổi), môi trường pháp lý (người nhập cư), vốn
xã hội (quan hệ, thông tin)
- Tình trạng nhà ở và sinh hoạt: Nhà ở không chỉ là vấn đề nhạy cảm của người dân mà còn tạo áp lực không nhỏ lên vai những nhà quản lý trước những tình trạng như: nhà ở trái phép, không đúng quy hoạch, chưa xác định
sở hữu, đặc biệt là phân hóa xã hội trên lĩnh vực nhà ở Nhà ở cho người nghèo là một trong những mục tiêu căn bản đang được quan tâm Liệu những người này có khả năng vươn tới một tình trạng cư trú tốt hơn không, liệu điều kiện cư trú tốt có thay đổi gì đến tình trạng nghèo của họ không?
Điều quan trọng ở đây là dù người nghèo có quyền sở hữu nhà ở của mình nhưng kết cấu nhà ở của họ vẫn chỉ là kết cấu tạm thời, diện tích nhỏ, không gian chật hẹp và hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đường sá, cấp điện, cấp thoát nước) của khu vực nhà ở thường không đảm bảo
- Tình trạng giáo dục: Một số nghiên cứu đã cho thấy học vấn làm tăng khả năng có việc làm và do đó làm tăng thu nhập, có thể nói học vấn làm giảm nguy cơ gây nghèo và đói với những hộ nghèo, học vấn có thể làm tăng khả năng thoát khỏi tình trạng nghèo đói Và như vậy, học vấn xét một cách toàn diện hơn, là chìa khóa cho các cá nhân có được việc làm tốt hơn và có thu nhập cao hơn, góp phần nâng cao chất lượng sống của mình và gia đình mình Trình độ học vấn của người nghèo (từ 6 tuổi trở lên) nhìn chung phổ biến ở cấp 1 và cấp 2 và một tỷ lệ không nhỏ không đến trường lớp và bỏ học trong độ tuổi Người nghèo không có trình độ chuyên môn chiếm tỉ lệ gần như tuyệt đối Hộ càng nghèo thì trình độ học vấn và chuyên môn càng kém Vẫn có vô số khoản không kê được mà học sinh phải chi, các khoản chi này các tăng dần lên đối với từng cấp học và ở mức cao nhất là bậc cao đẳng, đại học Số tiền này có một ý nghĩa sâu sắc nếu ta so sánh với chuẩn nghèo đói của một người dân, nên khả năng người nghèo học cao là rất khó khăn
Trang 31- Chăm sóc sức khỏe: Người nghèo khổ có thu nhập thấp thường chịu thiệt thòi hơn trong việc chăm sóc sức khoẻ cho mình bởi “tiền nào thì của đó” Do vậy tăng cường hiệu lực của các nguồn dịch vụ xã hội sẽ là một yêu cầu quan trọng để hỗ trợ thêm cho người nghèo về mặt y tế, trong đó vai trò của bảo hiểm y tế cần được đề cập đến hàng đầu, để có thể chia sẻ nhiều hơn những rủi ro trong cuộc sống cho người nghèo Để xã hội hoá dịch vụ y tế và thẻ bảo hiểm thì không chỉ khuyến khích ý thức của người nghèo mà Nhà nước còn phải tăng cường hỗ trợ nhiều hơn nữa về mặt số lượng lẫn chất lượng phục vụ Vì vậy, tạo lập một “văn hoá” bao gồm thói quen sử dụng bảo hiểm y tế lẫn sự chấp nhận việc sử dụng bảo hiểm y tế một cách tích cực là yêu cầu cao nhất đối với việc nâng cao hơn nữa khả năng chăm sóc sức khỏe cho người nghèo trong tương lai
- Việc làm - khả năng nắm bắt và chuyển đổi: Hoạt động nghề nghiệp phổ biến nhất của người nghèo đô thị là hoạt động buôn bán dịch vụ nhỏ với quy mô gia đình Đó là công việc có thu nhập không ổn dịnh, việc làm bấp bênh là dấu hiệu chỉ của tình trạng nghèo còn rất căn cơ của một hộ gia đình Những nỗ lực có thể cải thiện trong từng thời điểm nhưng trên bước đường vượt nghèo, những bước thụt lùi là điều có thể xảy ra Đó là cái mà các nhà khoa học gọi là tính dễ bị tổn thương của người nghèo Giữa việc làm và học vấn cũng như vốn xã hội lại có một mối liên hệ mật thiết với nhau Trình độ học vấn cũng như mức độ được đào tạo nghề nghiệp có mối quan hệ mạnh tới khu vực hoạt động kinh tế của mỗi cá nhân Để có được trình độ học vấn và
có tay nghề, ngoài sự cố gắng của mỗi cá nhân, mức sống gia đình và mạng lưới trợ giúp của xã hội đóng vai trò quan trọng Đây là một vòng tương đối luẩn quẩn khó thoát ra
- Vốn xã hội của người nghèo: Vốn xã hội, chẳng hạn như các mối quan hệ gia đình, cộng đồng và xã hội của một cá nhân hay hộ gia đình có ý
Trang 32nghĩa quan trọng giúp người nghèo nâng cao cuộc sống của mình Bên cạnh các yếu tố đo lường được của vốn con người, có ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động như: học vấn, tay nghề, vốn… còn có những yếu tố vô hình nhưng đôi khi lại là yếu tố quyết định đến thu nhập của người nghèo Các yếu
tố vô hình đó có thể là những quan hệ xã hội mà một người có được từ vị trí
xã hội hoặc gia đình mình Mạng lưới xã hội đóng vai trò đáng kể với sự định
vị trong phân tầng mức sống và thăng tiến của cư dân đô thị Những người trực tiếp hay gián tiếp giúp đỡ các cá nhân và hộ gia đình đa số đều là bạn bè thân thiết hay bằng hữu Giữa vốn xã hội và vốn con người cũng có mối liên
hệ chặt chẽ, vốn xã hội giúp tạo ra vốn con người, mặt khác vốn con người cũng có ảnh hưởng tích cực đến vốn xã hội Có trình độ học vấn tốt hơn, được huấn luyện về nghề nghiệp tốt hơn thì cá thể có khuynh hướng mở rộng mạng lưới xã hội tới những môi trường phong phú hơn Như vậy, mạng lưới xã hội cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng giúp cho những nhóm nghèo thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói Vốn xã hội hạn hẹp làm giảm khả năng thoát nghèo của họ Tuy nhiên hiện còn chưa rõ những kênh nào có thể giúp người nghèo phát huy được vốn xã hội của họ
1.1.3 Tác động của nguồn vốn ODA đối với giảm nghèo
1.1.3.1 Quan điểm về sử dụng vốn ODA cho giảm nghèo
ODA là nguồn vốn quốc tế cần thiết cho các quốc gia đang phát triển Chính phủ sử dụng nguồn vốn này cho đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội và giảm nghèo là một trong số những mục tiêu quốc gia chung đó
Sau hơn nhiều năm thực hiện đổi mới và phát triển, các nước đang phát triển nhìn chung đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo Những thành tựu đó thể hiện kết quả của sự nỗ lực, phát huy cao nguồn nội lực và sự hỗ trợ tích cực, có hiệu quả của cộng đồng quốc tế
Trang 33Để tiếp tục thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững, thực hiện có hiệu quả chính sách xoá đói giảm nghèo Chính phủ các nước đang phát triển đã xây dựng các chiến lược phát triển, chiến lược huy động các nguồn lực phục vụ cho tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo Trong các nguồn lực có thể huy động cho công cuộc xoá đói giảm nghèo thì các nguồn lực trong nước giữ vai trò quyết định Bên cạnh đó, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có vai trò quan trọng là chất xúc tác thúc đẩy công tác xoá đói giảm nghèo
1.1.3.2 Các kênh tác động của ODA đến giảm nghèo
*Kênh tăng trưởng kinh tế
Kênh tăng trưởng được thể hiện qua các chỉ tiêu thu nhập quốc dân GDP và thu nhập quốc dân bình quân GDP/đầu người Các chỉ tiêu này có xu hướng tăng lên ở các địa phương và các quốc gia Điều đó cho thấy sự tăng trưởng, phát triển của các vùng và phù hợp với xu hướng chung của xã hội Nguồn vốn ODA nói riêng và các nguồn vốn đầu tư đầu tư vào tỉnh Quảng Ninh nói chung đều có mong muốn đạt được một sự tăng trưởng nhất định do tỉnh nhà đã đặt ra Bởi vậy, ODA cũng được xem là một nguồn vốn quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội
*Giảm bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Hệ số GINI dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Nó có giá trị từ 0 đến 1 và bằng tỷ số giữa phần diện tích nằm giữa đường cong Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối với phần diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất
cả mọi người khác không có thu nhập)
Mục tiêu của nguồn vốn ODA được xác định trong luận văn là giảm nghèo tại tỉnh Quảng Ninh Như vậy, hệ số GINI cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tác động của nguồn vốn ODA với vấn đề bất bình đẳng
Trang 34trong phân phối thu nhập Hệ số GINI có xu hướng giảm chứng tỏ khu vực được điều tra đang có xu hướng bình đẳng tăng dần và ngược lại
*Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế của đất nước nói chung và của mỗi địa phương nói riêng Việc đầu tư vào các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng luôn đòi hỏi một lượng lớn vốn đầu tư,
và việc huy động các nguồn lực từ trong nước không thể đáp ứng được lượng vốn nhiều như vậy Do đó, chúng ta phải huy động các nguồn lực từ bên ngoài và hình thức ODA là hình thức có rất nhiều ưu điểm trong lĩnh vực này Các dự án ODA đầu tư vào xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng như: giao thông vận tải, xây dựng các nhà máy thủy điện, các công trình thủy lợi, xây dựng các bệnh viện, cải thiện đô thị…đem lại rất nhiều lợi ích cho địa phương
và người dân ở các địa phương có công trình kết cấu hạ tầng đó Chẳng hạn, tạo điều kiện thuận lợi trong đi lại, giao lưu buôn bán với các vùng khác, tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài, giúp người dân có điều kiện cập nhật thông tin, người dân được hưởng các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe…
* Hướng dẫn cách làm ăn-khuyến nông- lâm- ngư, dạy nghề, hỗ trợ phát triển ngành nghề cho hộ nghèo
Các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn hết sức đa dạng như: dự án hạ tầng cơ sở nông thôn, các dự án về nâng cao sức cạnh tranh trong nông nghiệp, dự án mua giống cây trồng, vật nuôi Tất cả những chương trình dự án thuộc dạng này đều giúp người dân ở khu vực nông nghiệp và nông thôn đa dạng hoá và nâng cao thu nhập
Nguồn vốn ODA có tác động tích cực đến việc giảm nghèo khi tạo ra nhiều điều kiện để người dân có công ăn việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, đặc biệt là những người nghèo, thu nhập thấp, kinh nghiệm lao động dường như là không có
Trang 35*Giáo dục, y tế, môi trường và cải thiện an sinh xã hội
Quảng Ninh đang hết sức nỗ lực và rất chú trọng trong việc nâng cao chất lượng trong giáo dục cho người nghèo và nhóm người yếu thế trong xã hội, coi đó là một trọng tâm của quá trình phát triển và mang tính quyết định đối với công cuộc giảm nghèo
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, bên cạnh việc đầu tư từ ngân sách nhà nước thì tỉnh cũng rất coi trọng sự giúp đỡ từ cộng đồng quốc tế trong những năm qua đã có rất nhiều những công trình, dự án trong giáo dục được đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã phần nào tạo điều kiện cho việc giáo dục, đặc biệt là trong việc tiếp cận giáo dục tiểu học và trung học cơ sở cho con em các hộ gia đình sinh sống trong các vùng nông thôn, các vùng nghèo, đồng bào các dân tộc ít người; bảo đảm bình đẳng giới và tăng khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em gái Dự án giáo dục giúp ngành giáo dục Quảng Ninh thực hiện cải cách giáo dục tại tất cả các cấp học (giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề), đào tạo giáo viên, tăng cường năng lực công tác kế hoạch và quản lý giáo dục, cung cấp học bổng đào tạo đại học và sau đại học ở nước ngoài, cử cán bộ, công chức đào tạo và đào tạo lại tại nước ngoài về các lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ
và quản lý Các dự án này dược giải ngân một cách nhanh chóng đem lại hiệu quả hết sức thiết thực
1.1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò vốn ODA đến giảm nghèo
* Quy trình và thủ tục của nước tiếp nhận viện trợ
Đây là nhân tố quan trọng nhất tác động trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn ODA Ở những quốc gia có quy trình và thủ tục thông thoáng, thuận lợi cho công tác thực hiện các chương trình, dự án ODA thì ở nơi đó các chương trình, dự án ODA sẽ triển khai thuận lợi, đúng tiến độ và phát huy hiệu quả tốt qua đó sẽ làm tăng khả năng thu hút thêm nguồn vốn này, giúp cho nguồn vốn ODA càng phát huy vai trò đối với giảm nghèo Nếu quy
Trang 36trình, thủ tục của nước tiếp nhận viện trợ rườm rà, vướng mắc sẽ làm giảm hiệu quả của vốn ODA tới giảm nghèo
* Mối quan hệ với các nhà tài trợ:
Việc tranh thủ mối quan hệ với các nhà tài trợ cũng là 1 nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo Nếu mối quan hệ với các nhà tài trợ tốt, lợi ích trong nước và lợi ích các nhà tài trợ hài hòa sẽ làm giảm sự phức tạp, rườm rà về thủ tục của các nhà tài trợ, quyền hạn của văn phòng đại diện tại Việt Nam sẽ được nâng cao Điều này làm tăng vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo và ngược lại Mối quan hệ với các nhà tài trợ không tốt, sẽ gây khó khăn trong việc tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, làm giảm vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo
* Chiến lược, chương trình mục tiêu về giảm nghèo
Các nhà tài trợ trên thế giới chỉ cam kết cho các nước nhận viện trợ ODA khi các nước nhận viện trợ đưa ra được các quy trình, mục tiêu cụ thể
có tính khả thi và phù hợp với mục tiêu của nhà tài trợ Vì vậy, nếu chiến lược, chương trình mục tiêu về giảm nghèo được xây dựng có trình tự và có
kế hoạch triển khai cụ thể, sẽ làm tăng vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo, và ngược lại, nếu chương trình, chiến lược về giảm nghèo không có kế hoạch và biện pháp thực hiện, vốn ODA sẽ không phát huy được vai trò của mình đối với giảm nghèo
* Cơ chế, thủ tục giải ngân các dự án
Tiến độ giải ngân các dự án nhanh sẽ làm tăng vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo và ngược lại Các dự án chậm được giải ngân, tiến độ chậm sẽ làm giảm vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo
* Cơ chế giám sát thực hiện các chương trình giảm nghèo
Công tác này đóng vai trò rất quan trọng quyết định đến sự thành công của dự án Việc theo dõi, kiểm tra và giám sát dự án còn giúp thấy được những tồn tại, khó khăn cần giải quyết để từ đó có những điều chỉnh kịp
Trang 37thời, cả điều chỉnh về cách thức thực hiện dự án cũng như một số nội dung trong hiệp định tài chính đã ký kết (nếu thấy có những điểm bất hợp lý trong văn kiện của dự án so với thực tế), phục vụ việc ra quyết định của các cấp quản lý, nhằm đảm bảo chương trình/dự án được thực hiện đúng mục tiêu, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng và trong khuôn khổ các nguồn lực đã được xác định Ngoài ra, nó còn giúp cho các cấp quản lý rút ra những bài học kinh nghiệm để áp dụng cho giai đoạn thực hiện tiếp theo và áp dụng cho các chương trình, dự án khác Từ đó làm tăng vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo và ngược lại Cơ chế giám sát lỏng lẻo, không sát sao sẽ làm giảm vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo
* Quan hệ phi Nhà nước:
Mở rộng các quan hệ phi nhà nước sẽ góp phần đảm bảo sự thành công của các chương trình, dự án ODA, từ đó làm tăng vai trò của ODA đối với giảm nghèo Nếu mối quan hệ phi nhà nước bị hạn chế sẽ làm hạn chế vai trò của ODA đối với giảm nghèo
* Nhân tố con người:
Năng lực và đạo đức của các cán bộ thực hiện chương trình, dự án ODA cũng là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn ODA Các cán bộ này cần phải có năng lực về đàm phán, ký kết dự án, triển khai thực hiện quản lý vốn, có kiến thức chuyên môn sâu về pháp luật, kinh
tế, kỹ thuật, ngoại ngữ Ngoài những năng lực về chuyên môn kể trên, các cán bộ quản lý dự án nhất thiết phải có những phẩm chất đạo đức tốt Nếu các cán bộ thực hiện chương trình, dự án đảm bảo được những năng lực và phẩm chất này sẽ làm tăng vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo, và ngược lại Nếu có một bộ phận những người tham gia dự án có sự suy thoái
về đạo đức và trình độ năng lực kém, hiệu quả của các chương trình, dự án
sẽ giảm, làm vai trò của ODA đối với giảm nghèo cũng không được đề cao
* Sự tham gia của người nghèo vào các chương trình, dự án ODA:
Trang 38Các chương trình dự án ODA nếu có sự tham gia của người nghèo sẽ
nứ bắt được những đặc điểm văn hóa và lối sống của họ nên việc triển khai
dự án sẽ thuận lợi hơn Từ đó, tăng vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo Và ngược lại Đối với các dự án thiếu sự tham gia của người nghèo, yếu tố thành công của dự án sẽ bị giảm bớt, giảm vai trò của vốn ODA đối vói giảm nghèo
* Vốn đối ứng: Vốn đối ứng nếu được cấp đầy đủ và kịp thời theo tiến độ dự
án sẽ làm tăng vai trò của ODA đối với giảm nghèo và ngược lại
* Việc sử dụng vốn ODA cho các nhóm ngành kinh tế: Sau khi tiếp nhận vốn ODA, việc sử dụng vốn ODA cho các nhóm ngành kinh tế nào là vấn đề rất quan trọng Cần phải tập trung vốn cho các lĩnh vực cần được ưu tiên hàng đầu Điều đó sẽ làm tăng vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo
* Mạng lưới an sinh xã hội của người nghèo: Nếu mạng lưới an sinh xã hội được mở rộng, sẽ giúp phát huy vai trò của vốn ODA đối với giảm nghèo
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Hiện trạng tình hình sử dụng nguồn vốn ODA cho giảm nghèo tại một số quốc gia trên thế giới
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Quản lý tập trung, thực hiện phi tập trung Năm 1980 đến cuối 2005, tổng số vốn ODA WB cam kết với Trung Quốc là 39 tỷ USD (người Trung Quốc gọi là “vay vốn Chính phủ nước ngoài”) Vốn ODA đóng một vai trò rất tích cực trong việc thúc đẩy cải cách và phát triển ở Trung Quốc với 263 dự
án được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, và ở khắp các địa phương
Tóm tắt nguyên nhân thành công của việc sử dụng ODA ở Trung Quốc
có mấy điểm: Có chiến lược hợp tác tốt; Xây dựng tốt các dự án; Cơ chế điều phối và thực hiện tốt; Cơ chế theo dõi và giám sát chặt chẽ.Trung Quốc đặc biệt đề cao vai trò của việc quản lý và giám sát Hai cơ quan Trung ương quản
lý ODA là Bộ Tài chính và Ủy ban cải cách và phát triển quốc gia Bộ Tài
Trang 39chính làm nhiệm vụ “đi kiếm tiền”, đồng thời là cơ quan giám sát việc sử dụng vốn Bộ Tài chính yêu cầu các Sở Tài chính địa phương thực hiện kiểm tra thường xuyên hoạt động của các dự án, phối hợp với WB đánh giá từng dự án.Các Bộ ngành chủ quản và địa phương có vai trò quan trọng trong thực hiện
và phối hợp với Bộ Tài chính giám sát việc sử dụng vốn Việc trả vốn ODA ở Trung Quốc theo cách “ai hưởng lợi, người đó trả nợ” Quy định này buộc người
sử dụng phải tìm giải pháp sản sinh lợi nhuận và lo bảo vệ nguồn vốn
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Malaysia
Phối hợp chặt chẽ với nhà tài trợ cùng kiểm tra đánh giá Ở Malaysia, vốn ODA được quản lý tập trung vào một đầu mối là Văn phòng Kinh tế Kế hoạch Vốn ODA được đất nước này dành cho thực hiện các dự án giảm nghèo, nâng cao năng lực cho người dân.Văn phòng Kinh tế Kế hoạch Malaysia là cơ quan lập kế hoạch ở cấp Trung ương, chịu trách nhiệm phê duyệt chương trình dự án, và quyết định phân bổ ngân sách phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia Malaysia đánh giá cao hỗ trợ kỹ thuật từ các nhà tài trợ Mục đích lớn nhất của Malaysia là nhận hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực con người thông qua các lớp đào tạo
Malaysia công nhận rằng họ chưa có phương pháp giám sát chuẩn mực Song chính vì vậy mà Chính phủ rất chú trọng vào công tác theo dõi đánh giá
Kế hoạch theo dõi và đánh giá được xây dựng từ lập kế hoạch dự án và trong lúc triển khai.Cũng tương tự như Ba Lan, Malaysia đặc biệt chú trọng đơn vị tài trợ trong hoạt động kiểm tra, giám sát Phương pháp đánh giá của đất nước này là khuyến khích phối hợp đánh giá giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ, bằng cách hài hòa hệ thống đánh giá của hai phía Nội dung đánh giá tập trung vào hiệu quả của dự án so với chính sách và chiến lược, nâng cao công tác thực hiện và chú trọng vào kết quả
Hoạt động theo dõi đánh giá được tiến hành thường xuyên Cũng quan niệm như Ba Lan, Malaysia cho rằng công tác theo dõi đánh giá không hề làm cản trở dự án, trái lại sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, và đặc biệt là giảm lãng phí
Trang 401.2.1.3 Kinh nghiệm Mexico
Ngày 12/8/1982 Mexico công bố với cộng đồng tài chính quốc tế là nước này đã sử dụng gần hết nguồn dự trữ ngoại tệ quốc gia và không còn khả năng thanh toán các khoản nợ nước ngoài đến hạn nữa Tại thời điểm đó
nợ nước ngoài của Mexico lên đến 80 tỷ USD, làm cho Mexico trở thành nước đang phát triển có số nợ lớn thứ hai (sau Brazil) trên thế giới
Nguyên nhân đưa Mexico và một số nước đến khủng hoảng nợ trong những năm 80 có nhiều, bao gồm các nguyên nhân khách quan và chủ quan Các nguyên nhân khách quan bao gồm sự biến động của lãi suất quốc tế trên thị trường quốc tế, lãi suất LIBOR năm 1978 khoảng 9%/năm tăng lên 12%/năm trong năm 1979 và 16%/năm trong năm 1981, trong khi đó giá hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của các nước đang phát triển giảm đột ngột, cụ thể là mức giá năm 1981 giảm 14,6% so với năm 1980, năm 1982 giảm 12%
so với năm 1981 Lãi suất tăng đột ngột làm cho nghĩa vụ trả nợ của các nước đang phát triển tăng, ngược lại giá hàng xuất khẩu giảm làm cho nguồn thu ngoại tệ giảm không đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ Ngoài ra, nguyên nhân chủ quan nằm trong chính sách vay và sử dụng vốn của Mexico trực tiếp làm cho Mexico rơi vào tình trạng khủng hoảng
Trong 3 thập kỷ 40, 50, 60 kinh tế Mexico đạt mức tăng trưởng khá Đến những năm 70 và đầu những năm 1980 Chính phủ khuyến khích phát triển công nghiệp đặc biệt là các ngành công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu Nguồn vốn
để tài trợ cho chính sách công nghiệp này là sử dụng nguồn thu từ dầu mỏ, tăng mức bội chi ngân sách, và đẩy mạnh vay nợ nước ngoài Năm 1982, thâm hụt ngân sách của Mexico đạt mức 18% GNP Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
là do bội chi ngân sách lớn, cán cân thương mại thâm hụt, tổng số nợ nước ngoài lớn, dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, lạm phát cao (năm 1987 là 150%)