ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thƣ phế quản phổi (UTPQP) luôn là một thách thức lớn về sức khoẻ đối với y học toàn cầu do tỷ lệ mắc bệnh cũng nhƣ tỷ lệ tử vong ngày càng có xu hƣớng tăng lên, kèm theo những chi phí rất tốn kém cho việc điều trị bệnh. Theo tổ chức y tế thế giới (TCYTTG), năm 2002 UTPQP đứng hàng đầu trong các bệnh ung thƣ ở nam giới và đứng thứ năm trong các bệnh ung thƣ ở nữ giới [42], [61]. Năm 2002, tại Việt Nam và các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á nhƣ Singapore, Philippines, Thái Lan, UTPQP ở nam giới chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các bệnh ung thƣ [ 15]. Tại Hà Nội, năm 1999, tỷ lệ UTPQP mắc chuẩn theo tuổi là 32,4/100.000 dân, ở thành phố Hồ Chí Minh là 29,1/100.000 dân [1], [2]. Nhìn chung từ năm 2001-2004, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi đều tăng ở cả hai giới [ 15]. Trong mƣời loại ung thƣ thƣờng gặp tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2003 2004, UTPQP đứng hàng thứ nhất ở nam giới và đứng thứ ba ở nữ giới, trong đó tỷ lệ mắc UTPQP ở nam giới nhiều hơn ở nữ giới [18], [25]. Hơn 90% các trƣờng hợp UTPQP liên quan đến thuốc lá và hút thuốc lá thụ động, tỷ lệ tử vong do UTPQP là 50 đến 80/100.000 dân và có 50% bệnh nhân chết trong 1 năm đầu sau chẩn đoán [2], [1014]. Với tính chất tiến triển trầm trọng nhƣ vậy nên UTPQP đang trở thành mối lo ngại về sức khoẻ và là mục tiêu quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Ung thƣ phế quản phổi nếu đƣợc chẩn đoán và phẫu thuật ở giai đoạn sớm sẽ có tiên lƣợng tƣơng đối tốt. Theo một số nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ sống thêm 5 năm ở các bệnh nhân UTPQP đƣợc phẫu thuật có thể đạt 30% và thậm chí 70% ở các bệnh nhân đƣợc phẫu thuật ở giai đoạn O và I [52], [61]. Điều trị phẫu thuật chủ yếu là cắt phân thuỳ, cắt thuỳ phổi hay cắt cả phổi chứa khối u và nạo vét hạch. Phổi trái đảm nhiệm 45%, phổi phải đảm nhiệm 55% thông khí phổi [ 50], [65]. Do vậy sau phẫu thuật chức năng hô hấp (CNHH) của bệnh nhân bị suy giảm rõ rệt do kích thƣớc phổi bị loại bỏ. Mặt khác, sau phẫu thuật CNHH còn giảm do đau, do thuốc mê, do tổn thƣơng thành ngực nên việc hô hấp của bệnh nhân gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy việc phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân là rất quan trọng, nó sẽ góp phần làm giảm nguy cơ xẹp phổi, cải thiện CNHH, giảm khó thở đem lại chất lƣợng cuộc sống tốt hơn cho ngƣời bệnh. Trên thế giới có những chƣơng trình phục hồi chức năng cho bệnh nhân UTPQP đƣợc phẫu thuật đã đem lại những cải thiện đáng kể đến chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả đã nghiên cứu về tác dụng của tập thở đối với sức khoẻ nói chung và với các bệnh hô hấp nói riêng, tuy nhiên chƣa có một nghiên cứu nào đề cập đến chƣơng trình phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân phẫu thuật UTPQP. Mặt khác nhiều ngƣời quan niệm rằng thời gian sống thêm của ngƣời bệnh UTPQP là rất ít nên không quan tâm tới phục hồi chức năng cho họ. Nhƣng chúng tôi quan tâm tới chất lƣợng cuộc sống chứ không chỉ là thời gian sống. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá hiệu quả chƣơng trình phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân phẫu thuật UTPQP” nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá hiệu quả của Chương trình phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân phẫu thuật UTPQP. 2. Xác định một số yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình phục hồi của bệnh nhân phẫu thuật UTPQP.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
************************
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH
đánh giá hiệu quả chương trình phục hồi chức năng
hô hấp cho bệnh nhân phẫu thuật ung thư phế quản phổi tại bệnh viện phổi trung ương
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
************************
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH
đánh giá hiệu quả chương trình phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân phẫu thuật ung thư phế quản phổi tại bệnh viện phổi trung ương
Chuyờn ngành: PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
Mó số: 69.72.43 LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS CAO MINH CHÂU PGS TS ĐINH NGỌC SỸ
HÀ NỘI 2011
Trang 3Trong thời gian học tập, nghiên cứu, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, các bạn đồng nghiệp, cơ quan và những người thân trong gia đình
Lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn: Đảng ủy - Ban giám đốc Trường Đại học Y Hà Nội, Trung tâm Phục hồi chức năng Bệnh viện Bạch Mai, phòng Đào tạo sau đại học, Bộ môn Phục hồi chức năng Trường Đại học Y
Hà Nội nơi tôi học tập suốt 2 năm qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Đinh Ngọc Sỹ, Giám đốc Bệnh viện Phổi trung ương, khoa Thăm dò và phục hồi chức năng, khoa Ung bướu bệnh viện Phổi trung ương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Cao Minh Châu, PGS
TS Đinh Ngọc Sỹ, PGS TS Phạm Văn Minh người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng khoa học đã giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cha, Mẹ, các Anh, Chị và bạn
bè của tôi Cuối cùng, tôi cũng không quên cảm ơn Cha của con trai tôi,
đã hết lòng chăm sóc, nuôi dạy con tôi để tôi có thể yên tâm học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả Nguyễn Thị Phương Anh
Trang 4Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Phương Anh
Trang 61 Mã bệnh án:………2 Họ và tên………
3 Tuổi……… 4 Giới: 1.Nam 2 Nữ 5 Nghề nghiệp: 1 Công nhân, 2 Nông dân, 3 Cán bộ hưu, 4 Giáo viên, 6 Địa chỉ: (1 Thành thị, 2 Nông thôn, 3 Miền núi) 7 Tiền sử hút thuốc lá, lào: có 1- không 2-
Số bao năm đã hút………
+ Bệnh khác:………
8 Mức độ khó thở lúc vào viện Không khó thở 1- khó thở nhẹ 2-
khó thở vừa 3- khó thở nặng 4-
9 Độ bão hòa ôxy lúc vào viện (SpO2): %
10 Chức năng hô hấp: Giá trị Số lý thuyết Đo được % Đạt được FVC (1)
SVC (1) IC (l) FEV1 (l) FEV1/FVC % 11 Mức độ rối loạn thông khí trước phẫu thuật 12 Khí máu trước phẫu thuật: pH PaO2 mmHg PaCO2 mmHg SaO2 %
13 Số phân thùy phổi bị cắt bỏ Vị trí
14 Số ngày tập PHCN: trước mổ ngày, sau mổ ngày 15 Mức độ khó thở sau phẫu thuật Không khó thở 1- Khó thở nhẹ 2-
Khó thở vừa 3- Khó thở nặng 4-
Trang 717 Mức độ rối loạn thông khí sau phẫu thuật:
18 Khí máu sau phẫu thuật: pH PaO2 mmHg PaCO2 mmHg SaO2 %
19 Biến chứng sau phẫu thuật: có 1- không 2-
Nếu có, cụ thể: Ho ứ đọng đờm dãi
Xẹp phổi
Viêm phổi
20 Số ngày điều trị sau phẫu thuật
Hà nội, ngày tháng năm 201
(Bác sĩ khám)
Nguyễn Thị Phương Anh
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phế quản phổi (UTPQP) luôn là một thách thức lớn về sức khoẻ
đối với y học toàn cầu do tỷ lệ mắc bệnh cũng như tỷ lệ tử vong ngày càng có
xu hướng tăng lên, kèm theo những chi phí rất tốn kém cho việc điều trị bệnh
Theo tổ chức y tế thế giới (TCYTTG), năm 2002 UTPQP đứng hàng đầu
trong các bệnh ung thư ở nam giới và đứng thứ năm trong các bệnh ung thư ở
nữ giới [42], [61]
Năm 2002, tại Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á như
Singapore, Philippines, Thái Lan, UTPQP ở nam giới chiếm tỷ lệ cao nhất
trong số các bệnh ung thư [15]
Tại Hà Nội, năm 1999, tỷ lệ UTPQP mắc chuẩn theo tuổi là
32,4/100.000 dân, ở thành phố Hồ Chí Minh là 29,1/100.000 dân [1], [2] Nhìn
chung từ năm 2001-2004, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi đều tăng ở cả hai giới [15]
Trong mười loại ung thư thường gặp tại thành phố Hồ Chí Minh năm
2003-2004, UTPQP đứng hàng thứ nhất ở nam giới và đứng thứ ba ở nữ giới, trong
đó tỷ lệ mắc UTPQP ở nam giới nhiều hơn ở nữ giới [18], [25]
Hơn 90% các trường hợp UTPQP liên quan đến thuốc lá và hút thuốc lá
thụ động, tỷ lệ tử vong do UTPQP là 50 đến 80/100.000 dân và có 50% bệnh
nhân chết trong 1 năm đầu sau chẩn đoán [2], [1014] Với tính chất tiến triển
trầm trọng như vậy nên UTPQP đang trở thành mối lo ngại về sức khoẻ và là
mục tiêu quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới
Ung thư phế quản phổi nếu được chẩn đoán và phẫu thuật ở giai đoạn
sớm sẽ có tiên lượng tương đối tốt Theo một số nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ
sống thêm 5 năm ở các bệnh nhân UTPQP được phẫu thuật có thể đạt 30% và
thậm chí 70% ở các bệnh nhân được phẫu thuật ở giai đoạn O và I [52], [61]
Comment [P1]:
Formatted: 11, Left, Line spacing: single
Formatted: Font: 16 pt Comment [V2]:
Formatted: Font: 16 pt Formatted: Font: 14 pt Formatted: Indent: First line: 0 ch
Trang 9Điều trị phẫu thuật chủ yếu là cắt phân thuỳ, cắt thuỳ phổi hay cắt cả
phổi chứa khối u và nạo vét hạch Phổi trái đảm nhiệm 45%, phổi phải đảm
nhiệm 55% thông khí phổi [50], [65] Do vậy sau phẫu thuật chức năng hô
hấp (CNHH) của bệnh nhân bị suy giảm rõ rệt do kích thước phổi bị loại bỏ
Mặt khác, sau phẫu thuật CNHH còn giảm do đau, do thuốc mê, do tổn
thương thành ngực nên việc hô hấp của bệnh nhân gặp rất nhiều khó khăn Vì
vậy việc phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân là rất quan trọng, nó sẽ
góp phần làm giảm nguy cơ xẹp phổi, cải thiện CNHH, giảm khó thở đem lại
chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh
Trên thế giới có những chương trình phục hồi chức năng cho bệnh nhân
UTPQP được phẫu thuật đã đem lại những cải thiện đáng kể đến chất lượng
cuộc sống của người bệnh Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả đã nghiên cứu
về tác dụng của tập thở đối với sức khoẻ nói chung và với các bệnh hô hấp
nói riêng, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến chương trình
phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân phẫu thuật UTPQP Mặt khác
nhiều người quan niệm rằng thời gian sống thêm của người bệnh UTPQP là
rất ít nên không quan tâm tới phục hồi chức năng cho họ Nhưng chúng tôi
quan tâm tới chất lượng cuộc sống chứ không chỉ là thời gian sống Vì vậy
chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá hiệu quả chương trình phục hồi chức
năng hô hấp cho bệnh nhân phẫu thuật UTPQP” nhằm mục tiêu:
1 Đánh giá hiệu quả của Chương trình phục hồi chức năng hô hấp
cho
bệnh nhân phẫu thuật UTPQP
2 Xác định một số yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình phục hồi
của
bệnh nhân phẫu thuật UTPQP
Formatted: Indent: Left: 0.39", Hanging:
0.28"
Trang 10
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 DỊCH TỄ
1.1.1 Tình hình mắc ung thư phế quản phổi trên thế giới
Năm 1969, Chahinian Ph và Chrétien J thống kê trên 100.000 dân thấy
tỷ lệ mắc UTPQP cũng tăng lên từ 30,1 đến 43,0 ca trong vòng 10 năm từ
1955 đến 1965 Hiện nay UTPQP đã trở thành bệnh ung thư có tỷ lệ mắc
đứng hàng đầu ở nam, đứng thứ ba ở nữ và là nguyên nhân tử vong bệnh lý
hàng đầu ở các bệnh nhân ung thư nói chung trên toàn thế giới [42]
Tổ chức Y tế Thế giới dự báo trong 10 năm tới, có thể phát hiện mới
được hơn 2 triệu bệnh nhân UTPQP mỗi năm [61]. Trong năm 2005, trên thế
giới có khoảng 1,1 triệu bệnh nhân UTPQP được chẩn đoán mới, chiếm
12,8% tổng số ung thư được phát hiện Bên cạnh đó UTPQP là nguyên nhân
liên quan đến 921.000 trường hợp tử vong và chiếm 17,8% các trường hợp tử
vong do ung thư [58]
Theo Hiệp hội nghiên cứu ung thư Mỹ, năm 2005 tại Mỹ, số
người mới mắc là 172.570 người, đứng hàng thứ hai trong số những bệnh ung
thư mới được chẩn đoán tại Mỹ và chiếm khoảng 13% tổng số các trường hợp
Formatted: Justified, Indent: Left: 0.29",
Hanging: 0.3"
Formatted: Font: 16 pt Formatted: 11, Left, Line spacing: single Formatted: Font: 16 pt
Formatted: 22 Formatted: 33, Line spacing: single Formatted: Indent: First line: 0.39"
Trang 11ung thư Số người chết vì bệnh UTPQP trong năm 2005 là 163.510, chiếm
khoảng 29% các trường hợp tử vong do tất cả các loại ung thư Số người chết
vì UTPQP mỗi năm cao hơn tổng số người chết vì các ung thư đại tràng, ung
thư vú và ung thư tiền liệt tuyến [53], [61]
Tỷ lệ mắc UTPQP ở nam giới hút thuốc lá cao hơn 22 lần so với những
người không hút thuốc lá [42] Theo các nghiên cứu trước đây, tỷ lệ mắc
UTPQP ở nam luôn vượt trội so với ở nữ, tuổi hay mắc nhất là 40-69, tuổi
mắc trung bình 57,9 [61] Tuy nhiên, theo các báo cáo gần đây, tỷ lệ mắc
UTPQP ở nam đang chững lại và có xu hướng giảm nhưng tỷ lệ mắc ở nữ
đang có xu hướng tăng lên nhanh chóng, hướng tới cân bằng so với nam Lứa
tuổi mắc cũng trẻ hơn [35], [54], [58]
1.1.2 Tình hình dịch tễ ung thư phế quản phổi ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc và tử vong do UTPQP có xu hướng tăng lên ngày
càng nhanh Theo thống kê của Lương Tấn Trường và Cs tiến hành trên 5482
bệnh nhân ung thư trên toàn miền Bắc trong giai đoạn 1967 – 1971, UTPQP
chiếm 7,38 % tổng số ung thư ở nam, đứng thứ ba sau ung thư vòm họng và
ung thư dạ dày [17]
Trong 20 năm (1965-1985), qua 13.500 trường hợp khám nghiệm tử thi
tại Viện Chống Lao Trung Ương, UTPQP đứng hàng thứ hai trong tất cả các
loại ung thư ở cả hai giới (17,6%) [9]
Năm 1988, theo nghiên cứu của Hoàng Đình Cầu trên 1482 bệnh nhân
ung thư, tỷ lệ mắc UTPQP đứng hàng đầu ở nam [7]
Theo Nguyễn Bá Đức (2000), UTPQP đã trở thành bệnh ung thư phổ
biến nhất ở nam giới Việt Nam (tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi 29,3/100.000 dân),
tại Hà Nội (33,1%); đứng hàng thứ hai tại thành phố Hồ Chí Minh (24,6%)
Cả nước ước tính có khoảng 70.000 trường hợp UTPQP mới được phát hiện
Trang 121.1.3 Các yếu tố nguy cơ gây ung thư phổi
*Thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng gây UTPQP Mối liên quan giữa
thuốc lá và UTPQP được chú ý từ những năm 1930 Năm 1940, Muller công
bố kết quả một nghiên cứu bệnh chứng cho thấy sự gia tăng sử dụng thuốc lá
là nguyên nhân quan trọng nhất làm tăng tỷ lệ mắc UTPQP Năm 1943 viện
nghiên cứu tác hại do thuốc lá của Đức đã công bố một nghiên cứu cho thấy
trong 109 trường hợp UTPQP chỉ có 3 trường hợp không hút thuốc lá [68]
Năm 1950 tại Anh, Richard D và Austin H đã chỉ ra mối liên quan dịch
tễ giữa khói thuốc lá với nguy cơ mắc và tử vong do UTPQP Đến năm 1951
điều này đã được chứng minh bởi các nhà khoa học Mỹ Theo Gardner và
Ernest W: khói thuốc lá có hơn 4000 hóa chất khác nhau trong đó có hơn 40
chất là tác nhân trực tiếp gây ung thư đặc biệt là các hydrocacbon thơm: 3-4
benzopyren Nghiên cứu 3070 bệnh nhân UTPQP tại Edinburgh cho thấy chỉ
có 2% số bệnh nhân mắc UTPQP không hút thuốc lá Tại Mỹ, ước tính 87%
trường hợp tử vong do UTPQP liên quan đến thuốc lá, gây ra 90% các trường
hợp UTPQP ở nam và 79,55% ở nữ [38], [44]
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ UTPQP ở nhóm
hút thuốc lá, thuốc lào cao hơn hẳn so với nhóm không hút thuốc [31]
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ UTPQP lên 22 lần ở nam, 12 lần ở nữ
Mức độ gia tăng nguy cơ phụ thuộc vào tuổi bắt đầu hút, số năm hút thuốc,
thời gian hút, số điếu hút trong ngày, lượng nicotine của thuốc và cả độ hít
sâu của quá trình hút Người hút 20 điếu thuốc lá một ngày trong 40 năm sẽ
có nguy cơ mắc UTPQP gấp 8 lần người hút 40 điếu thuốc lá một ngày trong
20 năm [44], [64]
Hút thuốc lá thụ động cũng làm tăng nguy cơ UTPQP 1,5 lần so với
người không tiếp xúc với khói thuốc Ước tính hút thuốc lá thụ động gây ra
3000 trường hợp tử vong hàng năm do UTPQP tại Mỹ [64]
Formatted: Font color: Auto Formatted: 33, Line spacing: single Formatted: Font color: Auto Formatted: Indent: First line: 0.39"
Trang 13* Ô nhiễm không khí:
Nguy cơ mắc UTPQP ngày càng tăng theo quá trình công nghiệp hóa và
ô nhiễm môi trường Người ta nhận thấy rằng, UTPQP phát sinh nhiều hơn ở
những nước có nền công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, trong từng
nước tỷ lệ UTPQP ở thành thị cao hơn ở nông thôn Nghiên cứu thực nghiệm
và phân tích hóa học đã chứng minh nguyên nhân sinh ung thư của những
chất thải ra của công nghiệp Các bụi amiant, berrylli khi bị hít vào phổi làm
tăng khả năng mắc UTPQP, đặc biệt là ung thư màng phổi Công nhân khai
thác hoặc tiếp xúc thường xuyên với amiant có nguy cơ UTPQP cao gấp 10
lần người không tiếp xúc Nếu một người vừa có tiếp xúc với amiant lại vừa
hút thuốc lá thì nguy cơ mắc UTPQP của người đó gấp 100 lần.Sự tiếp xúc
với niken, crom, sắt, thạch tín, than, nhựa, khí đốt, dầu mỏ, khói động cơ
diezen cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh [14], [32]
*Các yếu tố nguy cơ khác: bức xạ ion hóa, chế độ ăn, yếu tố gen đặc
biệt vai trò của các gen điều khiển cytochrome p-450 có đóng vai trò trong
quá trình phát sinh, phát triển UTPQP đang được sự quan tâm nghiên cứu
1.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, CHỨC NĂNG CỦA BỘ MÁY HÔ HẤP
Thông khí phổi là hoạt động đưa không khí ra vào phổi liên tục, được
thực hiện bởi phổi và lồng ngực, vì vậy phổi và lồng ngực có cấu tạo đặc biệt
phù hợp với chức năng của mình
1.2.1 Đặc điểm hình thái, chức năng
1.2.1.1 Lồng ngực- khung xương [28], [29] :
Lồng ngực là một hộp cứng, kín chứa phổi và tim là 2 cơ quan chính ở
bên trong, xung quanh là khung xương bao bọc Lồng ngực có khả năng thay
đổi thể tích được là nhờ khung xương và các cơ hô hấp
Formatted: Font color: Auto, Vietnamese
Formatted: Indent: First line: 0.39" Formatted: Font color: Auto, Vietnamese Formatted: Font color: Auto, Vietnamese Formatted: Font color: Auto, Vietnamese
Formatted: 22, Space Before: 0 pt, After: 0
pt, Line spacing: single
Formatted: Indent: First line: 0.39"
Formatted: 33, Space Before: 6 pt, Line
spacing: single
Formatted: 44, Space Before: 6 pt Formatted: Indent: First line: 0.39", Space
Before: 6 pt
Trang 14- Khung xương được tạo thành từ các xương: 10 đốt sống ngực ở phía
sau, xương ức ở phía trước, 10 đôi xương sườn nối giữa 10 đốt sống ngực và
xương ức, xương sườn là các cung xương xếp theo hướng từ sau ra trước và
từ trên xuống dưới
- Các cơ hô hấp:
+ Các cơ tham gia vào động tác hít vào bình thường: cơ hoành, các cơ
liên sườn Cơ hoành có diện tích khoảng 250 cm2
khi co lại làm tăng kích thước lồng ngực theo chiều trên - dưới Các cơ liên sườn ngoài và liên sườn
trong, cơ gai sống, cơ răng to, cơ thang, khi co làm cho xương sườn nâng lên,
làm tăng kích thước lồng ngực theo chiều trước- sau và trái- phải
+ Các cơ tham gia vào động tác hít vào gắng sức: Cơ ức đòn chũm, cơ
ngực to, các cơ chũm, khi các cơ này co có tác dụng tăng thêm thể tích lồng
ngực hơn nữa
Giữa phổi và lồng ngực có khoang màng phổi, áp suất trong khoang
màng phổi là áp suất âm được tạo ra là do tính đàn hồi của phổi Nhờ áp suất
này mà phổi có thể thay đổi thể tích theo sự thay đổi của lồng ngực, máu về
tim được dễ dàng, tạo thuận lợi cho máu từ tim phải lên phổi, làm cho hiệu
suất trao đổi khí đạt được tối đa [26], [27]
1.2.1.2 Hệ thống đường dẫn khí
* Đặc điểm hình thái của đường dẫn khí:
Đường dẫn khí gồm mũi, hoặc miệng, họng, thanh quản, khí quản, phế
quản (phế quản gốc trái và phải phân chia từ 17- 20 lần), các tiểu phế quản,
các tiểu phế quản tận, phế nang, các ống - túi phế nang và các phế nang
Cấu tạo mô học của đường dẫn khí: Cấu tạo của thành các phế quản
không hoàn toàn giống nhau trong suốt chiều dài cây phế quản Tuy nhiên,
Formatted: 44, Space Before: 6 pt, Line
Trang 15các phế quản từ lớn đến nhỏ đều có cấu tạo cơ bản giống nhau Thành phế
quản từ trong ra ngoài gồm 4 lớp:
- Niêm mạc: gồm có lớp biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển Các phế
quản lớn có cấu trúc giống khí quản
- Lớp đệm được tạo bởi mô liên kết thưa
- Lớp cơ trơn được gọi là cơ Reissenssen
- Lớp sụn và tuyến: các mảnh sụn bé dàn theo đường kính phế quản và
mất khi đường kính phế quản <1mm Các tuyến phế quản thuộc loại tuyến
nhầy và tuyến pha Các tiểu phế quản có biểu mô phủ loại trụ đơn có lông
chuyển nhưng ở đoạn cuối lại là biểu mô vuông đơn có hoặc không có lông
chuyển Tiểu phế quản tận có biểu mô vuông đơn Các phế nang được lót bởi
lớp biểu mô rất mỏng gọi là biểu mô hô hấp [14]
* Chức năng của đường dẫn khí:
Chức năng dẫn khí [29]
Là chức năng quan trọng nhất, chỉ được thực hiện tốt khi đường dẫn khí
thông thoáng Bình thường không khí ra vào phổi rất dễ dàng, chỉ cần có sự
chênh lệch áp suất < 1cmH2O là đủ để không khí di chuyển từ nơi có áp suất
cao đến nơi có áp suất thấp trong động tác hô hấp Để đánh giá mức độ thông
thoáng của đường dẫn khí chúng ta có thể đo sức cản đường dẫn khí Sức cản
của đường dẫn khí phụ thuộc vào các yếu tố sau [27]:
- Thể tích phổi: khi hít vào sức cản của đường dẫn khí giảm xuống, khi
thở ra sức cản của đường dẫn khí tăng lên
- Sự co của cơ trơn ở các tiểu phế quản
- Mức độ phì đại của niêm mạc đường dẫn khí
- Lượng dịch tiết ra trong lòng đường dẫn khí
CChức năng bảo vệ [29]
Formatted: Vietnamese Formatted: Indent: First line: 0.39" Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Tab stops: 0.54", List tab + Not at 1.04"
Field Code Changed Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Indent: First line: 0.39" Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Tab stops: 0.53", List tab + Not at 0.79"
Trang 16Chức năng bảo vệ được thực hiện ngay từ khi không khí qua mũi Hệ
thống lông mũi có tác dụng cản các hạt bụi to và chỉ có những hạt bụi có kích
thước nhỏ hơn 5 µm (còn gọi là bụi hô hấp) mới vào được phế nang
Từ thanh quản đến các tiểu phế quản tận có phủ lớp biểu mô trụ giả tầng
có lông chuyển Các lông rung, chuyển động một chiều từ trong ra ngoài, có
tác dụng đẩy các chất nhày ra khỏi đường dẫn khí, do đó có tác dụng làm sạch
đường dẫn khí
Lớp dịch nhày và sự chuyển động của hệ thống lông mao trên bề mặt của
các biểu mô lát mặt trong của đường dẫn khí có tác dụng bám dính các hạt
bụi, vi khuẩn… và đẩy chúng ra ngoài [27]
Chức năng làm ấm và bão hoà hơi nước của không khí khi hít vào:
Không khí hít vào được sưởi ấm lên đến 37o C và được bão hoà hơi nước nhờ
hệ thống mao mạch phong phú của đường dẫn khí và nhờ có các tuyến tiết
nước, tiết nhày trong lớp biểu mô lát trong đường dẫn khí [27]
Ngoài các chức năng kể trên, đường dẫn khí còn có một số chức năng
khác như chức năng phát âm, chức năng góp phần biểu lộ tình cảm thông qua
các biểu hiện lời nói, cười, khóc …
1.2.1.3 Phổi
Phổi nằm trong lồng ngực gồm có ba mặt: Mặt ngoài (mặt sườn), mặt
dưới (mặt hoành hay đáy phổi) và mặt trong (mặt trung thất) [10]
Phổi phải: lớn hơn phổi trái, có hai rãnh liên thùy chia phổi phải làm 3
thuỳ Thùy trên có 3 phân thùy, thùy giữa có 2 phân thùy và thùy dưới có 5
phân thùy [10]
Phổi trái: có một rãnh chéo chia phổi trái làm 2 thuỳ Thùy trên nhỏ có 5
phân thùy và thùy dưới lớn cũng có 5 phân thùy [10]
Các phân thuỳ lại chia làm nhiều tiểu thuỳ với những mao mạch phổi và
những tiểu phế quản tận Đơn vị cấu tạo cuối cùng là các phế nang [10]
Formatted: Indent: First line: 0.39"
Formatted: 44, Line spacing: single Formatted: Indent: First line: 0.39"
Trang 171.2.1.4 Phế nang và màng hô hấp
* Phế nang
Phế nang được các mao mạch phổi bao bọc như một mạng lưới Mỗi
phế nang như một cái túi nhỏ, nhận không khí từ nhánh tận cùng của cây phế
quản là các ống phế nang Từ các ống phế nang có các túi phế nang và đến
các phế nang Ở người có khoảng 300 triệu phế nang và có diện tích tiếp xúc
giữa phế nang và mao mạch là khoảng 70-120 m2 [27], [29]
Phế nang được cấu tạo gồm một lớp biểu mô phế nang, trên bề mặt của
lớp biểu mô phế nang có phủ một lớp dịch, là chất hoạt diện còn được gọi là
lớp Surfactant có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của các phế nang, tham
gia ổn định kích thước phế nang [27], [29]
Các phế nang có lớp màng đáy phế nang Lớp này tiếp xúc với mô liên
kết nằm ở khoảng kẽ giữa các phế nang hoặc tiếp xúc trực tiếp với thành mao
mạch phế nang Nơi tiếp giáp giữa phế nang và mao mạch là nơi xảy ra quá
trình trao đổi khí còn được gọi là màng hô hấp [27], [29]
*Màng hô hấp
Màng hô hấp là đơn vị hô hấp của phế nang, là nơi tiếp xúc giữa phế
nang và mao mạch, nơi trực tiếp xảy ra quá trình trao đổi khí Màng hô hấp có
cấu tạo gồm 6 lớp: lớp chất hoạt diện, lớp biểu mô phế nang, lớp màng đáy phế
nang, lớp liên kết, lớp màng đáy mao mạch và lớp nội mao mạch [27], [29]
Tuy được cấu tạo bởi 6 lớp nhưng nó rất mỏng, bề dày trung bình của
màng hô hấp chỉ khoảng 6 µm, có chỗ chỉ khoảng 0,2 µm Ở người trưởng
thành diện tích của màng hô hấp khoảng 50 - 100 m2 và lượng máu chứa trong
hệ mao mạch phổi khoảng 60-140 ml Đường kính mao mạch chỉ khoảng 5
µm trong khi đó đường kính hồng cầu khoảng 7 µm, do đó khi đi qua mao
mạch hồng cầu phải “tự kéo dài ra” mới đi lọt, tạo điều kiện cho quá trình
Trang 181.2.2 Các động tác hô hấp
Hệ thống hô hấp có nhiệm vụ đưa không khí giàu ô xy từ ngoài khí
trời vào phế nang và đưa không khí từ phế nang có nhiều CO2 ra ngoài cơ thể
Như vậy chức năng thông khí có vai trò làm cho không khí phế nang thường
xuyên được đổi mới nhờ các động tác hô hấp
Formatted: 33, Space Before: 2 pt, Line
Trang 191.2.2.1 Động tác hít vào
* Hít vào bình thường: Được thực hiện do các cơ hít vào co lại, làm tăng
kích thước của lồng ngực theo cả 3 chiều: Chiều thẳng đứng, chiều trước sau
và chiều ngang
- Tăng chiều thẳng đứng [29]:
+ Đáy lồng ngực là cơ hoành, bình thường cơ hoành lồi lên phía lồng
ngực theo hai vòm Khi cơ hoành co lại thì phẳng ra, hạ thấp xuống, do đó
làm tăng chiều thẳng đứng của lồng ngực
+ Cơ hoành cứ hạ thấp 1cm có thể làm tăng thể tích lồng ngực lên 250 ml
+ Khi hít vào bình thường cơ hoành hạ thấp xuống khoảng 1,5 cm, làm
thể tích lồng ngực tăng lên khoảng 375 ml
+ Trong một chu kì hô hấp bình thường lồng ngực thay đổi thể tích
khoảng 400- 500 ml, chính vì vậy cơ hoành là cơ hô hấp quan trọng, nếu bị
liệt sẽ làm rối loạn hô hấp nghiêm trọng
- Tăng chiều trước sau và chiều ngang: Ở cuối thì thở ra các xương sườn
chếch ra trước và xuống dưới khi các cơ hít vào co lại, xương sườn quay
quanh một trục đi qua hai điểm với đốt sống và chuyển tư thế chếch xuống
sang tư thế nằm ngang, do đó làm tăng đường kính trước sau và đường kính
ngang của lồng ngực [29]
Động tác hít vào là động tác tích cực nhờ năng lượng co cơ của cơ
hoành và các cơ hít vào khác
* Hít vào tối đa: Nếu ta cố gắng hít vào hết sức thì có thêm một số cơ
cùng tham gia như: Cơ ức đòn chũm, cơ ngực và cơ chéo Những cơ này bình
thường tì vào lồng ngực để làm cử động đầu và tay Khi hít vào gắng sức đầu
và tay trở thành tương đối bất động, các cơ này tỳ vào đó mà nâng xương
sườn lên thêm, do đó làm tăng đường kính của lồng ngực lên thêm nữa Nhờ
Formatted: Indent: First line: 0.39"
Formatted: Condensed by 0.3 pt
Trang 20áp suất âm mà phổi giãn ra nhiều hơn và khí vào phổi nhiều hơn Động tác hít
vào tối đa là động tác chủ động [29]
1.2.2.2 Động tác thở ra
* Thở ra bình thường là động tác thụ động Trong động tác thở ra các cơ
hít vào giãn ra làm các xương sườn hạ xuống, cơ hoành lồi lên, lồng ngực trở
về vị trí cũ, làm thể tích lồng ngực giảm xuống, áp suất màng phổi bớt âm
Nhờ tính đàn hồi của phổi mà phổi co lại dẫn đến thể tích phổi nhỏ lại, áp
suất trong phế nang lớn hơn áp suất khí quyển, đẩy không khí từ phổi ra
ngoài [27], [29]
* Động tác thở ra tối đa: Là động tác tích cực vì khi thở ra tối đa cần
huy động thêm các cơ thành bụng Những cơ này khi co lại kéo xương sườn
hạ thấp xuống nữa, động thời ép vào các tạng ở bụng, đẩy cơ hoành lồi lên về
phía lồng ngực, làm thể tích lồng ngực giảm nhiều hơn nữa, thể tích phổi
cũng giảm, áp suất phế nang tăng nhiều hơn nữa so với áp suất khí quyển, đẩy
không khí ra ngoài nhiều hơn [27], [29]
Khi có rối loạn thông khí sẽ ảnh hưởng đến chức năng trao đổi khí của
phổi Hiện nay có rất nhiều thông số đánh giá chức năng thông khí của phổi
hay chức năng hô hấp (CNHH) và từ kết quả các thông số này có thể đánh giá
rối loạn chức năng thông khí của phổi
1.3 BIỂU HIỆN LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG UNG THƯ PHẾ QUẢN
PHỔI
1.3.1 Biển hiện lâm sàng
Biểu hiện lâm sàng của UTPQP gây ra do sự phát triển, xâm lấn, chèn ép
của khối u vào tổ chức, cơ quan lân cận Ngoài ra, các triệu chứng được gây
nên do di căn hạch bạch huyết và di căn vào các tạng khác trong cơ thể Các
nhà ung thư học và bệnh phổi phân chia các dấu hiệu lâm sàng của ung thư
Trang 21Nhóm các triệu chứng hô hấp:
Triệu chứng hô hấp biểu hiện do sự phát triển, xâm lấn và lan rộng của
khối u trong lồng ngực gây ra như: ho khan, ho có đờm hoặc ho ra máu do
khối u xâm lấn vào mạch máu Tuỳ theo mức độ xâm lấn mà bệnh nhân có thể
ho ra máu từ nhẹ đến nặng Các triệu chứng viêm phổi, áp xe phổi do tắc
nghẽn [14]
Các hội chứng chèn ép: chèn ép vào thực quản gây nuốt khó, chèn ép
tĩnh mạch chủ trên gây tuần hoàn bàng hệ và phù áo khoác, khàn tiếng do
khối u chèn ép thần kinh quặt ngược Các hội chứng Pancoast-Tobias do u
đỉnh phổi, hội chứng Pierr-Marie, hội chứng Claude-Bernade-Horner [14]
Nhóm các triệu chứng hệ thống:
Nhóm triệu chứng này gồm các triệu chứng toàn thân: Sốt, gầy sút cân,
chán ăn và ăn kém, hội chứng cận u
- Hội chứng cận u do nhiều cơ chế và có nhiều giả thuyết giải thích hội
chứng này Giả thuyết được nhiều tác giả chấp nhận đó là các dấu ấn sinh học
của khối u và nó phụ thuộc vào mô sinh u, nghĩa là sau khi cắt bỏ khối u thì
hội chứng này cũng hết Biểu hiện của hội chứng là tình trạng tăng canxi
huyết, tăng hóc môn chống bài niệu, quá phát xương khớp, thiếu máu
Thường gặp ở ung thư biểu mô tế bào nhỏ
- Hội chứng Pierre- Marie: biểu hiện móng tay khum, ngón tay dùi trống
(41-53%), sưng đau các khớp (21%) Trong ung thư biểu mô vảy và biểu mô
tuyến gặp từ 1-10% [4], [11], [61]
- Hội chứng Schwarz- Bartter (hội chứng cận u nội tiết) có giảm natri,
nôn, rối loạn ý thức, tăng hóc môn chống bài niệu gặp trong ung thư phế quản
phổi tế bào nhỏ Tăng canxi huyết gặp trong ung thư biểu mô vảy [14]
- Sút cân gặp ở 30 – 78% các trường hợp [14]
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Space After: 0 pt, Tab stops: 0.55", List tab + Not at 0.79"
Formatted: Indent: First line: 0 ch
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Space After: 0 pt, Tab stops: 0.55", List tab + Not at 0.79"
Formatted: Indent: First line: 0 ch, Space
After: 0 pt
Formatted: Indent: First line: 0 ch, Space
Before: 4 pt
Trang 22- Sốt chiếm tỷ lệ khoảng 45%
- Mệt mỏi, chán ăn khoảng 10-12%
Nhóm các triệu chứng di căn xa:
Ung thư phổi có thể di căn tới các cơ quan trong cơ thể, thường gặp nhất
là di căn não, xương, gan, hạch Mức độ di căn tuỳ theo tuýp mô bệnh học
Ung thư biểu mô tuyến phát triển chủ yếu ở ngoại vi phổi, các triệu chứng tại
chỗ xuất hiện muộn, các tế bào u phát triển xâm lấn thành ngực lan tràn theo
đường máu và hạch bạch huyết, triệu chứng di căn xuất hiện trước khi u
nguyên phát gây triệu chứng Ung thư biểu mô vảy thường phát triển ở trung
tâm nên các triệu chứng tại chỗ xuất hiện sớm [14], [22]
Tuy nhiên các triệu chứng lâm sàng của UTPQP không đặc hiệu mà chỉ
có ý nghĩa định hướng cho chẩn đoán
1.3.2 Biểu hiện cận lâm sàng
1.3.2.1 Chẩn đoán hình ảnh
Chẩn đoán hình ảnh là một trong những phương pháp quan trọng phát
hiện khối u trong lồng ngực
Xquang phổi chuẩn:
Đây là xét nghiệm cơ bản nhất và được thực hiện thường quy Hình ảnh
khối mờ ở phổi, bờ nham nhở, ranh giới không rõ, có thể thấy hạch di căn,
đông đặc phế nang, có giá trị gợi ý chẩn đoán UTPQP Ngoài ra có thể thấy
các hình ảnh xâm lấn thành ngực, xương sườn của khối u [14], [41]
Tuy nhiên chụp X quang phổi chỉ có giá trị gợi ý chứ không có giá trị
chẩn đoán xác định Theo Đồng Khắc Hưng (1995), chụp Xquang phổi chuẩn
có giá trị hướng đến chẩn đoán với độ nhạy 89% và độ đặc hiệu 96% [61]
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Space Before: 4 pt, After: 0 pt, Tab stops: 0.54", List tab + Not at 0.79"
Formatted: Indent: First line: 0.39", Space
Before: 4 pt
Formatted: 33, Line spacing: single
Formatted: Indent: First line: 0 ch, Tab
stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Tab stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: First line: 0 ch, Tab
stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Tab stops: 0.52", Left
Trang 23Chụp cắt lớp vi tính ngực:
Chụp cắt lớp vi tính giúp xác định được vị trí, mật độ, cấu trúc của khối
u cũng như sự phát triển, xâm lấn và các di căn của ung thư vào trung thất,
thành ngực và màng phổi, góp phần xác định tổn thương theo hệ thống TNM
Chụp cắt lớp vi tính có độ nhạy từ 70-90%, độ đặc hiệu từ 60-80%, tỷ lệ âm
tính giả từ 15-30% [61]
Cộng hưởng từ:
Việc ứng dụng kỹ thuật cộng hưởng từ hạt nhân trong chẩn đoán UTPQP
mang lại thông tin chính xác và chi tiết về vị trí, sự xâm lấn và di căn của khối
u từ giai đoạn rất sớm Cộng hưởng từ đặc biệt có giá trị trong chẩn đoán ung
thư di căn xương, di căn tuỷ sống, di căn não với độ nhạy, độ đặc hiệu cao
hơn chụp cắt lớp vi tính [61] Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, do hạn chế về
điều kiện kỹ thuật nên kỹ thuật này chỉ được thực hiện ở các trung tâm y tế
chuyên sâu
Chụp cắt lớp tán xạ:
Cả độ nhạy và độ đặc hiệu của chụp cắt lớp tán xạ cho những nốt di căn
xấp xỉ đều khoảng 90% Chụp cắt lớp tán xạ cũng có khả năng phát hiện tổn
thương sớm với tỷ lệ 16% [61] Theo một số nghiên cứu trên thế giới, sự hấp
thu fluorodeoxyglucose trên chụp cắt lớp tán xạ có ý nghĩa tiên lượng trong
bệnh UTPQP Độ nhạy và độ đặc hiệu của kỹ thuật là 85% và 88% [61]
Siêu âm chẩn đoán:
Siêu âm được chỉ định trong những tổn thương đặc của nhu mô phổi
hoặc màng phổi sát thành ngực Ngoài ra siêu âm giúp chẩn đoán giai đoạn
chính xác hơn bằng cách đánh giá các tổn thương di căn xa vào các tạng và
các cơ quan Siêu âm phát hiện các di căn vào gan, di căn hạch, tuyến thượng
thận, di căn vào tiểu khung [14]
Formatted: Indent: First line: 0 ch, Tab
stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Tab stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: First line: 0 ch, Tab
stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Tab stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: First line: 0 ch, Tab
stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Tab stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: First line: 0 ch, Tab
stops: 0.52", Left
Formatted: 44, Line spacing: single
Trang 241.3.2.2 Các kỹ thuật xâm nhập chẩn đoán ung thư phế quản phổi
Nội soi phế quản:
Nội soi phế quản được sử dụng để xác định chẩn đoán khi bệnh nhân có
triệu chứng nghi ngờ u phế quản trên lâm sàng, trên phim chụp Xquang hoặc
cắt lớp vi tính
Qua nội soi phế quản ta có thể thực hiện các kỹ thuật lấy bệnh phẩm làm
chẩn đoán tế bào học, mô bệnh học như sinh thiết phế quản, sinh thiết xuyên
thành phế quản, chải rửa phế quản ở vùng tương ứng khối u Trong đó sinh
thiết phế quản có độ chính xác khá cao và được coi như tiêu chuẩn vàng để
chẩn đoán UTPQP Khi thấy u rõ trên nội soi, độ nhạy của sinh thiết phế quản
đạt từ 80 đến 100% Sinh thiết xuyên thành phế quản được thực hiện khi các
khối u hay hạch trung thất chèn ép vào cây phế quản từ phía ngoài, không
xâm lấn và gây biến đổi niêm mạc phế quản Kết quả sinh thiết tốt và an toàn
hơn nhiều dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính Tỷ lệ chẩn đoán dương
tính khi có chụp cắt lớp vi tính là 87,9%, trong khi tỷ lệ này khi không có
hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính là 68,8% [17], [30]
Chọc hút kim nhỏ qua thành ngực:
Chọc hút kim nhỏ qua thành ngực được áp dụng cho những khối u ở
ngoại biên Kỹ thuật này đơn giản, có độ an toàn và chính xác cao
Ngô Quý Châu (1992) nghiên cứu giá trị chẩn đoán UTPQP bằng tế bào
học hút kim nhỏ qua thành ngực ở 102 bệnh nhân thấy tỷ lệ dương tính là 75
% [13] Chọc sinh thiết qua thành ngực dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính
giúp cho thủ thuật an toàn, chính xác hơn
Ngoài ra, soi lồng ngực hoặc soi trung thất giúp phát hiện tổn thương ở
màng phổi, hạch trước khí quản và qua đó có thể sinh thiết làm mô bệnh
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Tab stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: First line: 0 ch, Tab
stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39",
Tab stops: 0.52", Left
Formatted: Indent: First line: 0.39", Tab
stops: 0.52", Left
Trang 251.4 GIAI ĐOẠN BỆNH
Việc phân chia giai đoạn bệnh có ý nghĩa quan trọng trong tiên lượng và
điều trị UTPQP Đôi khi quyết định phương pháp điều trị Do tính ác tính của
UTPQP, cho nên dựa vào hình thái tế bào ung thư, hội ung thư quốc tế phân
loại làm 2 loại chính là UTPQP tế bào nhỏ và không tế bào nhỏ UTPQP tế
bào nhỏ có độ ác tính cao, tiên lượng xấu và khó điều trị
1.4.1 Ung thư biểu mô phế quản tế bào nhỏ
- Giai đoạn khư trú một bên lồng ngực
- Giai đoạn lan tràn
1.4.2 Ung thư biểu mô phế quản không phải tế bào nhỏ
Dựa theo tiêu chuẩn phân loại TNM của Tổ chức y tế thế giới năm 1999
[38], [43]
1.4.2.1 T (Tumor)- Khối u nguyên phát
Tx: chưa tìm thấy u chỉ có chẩn đoán tế bào (+)
To: Không tìm thấy u
Tis: Ung thư tại chỗ dưới niêm mạc
T1: Đường kính u dưới 3 cm, bao bọc xung quanh là tổ chức lành Nội
soi phế quản chưa có tổn thương phế quản cuống thuỳ, chỉ ở phân thuỳ hoặc
xa hơn
T2: Khối u với bất kỳ đặc trưng về kích thước hoặc lan tràn sau:
- Khối u lớn hơn hoặc bằng 3 cm
- Khối u cách carina lớn hơn hoặc bằng 2 cm
- Xâm lấn màng phổi tạng
- Phối hợp với xẹp phổi hoặc viêm phổi do bít tắc phế quản
T3: Khối u với bất kì kích thước nhưng đã xâm lấn trực tiếp vào các cơ
quan bộ phận sau: thành ngực, cơ hoành, màng phổi trung thất, màng ngoài
Formatted: 22, Space Before: 0 pt, After: 0
pt, Line spacing: single
Formatted: 33, Line spacing: single Formatted: Indent: First line: 0 ch, Tab
Trang 26tim, khối u ở phế quản chính, cách carina dưới 2 cm nhưng chưa xâm lấn vào
carina hoặc phối hợp với xẹp phổi hay viêm phổi tắc nghẽn toàn bộ phổi
T4: Khối u với mọi kích thước, có xâm lấn trung thất, tim, mạch máu
lớn, khí quản, thực quản, thân đốt sống, carina hoặc khối u với tế bào dịch
màng phổi ác tính
1.4.2.2 N (Node)- Hạch
N0: Chưa có hạch
N1: Tổn thương hạch cạnh phế quản hoặc hạch rốn phổi cùng bên
N2: Tổn thương hạch trung thất cùng bên hoặc hạch dưới carina
N3: Tổn thương hạch trung thất đối bên, rốn phổi đối bên, hạch thượng
đòn hoặc hạch vùng cơ thang cùng bên hoặc đối bên
1.4.2.3 M (Metastasis)- Di căn
M0: Chưa có di căn
M1: Đã có di căn xa bao gồm di căn sang thuỳ khác hoặc phổi đối diện
Bảng xếp giai đoạn theo TNM
1.5 ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHẾ QUẢN PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ
Theo hiệp hội chống ung thư Mỹ 2005, 2006
Formatted: 44, Line spacing: single Formatted: Indent: First line: 0.39", Tab
Formatted: Line spacing: 1.5 lines
Formatted: 22, Space Before: 0 pt, After: 0
pt, Line spacing: single
Formatted: Justified, Indent: First line: 0.39"
Trang 27* Giai đoạn I: Nên phẫu thuật một thuỳ phổi hoặc phân thuỳ và vét hạch
rốn phổi Nhưng tốt nhất nếu bệnh nhân có thể chịu đựng được, nên cắt thuỳ
phổi Nếu kết quả giải phẫu bệnh trả lời còn tế bào ung thư ở rìa diện cắt thì
nên xạ trị Điều đó có thể làm giảm tái phát và cải thiện thời gian sống thêm
* Giai đoạn IIA: Phẫu thuật cắt thuỳ phổi và xạ trị bổ trợ Nếu bệnh
nhân có sức khoẻ kém thì cắt phân thuỳ và xạ trị bổ trợ Xạ trị với những bệnh
nhân từ chối phẫu thuật hoặc mắc các bệnh mạn tính không mổ được
* Giai đoạn IIB: Phẫu thuật cắt thuỳ phổi Hoá xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật
* Giai đoạn IIIA: Lựa chọn cách thức phẫu thuật tuỳ thuộc vị trí khối u
và sự lan tràn ra hạch Khi phẫu thuật, nếu hạch được phát hiện dương tính thì
phẫu thuật viên phải lấy cả u và hạch Nhưng phải điều trị xạ trị hoặc hoá chất
bổ trợ Điều trị hoá chất đang được tiến hành và theo dõi ở nhóm bệnh nhân
giai đoạn IIIA có N2, điều trị tiền phẫu bằng hóa chất sẽ đưa số bệnh nhân mổ
lên 50-55% và tỉ lệ sống sau 3 năm là 27-28%
* Giai đoạn IIIB: Tổn thương quá rộng để phẫu thuật Thường phải phối
hợp hoá chất và tia xạ Đôi khi sau điều trị này có thể xem xét để phẫu thuật
* Giai đoạn IV: Ung thư di căn xa không còn khả năng điều trị triệt để
nhưng nếu bệnh nhân còn tình trạng sức khoẻ tốt vẫn có thể điều trị hoá chất
1.5.1 Phẫu thuật trong ung thư phế quản phổi:
Cho đến nay các tác giả nhất trí là phẫu thuật cắt bỏ khối u đóng một
vai trò chủ yếu và quyết định Tuy nhiên phẫu thuật chỉ được chỉ định cho ung
thư giai đoạn sớm
Việc đánh giá trước phẫu thuật là rất quan trọng Tỷ lệ tử vong tăng theo
tuổi, các bệnh về tim, chức năng hô hấp hạn chế, toàn trạng bệnh nhân không
đảm bảo, ảnh hưởng rất lớn đến kết quả điều trị Các tác giả rút ra những kết
luận sau:
- Chỉ định đúng và hợp lý từng loại phẫu thuật
Formatted: Indent: First line: 0.39"
Trang 28- Cắt được triệt để khối u và những di căn lân cận
- Bảo tồn tối đa chức năng hô hấp
- Cắt thuỳ là phẫu thuật được lựa chọn đầu tiên Cố gắng cắt thuỳ kết
hợp với tạo hình phế quản thay cho cắt phổi
- Cắt phổi
Theo Hoàng Trọng Tùng phẫu thuật cắt thuỳ phổi là chủ yếu với
tỷ lệ 94,39% trong tổng số ca phẫu thuật Biến chứng thường gặp sau phẫu
thuật là: nhiễm trùng khoang màng phổi, xẹp phổi, tràn dịch – khí màng phổi,
nhiễm trùng vết mổ với tỷ lệ 14,29% [26]
Hiện nay tại Bệnh viện Phổi Trung Ương đang áp dụng hai phương pháp
phẫu thuật:
- Phương pháp phẫu thuật mở: mở khoang liên sườn tùy theo thương tổn,
xác định tổn thương, phẫu thật cắt diện phổi tổn thương phù hợp, nạo vét hạch
trung thất Trong đó cắt bỏ một thùy của phổi là một biện pháp phẫu thuật phổ
biến nhất trong điều trị ung thư phổi (72,6 - 80%) [8], [21]
- Phương pháp phẫu thuật có camera hỗ trợ (VATs): tương tự như
phương pháp mổ mở nhưng với camera hỗ trợ nên chỉ cần mở ngực với
đường mổ nhỏ từ 4 đến 6 cm Phẫu thuật viên đưa dụng cụ phẫu thuật qua
đường mổ này và quan sát trên màn hình để thực hiện các thao tác phẫu thuật
1.5.2 Điều trị hóa chất ung thư phế quản phổi không tế bào nhỏ
Ở thời điểm chẩn đoán, chỉ khoảng 30-35% bệnh nhân UTPQP còn khư
trú có thể điều trị phẫu thuật Ngoài ra, khoảng 50% các bệnh nhân đã phẫu
thuật có biểu hiện tái phát tại chỗ không có chỉ định phẫu thuật lại hoặc đã có
di căn ngoài lồng ngực Các bệnh nhân này được chỉ định điều trị hóa chất
Chỉ định:
+ Phẫu thuật không cắt bỏ được hoàn toàn khối u
+ Không thể điều trị bằng tia xạ
Formatted: Indent: First line: 0.39" Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.39" Formatted: Indent: First line: 0.39"
Trang 29+ Đã di căn nhiều hạch xa
+ Bệnh tiến triển sau khi đã được điều trị căn bản
Phương pháp sử dụng thuốc:
+ Đơn trị liệu: cho những trường hợp bệnh nhân rất yếu hoặc khi có
viêm màng phổi
+ Đa trị liệu: được chỉ định cho tất cả các trường hợp còn lại
1.6 SỰ THAY ĐỔI CHỨC NĂNG HÔ HẤP SAU PHẪU THUẬT CẮT
PHỔI
Trên thế giới từ những năm 50 của thế kỷ 20 đã có các công trình
nghiên cứu đánh giá sự thay đổi chức năng hô hấp sau phẫu thuật phổi Thời
gian theo dõi dài ngắn khác nhau tuỳ tác giả, nhưng nhìn chung sự nghiên cứu
tập trung ở một năm đầu sau phẫu thuật
Philip G.B (1975) theo dõi sự thay đổi chức năng thông khí ngay sau
phẫu thuật và vài tháng sau phẫu thuật nhận thấy: ngay sau phẫu thuật chức
năng thông khí giảm nặng Sau phẫu thuật 2 - 3 tháng, chức năng thông khí
phục hồi dần [66]
Khalil M (1975) đánh giá chức năng thông khí, khí máu trên 27 bệnh
nhân sau cắt một phổi từ 1 - 47 tháng cho các kết quả [59]:
- FVC, FEV1 sau phẫu thuật giảm tương ứng 43%; 39% so với trước
phẫu thuật
- FVC giảm nhiều hơn ở bệnh nhân cắt phổi phải (44,9%) so với cắt phổi
trái (41,4%)
- Mức độ PaO2 sau phẫu thuật tăng nhẹ, PaCO2 ở mức bình thường
Bigler (2003) [46] cho rằng trong khoảng 3 tuần sau mổ chức năng
thông khí giảm khoảng 50% so với trước mổ cả về 3 thông số: FEV1, FVC và
FRC Trong đó mức độ suy giảm phụ thuộc vào tuổi và giới trước mổ
Formatted: 22, Space Before: 0 pt, After: 0
pt, Line spacing: single
Formatted: Vietnamese Formatted: Indent: First line: 0.39" Formatted: Vietnamese
Field Code Changed Formatted: Vietnamese
Field Code Changed Formatted: Vietnamese
Field Code Changed Formatted: Vietnamese
Trang 30Nghiên cứu của Bolliger 1996 [47] cho rằng sau mổ FEV1, FVC giảm
nhiều trong 3 tháng đầu và cải thiện hơn sau 6 tháng tuy nhiên nhóm cắt thùy
phục hồi tốt hơn nhóm cắt phổi như sau:
- Tỷ lệ giảm % FVC, FEV1, TLC sau cắt thùy phổi 3 tháng, 6 tháng lần
lượt là: 11%; 12%; 16% và 7,3%; 8,8%; 10,2%
- Tỷ lệ giảm % FVC, FEV1, TLC sau cắt phổi 3 tháng, 6 tháng lần lượt
là: 36,4%; 34%; 34% và 36,2%; 34%; 36,2%
Nghiên cứu của Corris 1987 [49] cho thấy sau mổ cắt phổi 4 tháng
FEV1 giảm 22%, FVC giảm 29%
Ở Việt Nam, Công Thị Kim Khánh (1995) nghiên cứu sự thay đổi chức
năng hô hấp trên 146 ca phẫu thuật nhiễm trùng phổi thấy [23]:
- Trong hai tháng đầu sau mổ chức năng hô hấp giảm rõ rệt so với mức
trước mổ, cách xa giá trị bình thường Giá trị dung tích sống giảm nhiều hơn
so với Tiffeneau Nhóm cắt phổi 6 tháng sau phẫu thuật VC giảm nặng, đạt
khoảng 60% so với trước mổ
- Một năm sau phẫu thuật, nhóm cắt thuỳ phổi phục hồi hoàn toàn, đạt
mức tương đương trước mổ
Theo Nguyễn Thị Bích Ngọc (1998) [24] sau phẫu thuật cắt phổi chức
năng thông khí giảm nặng: VC đạt 41,75%, FEV1 đạt 41,70%, FEF25-75 đạt
36,44% so với số lý thuyết ở thời điểm sau mổ 7 đến 10 ngày Sau mổ VC,
FEV1 chỉ đạt được xấp xỉ 42% giá trị trước mổ
Các tác giả đều thống nhất: khối lượng phổi cắt đi ảnh hưởng đến chức
năng hô hấp Số thuỳ phổi cắt bỏ càng nhiều, chức năng hô hấp ảnh hưởng
càng nặng Sau khi cắt một phổi, chức năng hô hấp giảm nhiều so với cắt một
thuỳ phổi Sự giảm VC, FEV1 sau mổ liên quan tới số phân thuỳ phổi bị cắt
bỏ Mỗi phân thuỳ phổi đảm nhiệm 1/19 chức năng hô hấp toàn phổi
Field Code Changed Formatted: Vietnamese
Formatted: Indent: First line: 0.39", Space
Trang 31Theo nghiên cứu Jull và Frost (1975) [56] VC, FEV1 sau mổ được
tính dựa vào số phân thuỳ phổi bị cắt bỏ như sau:
VC đo được sau phẫu thuật = VC trước phẫu thuật × (1 - S/19)
FEV1 đo được sau phẫu thuật = FEV1 trước phẫu thuật × (1 -
S/19)
(S = số phân thuỳ phổi bị cắt bỏ)
Ví dụ: mổ cắt 5 phân thùy VC sau mổ = VC trước mổ × (1 - 5/19)
Năm 1995 Bernhardt G.Z và Cs [45] nghiên cứu trên 60 bệnh nhân cắt
thùy phổi và cắt phổi cho thấy VC sau mổ có tương quan với VC ước tính
theo công thức của Jull và Frost (r = 0,741) Tuy nhiên theo công thức của
Jull và Frost FEV1 sau phẫu thuật thấp hơn thực tế đo được 250 ml Vì vậy
Bernhardt G.Z đề nghị công thức ước tính FEV1 sau phẫu thuật như sau:
FEV1 đo được sau phẫu thuật = FEV1 trước mổ × (1 - S/19) + 0,25
(S = số phân thuỳ phổi bị cắt bỏ, FEV1 tính bằng lít)
1.7 CHƯƠNG TRÌNH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÔ HẤP CHO BỆNH
NHÂN PHẪU THUẬT UTPQP VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1.7.1 Chương trình phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân phẫu
thuật UTPQP
1.7.1.1 Các giai đoạn của chương trình phục hồi chức năng hô hấp
Chương trình phục hồi chức năng hô hấp (PHCNHH) cho bệnh nhân
phẫu thuật UTPQP được chia thành 32 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: PHCNHH trước phẫu thuật
- Giai đoạn 2: PHCNHH trong thời gian bệnh nhân được hồi sức sau mổ
- Giai đoạn 3: PHCNHH trong thời gian hậu phẫu ở phòng bệnh
1.7.1.2 Thời gian thực hiện chương trình
Formatted: 22, Space Before: 0 pt, After: 0
pt, Line spacing: single
Formatted: 33, Space Before: 0 pt, Line
spacing: single
Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese
Formatted: Font: Times New Roman,
Trang 32- Giai đoạn 1: Thời gian thực hiện 3 buổi, mỗi buổi tập 2 lần, 1 lần tập
dưới sự hướng dẫn của kỹ thuật viên (KTV), 1 lần bệnh nhân tự tập Thời
gian tập mỗi lần 45 đến 60 phút
- Giai đoạn 2: Mỗi ngày tập 2 lần có giám sát của KTV, mỗi lần tập 30
đến 45 phút tùy thể trạng người bệnh
- Giai đoạn 3: Mỗi ngày tập 2 lần có giám sát của KTV, mỗi lần tập 45 phút
Formatted: Indent: First line: 0.39"
Formatted: Font: Times New Roman,
Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese, Condensed by 0.3 pt
Trang 331.7.1.3 Mục tiêu của chương trình phục hồi chức năng hô hấp
+ Mục tiêu PHCNHH trong giai đoạn tiền phẫu:
- Đánh giá tình trạng của bệnh nhân trước khi phẫu thuật để sơ bộ tiên
lượng chương trình PHCNHH sau mổ
- Hướng dẫn và tư vấn cho bệnh nhân về cuộc mổ, những biến chứng có
thể xảy ra sau mổ và tầm quan trọng của việc áp dụng chương trình PHCNHH
sau mổ
- Hướng dẫn bệnh nhân thực hiện những kỹ thuật, bài tập sẽ tiến hành
sau mổ như thở cơ hoành, kỹ thuật ho hiệu quả
- PHCNHH trong giai đoạn này còn giúp bệnh nhân giảm bớt lo lắng, căng
thẳng trước cũng như sau phẫu thuật, giúp tạo mối quan hệ tốt giữa bệnh nhân và
nhóm phục hồi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập luyện sau mổ
+ Mục tiêu PHCNHH trong giai đoạn hậu phẫu:
- Tối ưu hóa khả năng vận chuyển và trao đổi oxy ở phổi bằng các bài tập
thở: thở cơ hoành, thở phân thùy, kỹ thuật ho hiệu quả, kỹ thuật dẫn lưu tư thế
- Dự phòng các biến chứng sau mổ như xẹp phổi, viêm phổi ứ đọng, loét
do tỳ đè, thuyên tắc tĩnh mạch sâu, tắc mạch phổi
- Ổn định tinh thần, tránh các rối loạn tâm lý như lo lắng, căng thẳng,
trầm cảm
1.7.2 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình PHCNHH cho bệnh
nhân phẫu thuật UTPQP
Các bệnh nhân phẫu thuật UTPQP được can thiệp PHCNHH ngay từ
giai đoạn tiền phẫu để chuẩn bị một tình trạng tinh thần và thể chất tốt nhất
cho cuộc mổ cũng như giúp quá trình phục hồi sau phẫu thuật diễn ra một
cách thuận lợi Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình PHCNHH cho bệnh
nhân phẫu thuật UTPQP:
- Tuổi, giới: Chức năng hô hấp ở người lớn tuổi kém hơn ở người trẻ
Formatted: Justified, Indent: First line: 0.39" Formatted: Vietnamese
Formatted: Indent: First line: 0.39"
Formatted: Vietnamese, Condensed by 0.2 pt
Formatted: Justified, Indent: First line: 0.39" Formatted: Vietnamese, Condensed by 0.3 pt Formatted: Indent: First line: 0.39"
Formatted: 33, Left, Line spacing: single Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Indent: First line: 0.39"
Trang 34Nghiên cứu của Buskirk và Hodgon cho thấy VO2max giảm khoảng 0,4 -
0,5 ml/kg/phút mỗi năm đối với nam và 0,2-0,35 ml/kg/phút đối với nữ Mức
độ giảm vào khoảng 10% sau 10 năm FEV1 giảm 50-60ml mỗi năm và giảm
nhanh chóng ở những người hút thuốc lá Chính những yếu tố này làm cho
quá trình PHCNHH của bệnh nhân lớn tuổi chậm và kém hiệu quả hơn [51]
- Tình trạng hút thuốc lá:
Hút thuốc kéo dài ảnh hưởng đến biểu mô đường hô hấp, làm giảm hoạt
động tế bào lông chuyển, tăng hoạt động tế bào tiết nhầy Một số có tổn
thương đường thở nhỏ Với những bệnh nhân đã hoặc đang hút thuốc chức
năng hô hấp kém hơn những bệnh nhân không hút thuốc Tỷ lệ biến chứng hô
hấp (ví dụ, viêm phổi, xẹp phổi khiến soi phế quản, tắc mạch phổi) tăng lên
gấp đôi hoặc cao hơn ở những trường hợp hút thuốc lá (p < 0,05) [65] Theo
Petter (1981) nên khuyên bệnh nhân bỏ thuốc ngay lập tức, phối hợp thêm
dẫn lưu tư thế, ho hiệu quả trước mổ để tăng khả năng làm sạch chất tiết [65]
- Phương pháp phẫu thuật: Tiên lượng phục hồi của bệnh nhân được mổ
theo phương pháp phẫu thuật có video hỗ trợ (VATs) và phương pháp mổ mở
là khác nhau CNHH của những bệnh nhân mổ VATs thường tốt hơn mổ mở
do mức độ tổn thương thành ngực ít hơn
- Thời gian gây mê, thời gian bệnh nhân phải thở máy và bất động trên
giường sau phẫu thuật ảnh hưởng đáng kể đến CNHH của bệnh nhân Nhiều
nghiên cứu đã chứng minh việc rút ngắn thời gian gây mê cũng như thời gian
thở máy sau phẫu thuật giúp bệnh nhân sớm hồi phục CNHH hơn [51]
- Ngoài ra tình trạng tinh thần, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế xã
hội, thể trạng suy dinh dưỡng hay béo phì đều là những yếu tố ảnh hưởng
đến hiệu quả của chương trình PHCN cho bệnh nhân phẫu thuật UTPQP
Field Code Changed
Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Trang 351.8 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.8.1 Trên thế giới
Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu đánh giá
hiệu quả của chương trình phục hồi chức năng cho bệnh nhân UTPQP Gần
đây các tác giả tập trung vào nghiên cứu hiệu quả của vận động thể lực trước
và sau phẫu thuật cắt phổi
- Jones L.W và Cs (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của tập thể dục trước
phẫu thuật ở bệnh nhân phẫu thuật lồng ngực cho các tổn thương phổi ác tính
thấy đa số bệnh nhân cải thiện mức độ tiêu thụ Oxy cao điểm tăng 2,4
ml/kg/phút và tăng khoảng cách đi bộ 6 phút lên 40 m [56]
- Shannon V.R nghiên cứu vai trò của phục hồi chức năng phổi trong
việc quản lý của bệnh nhân ung thư phổi cho thấy phục hồi chức năng có thể
tác động quản lý ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng cách cải thiện một loạt
các kết quả có ý nghĩa lâm sàng như tình trạng mệt mỏi liên quan đến hóa trị
liệu, tiêu thụ oxy, khoan dung tập thể dục, và chất lượng của cuộc sống [67]
1.8.2 Ở Việt Nam
- Đào Bích Vân (2000) [34] nghiên cứu tác dụng bài luyện thở 4 thì theo
phương pháp Nguyễn Văn Hưởng điều trị cho bệnh nhân sau phẫu thuật cắt
thùy phổi giai đoạn sớm thấy sau phẫu thuật các chỉ số CNHH đều giảm rõ rệt
so với mức trước phẫu thuật và cách xa giá trị bình thường Ở nhóm nghiên
cứu mức độ giảm VC, FVC, FEV1 lần lượt là 0,9: 0,85: 0,79 lít so với nhóm
chứng là 1,3: 1,15: 0,94 lít
- Năm 2010 Nguyễn Hoài Bắc và Cs [5] đánh giá hiệu quả chương trình
phục hồi chức năng cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thấy: giảm
triệu chứng khó thở, tăng khả năng vận động, tăng chất lượng cuộc sống có ý
nghĩa ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng (p < 0,001), giảm PaCO2 ở nhóm
can thiệp so với nhóm chứng (41,5 8,0 so với 47,6 12,0; p < 0,01)
Formatted: 22, Space Before: 0 pt, After: 0
pt, Line spacing: single
Formatted: Vietnamese
Formatted: 33, Line spacing: single Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Indent: First line: 0.39"
Field Code Changed Formatted: Vietnamese Field Code Changed Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese
Field Code Changed Formatted: Vietnamese Formatted: 33, Line spacing: single Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese Field Code Changed Formatted: Vietnamese
Field Code Changed Formatted: Vietnamese Formatted: Font: (Default) Times New
Roman, Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Font: Times New Roman Formatted: Font: Times New Roman Formatted: Font: Times New Roman,
Vietnamese
Trang 36CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Cỡ mẫu trong nghiên cứu
Đây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng So sánh giá trị
trung bình giữa 2 nhóm
Chúng tôi áp dụng công thức tính cỡ mẫu:
2)/(
C n
Trong đó:
n: Số đối tượng cần thực hiện trong mỗi nhóm
C: Hằng số phản ánh sai số loại I (α) và sai số loại II (β)
Δ: Số lít FVC cải thiện mong đợi sau thực hiện chương trình can thiệp
Formatted: 11, Left, Indent: First line: 0",
Line spacing: single, Adjust space between Latin and Asian text, Adjust space between Asian text and numbers, Tab stops: Not at 0.79" + 1.58"
Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: 11, Left, Line spacing: single
Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: 22
Formatted: 33, Line spacing: single Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: Justified
Formatted: Swedish (Sweden) Comment [V3]:
Comment [V4R3]:
Formatted: Space Before: 6 pt
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt
Trang 37σ:Độ lệch chuẩn của chỉ số đo đạc (FVC)
Vì FVC là thông số liên quan đến các thể tích và lưu lượng khác, do vậy
chúng tôi tính cỡ mẫu dựa trên các ước tính của các thông số liên quan đến
FVC Các nghiên cứu trước đây đã cho biết độ lệch chuẩn của FVC trung
bình là 0,45 lít (nam 0,52, nữ 0,39) [20]
Giả thiết nhóm can thiệp điều trị sẽ làm tăng dung tích sống lên 0,3 lít
so với nhóm chứng (trên chỉ số thay đổi tối thiểu có ý nghĩa lâm sàng), độ
lệch chuẩn là 0,45 lít, với khoảng tin cậy 0,95 (tức α = 0,05) và power = 0,9
(hay β = 0,1) Ta có C = 10,51, Δ = 0,3,σ= 0,45
Sau khi tính toán chúng tôi có kết quả n = 23,6475
Để đảm bảo độ tin cậy của mẫu nghiên cứu, chúng tôi lấy mỗi nhóm là
30 bệnh nhân Như vậy tổng số bệnh nhân trong 2 nhóm được nghiên cứu là
60 bệnh nhân
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 60 bệnh nhân UTPQP không tế bào nhỏ giai đoạn IIIa có chỉ định
phẫu thuật, được điều trị tại khoa Ung bướu Bệnh viện Phổi Trung Ương
2.1.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định UTPQP không tế bào nhỏ giai
đoạn III, có chỉ định phẫu thuật cắt một thuỳ phổi
- Bệnh nhân được điều trị tại bệnh viện sau phẫu thuật ít nhất 714 ngày
- Bệnh nhân có khả năng giao tiếp và hợp tác tốt với người tập
- Bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.1.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân gặp khó khăn khi thực hiện chương trình PHCNHH do
mắc các bệnh ảnh hưởng đến nhận thức và giao tiếp
Formatted: Space Before: 6 pt
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt Formatted: Justified
Formatted: 33, Line spacing: single Formatted: Justified, Indent: First line: 0.39"
Formatted: Vietnamese Formatted: 44, Line spacing: single Formatted: Indent: First line: 0.39"
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: 44, Space Before: 0 pt, Line
spacing: single
Formatted: Indent: First line: 0.39" Formatted: Vietnamese
Trang 38- Bệnh nhân mắc các bệnh lý tim mạch, hô hấp như bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính, dày dính màng phổi, suy tim, tăng huyết áp …
- Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật ở ngực, bụng
- Bệnh nhân không tập liên tục, bỏ tập từ 1 ngày trở lên
- Bệnh nhân có các biến chứng nặng sau mổ ảnh hưởng đến tính mạng:
ho ra máu, tràn khí tràn máu màng phổi, rò phế quản màng phổi…
- Trong thời gian nghiên cứu bệnh nhân mắc thêm các bệnh khác ảnh
hưởng đến quá trình nghiên cứu
2.1.2.3 Phương pháp lấy mẫu
Để đồng nhất nhóm nghiên cứu và nhóm chứng chúng tôi chọn 1 bệnh
nhân nhóm nghiên cứu sẽ có 1 bệnh nhân nhóm chứng tương ứng về giới và
độ tuổi ± 5, theo nguyên tắc 1/1
2.1.2.4 Địa điểm nghiên cứu
Tại khoa Thăm dò, phục hồi chức năng và khoa Ung bướu Bệnh viện
Phổi Trung Ương Hàng năm khoa thực hiện khoảng 150 trường hợp mổ cắt
phổi do ung thư phế quản phổi Trong đó chủ yếu là UTPQP giai đoạn IIIa
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
60 đối tượng nghiên cứu được phân bố vào 2 nhóm
- Nhóm can thiệp gồm các bệnh nhân tham gia thực hiện chương trình
phục hồi chức năng hô hấp
- Nhóm chứng gồm các bệnh nhân không tham gia thực hiện chương
trình phục hồi chức năng hô hấp
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Formatted: Indent: First line: 0.39"
Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: 22 Formatted: 33, Line spacing: single Formatted: Space Before: 6 pt
Formatted: Indent: First line: 0.39", Space
Before: 6 pt
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Trang 392.2.2 Các kỹ thuật thăm dò CNHH áp dụng trong nghiên cứu
* Kỹ thuật đo chức năng thông khí:
Máy đo HI-801 Nhật Bản được cài đặt các điều kiện tiêu chuẩn tại Khoa
Thăm dò và Phục hồi chức năng Bệnh viện Phổi Trung Ương Kỹ thuật đo
FVC theo hướng dẫn của hội lồng ngực Mỹ
Hình 2.1: Máy đo chức năng hô hấp HI 801
Đối tượng đo được nghỉ ngơi 15 phút, nới lỏng quần áo, không sử dụng
các thuốc giãn phế quản trước đó 6 giờ
Khi đo bệnh nhân ngồi thoải mái, KTV hướng dẫn hít vào tối đa sau vài
nhịp thở bình thường rồi thở ra thật nhanh, mạnh và hoàn toàn hết sức qua ống
thổi bằng miệng vào máy đo, mỗi lần đo 3 lần, chọn lần đo có kết quả tốt nhất
*
Hình 4: Máy đo chức năng hô hấp HI-801
Kỹ thuật đo các thành phần khí máu:
Tất cả các bệnh nhân được đo khí máu bằng máy AVL compact 1 của
Thụy Sỹ tại khoa Sinh hóa Bệnh viện Phổi Trung Ương
Bệnh nhân được giải thích trước về kỹ thuật lấy máu và được
nằm nghỉ 5 phút trước khi lấy máu
Formatted: Font: Vietnamese
Formatted: 33, Left, Indent: First line: 0",
Line spacing: single
Formatted: Font: Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Indent: First line: 0.39", Space
Before: 6 pt
Formatted: Space Before: 6 pt
Formatted: Vietnamese Formatted: Space Before: 6 pt
Formatted: Vietnamese, Condensed by 0.2 pt Formatted: Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.55 li
Formatted: Vietnamese Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line
spacing: Multiple 1.55 li
Formatted: Vietnamese
Formatted: Indent: First line: 0.39", Space
Before: 6 pt, Line spacing: Multiple 1.55 li
Trang 40Cách lấy máu: Xác định động mạch bằng cách sờ nắn hai đầu ngón tay
trên đường đi giải phẫu của động mạch Sau khi xác định vị trí của động
mạch, sát trùng bằng bông cồn Chọc kim với góc nhọn từ 45 - 90 độ vào
động mạch Hướng kim ngược dòng chảy của máu Ngay sau khi kim xuyên
vào tới động mạch máu sẽ chảẩy từ từ vào ống mao quản theo nhịp đập Khi
máu đã đầy hai ống mao quản thì rút kim, ép chỗ chọc kim bằng gạc khoảng 2
phút Chụp mũ đầu kim lại và chuyển đo ngay trên máy AVL
Các thông số đo trực tiếp: pH, PaO2, PaCO2 Qua các thông số đo trực
tiếp, máy gián tiếp tính ra HCO3
-, BE-, SaO2 và in ra trên băng giấy
* Đo độ bão hoà oxy máu mao mạch qua mạch nảy ngón tay (SpO 2 )
Độ bão hoà oxy máu mao mạch qua mạch nẩy ngón tay được đo bằng
máy đo digital pulse-oxymetry (của hãng Criticare System Incorp)
2.2 32 Nội dung can thiệp
60 bệnh nhân nghiên cứu được khám đánh giá dựa trên các chỉ tiêu lâm
sàng, cận lâm sàng vào thời điểm trước phẫu thuật và sau phẫu thuật 12 tuần
Nhóm can thiệp được áp dụng chương trình PHCNHH vào giai đoạn
trước và sau phẫu thuật Chỉ đưa vào phân tích kết quả đối với các trường hợp
thực hiện đầy đủ chương trình PHCNHH
Nhóm chứng sau khám đánh giá ban đầu, người bệnh được chăm sóc,
điều trrị hậu phẫu thường quy và khám lại sau 12 tuần Chỉ đưa vào phân tích
các trường hợp nhóm chứng khám lại đúng hẹn sau 12 tuần