Với lý do trên tác giả đã lựa chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” làm luận án tiến sĩ của mình.. Đối với
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu vào Việt Nam từ năm
1988, bước ngoặt này đã được coi là thành tựu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN (Kokko et al., 2003) Sau khi cải cách kinh tế được thực hiện năm
1986, dòng vốn FDI hàng năm vào Việt Nam đã tăng lên đáng kể, từ 341,7 triệu USD năm 1988 đến năm 2013 ước tính tăng lên 22.352,2 triệu USD, mức tăng trưởng hàng năm trên 30% (Tổng cục Thống kê, 2014) Cao điểm quá trình thu hút lượng vốn này là năm 2008 với tổng vốn huy động trên 71.000 triệu USD, tuy nhiên đã có sự sụt giảm nghiêm trọng từ năm 2009 cho đến nay (từ số vốn đăng ký năm 2009 là 23.107,3 triệu USD đã giảm xuống còn 16.348 triệu USD năm 2012, giảm 29,3%) Mặc dù sự sụt giảm này không nằm ngoài xu hướng chung của toàn cầu dưới tác động của khủng hoảng kinh tế, nhưng nếu so sánh với khu vực ASEAN và Trung Quốc thì xu hướng dòng chảy ngược lại có sự gia tăng trong 4 năm qua Điều này đã đặt ra các câu hỏi lớn: Các yếu tố nào ảnh hưởng thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam? Các yếu tố ảnh hưởng phân
bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam là gì? Với tầm quan trọng của dòng vốn FDI đối với tăng trưởng kinh tế, việc trả lời các câu hỏi này rất cần thiết nhằm đưa ra giải pháp phù hợp, từ đó tăng cường thu hút hơn nữa dòng vốn FDI vào Việt Nam nói chung và tại các địa phương nói riêng trong thời gian tới Với lý do trên tác giả đã lựa chọn và
thực hiện đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” làm luận án tiến sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án
Liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án, trên cơ sở kết quả tổng quan của tác giả cho thấy hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu
cả về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm được thực hiện Tuy vậy, vẫn còn khá ít các nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố ảnh hưởng thu hút và phân bố không gian vốn FDI tại Việt Nam Về yếu tố ảnh hưởng thu hút vốn FDI vào Việt Nam, hầu hết trong các nghiên cứu được tổng kết các tác giả đã sử
Trang 2dụng các biến đại diện và phương pháp nghiên cứu khác nhau sao cho phù hợp với cơ sở dữ liệu thống kê Theo đó, kết quả tổng quan phân thành hai nhóm liên quan đến nguồn dữ liệu thống kê sơ cấp và thứ cấp Đại diện cho nhóm thứ nhất liên quan đến dữ liệu thống kê sơ cấp có các nghiên cứu của Hafiz and Giroud (2004), Lei et al (2011) và Nguyen et al (2013) Ngược lại, các nghiên cứu khác của Parker et al (2005), Hoang (2006), Hồ Nhựt Quang (2010), Pham (2011), Nguyen (2011), Hoàng Chí Cương và cộng sự (2013) sử dụng dữ liệu thống kê thứ cấp Đối với các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả vì sự hạn về dữ liệu thống kê nên chỉ có 3 nghiên cứu điển hình có liên quan là nghiên cứu của Meyer and Nguyen (2005), Nguyen et
al (2008) và Dinh (2009)
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là xác định các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam Cụ thể luận án tập
trung trả lời 2 câu hỏi nghiên cứu chính sau:
- Các yếu tố nào ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến phân bố không gian vốn FDI giữa các
địa phương tại Việt Nam?
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng đến phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam
Trang 3(2) Kết quả phản hồi đánh giá của 171 doanh nghiệp FDI đối với môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay (giai đoạn khảo sát 2012-2013)
(3) Nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam luận án đã sử dụng số liệu của 24 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Châu Á trong giai đoạn 2000-2012
(4) Cuối cùng, để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phân bố không gian vốn FDI tại Việt Nam, dữ liệu của 63 tỉnh/thành phố tại Việt Nam trong giai đoạn 2005-2013 đã được sử dụng
5 Phương pháp nghiên cứu
- Để phản ánh đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi
trường đầu tư Việt Nam hiện nay phương pháp nghiên cứu định tính đã được sử dụng
- Đối với nội dung phân tích các yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI vào Việt Nam, với mục đích lựa chọn phương pháp ước lượng đạt kết quả kiểm định không chệch, vững và hiệu quả, phương pháp nghiên cứu được lựa chọn sử dụng là phương pháp ước lượng GMM sai phân thay vì phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất OLS
- Lập luận như đối với trường hợp Việt Nam nói chung phương pháp nghiên cứu để ước lượng và kiểm định các giả thuyết đưa ra liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam cũng là phương pháp ước lượng GMM sai phân
6 Tính mới và đóng góp của luận án
- Sử dụng biến tương tác nhằm nghiên cứu sự khác biệt về hệ số độ dốc các yếu tố ảnh hưởng đối với FDI của Việt Nam trong so sánh tương đồng với các nước ASIA 24
Trang 4- Dựa trên kết quả kiểm định theo phương pháp ước lượng GMM sai phân, có 3 trong 6 giả thuyết đưa ra liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI vào Việt Nam có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 10% Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam là vì tác động khung chính sách, động cơ tìm kiếm thị trường và động cơ tìm kiếm tài nguyên
- Đối với các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam, kết quả kiểm định theo phương pháp ước lượng GMM sai phân đối với dữ liệu hiện tại và quá khứ đã không đủ cơ sở bác bỏ
4 trong 5 giả thuyết đưa ra, liên quan đến chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền địa phương, động cơ tìm kiếm thị trường, động cơ tìm kiếm hiệu quả, và hiệu ứng tích tụ FDI
- Từ kết quả đạt được trong quá trình phân tích một số gợi ý chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư cũng như tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở cấp độ quốc gia và địa phương đã được đề xuất
- Cuối cùng, việc dựa trên dữ liệu bảng của các nước ASIA 24 để phân tích các yếu tố ảnh hưởng thu hút vốn FDI vào Việt Nam nên kết quả nghiên cứu không những có thể cho thấy được động cơ của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam mà còn có thể so sánh tương đồng với các quốc gia khác trong khu vực Vì vậy kết quả nghiên cứu hy vọng sẽ cung cấp một tầm nhìn “rộng hơn” cho các nhà hoạch định chính sách
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, hàm ý chính sách kết cấu luận án gồm các 5 chương chính
Trang 5CHƯƠNG 1:
CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH VỊ TRÍ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI: LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
1.1 Giới thiệu
1.2 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Lý thuyết đã chỉ ra rằng FDI thường được hình thành và sinh ra từ sự tương tác giữa lực lượng của nước chủ đầu tư và nước thu hút (ví dụ, Dunning, 1981, 1988; UNCTAD, 2006) Dòng vốn FDI sẽ chảy từ nước này sang nước khác và FDI xảy ra có thể chung qui là do ảnh hưởng của các yếu
tố đẩy từ nước chủ đầu tư và yếu tố kéo của nước thu hút Một số yếu tố trong nước chủ đầu tư có xu hướng tạo động lực thúc đẩy hành vi đầu tư ra bên ngoài của FDI nhằm tìm kiếm một thị trường tiềm năng hơn hay tăng
hiệu quả kinh doanh với chi phí sản xuất thấp hơn… ở nước thu hút
1.3 Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế
FDI có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hai hướng: trực tiếp và gián tiếp, trong đó tác động gián tiếp của FDI đến tăng trưởng kinh tế còn gọi là tác động lan tỏa Các nghiên cứu về tác động FDI đến tăng trưởng kinh tế
đã sử dụng các phương pháp và cách tiếp cận vấn đề khác nhau Một số nghiên cứu đề cập việc đo lường tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế nói chung theo cách tác động trực tiếp, trong khi những nghiên cứu khác lại tập trung nghiên cứu tác động của FDI đối với hoạt động sản xuất, thương mại quốc tế, đầu tư địa phương theo hướng tác động lan tỏa
1.4 Lý thuyết về yếu tố quyết định vị trí của FDI
1.4.1 Ở cấp độ quốc gia
1.4.1.1 Lý thuyết thương mại quốc tế (International Trade Theory)
Mô hình lý thuyết đầu tiên giải thích hoạt động đầu tư nước ngoài dựa trên lý thuyết thương mại quốc tế là mô hình Heckscher-Ohlin do Heckscher (1919) và Bertil Ohlin (1933) xây dựng với quan điểm: Quốc gia
có nhiều yếu tố đầu vào tốt hơn nên xuất khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu
tố đầu vào đó và nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố đầu vào khác
1.4.1.2 Lý thuyết về lợi thế độc quyền (The Theory of Firm-Specific Ownership Advantages)
Trang 6Lý thuyết này được khởi xướng bởi Hymer (năm 1960), đây là nỗ lực đầu tiên khi đưa ra một lý thuyết độc lập nhằm giải thích xu hướng đầu tư nước ngoài Hymer đưa ra quan điểm của mình xuất phát từ các nền kinh tế công nghiệp và khẳng định rằng một công ty muốn vượt qua các rào cản quốc tế, tham gia vào quá trình sản xuất khi công ty phải có lợi thế độc quyền
1.4.1.3 Lý thuyết vòng đời của sản phẩm (Product Life Cycle Theories)
Lý thuyết này được Hirsch đưa ra trước tiên năm 1965 và sau đó được Vernon phát triển một cách có hệ thống từ năm 1966 Lý thuyết này lý giải
cả đầu tư quốc tế lẫn thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm
1.4.1.4 Lý thuyết nội bộ hoá (Internalization Theory)
Lý thuyết nội bộ hoá do Buckley và Casson đưa ra năm 1976, lý thuyết này dựa trên lý thuyết công ty của Coase (1937) Theo lý thuyết này, giao dịch bên trong công ty (Internal Transaction-IT) tốt hơn giao dịch bên ngoài công ty (Market Transaction-MT) khi thị trường không hoàn hảo
1.4.1.5 Lý thuyết Eclectic Paradigm (OLI)
Đây là một mô hình được xây dựng khá công phu của Dunning (1977,
1979, 1981, 1988, 1996, 1998, 2000, 2001) Theo Dunning, một công ty tiến hành đầu tư nước ngoài khi có các lợi thế OLI - bao gồm Ownership Advantages (lợi thế sở hữu), Location Advantage (lợi thế về vị trí), và Internalization Incentives (lợi thế nội bộ hóa)
Trên cơ sở tổng quan, lý thuyết OLI về các yếu tố quyết định vị trí FDI
sẽ được lựa chọn làm nền tảng xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng thu hút vốn FDI và các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các đại phương tại Việt Nam trong chương 3 và chương 4 của luận án
1.4.2 Ở cấp độ phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương trong quốc gia
Lý thuyết nền tảng đầu tiên liên quan đến các yếu tố phân bố không gian vốn FDI giữa các vùng trong một quốc gia là lý thuyết Hiệu ứng tích tụ rất phổ biến của Krugman (1991) Nền tảng lý thuyết thứ hai được tìm thấy liên
Trang 7quan các yếu tố lợi thế kinh tế truyền thống Khung lý thuyết cuối cùng liên quan đến các yếu tố thể chế
1.5 Các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng thu hút vốn FDI
Kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhóm quốc gia, khu vực, hay một quốc gia cụ thể không có điểm khác biệt gì nhiều Nhìn chung các yếu tố này được chia thành ba nhóm: nhóm yếu tố thể hiện khung chính sách của chính phủ (gồm các yếu tố: rủi ro quốc gia/lạm phát, tỷ giá hối đoái, chi phí vốn trong nước, chính sách thuế doanh nghiệp, đổi mới nền kinh tế, quan hệ song phương, phát triển tài chính, hỗ trợ ODA…); nhóm yếu tố quyết định kinh tế (gồm các yếu tố: quy mô thị trường, tăng trưởng kinh tế, mở cửa thương mại, tài nguyên cho khai thác, chi phí lao động, kỹ năng lao động/nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, cơ sở hạ tầng, khoảng cách địa lý, khoảng cách văn hóa…), và nhóm yếu tố liên quan đến chất lượng thể chế (gồm các yếu tố: chính trị ổn định, chất lượng quy định pháp luật, tham nhũng/quan liêu…) Ba nhóm yếu tố này thể hiện quan điểm đại diện cho nền tảng xây dựng các mô hình nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI và các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam trong chương 3 và 4 của luận án
Ngoài ra, kết quả tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI tại Việt Nam ở cấp độ quốc gia và địa phương sẽ cho phép xác định khoảng trống trong nghiên cứu tại Việt Nam
1.6 Khoảng trống trong nghiên cứu tại Việt Nam
Trên cơ sở tổng quan các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng phân
bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam, đây không phải
là vấn đề mới và đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu.Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu chưa tiến hành kiểm định các vi phạm liên quan đến hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan và biến nội sinh, chủ yếu chỉ dừng lại ở kết quả hồi quy ban đầu theo phương pháp ước lượng bình
Trang 8phương nhỏ nhất (OLS) nên kết quả ước lượng chưa đáng tin cậy Đặc biệt, chưa có mô hình nghiên cứu nào sử dụng biến trễ FDI để nghiên cứu tác động lên dòng vốn FDI, trong khi đó kết quả nghiên cứu của Campos and Kinoshita (2003); Carstensen and Toubal (2004); Bellak et al (2008); và Anyanwu (2012) đã cho thấy đây là một biến quan trọng nên đưa vào mô hình nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI
Đối với các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian FDI giữa các địa phương tại Việt Nam, theo kết quả tổng quan cho thấy chỉ có 3 nghiên cứu
có liên quan, bao gồm: nghiên cứu của Meyer and Nguyen (2005); Nguyen and Nguyen (2007) và Dinh (2009) Khác với các tác giả này sử dụng dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau và không đồng nhất về mặt thời gian, trong luận án chỉ sử dụng dữ liệu thứ cấp từ một nguồn duy nhất là Tổng cục Thống kê trong giai đoạn 2005 – 2013 nên đảm bảo tính đồng nhất và đáng tin cậy, đồng thời sự cập nhật về dữ liệu (nhất là chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh – PCI) giúp kết quả ước lượng hứa hẹn sẽ có độ tin cậy cao hơn Ngoài ra, theo kết quả tổng quan cho thấy chưa có nghiên cứu nào quan tâm đến thông tin quá khứ có thể ảnh hưởng đến việc phân bố vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam Kết quả kiểm định ở chương 4 chứng tỏ đây lại là đặc trưng trong quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
1.7 Kết luận chương 1
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI
VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu
2.2 Thực trạng thu hút dòng vốn FDI tại Việt Nam
2.2.1 Xu hướng FDI tại Việt Nam
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2014) xu hướng dòng vốn FDI vào Việt Nam (cả vốn đăng ký và vốn thực hiện) đã gia tăng từ năm 1988 đến năm 2013 Tuy nhiên tổng vốn thực hiện so với vốn đăng ký vẫn còn rất
Trang 9thấp (tính đến cuối cuối năm 2013 tổng vốn thực hiện/tổng vốn đăng ký ước đạt 51,45%)
2.2.2 Cơ cấu FDI tại Việt Nam
Về cơ cấu theo ngành, khu vực chế biến, chế tạo được xác định chiếm tỷ trọng vượt trội cả về số dự án và số vốn thu hút, khu vực này đạt trên 54,76% tổng số dự án FDI đăng ký tại Việt Nam (8.725/15.932 dự án FDI) Theo đối tác đầu tư, tính lũy kế đến ngày 31/12/2013, Nhật Bản, Xin-ga-
po, Hàn Quốc, Đài Loan và Quần đảo Virgin thuộc Anh là năm quốc gia và vùng lãnh thổ có số lượng vốn đầu tư FDI đăng ký lớn nhất tại Việt Nam
Về cơ cấu theo vùng, số liệu thống kê cho thấy trong số 63 tỉnh/thành phố hiện nay Tp Hồ Chí Minh là địa phương thu hút nhiều nhất vốn FDI trong cả nước (32.403,2 triệu USD), tiếp đến là Bà Rịa - Vũng Tàu (26.298 triệu USD) và Hà Nội xếp vị trí thứ 3 (21.205,6 triệu USD)
2.3 So sánh vốn FDI Việt Nam thu hút được với các nước trong khu vực
Trong khu vực các nước ASEAN, tính đến cuối năm 2013 vị trí xếp hạng của các nước trong thu hút dòng vốn FDI như sau: số một thuộc về Xin-ga-po (thu hút được 63.772,3 triệu USD), vị trí thứ hai thuộc về In-đô-nê-xia (18.444 triệu USD), tiếp theo là Thái Lan (12.649,7 triệu USD), Ma-lai-xia (11.582,7 triệu USD), và Việt Nam xếp thứ hạng thứ năm (với 8.900
triệu USD thu hút được)
2.4 Kết quả đánh giá về môi trường đầu tư tại Việt Nam thông qua cuộc khảo sát
Kết quả trả lời khảo sát của 171 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cho thấy có 66,1% doanh nghiệp cho rằng họ lựa chọn Việt Nam để đầu tư trong tương quan so sánh với các quốc gia khác; 90,1% doanh nghiệp đồng ý Việt Nam là một điểm đến của dòng vốn FDI tại khu vực Đông Nam Á; 62% doanh nghiệp đầu tư tại Việt Nam vì mục tiêu tìm kiếm thị trường; 86% doanh nghiệp có ý kiến cho rằng môi trường đầu tư tại Việt Nam đã thay đổi theo chiều hướng tích cực kể từ khi Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đây cũng là tỷ trọng tương ứng cho sự hài lòng của họ đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam
Trang 10hiện nay; có 83,6% doanh nghiệp cho rằng họ tiếp tục đầu tư tại Việt Nam
và quốc gia được các nhà đầu tư quan tâm lựa chọn bên cạnh Việt Nam là Trung Quốc và Campuchia
2.5 Kết luận chương 2
CHƯƠNG 3:
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 3.1 Giới thiệu
3.2 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Từ 6 giả thuyết đưa ra, mô hình lý thuyết nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam được xây dựng như sau:
Hình 3.1: Mô hình lý thuyết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam
Trên cơ sở kết quả tổng quan từ các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong chương 1 và đặc điểm kinh tế - xã hội riêng của Việt Nam, mô hình nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI vào Việt Nam được đút kết như sau:
( )
Trang 11
( )
Trong đó:
+ i = 1,…, 24 đại diện cho 24 quốc gia thuộc Châu Á
+ t = 2000,…, 2012 là chỉ số chỉ thời gian nghiên cứu
+ FDI: Vốn FDI thu hút (USD)
+ Xi: Tập hợp các biến thuộc nhóm yếu tố khung chính sách, gồm tỷ lệ lạm phát (Infla), tỷ giá hối đoái (ExchRa), tín dụng nội địa đối với khu vực
tư nhân (FinDev), vốn viện trợ phát triển chính thức nhận được (ODA) + Yi: Tập hợp các biến thuộc nhóm yếu tố kinh tế, gồm tổng sản phẩm quốc nội (GDP), dân số thành thị (UrPop), giá trị thương mại trao đổi với bên ngoài (Open), giá trị quặng và kim loại xuất khẩu (Resour), số thuê bao
di động (Infras), và số học sinh trung học (HuCa)
+ Zi: Tập hợp các biến thuộc nhóm yếu tố chất lượng thể chế, gồm chỉ
số đánh giá về kiểm soát tham nhũng (Corrupt), chỉ số đánh giá về chất lượng quy định (Regul) và chỉ số đánh giá về luật pháp (Law)
+ VNt: Tập hợp các biến tương tác của Việt Nam so với các nước ASIA 24 Các biến tương tác này được xác định trên cơ sở nhân từng biến độc lập trong 3 nhóm yếu tố trên với biến giả Dummy (biến giả Dummy có
2 giá trị: 0 đối với các quốc gia ngoài Việt Nam và 1 đối với Việt Nam) + FDIt-1 hay FDI_1: Biến trễ đầu tiên của FDI
+ FDIVNt-1: Biến trễ đầu tiên của biến tương tác FDI_1 với Dummy
3.3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Biến đo lường
3.3.2 Dữ liệu thu thập
Dữ liệu biến phụ thuộc FDI được thu thập từ số liệu thống kê của tổ chức UNCTAD trong giai đoạn 2000-2012
Trang 12Đối với các biến độc lập thuộc các nhóm yếu tố khung chính sách, kinh
tế và chất lượng thể chế đều được tác giả thu thập từ nguồn dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn 2000-2012 Trong đó, các biến Corrupt, Regul và Law là chỉ số được xếp hạng từ 0 đến 100 (với 0 là giá trị xếp hạng đánh giá thấp nhất và 100 là giá trị xếp hạng đánh giá cao nhất)
3.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong các mô hình nghiên cứu thực nghiệm đã được xây dựng, bên cạnh các biến độc lập khác độ trễ bậc 1 của biến phụ thuộc FDI cũng được xem là một biến độc lập, đồng thời dữ liệu sử dụng là dữ liệu bảng của 24 quốc gia đang phát triển tại Châu Á trong giai đoạn 2000-2012 nên về mặt lý thuyết đây là mô hình hồi quy dữ liệu bảng động (Dynamic panel data models) Do
đó, để ước lượng và kiểm định các giả thuyết đưa ra liên quan đến các yếu
tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp ước lượng GMM sai phân theo phương pháp tác động cố định
3.4 Kết quả nghiên cứu
3.4.1 Thống kê mô tả các biến
Trung bình trong giai đoạn nghiên cứu vốn FDI các nước ASIA 24 thu hút được là 8.820 triệu USD, trong đó giá trị cao nhất đạt 280.000 triệu USD, giá trị nhỏ nhất là -4,55 triệu USD2 Đối với các biến độc lập, về các biến liên quan đến khung chính sách, tỷ lệ lạm phát trung bình của khu vực
là 7,36%, tỷ giá hối đoái trung bình là 1.696,38 LCU/USD, tỷ trọng tín dụng nội địa đối với khu vực tư nhân so với GDP trung bình đạt trên 40,7%
và tỷ trọng vốn viện trợ phát triển chính thức so với GNI trung bình trên 3,26% Trong nhóm yếu tố kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trung bình các nước đạt được 294.000 triệu USD/năm với tốc độ tăng trưởng trung bình trên 6,14%/năm, tỷ trọng trung bình dân cư thành thị so với tổng dân số đạt trên 46,2% và tỷ trọng giá trị thương mại trao đổi với bên ngoài trung bình trong cả khu vực đạt 88,28% GDP Bên cạnh đó, giá trị trung bình của tỷ trọng giá trị quặng và kim loại xuất khẩu trong tổng kim ngạch
2 Theo UNCTAD, khi một quốc gia có 1 trong 3 dòng vốn FDI (vốn chủ đầu tư, lợi nhuận dùng tái đầu tư và cho vay giữa các công ty) là âm và không có dòng vốn dương đủ đế bù đắp thì FDI mang dấu âm (gọi là divestment)