1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài tỷ suất lợi nhuận và rủi ro các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

25 685 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 410,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chung quy lại các nghiên cứu này tập trung theo hướng: thứ nhất là tìm ra các yếu tố đặc trưng mà các yếu tố này mang tính “bất thường” có tác động đến suất sinh lời và rủi ro các cổ phi

Trang 1

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việc đánh giá rủi ro và suất sinh lời của thị trường chứng khoán nói chung và thị trường các cổ phiếu niêm yết nói riêng, là công việc khó khăn Trong thập niên 60 của thế kỷ 20, Sharpe (1964) và Lintner (1965)

đã định lượng mối tương quan đơn giữa suất sinh lời và rủi ro của các cổ phiếu gọi là mô hình định giá tài sản vốn CAPM (Capital Asset Pricing Model), mô hình xét đoán lợi nhuận của một chứng khoán dựa vào rủi ro của chứng khoán đó theo danh mục thị trường Mô hình này ngày nay đang

có nhiều tranh cải vì những hạn chế của nó như: toàn bộ rủi ro đều được đưa vào trong chỉ số bê-ta, thị trường phải hoàn hảo, việc chọn rổ đại diện phải đại diện cho toàn thị trường, tồn tại lãi suất phi rủi ro, nhưng trong thực tế khó tồn tại một lãi suất hoàn toàn không có rủi ro, Chính những hạn chế như vậy nên sau này có hàng loạt các nghiên cứu khác nhau một phần chỉ trích, một phần bổ sung Một số nghiên cứu điển hình tiếp sau mô hình CAPM của Sharpe và Lintner như: Nghiên cứu của Basu (1977), Banz (1981), Bhandari (1988), Rosenberg, Reid và Lansten (1985) Gần đây là nghiên cứu của Fama và French (1992) tìm thấy các yếu tố quy mô, thu nhập cổ phiếu so với giá (E/P), BE/ME, giải thích suất sinh lời tốt hơn bê-

ta thị trường Nghiên cứu của Carhart (1997) đưa ra mô hình 4 nhân tố (FF4), ngoài ba nhân tố theo FF3 còn có nhân tố quán tính (momentum) và nhiều nghiên cứu khác đã chứng tỏ được những ưu việt của chúng Chung quy lại các nghiên cứu này tập trung theo hướng: thứ nhất là tìm ra các yếu

tố đặc trưng mà các yếu tố này mang tính “bất thường” có tác động đến suất sinh lời và rủi ro các cổ phiếu niêm yết (ngoài yếu tố rủi ro thị trường

Trang 2

là bêta theo CAPM), thứ hai là phân chia thành các danh mục khi xử lý số liệu để tránh sai sót về độ lệch (bias) như mô hình CAPM

Việc xác định quan hệ giữa các yếu tố rủi ro và suất sinh lời của chứng khoán được thực hiện ở nhiều nước Hiện nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu thực chứng áp dụng các lý thuyết hiện đại vào nghiên cứu tại TTCK nước ta Tuy nhiên các nghiên cứu này còn nhiều hạn chế như: (1) Nguồn số liệu thu thập khá ít, thường chỉ lấy số liệu ở sàn GDCK TPHCM, một số nghiên cứu chỉ lấy số liệu của một ngành cụ thể, do vậy các nghiên cứu này chưa mang tính bao quát; (2) Các nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở việc kiểm chứng tính phù hợp các mô hình thông qua R2

hiệu chỉnh, mà kiểm định như vậy chưa hợp lý trong mô hình định giá trong khi các phương pháp hợp lý như FM, GRS hay GMM chưa được áp dụng; (3) Các nghiên cứu chưa đưa ra một mô hình định giá phù hợp áp dụng cho TTCK Việt Nam để áp dụng trong định giá cổ phiếu hay tính chi phí vốn chủ sở hữu Các nghiên cứu hiện đại, nổi tiếng của các tác giả như Fama-French hay Carhart tập trung vào bổ sung cho CAPM, các nghiên cứu khác tập trung vào tính hợp lý các mô hình Tất cả xuất phát từ mô hình CAPM cho rằng cổ phiếu chỉ bị ảnh hưởng duy nhất bởi 1 yếu tố rủi ro, đó là rủi ro thị trường, và do vậy suất sinh lời của chứng khoán dao động theo suất sinh lời của thị trường được đo lường bằng hiệp phương sai của cổ phiếu i so với thị trường Cov(Ri,Rw) chính vì chúng biến động theo thị trường nên kỳ vọng sai số trong mô hình hồi quy bằng 0 (E(ei)=0) Các nghiên cứu hiện đại chứng minh rằng suất sinh lời một nhóm cổ phiếu có thể dao động giống nhau nhưng khác với thị trường và do đó khi kiểm chứng bằng mô hình kinh tế lượng thì hệ số anpha ≠ 0, do vậy CAPM không đúng Về nguyên tắc, người nghiên cứu có thể bổ sung thêm bất kỳ yếu tố rủi ro nào với điều kiện xem xét biến động của suất sinh lời sao cho anpha=0 Vậy thì

Trang 3

tại TTCK Việt Nam ngoài yếu tố rủi ro thị trường còn yếu tố rủi ro nào khác? Và liệu các mô hình định giá ở các thị trường phát triển vẫn hợp lý?

Vì những lý do như trên, để trả lời các câu hỏi nêu trên, nên tác giả

chọn đề tài: “Tỷ suất lợi nhuận và rủi ro các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để thực hiện nghiên cứu luận án tiến sỹ

chuyên ngành kinh tế tài chính ngân hàng Luận án này cũng góp phần ủng

hộ hay bác bỏ các nghiên cứu ở các nước, kết quả sẽ tìm ra những vấn đề mới trong định giá tài sản mà giới khoa học hiện nay đang tranh cải

1.2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

1.2.1 Các nghiên cứu quốc tế

Mô hình CAPM do Sharpe (1964) và Lintner (1965) trở nên nổi tiếng, phổ biến trong giới tài chính, và nó được sử dụng trong định giá tài sản một thời gian dài Tuy nhiên bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỷ XX bắt đầu có những nghiên cứu tranh luận xung quanh mô hình CAPM cho thấy CAPM không còn đứng vững Nghiên cứu của Banz (1981) cho thấy quy

mô và rủi ro của quy mô có ảnh hưởng đến suất sinh lời cổ phiếu Nghiên cứu của Basu (1983) cho thấy các cổ phiếu có quy mô nhỏ có suất sinh lời trung bình cao hơn các cổ phiếu có quy mô lớn, đồng thời các cổ phiếu có chỉ số E/P cao có suất sinh lời cao hơn nhóm cổ phiếu có chỉ số E/P thấp Amihud và Mendelson (1986) đánh giá ảnh hưởng của thanh khoản và rủi

ro thanh khoản đến suất sinh lời cổ phiếu Các n ghiên cứu của Fama và French cho thấy ngoài biến thị trường thì quy mô và BE/ME có tương quan khá chặt chẽ đến suất sinh lời, kể cả trường hợp kết hợp với các biến khác Carhart (1997) đã bổ sung vào mô hình FF3 biến quán tính và được xem là

mô hình bốn nhân tố khá nổi tiếng bởi kết quả trong mô hình 4 nhân tố giải thích tốt hơn mô hình 3 nhân tố của Fama và French (1993) Daniel và

Trang 4

Titman (1997) cho thấy sự biến động suất sinh lời là do những đặc trưng của các công ty Hay như Datar, Naik và Radcliffe (1998) cho thấy giữa suất sinh lời và thanh khoản có mối tương quan âm, và kết quả nghiên cứu

đề xuất đưa biến thanh khoản vào trong mô hình định giá tài sản Paster and Stambaugh (2003) là nghiên cứu khá nổi tiếng về rủi ro thanh khoản

đến suất sinh lời cổ phiếu Weimin Liu (2006) đã nghiên cứu về thanh khoản trong mô hình định giá tài sản Lam, K và Tam Lewis (2011) xem

xét sự hợp lý trong các mô hình định giá tài sản tại TTCK Hong Kong giai đoạn 1981-2004, mô hình ba nhân tố của Fama và French kết hợp với thanh khoản là mô hình tốt giải thích suất sinh lời cổ phiếu niêm yết, trong khi mô hình bốn nhân tố của Carhart (1997) thất bại Fama và French (2012) xem xét tính phù hợp của mô hình 4 nhân tố của Carhart (1997) ở các thị trường chứng khoán gồm: Bắc Mỹ (gồm Mỹ cà Canada), Nhật, châu Á Thái Bình Dương (gồm Úc, Newzealand, HongKong và Singapore), Châu Âu (gồm Ý, Bỉ, Đức, Phần Lan, Pháp, Đan Mạch, Hy Lạp, Ireland, Áo, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh quốc) Kết quả cho thấy mô hình 4 nhân tố của Carhart (1997) không được ủng hộ từ các kết quả kiểm chứng

1.2.2 Các nghiên cứu trong nước

Hiện tại cũng có khá nhiều các nghiên cứu áp dụng kiểm chứng các mô hình định giá như CAPM hay FF3, FF4 Nghiên cứu của Vương Đức Hoàng Quân và Hồ Thị Huệ (2008) cho thấy có mối quan hệ nghịch giữa biến quy mô và giá trị với tỷ suất sinh lời kỳ vọng tức là nhóm công ty

có quy mô nhỏ thì có tỷ suất sinh lợi trung bình cao hơn nhóm công ty có quy mô lớn và các công ty có tỷ số BE/ME thấp lại cho giá trị suất sinh lợi cao hơn nhóm công ty có tỷ số BE/ME cao Hay Nguyễn Đăng Thanh (2011), áp dụng mô hình ba nhân tố đo lường ảnh hưởng đến tỷ suất sinh

Trang 5

lợi cổ phiếu doanh nghiệp ngành xây dựng Kết quả cho thấy mô hình FF3 không hoàn toàn đúng khi áp dụng với ngành xây dựng, nhân tố thị trường trong CAPM là vẫn là nhân tố chính tác động tới suất sinh lời của cổ phiếu ngành này Nguyễn Thị Huỳnh Như (2012), kiểm định mô hình FF3 kết

hợp với biến VaR trên thị trường chứng khoán Việt Nam của 78 cổ phiếu

niêm yết trên HSX giai đoạn từ tháng 7/2007 đến tháng 12/2011 Kết quả cho thấy mô hình FF3 kết hợp giải thích tốt hơn FF3 Nghiên cứu của Trịnh Ngọc Huy (2012) đánh giá rủi ro dựa vào CAPM trong đó có chi tiết

hóa trong cách tính rủi ro hệ thống Nhóm tác giả Nguyễn Thị Cành và Lê

Văn Huy (2013), xem xét áp dụng mô hình 4 nhân tố của Carhart kết hợp với viến VaR và biến thanh khoản đo lường các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết ngành ngân hàng Kết quả cho thấy

mô hình 6 nhân tố giải thích tốt hơn mô hình 4 nhân tố của Carhart

Từ thống kê các nghiên cứu tiêu biểu nêu trên, tác giả rút ra một

số nhận xét quan trọng như sau:

Các chứng minh ngoài bê-ta còn có các yếu tố khác tác động đến suất sinh lời của chứng Về nguyên tắc, người nghiên cứu có thể bổ sung thêm bất kỳ yếu tố rủi ro nào với điều kiện xem xét biến dộng của suất sinh

lời sao cho anpha=0 Các nghiên cứu kể trên tập trung theo hướng: thứ

nhất là tìm ra các yếu tố đặc trưng của công ty, các yếu tố bất thường ngoài

yếu tố rủi ro thị trường như: quy mô, chỉ số B/M, tính thanh khoản,… thứ

hai là dùng phương pháp dữ liệu chéo (cross-section) khi xử lý số liệu,

điều này nhằm hạn chế của số liệu đơn theo CAPM và thứ ba là trong phân

tích và xử lý số liệu dùng danh mục chứ không đánh giá riêng lẻ từng cổ phiếu, mục đích là để tránh độ lệch (bias) như mô hình CAPM khi xử lý số liệu riêng biệt cho từng cổ phiếu Các nghiên cứu trong nước thì còn một

Trang 6

vài hạn chế như về mẫu nghiên cứu, về phương pháp nghiên cứu hay tính ứng dụng đã được tác giả trình bày bên trên

1.3 MỤC TIÊU, CÂU HỎI, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Các mục tiêu nghiên cứu

Luận án tập trung giải quyết các mục tiêu sau:

(1) Đánh giá tác động của yếu tố quy mô và rủi ro về quy mô đến suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết

(2) Đánh giá tác động của yếu tố giá trị (chỉ số BE/ME ) và rủi ro của

nó đến suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết

(3) Đánh giá tác động của yếu tố thanh khoản và rủi ro thanh khoản đến suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết

(4) Cuối cùng là góp phần cũng cố lý thuyết và nghiên cứu thực chứng

về định giá tài sản trong nước cũng như quốc tế, đồng thời tìm ra mô hình định giá phù hợp, giúp các tổ chức và cá nhân đầu tư, các công ty định giá tính toán chi phí vốn phù hợp, giúp các nhà đầu tư có thể đưa ra chiến lược đầu tư nhằm tối đa hóa lợi ích tài sản cho mình

1.3.2 Các câu hỏi nghiên cứu

Để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu đã đề cập ở trên tác giả đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:

(1) Theo các nghiên cứu nước ngoài tại nhiều thị trường phát triển cũng như mới nổi thì yếu tố rủi ro thị trường (bê-ta) theo CAPM là chưa phù hợp, thậm chí bê-ta không có mối tương quan đến suất sinh lời mà biến

quy mô (rủi ro về quy mô) giải thích khá hợp lý đến suất sinh lời cổ phiếu

Vậy tại TTCK nước ta thì yếu tố rủi ro về quy mô có giải thích được quan

Trang 7

hệ đến suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết hay không? Và mối quan hệ đó

có sự khác biệt gì so với TTCK các quốc gia khác?

(2) Nhiều nghiên cứu nước ngoài tại nhiều thị trường phát triển cũng như mới nổi chỉ ra ngoài biến quy mô (rủi ro về quy mô) giải thích khá hợp lý đến suất sinh lời cổ phiếu còn có biến rủi ro giá trị sổ sách so giá trị thị

trường ( Book to market Equity ratio- viết tắt là B/P hoặc BE/ME) cũng có

mối quan hệ giải thích khá hợp lý đến suất sinh lời cổ phiếu Vậy tại TTCK nước ta thì yếu tố rủi ro này có giải thích được quan hệ đến suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết hay không? Và mối quan hệ đó như thế nào? Có sự khác biệt gì so với TTCK các quốc gia khác?

(3) Các nghiên cứu nước ngoài tại nhiều thị trường phát triển cũng như mới

nổi thì cũng chỉ ra rằng ngoài biến quy mô, BE/ME, thì yếu thanh khoản

(Liquidity) cũng giải thích tốt đến suất sinh lời cổ phiếu Vậy tại TTCK

nước ta thì yếu tố thanh khoản có giải thích được mối quan hệ với suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết hay không? Và mối quan hệ đó như thế nào? Có

sự khác biệt gì so với TTCK các quốc gia khác?

(4) Mô hình định giá phù hợp cho TTCK Việt Nam là thế nào? Áp dụng nó

ra sao để tối đa hóa lợi nhuận giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư?

1.3.3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự biến động giá và tỷ suất lợi nhuận các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam Luận án tập trung phân tích ảnh hưởng các nhân tố thị trường và các nhân tố khác mang tính “bất thường” thuộc về đặc trưng của các công ty niêm yết tác động đến tỷ suất sinh lời và rủi ro như quy mô, chỉ số giá trị sổ sách so với giá trị thị trường

và thanh khoản

1.3.4 Phạm vi nghiên cứu

Trang 8

Trong khuôn khổ của luận án sẽ vận dụng các mô hình để phân tích tác động của các nhân tố đến tỷ suất lợi nhuận và rủi ro các cổ phiếu đã niêm yết tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP.HCM và Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội, các mẫu được lựa chọn trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2011 Để đảm bảo nguồn số liệu đáng tin cậy, tác giả chọn lọc những công ty niêm yết liên tục ít nhất hai năm, trước năm xem xét Ví dụ chọn mẫu năm 2011 thì các công ty phải niêm yết liên tục từ năm 2009 và 2010

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu và trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

Một là sử dụng phương pháp định tính: trong phương pháp này, tác

giả dùng phương pháp phân tích, tổng hợp lịch sử nhằm xem xét xu thế tác động của các yếu tố đến suất sinh lời và rủi ro cổ phiếu

Hai là sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: nhằm đo lường

suất sinh lời dưới ảnh hưởng các nhân tố rủi ro, tìm ra các phần bù rủi ro và

mô hình định giá phù hợp

1.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

● Luận án sử dụng phần mềm Microsoft Excell XP để tính toán các chỉ số về suất sinh lời và rủi ro cho từng thời kỳ khác nhau, trong luận án này thời kỳ tính bằng tháng

● Để xác định các yếu tố ảnh hưởng suất sinh lời, ước lượng suất sinh lời theo mô hình đa biến, luận án sử dụng phần mềm Stata, sử dụng phương pháp GRS và GMM trong định lượng nhằm tìm mô hình định giá tối ưu

Xem xét mô hình hồi quy như sau:

Trang 9

Trong đó:

Ri – Rf là suất sinh lời vượt trội của cổ phiếu hay danh mục cổ phiếu

Fj là suất sinh lời vượt trội của yếu tố rủi ro thứ j

αi là hệ số chặn

βi là độ nhạy của yếu tố rủi ro

εi là phần dư (sai số ngẫu nhiên)

Nếu mô hình tối ưu nghĩa là hệ số chặn phải bằng 0 và phần dư cũng bằng 0 và không có tương quan với các biến trong mô hình Phương pháp GRS là phương pháp kiểm chứng hệ số chặn (anpha) có bằng 0 hay không trong phương trình (1.1) và phương pháp GMM là phương pháp tối ưu hóa

mô hình trong trường hợp anpha bằng 0

1.6 Ý NGHĨA VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

♦ Đánh giá tác động của các yếu tố đặc trưng bất thường ngoài yếu tố thị trường đến suất sinh lời cổ phiếu niêm yết

♦ Luận án đưa ra mô hình định giá phù hợp cho thị trường chứng khoán Việt Nam, qua đó giúp các công ty chứng khoán, các tổ chức định giá,…có

mô hình định giá hợp lý nhất trong tính toán suất sinh lời kỳ vọng, cũng như trong việc ước tính chi phí vốn chủ sở hữu phục vụ cho công tác định giá chứng khoán, định giá công ty hợp lý

♦ Trong khuôn khổ phân tích từ mô hình và tổng hợp nhận định, đề tài sẽ đưa ra những điểm bất cập trong chính sách quản lý, hạ tầng thông tin, tính bất ổn định của thị trường,…từ đó có các giải pháp thích hợp nhằm phát triển ổn định và bền vững thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và thị trường vốn nói chung

♦ Đóng góp mới của luận án

- Đối với trong nước: Nghiên cứu của tác giả sử dụng mẫu số liệu lớn, đánh giá trên danh mục, và dung các phương pháp hiện đại, do vậy

Trang 10

luận án không mang tính trùng lắp Đồng thời luận án cũng đưa ra mô hình định giá phù hợp cho thị trường chứng khoán Việt Nam, qua đó giúp các công ty chứng khoán, các tổ chức định giá,…có mô hình định giá hợp lý nhất trong tính toán suất sinh lời kỳ vọng, cũng như trong việc ước tính chi phí vốn chủ sở hữu phục vụ cho công tác định giá chứng khoán, định giá công ty

- Đối với các nghiên cứu nước ngoài: ngoài tiếp cận kế thừa các nghiên cứu đã thực hiện, tác giả sẽ nghiên cứu thực chứng, kết hợp kiểm định, đánh giá thực trạng tại TTCK nước ta để bổ sung vào các nhân tố mang tính đặc thù của TTCK nước ta, tìm ra những điểm giống và điểm khác biệt giữa nghiên cứu của tác giả với các nghiên cứu ở nước ngoài, góp phần cũng cố việc ủng hộ hay bác bỏ các nghiên cứu trước

1.7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Luận án được bố trí theo các chương, mục có quan hệ thống nhất, ngoài ra còn có các phần mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, danh mục đồ thị và chữ viết tắt Luận án được bố trí thành 5 chương, mỗi chương đều có phần giới thiệu và kết luận riêng

Chương 1: Chương mở đầu

Chương 2: Tổng quan lý thuyết về tỷ suất sinh lời và rủi ro cổ phiếu

Chương 3: Trình bày về nguồn dữ liệu, phương pháp nghiên cứu

và các mô hình nghiên cứu

Chương 4: Các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lời và rủi ro các cổ phiếu niêm yết tại TTCK Việt Nam

Chương 5: Các kết luận và kiến nghị

Trang 11

Kết luận chung: Tóm lược lại các vấn đề mà luận án đã đạt được

về mặt thực tiễn cũng như lý thuyết, những mặt hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu bổ sung hoàn thiện

Chương 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TỶ SUẤT LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO

CỔ PHIẾU

Chương này cung cấp lý thuyết nền tảng về giá tài sản, lý thuyết về

tỷ suất lợi nhuận và rủi ro khi đầu tư trên thị trường chứng khoán nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng Cuối cùng là tổng quan, hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu về

tỷ suất lợi nhuận và rủi ro cổ phiếu

2.1 LÝ THUYẾT VỀ GIÁ TÀI SẢN (ASSET PRICING)

Đối với bất kỳ nhà đầu tư nào đều dựa vào mô hình tiêu dùng cơ

bản như sau (consumption based model):

) ( '

) ( '

t t

t t

c u

c u E

Mục tiêu quan trọng nhất là làm sao tìm ra giá trị của dòng tiền không chắc chắn Để hiểu công thức trên hãy bắt đầu với trường hợp đơn giản, ví dụ nếu một người mua cổ phiếu ngày hôm nay, lợi ích trong thời gian tới là giá cổ phiếu cộng với cổ tức, nên ta có:

xt+1 = pt+1 + dt+1 (2.2) Trong đó:

pt: là giá tài sản tại thời điểm t

pt+1: là giá tài sản tại thời điểm t+1

Trang 12

dt+1: là cổ tức nhận được tại thời điểm t+1

ct: là mức tiêu dùng tại thời điểm t

ct+1: là mức tiêu dùng tại thời điểm t+1

xt+1: là dòng tiền nhận được tại thời điểm t+1

β: là yếu tố chiết khấu chủ quan

Đây là lý thuyết cơ bản và là nền tảng cho các mô hình định giá tài sản

2.2 MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN VỐN-CAPM

Mô hình CAPM có dạng: mt+1=a + bRw; Rw là suất sinh lời toàn bộ danh mục tài sản CAPM là mô hình đầu tiên, nổi tiếng nhất và là mô hình phổ biến nhất trong định giá tài sản, nó ràng buộc giữa yếu tố chiếc khấu m với suất sinh lời của toàn bộ danh mục tài sản Mô hình dạng tuyến tính:

W t

m1   1 (2.3)

Trong đó a, b là hai tham số tự do, chúng ta có thể tìm ra a và b bằng cách chiết khấu yếu tố m với hai tài sản bất kỳ, chẳng hạn như giữa suất sinh lời toàn bộ danh mục tài sản với suất sinh lời phi rủi ro

2.3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ TÀI SẢN SAU KHI CAPM RA ĐỜI

Từ thập niên 1970 đến nay có rất nhiều các nghiên cứu xoay quanh các mô hình định giá tài sản, cho đến ngày nay vẫn còn 2 hướng nghiên

cứu Hướng thứ nhất cho rằng rủi ro các tài sản là do những yếu tố bất

thường tạo ra ngoài yếu tố rủi ro thị trường bởi suất sinh lời của chúng có thể dao động giống nhau nhưng khác so với thị trường, trường phái này

Ngày đăng: 09/01/2015, 19:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w