Tăng trưởng KT- tiến bộ và công bằng XH
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1: TÌM HIỂU VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - TIẾN BỘ VÀ CÔNG
BẰNG XÃ HỘI 3
1.1 Tăng trưởng kinh tế 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế 4
1.1.3 Các quan điểm về tăng trưởng kinh tế 4
1.2 Tiến bộ xã hội 5
1.2.1 Khái niệm 5
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá tiến bộ xã hội 5
1.3 Công bằng xã hội 6
1.3.1 Khái niệm 6
1.3.2 Các thước đo về công bằng xã hội 7
1.3.3 Một số con số và bình luận 12
Chương 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 22
2.1 Lý luận chung về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội 22
2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước 23
Chương 3: THỰC TIỄN VẤN ĐỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GẮN LIỀN VỚI TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TẠI NƯỚC TA HIỆN NAY 27
3.1 Những thành tựu đạt được 27
3.2 Những vấn đề còn tồn tại 30
3.3 Giải pháp góp phần hoàn thiện hơn nữa mục tiêu gắn liền tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội 32
Tài liệu tham khảo 37
Trang 2Chương 1 TÌM HIỂU VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - TIẾN BỘ
VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1.1 Tăng trưởng kinh tế
1.1.1 Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổngsản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầungười (PCI) trong một thời gian nhất định Sự tăng trưởng kinh tế là quá trình ổnđịnh mà theo đó năng lực có hiệu quả của nền kinh tế nâng dần theo thời gian dẫnđến mức tăng của sản lượng và thu nhập quốc dân Tăng trưởng kinh tế thể hiện sựthay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳngkinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiềungười dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ
Qui mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặctổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc thunhập bình quân đầu người (PCI)
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản phẩmtrong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sảnxuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường làmột năm tài chính)
Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằngtiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trongmột thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sảnphẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng
Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số.Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc dân chia cho dân số.Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăngtrưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội,tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ
Trang 3khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là một quátrình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thểchế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa vớimức độ hạnh phúc hơn Như vậy, có thể nói phát triển kinh tế bền vững bao hàm cảviệc đảm bảo tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội
1.1.2 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độtăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn.Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh.Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳhiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước Tốc độ tăngtrưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức
(Trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng)
1.1.3 Các quan điểm về tăng trưởng kinh tế
Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sảnxuất nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Nhưng đấtsản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn
để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuấtlương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nông phẩm tăng, tiền lương danh nghĩatăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy
để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫnđến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp vàảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăngcho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng
Mô hình hai khu vực tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vựcnông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L labor), yếu
tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh tế
y = dY/Y × 100(%)
Trang 4Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T.Oshima.
Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu
tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên
Mô hình Robert Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sảnxuất chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởngtrong dài hạn, tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng Một nền kinh tế có mức tiết kiệmcao hơn sẽ có mức sản lượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tếtrong dài hạn (tăng trưởng kinh tế bằng không (0))
Mô hình Kaldor tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình
Theo phát biểu được ghi nhận tại nghị quyết Đại Hội X, tiến bộ
xã hội là một khái niệm phản ánh sự vận động của xã hội từ thấpđến cao, từ đơn giản đến phức tạp, là sự vận động của xã hội loàingười từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hộikhác cao hơn, hoàn thiện hơn, cả về cơ sở hạ tầng kinh tế lẫn kiếntrúc thượng tầng về pháp lý, chính trị và các hình thái ý thức xãhội Lịch sử loài người nói chung bao giờ cũng vận động theo hướngtiến bộ, mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một nấc thang của tiến
bộ xã hội
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá tiến bộ xã hội
Thứ nhất, lực lượng sản xuất phát triển với hàm lượng khoa học
ngày càng cao và với quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng
Trang 5xã hội chủ nghĩa; kinh tế tăng trưởng nhanh, có chất lượng cao vàbền vững.
Thứ hai, quyền làm chủ của nhân dân đối với mọi mặt đời sống
xã hội được bảo đảm; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân, vì dân, trong sạch, vững mạnh Dân chủ được pháthuy; kỷ luật, kỷ cương được tôn trọng
Thứ ba, văn hoá, giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ
được mở mang, trình độ dân trí phát triển, quan hệ giữa con ngườivới con người lành mạnh, những thói hư, tật xấu và tệ nạn xã hộiđược đẩy lùi Đây là thước đo trí tuệ và đạo đức của tiến bộ xã hội
Thứ tư, môi trường sinh thái được bảo vệ và cải thiện.
Thứ năm, con người có điều kiện từng bước phát triển về thể
chất, trí tuệ, đạo đức, nghề nghiệp; có cuộc sống ngày càng ấm no,
tự do, hạnh phúc; được cống hiến và hưởng thụ công bằng thànhquả của sự phát triển
Một xã hội vận động theo hướng đi lên chủ nghĩa xã hội phải là một
xã hội ngày càng giàu có về của cải vật chất, đem lại cho con ngườicuộc sống ngày càng đầy đủ, sung túc hơn Cái đích hướng tới củatiến bộ xã hội phải là con người, là sự phát triển toàn diện của conngười
và người trong xã hội chủ yếu về phương diện phân phối sản phẩm
xã hội theo nguyên tắc: cống hiến lao động ngang nhau thì hưởngthụ ngang nhau Khi đề cập đến nguyên tắc phân phối dưới chủnghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là
Trang 6công bằng, hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, khônglàm thì không hưởng Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ đượcNhà nước giúp đỡ chăm nom” Như vậy, vào thời của mình, các nhàkinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minhchủ yếu nói về công bằng xã hội thể hiện tập trung ở chế độ phânphối theo lao động dưới chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên hiện nay, kháiniêm về công bằng xã hội đã được mở rộng ra rất nhiều phươngdiện: giáo dục và đào tạo, y tế, chính trị, pháp quyền, đạo đức, …
Thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là tạo điều kiện
để ai cũng được học hành; người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ có cơhội học tập; phát triển các trường phổ thông nội trú dành cho con em đồng bào dântộc thiểu số; có chính sách hỗ trợ đặc biệt đối với những học sinh có năng khiếunhưng hoàn cảnh sống khó khăn được theo học ở bậc cao
Thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế là bảo đảm cho sức khoẻ mọi
người dân được chăm sóc và bảo vệ, quan tâm chăm sóc sức khoẻ những người cócông với nước; những người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số Công bằng xã hộikhông có nghĩa là “cào bằng”, thực hiện chủ nghĩa bình quân, chia đều cho mọingười các nguồn lực và của cải do xã hội làm ra, bất chấp chất lượng, hiệu quả củasản xuất kinh doanh và sự đóng góp của mỗi người cho sự phát triển chung của cộngđồng
Nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội là xử lý hợp lý nhất quan hệ giữaquyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định Để phản ánh được nộidung cơ bản này, các nhà kinh tế thường sử dụng hai khái niệm về cân bằng:
Công bằng theo chiều ngang: Đối xử như nhau với người đóng góp như nhau Công bằng theo chiều dọc: Đối xử khác nhau với người có khác biệt bẩm sinh
hoặc có điều kiện xã hội khác nhau (do khả năng và kĩ năng lao động khác nhau,cường độ làm việc khác nhau, sự khác nhau về nghề nghiệp, sự khác nhau về giáodục đào tạo, thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau, gánh chịu rủi ro khác nhau.)
Trang 71.3.2 Các thước đo về công bằng xã hội
Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư: tính phân
phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong một thời gian nhấtđịnh, không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập và môi trường sống của dân cư,
mà chia đều thu nhập cho mọi thành phần dân cư Phương pháp tính là người ta chiadân số thành 5 nhóm người, mỗi nhóm có 20% dân số, sau đó xếp theo thứ tự từ thấpđến cao về thu nhập Qua đó, có thể thấy mức độ công bằng xã hội thông qua việc sosánh nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất Ở nước ta, cứ hai năm một lần, Tổng cụcThống kê đều tiến hành điều tra và công bố sự chênh lệch giàu nghèo theo thang này
Hệ số Gini cũng là thước đo phổ biến để xác định mức bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập, hệ số Gini được đưa ra nhằm lượng hoá đường cong Lorenz Nóđược tính bằng cách chia diện tích nằm giữa đường chéo và đường cong Lorenz vớitoàn bộ diện tích nằm dưới đường chéo, có nghĩa là G= A/ (A+B) Hệ số G càng cao,mức bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng lớn Dựa vào những số liệu thuthập được, ngân hàng thế giới WB nhận thấy rằng , mức biến động của hệ số G đốivới những nước có thu nhập thấp : từ 0.3-0.5, thu nhập trung bình 0.4-0.6, thu nhậpcao 0.2-0.4 Từ đó WB đưa ra nhận xét, hệ số G tốt nhất thường xoay quanh 0.3
Đường cong Lorentz: mô tả chênh lệch trong phân phối thu nhập, được
biểu thị bằng một hình vuông mà cạnh đáy biểu thị phần trăm cộng đồn số ngươờđược nhận thu nhập và cạnh bên biểu thị phần trăm cộng dồn tổng thu nhập đượcphân phối Đường chéo của hình này biểu thị mức dộ bình đẳng tuyệt dối trong phânphối thu nhập, vì mọi điểm nằm trên đường chéo phản ánh các mức phân bổ đồngđều giữa phần trăm dân số cộng dồn và phần trăm tổng thu nhập cộng dồn Đườngcong Lorenz càng gần đường bình đẳng tuyệt đối, phân phối càng công bằng
Trang 8Chỉ số nghèo khổ : tỉ lệ phần trăm giữa số dân sống dưới mức tối thiểu với
tổng số dân Để xác định mức nghèo khổ, người ta phải đưa ra chuẩn nghèo, hiệnnay còn tồn tại nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về đói nghèo Các nhà khoa họcViệt Nam thống nhất với nhau một số khái niệm được đưa ra trong “Chương trìnhmục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000” như sau Nghèo: là tìnhtrạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơbản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng xét trênmọi phương diện
Nghèo tuyệt đối: Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế
giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối
như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."
Nghèo tương đối: Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được
định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể đượcxem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất chonhững người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội
đó Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vàocảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quankhi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định kháchquan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tàinguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa-xã
Trang 9hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được cácnhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.
Mức chuẩn nghèo: Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo
sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầusống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối
Đối với Việt Nam, Chính phủ đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian
từ 1993 đến cuối năm 2005 Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêuquốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia đình có thunhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thônđồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vựcthành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng(1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩnnghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mứcthu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)trởxuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người: Thước đo này đựoc
coi là một chỉ số đánh giá trình độ phát triển của một nước ở một thời kì nhất đinh.Những nhu cầu ơ bản này bao gồm mức min dinh dưỡng, sức khoẻ, mặc, ở và cáckhả năng đảm bảo sự phát triển cá nhân Dù có những quan điểm khác nhau về cácnhu cầu cơ bản, nhưng nhìn chung là có thể đo được các nhu cầu này Một xã hộikhông được coi là công bằng khi đại đa số dân cư không được thoả mãn các nhu cầu
cơ bản bất luận GNP/người cao hay thấp
Chỉ số phát triển con người (HDI) (Human Development Index - HDI) là
chỉ số so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố
Trang 10khác của các quốc gia trên thế giới HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự
phát triển của một quốc gia.HDI là một thước đo tổng quát về phát triển con người
Nó đo thành tựu trung bình của một quốc gia theo ba tiêu chí sau:
Sức khỏe: Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, đo bằng tuổi thọ trung bình.
Tri thức: Được đo bằng tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấp
giáo dục (tiểu học, trung học, đại học)
Thu nhập: Mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người.
HDI là số trung bình cộng của các số sau:
Chỉ số tuổi thọ trung bình
Chỉ số học vấn: 2/3 tỉ lệ số người lớn biết chữ cộng với 1/3 số học sinh
tuyển vào chia số học sinh trong cả nước
Chỉ số phát triển xã hội tổng hợp do Liên hợp quốc nêu ra Bao gồm 73
chỉ tiêu kinh tế, chính trị, xã hội Tuy nhiên, trên thực tế rất ít nước có thể thoả mãn
các chỉ tiêu này Vì vậy, đối với các nước đang phát triển, dù tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao nhưng không phải bao giờ cũng đạt được chỉ số phát triển xã hội cao Việc
đưa vào chỉ số phát triển xã hội tổng hợp quá nhiều chỉ số đã gây ra khó khăn trong
tính toán đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Chỉ số chất lượng vật chất cuộc sống: Được tính toán dựa trên 3 tiêu chí cơ
bản là : tuổi thọ, tỉ lệ tử trẻ sơ sinh, tỉ lệ xoá nạn mù chữ Chỉ số này đã phản ánh
những khía cạnh cơ bản của sự phát triển xã hội và gián tiếp nói lên mức độ công
bằng xã hội của một nước
GDP bình quân đầu người(ngànVND)
GDP bình quân đầu người(USD
chỉ
só tuổi thọ bình quân
chỉ
số giáodục
chỉ
số GDP2004
HDI 1999
HDI 2004
xếp hạngHDI
Trang 11Hồ Chí Minh có khá hơn, nhưng Hà Nội chỉ có 1,2 lần, còn các tỉnh HảiDương, Bình Phước, Sóc Trăng chênh lệch này không đáng kể, và ở HàGiang, Thái Nguyên, Cao Bằng và hưng Yên là 4 tỉnh có thứ hạng HDI vàGDI thấp lại có thu nhập trung bình của nữ cao hơn so với thu nhập trungbình của nam, tuy không chênh nhau nhiều lắm nhưng cũng là một điều thú
vị Trở lại thành phố Hồ Chí Minh, sự chênh lệch thu nhập do nhiều vấn đề,
có thể kể đến vài nguyên nhân như:
Tỷ lệ người trưởng thành mù chữ: Tỷ lệ nữ không biết chữ nhiều hơn nam
Năm 1999 – Nam: 3,8%; Nữ: 7,9% Năm 2004 – Nam: 4,4%; Nữ: 10,3%
Trang 12 Tỷ lệ lao động nữ không có chuyên môn: Năm 1999 có 75,5% nữ trong70,9% tỷ lệ lao động không có chuyên môn Năm 2004 có 58,7% nữ trong55% tỷ lệ lao động không có chuyên môn.
Trong khi đó chỉ số phát triển của nữ ở thành phố cũng đã có những khích lệđáng kể: Tuổi thọ của nữ năm 1999: 79,1 trong khi của nam: 71,5, đến năm
2004 tuổi thọ của nữ là 79 trong khi của nam là 73,6 Tỷ lệ nữ nhập học cáccấp giáo dục năm 2004: 72,4% (trong khi tỷ lệ của nam là 77,7%) Tỷ lệ số
nữ sinh viên trong tổng số sinh viên từ 39,1% năm 1998 cũng tăng lên 50,3%năm 2004 Tỷ lệ lao động nữ có trình độ cao đẳng trở lên từ 9% năm 1998cũng tăng lên 13,8% năm 2004 (tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng trở lêntrong cả nước là 9,3% năm 1998, 13,1% năm 2004) Tỷ lệ nữ trong Quốc hộikhóa X (1997 – 2002): 16%; tỷ lệ nữ trong Quốc hội khóa XI (2002-2007):23,1% (tỷ lệ nữ trong Quốc hội cả nước là 27,3%); Tỷ lệ nữ trong Hội đồngnhân dân cấp thành phố (1999 – 2004): 24,7
Mặc dù đã có nhiều khía cạnh tích cực trong mối quan hệ giới ở thành phố HồChí Minh nhưng khuynh hướng thiên vị giới vẫn đang tiếp tục làm tăng bấtbình đẳng giữa nam và nữ được thể hiện ở một số mặt: Xét theo ngành nghề,
có sự khác biệt lớn trong tỷ lệ nam giới và nữ giới có cùng thu nhập với côngviệc tương tự như nhau, ưu tiên tuyển nam hơn là nữ vẫn đang phổ biến, vìvậy nữ thường phải chấp nhận trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùngmột loại việc; phụ nữ phải dành nhiều thời gian làm các công việc gia đìnhnên ít có cơ hội để tham gia vào các hoạt động đào tạo nâng cao chuyên môn;mức độ tham gia của phụ nữ trong các cấp chính quyền cấp cơ sở khá caonhưng càng lên trên tỷ lệ này giảm dần; số lượng học sinh nữ trong độ tuổi từ
15 – 17 đang giảm so với học sinh nam… Và sự bất bình đẳng đối với phụ
nữ cũng thể hiện ở một số các lĩnh vực khó định lượng như: Tiếng nói củaphụ nữ trong xã hội, quyền sở hữu đất đai và tài sản, việc tiếp cận với côngnghệ, tín dụng và đào tạo, sự phân công lao động trong gia đình, việc thiếuquyền quyết định trong gia đình…
Trang 13 Báo cáo phát triển con người năm 2006 của Chương trình phát triển Liên hiệpquốc (UNDP) công bố ngày 10/11/2006 tại Hà Nội đã xếp hạng Việt Nam ở
vị trí 109 trong tổng số 177 nước về Chỉ số phát triển con người (HDI –Human Development Index) Theo nhận xét của ông John Hendra, Điều phốiviên thường trú Liên hiệp quốc, điều quan trọng là mặc dù thu nhập bình quânđầu người của Việt Nam thấp hơn so với Angieri, Ai Cập, Nam Phi vàGuatemala nhưng HDI lại cao hơn, đó là do kết quả khá ấn tượng của ViệtNam về tuổi thọ trung bình và giáo dục:
Chỉ số phát triển con người của Việt Nam 2004 (UNDP)
Trên bình diện cả nước, thành phố Hồ Chí Minh nằm trong nhóm top 10 các tỉnh,thành có chỉ số HDI cao
Trong khi chỉ số phát triển con người HDI đo thành tựu trung bình, chỉ số phát triểngiới (GDI – Gender – related Development Index) lại điều chỉnh các thành tựu trung
Trang 14bình đó để phản ánh sự bất bình đẳng giữa nam và nữ theo 3 chỉ tiêu của HDI.Chênh lệch giữa phụ nữ và nam giới ở một số khía cạnh của cuộc sống sẽ được thểhiện qua GDI Giá trị GDI của Việt Nam năm 2004 là 0,78 so với giá trị HDI tươngứng là 0,79, như vậy ở nước ta giá trị GDI bằng 99,9% giá trị HDI, tương tự GDIcủa thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là 0,813 so với giá trị HDI tương ứng là0,814 Mặc dù tình hình phát triển giới của Việt Nam vẫn còn có khoảng cách đáng
kể với một số nước trong khu vực Việt Nam chỉ xếp hạng cao hơn Indonesia,Myanmar, Campuchia, Lào và Ấn Độ; còn thấp hơn nhiều so với Nhật Bản, HànQuốc và Trung Quốc; tốc độ thay đổi chỉ số GDI cũng còn thấp hơn Campuchia,Lào, Trung Quốc và Ấn Độ
Nguồn: UNDP (2001 – 2005)
Nhưng nếu tính theo sự phát triển bình đẳng giới giữa các tỉnh thành trong nước, chỉ
số GDI đã được cải thiện khá tốt trong giai đoạn 1999 – 2004, xét theo giá trị tuyệtđối, năm 2004 Bà Rịa – Vũng Tàu có chỉ số GDI cao nhất: 0,825, kế tiếp là Hà Nội:0,824 và thứ 3 là thành phố Hồ Chí Minh: 0,813, đáng chú ý một số tỉnh nằm trongnhóm HDI trung bình và thấp lại có tốc độ tăng GDI khá nhanh:
Trang 15Thật sự các chỉ số HDI và GDI là những con số chưa thật hoàn hảo bởi vì chất lượng
số thống kê còn chưa cao và thường được chỉnh sửa về giá trị và phương pháp tính,chẳng hạn về số liệu đi học có lẽ chưa phản ánh thực sự đúng thực tế vì ở nhiều tỉnh,thành tỷ lệ này phụ thuộc khá nhiều vào thời điểm điều tra Tuy nhiên trên cơ sở sốliệu có được, có thể hình dung ra được một số vấn đề khái quát về các chỉ số pháttriển con người, từ đó dự báo những thách thức và xu hướng phát triển trong thờigian tương lai
Hệ số GINI theo thành thị nông thôn và vùng, 2002,2004
Nguồn:TCTK, Điều tra mức sống hộ gia đình 2006.
Tỷ lệ nghèo của VN giai đoạn (1993-2006)
Trang 16Về mặt xã hội, mặc dù đời sống của người dân được cải thiện, tỷ lệ nghèo giảm, nhưng chỉ
số bất bình đẳng về thu nhập (Gini) ở VN còn cao, và tăng qua các năm (năm 2004 Gini là 0,423, năm 2006 hệ số này là 0,425) Hệ số Gini cao thể hiện phân hóa thu nhập, phân hóa giàu nghèo cao giữa các tầng lớp dân cư Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, thời kỳ trước năm 1990, các nước có thu nhập thấp có hệ số Gini từ 0,389 (Bangladesh) đến 0,550 Kenya, các nước thu nhập trung bình có hệ số Gini từ 0,378 (Nam Triều Tiên) đến 0,605 (Braxin), các nước kinh tế thị trường công nghiệp có tỷ số Gini từ 0,285 (Nhật ) đến 0,404 (Úc), các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa (trước năm 1990) có hệ số Gini từ 0,284 đến
0,317 Hệ số Gini của VN năm 2006 được thể hiện qua đường cong Lorenz
Lorenz của VN năm 2006, với hệ số Gini=0,425
HỆ SỐ GINI CỦA VIỆT NAM TỪ 1993-2006
Trang 17chênh lệch tăng lên 2,05 lần.
(2) Một chỉ số khác về khoảng cách giàu nghèo trong xã hội là tỷ trọng tổng thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất (nhóm 1 và nhóm 2) trong tổng thu nhập (của cả 5
nhóm) Theo quy ước mà Bộ Tài chính sử dụng, nếu tỷ trọng này nhỏ hơn hay bằng 12% thì bất bình đẳng là cao; nằm trong khoảng 12 - 17%, là bất bình đẳng vừa; nếu lớn hơn hay bằng 17% là tương đối bình đẳng.
Kho ng cách giàu - nghèo không ph i ch là m t ch tiêu kinh t Nó còn ph n ả ả ỉ là một chỉ tiêu kinh tế Nó còn phản ộ ỉ là một chỉ tiêu kinh tế Nó còn phản ế ảánh s g n k t xã h i và là m t th hi n c a s bình đ ng trong xã h i ự ắ ế ộ ộ ể ệ ủ ự ẳ ộ
Số liệu thống kê cho kết quả: tỷ trọng này của Việt Nam năm 1995 là 21,1%; năm 1996 là 21%; năm 1999 là 18,7%; năm 2002 là 18%, năm 2004 là 17,4% Trong 9 năm, sự chênh
lệch về thu nhập giữa các nhóm hộ từ tương đối bình đẳng đang tiến dần về bất bình đẳng vừa
Trang 18(3) Hệ số Gini (G) là một chỉ số khác nữa thể hiện sự bình đẳng hay bất bình đẳng trong xã hội Hệ số G có trị số nằm trong khoảng từ 0 đến 1 G = 0 là trường hợp bình đẳng hoàn hảo, trong khi đó G = 1 là bất bình đẳng hoàn hảo.
Các số liệu thống kê Việt Nam cho thấy, hệ số Gini năm 1994 là 0,350, năm 1995 là 0,357, năm 1996 là 0,362, năm 1999 là 0,390, năm 2002 là 0,420, năm 2004 là 0,423 Sự bình đẳng đang giảm dần, sự bất bình đẳng đang lớn dần
(4) H s chênh l ch thu nh p gi a các nhóm h có thu nh p cao nh t và th p ệ ố ệ ậ ữ ộ ậ ấ ấ
nh t trong c nấ ả ước và t i m t s vùng, theo k t qu đi u tra c a TCTK, trong ạ ộ ố ế ả ề ủcác năm 1996 và 1999 nh sau:ư
Trong mười năm trở lại đây, không tìm thấy số liệu điều tra
Các số liệu, tính toán theo các phương pháp khác nhau, tự chúng đã nói lên khá rõ về khoảng cách giàu nghèo trong xã hội và động thái của nó trong thời gian qua ở nước ta Rất tiếc không tìm được số liệu sau năm 2004 và nhất là những năm gần đây
Khoảng cách giàu - nghèo không phải chỉ là một chỉ tiêu kinh tế Nó còn phản ánh sự gắn kết xã hội và là một thể hiện của sự bình đẳng trong xã hội Nói cách khác, nó là một chỉ số vừa của môi trường kinh tế vừa của môi trường xã hội
Xã hội cần có đông lực để phát triển Khoảng cách giàu - nghèo ắt sẽ nảy sinh Nhưng sự bền vững của phát triển ở tất cả các nước, và hơn thế nữa định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận khoảng cách giàu - nghèo đi vào phân cực quá một ngưỡng cho phép
Để cử tri cả nước có điều kiện theo dõi khía cạnh này, Quốc hội và Chính phủ nên bổ sung báo cáo của mình tại kỳ họp này , và trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế xã hội hàng năm từ nay về sau, một chỉ tiêu về khoảng cách giàu nghèo trong xã hội nước ta