1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu thiệt chẩn trên bệnh nhân đột qụy nhồi máu não sau giai đoạn cấp

27 655 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 117,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đóviệc phát hiện các biến đổi về lưỡi rêu lưỡi, chất lưỡi, hình thể và động thái lưỡirất được coi trọng, là một trong những yếu tố rất cần thiết để biện chứng, phân thểbệnh, tiên lượn

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỵ não nói chung và nhồi máu não nói riêng đang là vấn đề thời sự và cấp bách bởi tỷ lệ tử vong, tàn phế còn cao và nguyên nhân rất phức tạp Ở các nước phát triển, đột quỵ não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba sau ung thư và tim mạch Việc cứu sống tính mạng người bệnh ở giai đoạn cấp tại các tuyến trung ương đã đạt được nhiều thành tựu khả quan, tuy

nhiên điều trị phục hồi chức năng, dự phòng tái phát, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân còn gặp nhiều khó khăn [12], [36].

Y học cổ truyền Phương Đông cũng như Y học cổ truyền Việt Nam thường mô tả bệnh lý Tai biến mạch máu não hay Đột quỵ não trong phạm trù “Trỳng phong” (Biển Thước, thế kỷ 3-2 trước Công Nguyên) nghĩa là người bệnh đột nhiên “hụn mê – thốt đảo – bán thân bất toại” [57], [70].

Trong những thập kỷ gần đây góp phần giảm tỷ lệ: tái phát- tử vong- tàn phế vàphòng ngừa biến chứng xuất huyết não trong ổ nhồi máu cũ, điều trị phục hồi chứcnăng liệt, nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện chức năng lao động trí óc và thểlực tăng tuổi thọ cho người bệnh Việc chẩn trị Y học cổ truyền (YHCT) có vai tròquan trọng đáng tin cậy

Thiệt chẩn là một phần của vọng chẩn, một nội dung quan trọng trong “Tứchẩn”thuộc hệ thống biện chứng luận trị của y học cổ truyền.Y họccổ truyềnPhương Đông luôn coi lưỡi như một bức tranh phản ánh sức khỏe và bệnh tật(Lưỡiliên quan đến: khí, huyết, tạng phủ kinh lạc trong cơ thể con người).Vì vậy khi cơquan tổ chức tạng phủ hay kinh lạc mắc bệnh từ khởi phát, toàn phát đến hồi phụchay biến chứng tử vong, mọi diễn biến tốt xấu trong quá trình bị bệnh đều có liênquan đến trạng thái lưỡi

Từ 1964 đến naytrong nhiều trung tâm nghiên cứu vi tuần hoàn ở Đức, Pháp, Mỹ

và Trung Quốc các tác giả: W.Gotze, 1964; B.Wzweifach-Alarcan, 1970; R.J.Xtu,1980 đề cập đến liên quan vi tuần hoàn đầu lưỡi và bệnh lý viêm gan vi rút mạntính, được gọi là phương pháp sinh thiết lạnh (sinh thiết không chảy máu) Do đóviệc phát hiện các biến đổi về lưỡi (rêu lưỡi, chất lưỡi, hình thể và động thái lưỡi)rất được coi trọng, là một trong những yếu tố rất cần thiết để biện chứng, phân thểbệnh, tiên lượng (sinh tử, nặng nhẹ, nông sâu) diễn biến trong điều trịmột cách đơngiản và chính xác [1], [22]

Góp phần khách quan húa việc chẩn trị, lượng húa các vấn đề trong thiệtchẩnnhằm làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn của y học cổ truyền ởnhững bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não sau giai đoạn cấp, chúng tôi tiến hànhnghiên cứu với hai mục tiêu:

Trang 2

1 Đánh giá trạng thái của lưỡi trên bệnh nhân đột qụy nhồi máu não sau giai đoạncấp Đánh giá trạng thái của lưỡi trên bệnh nhân đột qụy nhồi máu não saugiai đoạn cấp.

2 Tìm hiểu mối liên quan giữa trạng thái lưỡi với một số chỉ tiêu sinh học trênbệnh nhân đột qụy nhồi máu não Tìm hiểu mối liên quan giữa trạng tháilưỡi với một số chỉ tiêu sinh học trên bệnh nhân đột qụy nhồi máu não

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LƯỠI THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI

1.1.1 Cấu tạo lưỡi

Lưỡi là một khối cơ vân được bao phủ bằng một lớp niêm mạc, nằm trongkhoang miệng Đó là cơ quan vị giác, đóng vai trò quan trọng trong động tác nhai,nuốt và nói [28], [29]

Các cơ của lưỡi gồm các cơ ngoại lai và các cơ nội tại, là những bó sợi cơvân xếp theo 3 hướng: dọc, ngang, đứng Xen giữa các bó cơ có nhiều vách liênkết, các đám rối thần kinh, nhiều thựy mỡ, nhiều túi tiết nhày, tiết nước, túi tuyếnnước bọt Tư thế của lưỡi phụ thuộc vào các cơ ngoại lai: cơ cằm lưỡi bám vàoxương hàm dưới, tránh cho lưỡi tụt ra sau để không gây tắc đường hụ hấp; phầnsau của cơ đẩy lưỡi thè ra trước làm cho lưỡi hạ xuống được Cơ móng lưỡi, cơtrâm lưỡi và phần trước của cơ cằm lưỡi làm nhiệm vụ kéo lưỡi lại [28], [29], [47],[61]

Về hình thể: Lưỡi có đầu lưỡi (đỉnh lưỡi); gốc lưỡi (cuống lưỡi); thân lưỡi(lưng lưỡi) Thân lưỡi chia làm 2 phần: Phần cố định gắn vào xương móng và nềnlưỡi, phần tự do tham gia vào tiêu hóa và phát âm; phần này chia ra 2 khúc ngăncách nhau bởi rãnh chữ V đáy là lỗ tịt (Formen caecum) Khúc lưỡi phía sau rãnh ở

vị trí đứng dọc tạo nên thành trước của hầu Khúc lưỡi phía trước rãnh nằm ngang

Trang 3

trên nền miệng Bề mặt lưỡi được phân chia thành mặt trên, mặt bên (viền lưỡi)vàmặt dưới Mặt trên lưỡi có vết dọc giữa lưỡi gọi là rãnh giữa lưỡi ở dọc chính giữamặt dưới có nếp hãm lưỡi Hai bên nếp

hãm lưỡi có lỗ tiết của các tuyến nước bọt dưới lưỡi và tuyến nước bọt dướihàm [28], [29], [47], [61]

1.1.2 Niêm mạc lưỡi

Niêm mạc bao phủ bề mặt lưỡi có cấu tạo khác biệt nhau giữa mặt trên, mặtbên và mặt dưới lưỡi: Niêm mạc mặt dưới lưỡi mỏng nhẵn, trong suốt, cấutrúc làlớp biểu mô nhiều tế bào dẹt không sừng húa.Niêm mạc mặt trên lưỡi và mặtbên lưỡi dính vào khối cơ lưỡi Niêm mạc tạo thành các nhú lồi lên trên bề mặtlưỡi trong đó có nhiều mao mạch và các hành vị giác Mỗi nhú gồm một khối nhỏ

mô liên kết đệm ở bên trong và được bao phủ bởi một lớp biểu mô lát tầng có sừnghúa một phần [28], [47]

Theo hình thể chia ra bốn loại nhú(nhú dạng chỉ, nhú dạng đài, nhú dạngnấm và nhú dạng lá): Nhú dạng chỉ: phân bố đều trên bề mặt 2/ 3 trước lưỡi, vềkích thước là loại nhú nhỏ nhất: dài 0, 3 mm, lớp biểu mô lát tầng có sừng húa mộtphần rụng bong ra và theo vào nước bọt Nhú dạng đài: ở dọc đường ranh giới mặttrước lưỡi và gốc lưỡi Các nhú dạng đài xếp với nhau thành hình chữ V, đỉnh là lỗtịt quay vào trong chia lưỡi làm hai phần: trước chiếm 2/ 3 và sau chiếm 1/ 3 lưỡi.Nhú này có chiều cao1- 1, 5 mm và có đường kính 1- 3 mm Nhú dạng nấm: ở đầulưỡi có đáy hẹp, đỉnh xoố như tán nấm, mỗi nhú cao 0,7- 1, 8 mm, đường kính 0,4-

1 mm Trong khối mô liên kết đệm có nhiều mao mạch do đó nhú có màu hồngtươi đặc trưng.Nhú dạng lá: chỉ có ở viền lưỡi trẻ em, mỗi nhú dài 2- 5 mm, lớpbiểu mô lát tầng không sừng húa, ở khoảng giữa các nhú dạng lá là chỗ mở ra củanhững ống dẫn nước bọt qua các khối cơ lưỡi Khi đến tuổi trưởng thành, tổ chứcnhú dạng lá này được thay thế bằng các mô mỡ và lympho [28], [29], [61]

Trang 4

Ở gốc lưỡi (cuống lưỡi), niêm mạc không có các nhú, lớp biểu mô khôngbằng phẳng, có nhiều chỗ lồi lừm Trong lớp liên kết đệm, mô lympho phát triểntạo thành những nang đường kính có khi tới 0, 5 cm Các nang

lympho ở khúc hầu của lưỡi tạo thành hạnh nhân lưỡi và là một phần của mô bạchhuyết quanh hầu (Waldayer) [29], [61]

Chức năng xúc giác chỉ có ở nhú dạng chỉ, các loại nhú khác còn có thêmchức năng vị giác Trên lưỡi mỗi người có tới 2 vạn nụ vị giác; chúng tập trungthành từng vùng, mỗi vùng đặc trách về một vị chủ yếu: đầu lưỡi nhạy cảm với vịngọt, hai rỡa lưỡi nhạy cảm với vị mặn, hai rỡa phía dưới của thân lưỡi nhạy cảmvới vị chua, gốc lưỡi cảm nhận vị đắng [30], [47],[60]

1.1.3 Thần kinh mạch máu chi phối

- Dây thần kinh XII (dây hạ thiệt) chi phối vận động các cơ lưỡi Nhánh lưỡicủa dây V (dây sinh ba) nhận cảm giác nông: nóng, lạnh, đau ở 2/ 3 trước lưỡi.Dâythần kinh IX (dây thiệt hầu) thu nhận cảm giác vị giác và cảm giác chung: nóng,lạnh, đau ở 1/ 3 sau lưỡi.Dây thần kinh VII phụ của dây VII (dây trung gian) thunhận cảm giác vị giác ở 2/ 3 trước lưỡi [8], [9], [61]

Khi thương tổn dây thần kinh vận động của lưỡi (dây XII hạ thiệt) hoặc cóliên quan đến bệnh cơ, thần kinh, tai biến mạch máu não và ở một số trạng tháinhiễm độc, nhiễm khuẩn mà làm lưỡi co cứng, trực thẳng, khó dịch chuyển hoặcmềm nhũn, yếu ớt, không tựy ý co duỗi

- Động mạch nuôi lưỡi (động mạch lưỡi) là nhánh của động mạch cảnhngoài Máu từ lưỡi trực tiếp theo tĩnh mạch lưng lưỡi và tĩnh mạch lưỡi sâu hoặcgián tiếp (qua tĩnh mạch giáp lưỡi mặt)đổ vào tĩnh mạch cảnh trong [28]

1.1.4 Thụ cảm thể vị giác và nước bọt

Thụ cảm thể vị giác có hình dáng như củ hành trong đó có tế bào nhận cảmđặc hiệu (2- 6 tế bào) và những tế bào đế Các nụ vị giác này phân bố ở các nhúlưỡi thuộc đầu lưỡi, viền lưỡi và cuống lưỡi phần giữa và dưới của mặt lưỡi không

có thụ cảm thể [30], [29], [47]

Trang 5

Có bốn loại vị giác cơ bản: đắng, ngọt, chua, mặn Mỗi loại chất có vị kíchthích trên những nụ vị giác nhất định Lưỡi mỗi người có tới 2 vạn nụ vị

giác, chúng tập trung thành từng vùng, mỗi vùng đặc trách về một vị chủyếu: đầu lưỡi nhạy cảm với vị ngọt, hai rỡa lưỡi nhạy cảm với vị mặn, hai rỡa phíadưới của thân lưỡi nhạy cảm với vị chua, gốc lưỡi nhạy cảm với vị đắng Sự hỗnhợp của các vị chua, đắng, ngọt, mặn tạo ra vô vàn sự cảm nhận các vị khác nhau[30], [47]

Nước bọt được tiết chế ra từ ba đôi tuyến lớn: tuyến cạnh tai, tuyến dướilưỡi, tuyến dưới hàm và các tuyến nuớc bọt nhỏ nằm trong thành khoang miệng.Ởngười lớn, số lượng nước bọt tiết ra trong 24 giờ khoảng 1- 1, 5 lít Trong 1000gam nước bọt thành phần nước là 993 gam, các chất hữu cơ là 5 gam, các chất vô

cơ là 2 gam

Bình thường nước bọt có phản ứng kiềm nhẹ (pH = 7,4- 8) đo theo pH met.Nhưng nếu trong miệng có các quá trình men húa, niêm mạc lưỡi miệng có mọcnấm thì niêm mạc lưỡi miệng chuyển sang phản ứng axit húa Tỷ trọng nước bọtkhoảng 1,004 Sự tiết nước bọt nhằm đảm bảo cho quá trình tiêu húa như nhai,nuốt, thủy phân tinh bột Nước bọt còn có tính sát khuẩn nhẹ Hoạt động của cáctuyến nước bọt được điều tiết bởi cơ chế thần kinh và thần kinh thể dịch Nhữngphản xạ không điều kiện làm tăng tiết nước bọt cả về số lượng, chất lượng nhưngcòn các phản xạ ức chế bài tiết nước bọt bằng cơ chế phản xạ có điều kiện Ví dụ:kích thích dây thần kinh hông to, kích thích đau đều làm giảm hoặc đình chỉ bàitiết nước bọt [5], [30], [61]

1.1.5 Chất lưỡi

Chất lưỡi là toàn bộ khối cơ lưỡi và lớp niêm mạc bao phủ nú Bình thườngchất lưỡi mầu hồng tươi, do tình trạng mao mạch trong các nhú và dòng máu lưuthông tốt nên lưỡi mềm mại linh hoạt, lưỡi thè ra thụt vào dễ dàng không lệchvẹo,không liệt [61], [67]

Trang 6

Khi thiếu máu, có phù là do albumin huyết tương giảm, số lượng hồng cầugiảm, hemoglobin máu giảm,mầu lưỡi sẽ trắng nhợt khi có tăng sinh các

huyết quản, có xung huyết màu lưỡi thường sẫm Nếu có ứ trệ lưu thônghuyết màu lưỡi thường xanh tím Sự biến đổi hình thể của lưỡi liên quan đến bệnh

lý toàn thân và bệnh lý nội tiết các trạng thái di dạng bẩm sinh về lưỡi

Độ ẩm của lưỡi phụ thuộc vào lượng và thành phần của nước bọt, liên quanđến hoạt động thần kinh thực vật, thức ăn, thức uống và nhất là trạng thái bệnh lýtoàn thân: lưỡi khô khi cơ thể bị thiếu nước nặng, ỉa chảy, mất nước hoặc sốt cao,nhất là trong các trạng thái nhiễm trùng nhiễm độc, nhiễm độc thuốc, rối loạn thầnkinh thực vật Các rối loạn vận động lưỡi liên quan đến bệnh cơ, thần kinh, taibiến mạch máu não đã có rất nhiều các tài liệu nói về bệnh lý tại lưỡi và niêmmạc miệng cũng như các biến đổi của lưỡi trong các bệnh lý nội tiết, bệnh truyềnnhiễm, tình trạng thiếu vitamin, các trạng thái nhiễm độc, nhiễm khuẩn nặng nhất

là trong y văn của y học phương Tây, coi lưỡi như cái gương phản ánh trạng tháicủa dạ dày và tình trạng đường tiêu hoá Từ năm 1964-1980 trong nhiều trung tâmnghiên cứu vi tuần hoàn ở Đức, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, các tác giảW.Gotze(1964), B.W.Zweifach, A.Larcan (1970)và R.J.Xiu(1980) đã đề cập đếntương quan vi tuần hoàn động với diễn biến bệnh lý trong đó có vấn đề “Vi tuầnhoàn đầu lưỡi với bệnh lý viêm gan virut mạn tớnh” Nhưng chúng tôi chưa thấy

có tài liệu y học hiện đại (YHHĐ) nào mô tả lưỡi ở bệnh nhân đột quỵ não [61],[64]

1.1.6 Rêu lưỡi

Rêu lưỡi là phần phủ trên niêm mạc mặt trên lưỡi, được tạo thành do sự kếthợp của những gai nhú lưỡi đã bị sừng húa với những mảnh bong của lớp tế bàobiểu mô niêm mạc lưỡi cùng với các tế bào thẩm thấu của nước bọt, các vi sinh vậtsống ở trong miệng và với một số thành phần của thức ăn khi

Trang 7

nhai ở miệng Bình thường niêm mạc lưỡi sạch không có rêu, sáng bóng màướt hoặc có một lớp rêu trắng rất mỏng, đều.

Rêu lưỡi dày và biến đổi màu sắc là do hiện tượng tăng sinh và sừng húa củalớp biểu mô niêm mạc, màu sắc rêu lưỡi cũng có liên quan đến hàm lượng bilirubin

và các yếu tố khác[47], [64]

Bong rụng: rêu lưỡi bong rụng thành mảng, có ranh giới rõ ràng, hình dángnhư bản đồ do sự thoái húa các nhú Lưỡi mất rêu bong rụng, nhẵn trơn hoặc sángbóng như mặt gương là do thiểu dưỡng, thiếu máu, albumin của huyết tương giảmthấp, thiếu hụt các sinh tố, các chất điện giải Na, Ca làm các tế bào niêm mạclưỡi chết, rụng hoặc co vỡ với các mức độ khác nhau trên bề mặt lưỡi [64] [65].1.1.7 Hình thể lưỡi

Hình thể của lưỡi có liên quan đến tạp khuẩn, một số quá trình bệnh lý tạilưỡi miệng, các trạng thái dị dạng bẩm sinh về lưỡi hoặc do các bệnh lý toàn thân

và bệnh lý nội tiết

- Lưỡi mập bệu nhẽo thường do phù nề tổ chức khi albumin trong huyếttương giảm thấp, do giảm trương lực các nhóm cơ ở lưỡi nên diện tiếp xúc của bờrỡa lưỡi và đầu lưỡi với mặt trong các răng có các vết dấu hằn của răng Lưỡi tomập bệu chắc nhưng cử động lưỡi khó gặp trong bệnh to mặt và các chi, lưỡimiệng hầu đầy

- Nổi gai: là những điểm nốt nhỏ chấm đỏ, phân bố ở đầu rỡa lưỡi hoặc giữalưỡi do các loại nhú tăng sinh Bình thường trẻ con có 4 loại gai lưỡi hay nhúlưỡiđến khi trưởng thành còn 3 loại: dạng nấm, dạng chỉ và dạng đài Tỳ theo bệnh

lý khác nhau mà 3 loại gai lưỡi tăng sinh phì đại hay teo nhỏ biểu hiện trạng thái vituần hoàn động của tĩnh mạch và mao động mạch: co thắt ứ trệ hay thoát quảnhoặc phù nề xuất huyết.[47], [60]

1.1.8 Độ ẩm lưỡi

Trang 8

Độ ẩm của lưỡi phụ thuộc vào số lượng và thành phần của nước bọt, liênquan đến hoạt động thần kinh thực vật, thức ăn uống và nhất là trạng thái bệnh lýtoàn thân Bình thường, lưỡi hơi ướt, độ pH nước bọt và niêm dịch lưỡi thường7,4- 8 Lưỡi khô khi trạng thái cơ thể bị thiếu nước nặng (sốt cao, nôn nhiều, mấtnước do ỉa chảy, do ra quá nhiều mồ hôi), lượng nước bọt bị giảm do sự tiết cáctuyến nước bọt kém, nhất là trong các trạng thái nhiễm trùng, nhiễm độc thuốc, bị

ức chế thần kinh [5], [47]

Trang 9

Hình 1.1 Cấu tạo của lưỡi [61]

1.2 LƯỠI VÀ “THIỆT CHẨN” THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN

1.2.1 Lưỡi theo quan điểm của y học cổ truyền

Lưỡi âm Hán là “thiệt” theo《Linh khu- Kinh mạch》viết:" Lưỡi có nguồn gốc

là cơ nhục" Lưỡi nằm trong khoang miệng, nằm ở thượng tiêu, lưỡi có chức năngphân biệt vị giác, điều tiết âm thanh, đưa đẩy thức ăn.[67]

Lưỡi liên quan mật thiết với tạng phủ thông qua hệ thống kinh lạc

* Liên quan với kinh lạc

Từ rất sớm cổ nhân đã đề cập đến có mối quan hệ giữa lưỡi và kinhlạc.Trong《Nội kinh》- một cuốn sách kinh điển - sớm nhất đã có trình bày rất nhiều

về vần đề này.《Linh khu - Kinh mạch》viết:" Kinh túc thái dương có nhánh rẽ vàocuống lưỡi";" Kinh thủ thiếu dương có nhánh vào cuống lưỡi"; "Biệt lạc kinh túc

Trang 10

thái âm liên hệ với cuống lưỡi phân tán ra dưới lưỡi"; " biệt lạc của kinh thủ thiếu

âm liên hệ đến cuống lưỡi"; " Thân của kinh túc thiếu âm, lên đến thận, tương ứngvới đốt sống 14 đi ra mạch đới; mạch đi thẳng liên hệ với cuống lưỡi", lại viết: "Nhánh của túc thiếu âm đi lên liên hệ với lưỡi; túc thiếu âm thiệt hạ - tức đi dướilưỡi; túc thiếu âm liên hệ với gốc lưỡi; túc thiếu âm chi tiêu tại bối du, hữu thiệt hạlưỡng mạch- tức có hai đường mạch dưới lưỡi và tiếp xúc ở đầulưỡi", " Quyết âm

là đường mạch của can, can hợp với cân, cân tụ hội ở âm khí mà đường mạch nối ởcuống lưỡi" Dựa trên nền tảng của《Nội kinh》các tác giả đời sau kế thừa và bổxung thêm về mối quan hệ của lưỡi với kinh lạc tạng phủ Lý Thời Trân viết:"Dưới lưỡi có bốn khiếu, hai khiếu thông với tâm khí, hai khiếu thông với tân dịchcủa thận", Lý Đông Viên viết: "Lưỡi thuộc tâm, lại có thể nhận biết ngũ vị, là tronglưỡi có tỳ", Tôn Cảnh Tư viết:" Lưỡi do tâm khí làm chủ, tỳ khí thông lên lưỡi, haitạng bất hũa, trúng phong tà, thì lưỡi cứng không thể nói; nhiệt công lên lưỡi thìlưỡi sưng không thể chuyển động, lập tức có các chứng: lưỡi nặng, lưỡi sưng, lưỡi

tê, lưỡi chảy máu " [57], [60], [61], [62], [65].Tóm lại 12 kinh mạch đều có liênquan mật thiết với lưỡi

* Lưỡi liên quan với tạng phủ

Lưỡi là mầm của tâm, trong ngũ hành lưỡi thuộc hành hỏa Trong tácphẩm《Linh khu - Mạch độ thiên》viết: " Tâm khí thông vớilưỡi, tâm hũa thì có thểnhận biết ngũ vị " Biệt lạc của kinh thủ thiếu âm tâm liên hệ với gốc lưỡi Vì tâmchủ huyết mạch mà mạch lạc của lưỡi rất phong phú, tâm huyết vinh lên ở lưỡi nêntình hình vận hành khí huyết của cơ thể có thể được phản ánh ở màu sắc của chấtlưỡi; Tâm chủ thần minh, vận động của lưỡi cũng nhận sự chi phối bởichức năngchủ thần minh của tâm, do đó vận động của lưỡi có linh hoạt tự do hay không, lờinói rõ ràng hay không, điều này có quan hệ mật thiết với hoạt động tinh thần Nênmối quan hệ giữa lưỡi với tâm, thần rất là mật thiết, có thể phản ánh bệnh biến củatâm và thần [41], [65], [67]

Trang 11

Lưỡi là biểu hiện bên ngoài của tỳ Kinh túc thái âm tỳ liên hệ với gốc lưỡi,tán ở dưới lưỡi, lưỡi nằm trong khoang miệng nên nhận biết được vị giác, 《Linhkhu - Mạch độ thiên》viết:"Tỳ khí thông với miệng, tỳ hũa thì miệng có thể nhậnbiết ngũ cốc" Y học cổ truyền cho rằng: Rêu lưỡi được hình thành là do vị khíchưng phát cốc khí thừa lên mặt lưỡi, tương ứng với chức năng vận húa của tỳ vịnhư Chương Hư Cốc nói:" Tỳ vị nằm ở trung tiêu, tà vào vị thì sinh rêu, như cỏmọc trên mặt đất" Lưỡi nhận được sự nuôi dưỡng đầy đủ từ khí huyết, nên lưỡi cóthể phản ánh thịnh suy của khí huyết, thông qua đó liên quan trực tiếp đến côngnăng tỳ chủ vận húa-húa sinh khí huyết [61], [62].

Ngoài ra, các tạng phủ khác như Can tàng huyết, chủ cân; Thận tàng tinh thông qua đường kinh liên hệ với lưỡi vì vậy các tạng phủ một khi phát sinh bệnhbiến, ở lưỡi cũng có thể phát sinh biến đổi tương ứng Do đó quan sát biến đổi ởlưỡi cũng có thể dự đoán được bệnh biến của tạng phủ

Trang 12

Hình 1.2 Các đường kinh lạc liên quan với lưỡi [61]

Hình 1.3 Liên quan giữa lưỡi với kinh lạc và tạng phủ[61]

Trang 13

- Lưỡi cứng: là đầu lưỡi cứng đờ, tiếng nói khó, vướng rít không rõ là donhiệt nhập tâm bào, nhiệt thịnh hao âm hoặc do đờm trở tắc đường lạc mạch củalưỡi, cũng có thể do khí huyết hư Bệnh ngoại cảm cũng như tạp bệnh đều có thểphát sinh lưỡi này.

- Lưỡi lệch: lưỡi không đúng vị trí, thè rụt lưỡi không đưa ra trở lại theođúng với đường giữa hoặc đầu và thân lưỡi lệch về một bên khi thè ra ngoàithường gặp ở bệnh nhân trúng phong

- Lưỡi run: Là đầu lưỡi cứ run không yên, nếu lưỡi run nhẹ là do khí hưhuyết ít, can phong động ở trong hoặc do tâm tỳ hư, nếu lưỡi run mạnh bần bật màsắc đỏ hồng là can nhiệt phong động

- Lưỡi rụt: Có hiện tượng teo các nhóm cơ lưỡi, lưỡi co rụt vào được màkhông thè dài ra được, nếu lưỡi ướt nhuận là hàn ngưng ở cân mạch, nếu lưỡi tobệu nhớt dính là đờm thấp trở tắc, nếu lưỡi đỏ là nhiệt bệnh hại tâm Lưỡi rụtkhông nói được là bệnh nguy kịch[26], [61], [60], [65]

* Tĩnh mạch dưới lưỡi

Bề mặt dưới của lưỡi có thể quan sát thấy tĩnh mạch lưỡi sâu là nhánh đổ vềtĩnh mạch lưỡi khi quan sát mạng lưới tĩnh mạch dưới lưỡi có thể biết được màusắc và hình thái của mạch máu để chẩn đoán bệnh Bình thường tĩnh mạch dướilưỡi có đường kính khoảng 2, 7 mm, màu hồng nhạt [22], [66]

- Nếu tĩnh mạch dưới lưỡi màu tím nhạt, nở ra cong queo hoặc nổi lên nhữnghòn cục nhỏ là hàn ngưng đọng ở huyết mạch hoặc dương khí không vận hànhtrong chứng trúng phong bán thân bất toại, thủy thũng, kinh bế

Ngày đăng: 10/01/2015, 06:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Phân bố theo yếu tố thuận lợi gây bệnh - nghiên cứu thiệt chẩn trên bệnh nhân đột qụy nhồi máu não sau giai đoạn cấp
Bảng 3.2 Phân bố theo yếu tố thuận lợi gây bệnh (Trang 17)
Bảng 3. 16: Mầu sắc chất lưỡi với HC và HST của máu - nghiên cứu thiệt chẩn trên bệnh nhân đột qụy nhồi máu não sau giai đoạn cấp
Bảng 3. 16: Mầu sắc chất lưỡi với HC và HST của máu (Trang 18)
Bảng 3. 21: Các chỉ số sinh học ở lưỡi của các thể bệnh theo YHCT - nghiên cứu thiệt chẩn trên bệnh nhân đột qụy nhồi máu não sau giai đoạn cấp
Bảng 3. 21: Các chỉ số sinh học ở lưỡi của các thể bệnh theo YHCT (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w