ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
Trang 1CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS PHẠM VĂN VẬN
Họ và tên sinh viên : NGUYỄN THỊ XUÂN
HÀ NỘI, NĂM 2010
Trang 2Em tên là : NGUYỄN THỊ XUÂN
Lớp : Kinh tế phát triển 48A
Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Khoa : Kế hoạch và Phát triển
Khóa : 48
Hệ : Chính quy
Trong thời gian thực tập tại Trung tâm nghiên cứu dân số lao động và việc làm, Viện Khoa học – Lao Động và Xã Hội, dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Văn Vận và sự giúp đỡ của các anh chị trong trung tâm, em đã hoàn thành chuyên đề thực tốt nghiệp của mình với đề tài: “ Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 – 2015”
Em xin cam đoan bản chuyên đề này là công trình nghiên cứu của riêng em trong quá trình thực tập, không sao chép luận văn nào Nếu em vi pham em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2010.
SV thực hiện
Nguyễn Thị Xuân
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Sự bùng nổ dân số những năm 80 của thế kỷ trước dẫn đến những năm qua dânn
số đặc biệt là số người bước vào độ tuổi lao động của các nước đang phát triển tăng nhanh và Việt Nam cũng không nằm ngoài số đó Đến những năm gần đây thì quy
mô dân số ở nước ta cũng vẫn tăng lên (năm 2008 dân số là 86,16 triệu người; năm
2009 là 85,54 triệu người) Trong khi đó, số người ra khỏi tuổi lao động lại không nhiều dẫn đến sự gia tăng cao lực lượng lao động trong nền kinh tế Cùng đó, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bắt đầu ở Mỹ vào khoảng tháng 12 năm 2007 và lan rộng toàn thế giới tạo nên một nền kinh tế với nhiều bất ổn Một trong những vấn đề
đó chính là giải quyết việc làm vì quy mô nền kinh tế có thể bị thu hẹp lại Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với tỷ
lệ thất nghiệp cao nhất trong vài thập kỷ: tính đến tháng hai năm 2009 tỷ lệ thất nghiệp Mỹ đã tăng lên đến 8,1% mức cao nhất kể từ hai năm năm trở lại đây trong lịch sử phát triển của nước này Cùng với thời gian này, tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam là 6,53% Sau gần hai mươi năm thực hiện chủ trương đổi mới về quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước, nước ta cũng đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội Nhưng trong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay việc chủ động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch, đi trước đón đầu những vấn đề xã hội phát sinh giải quyết có hiệu quả các chính sách và công tác xã hội là rất cần thiết Thực hiện tốt các chính sách và công tác xã hội, góp phần giữ vững ổn định xã hội là nhân tố quan trọng thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế của từng tỉnh, từng địa phương Muốn thực hiện tốt trong cả nước thì Nhà nước ta trước hết phải phân cấp thực hiện tốt ở các địa phương, các tỉnh, các ngành sau đó đến tổng thể chung toàn nước
Thực hiện Nghị Quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị Quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI về phát triển kinh tế xã hội tỉnh đến năm
2015, phấn đấu đưa Thái Nguyên thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao một bước rõ rệt về đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo tiền đề cơ bản để Thái Nguyên trở thành tỉnh Công nghiệp trước năm 2020 Trong điều kiện kinh tế hiện nay của toàn tỉnh, việc giữ vững kế hoạch đề ra, thay đổi các biện pháp thực hiện cho phù hợp với xu thế kinh tế mà tỉnh cùng cả nước đang đối mặt Giải quyết việc làm cho người dân trong tỉnh là vấn đề mà các nhà lãnh đạo của chính quyền địa phương và người dân quan tâm hơn nữa trong điều kiện kinh tế hiện nay
Trang 6Em chọn đề tài: “ Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 – 2015”.
Đề tài bao gồm có ba phần:
Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết việc làm cho lao động
Phần II: Thực trạng về việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Phần III: Các giải pháp và định hướng giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Mục tiêu của đề tài
Tập trung vào đánh giá về biến động của việc làm trên địa bàn tỉnh, những tác động của phát triển kinh tế xã hội đến việc làm hay người lao động trong tỉnh Những tác động của số lượng và chất lượng của người lao động đến tìm việc làm cho người dân
Các giải pháp tỉnh đã thực hiện để nâng cao chất lượng lao động, tạo nhiều việc làm cho tỉnh: những kết quả và hạn chế
Các giải pháp định hướng trong thời gian tới tỉnh thực hiện để giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống của người dân thông qua chính sức lao động của người lao động là làm việc
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Địa bàn: Tỉnh Thái Nguyên
Thời gian đánh giá thực trạng phát triển: 2005 – 2009
Định hướng phát triển cho giai đoạn 2010 – 2015
Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trong thời gian thực tập ở Trung tâm nghiên cứu dân số lao động, việc làm của Viện Khoa học Lao động Xã hội – Bộ Lao Động Thương Binh và Xã hội, dưới sự giúp đỡ của các cô chú, các anh chị trong phòng và đồng thời dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Vũ Văn Vận, em đã hoàn thành chuyên đề thực tập với đề tài: “ Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
Trang 7CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1 TỔNG QUAN VỀ DÂN SỐ, LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM.
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1 1 Dân số
Trên nhiều phương diện khác nhau mối quan hệ giữa dân số và phát triển được biểu hiện rất rõ Nhưng mối quan hệ nổi bật nhất là mối quan hệ giữa dân số - lao động – việc làm Và khi đặt trong hoàn cảnh của các nước nghèo thì mối quan hệ này lại càng có ý nghĩa Đối với Việt nam một nước có thể nói điều kiện là chậm phát triển, có mức gia tăng dân số nhanh, quy mô dân số đông, nguồn lao động lớn thì việc tìm hiểu về dân số, lao động, việc làm là rất cần thiết - đây là bước đầu để hiểu rõ hơn về sự phát triển của đất nước
Sơ đồ1: Mối quan hệ giữa dân số - lao động – việc làm.
Ds làm
việc trong
nền ktqd
Ds trên tuổi lđ (trên 60 tuổi)
Ds không hoạt động kinh tế
Ds thất nghiệp
và đang tìm việc
Ds không
có nhu cầu làm việc
Ds làm việc gia đình
Ds là học sinh, sinh viên
Ds là người tàn tật, bệnh nặng
Lực lượng lao động Lực lượng lao động
dự trữ
Nguồn lao động
Trang 8Theo cách hiểu đơn giản nhất: Dân số là tập hợp những người sống trên lãnh thổ nào đó Trong đó, bao gồm các chỉ tiêu về quy mô dân số hay tổng số là bao nhiêu người, chỉ tiêu về tốc độ tăng dân số hay đó chính là sự gia tăng dân số về quy mô theo thời gian Và chỉ tiêu cuối cùng là cơ cấu dân số: cơ cấu theo giới tính, cơ cấu theo độ tuổi ( như mối quan hệ ở sơ đồ trên là chia theo cơ cấu theo độ tuổi) Dân số
là cơ sở để hình thành lực lượng lao động của xã hội Sự biến động của dân số là kết quả của quá trình nhân khẩu học và có tác động trực tiếp hoặc gián tiêp đến quy mô,
cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động Tổng dân số của một quốc gia theo cơ cấu độ tuổi chia thành dân số trong độ tuổi lao động
và dân số ngoài độ tuổi lao động
Dân số trong độ tuổi lao động là tât cả những người đang trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật của từng nước Ở các nước khác nhau tuổi lao động được quy định hoàn toàn khác nhau
Ở Việt nam, căn cứ vào điều 6 của Bộ Luật Lao động của nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam đã sửa đổi và bổ sung năm 2002 quy định độ tuổi lao động ở nước
ta là từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ và từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi đối với nam
Dân số ngoài độ tuổi lao động là những người có tuổi nằm ngoài (trên hoặc dưới) độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật Và dân số nằm trong nhóm tuổi này không phải là không tham gia hoạt động kinh tế Có rất nhiều hoàn cảnh, nhiều lý
do mà dân số trong nhóm tuổi này vẫn phải hoạt động kinh tế sớm hơn hoặc muộn hơn so với tuổi mà pháp luật quy định Ở Việt Nam, lực lượng dân số này còn chiếm một tỷ lệ tương đối nhiều trong lực lượng lao động của nền kinh tế quốc dân
Trong nhóm tuổi dân số trong độ tuổi lao động chia thành dân số hoạt động kinh
tế và dân số không hoạt động kinh tế
Dân số hoạt động kinh tế là tất cả những người (kể cả trong và ngoài độ tuổi lao động) đang tham gia hoặc đang tích cực tham gia vào một ngành hay lĩnh vực hoạt động nào đó trong nền kinh tế quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định Và nó bao gồm hai bộ phận:
- Những người có việc làm (đang làm việc)
- Những người không có việc làm (thất nghiệp), nhưng có nhu cầu làm việc và đang tích cực đi tìm việc làm trong khoảng thời gian xác định của cuộc tổng điều tra dân số
Trang 9Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm những người không tham gia lao động
vì có những lý do sau:
- Tàn tật, mất sức lao động (không có khả năng lao động)
- Học sinh, sinh viên đang đi học ở các trường PTTH, các lớp dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học
- Những người làm việc nhà, không tách rõ lợi ích, thù lao chỉ trong phạm vi
hộ gia đình ( thu nhập của họ không được tính vào GDP của đất nước)
- Những người được hưởng lợi tức hoặc một khoản thu nhập nào đó mà không phải làm việc như: đầu tư cho thuê nhà, tài sản, tiền nhuận bút
1.1.1.2 Nguồn lao động
Về nguyên tắc: Nguồn lao động là bộ phận dân số trong đó tuổi lao động và có khả năng lao động Bao gồm dân số đang làm việc trong nền kinh tế và dân số thất nghiệp, đang tìm việc Đây chính là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo
ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội để phát triển nền kinh tế
Trên thực tế: Nằm trong nguồn lao động ngoài dân số trong độ tuổi lao động còn có cả những dân số nằm ngoài độ tuổi lao động cũng tham hoạt động kinh tế Ở nước ta, dân số đã nằm ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia vào hoạt động kinh tế của nền kinh tế quốc dân cũng tương đối còn nhiều như: các trẻ em chưa đủ tuổi vị thành niên nhưng vẫn lao động do hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc do mồ côi cha mẹ phải tự nuôi sống bản thân, những người thâm niên trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế muốn cống hiến tiếp sức lực để làm giàu đất nước
Đó là những khái niệm cơ bản nhất về dân số và nguồn lao động, từ đó là cơ sở hiểu rõ hơn những người có việc làm (tạo ra thu nhập cho nền kinh tế quốc dân) và những người không có việc làm (không đóng góp vào GDP của nền kinh tế) thuộc vào thành phần nào của tổng dân số cả nước
1.1.1.3 Việc làm
• Khái niệm
Trong mối quan hệ dân số - lao động – việc làm thì việc làm là yếu tố cuối cùng quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Mục đích hướng tới của con người trong xã hội để tồn tại và phát triển là có việc làm Vậy hiểu việc làm như thế nào, con người trong mối quan hệ việc làm như thế nào luôn là dấu hỏi lớn ?
Trong thời kỳ nguyên thủy với nền sản xuất giản đơn thì việc làm của con người
là sự kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích lao động của mình Các hoạt động như săn bắn, hái lượm là hoạt động
Trang 10tạo ra của cải, là việc làm mà con người hoạt động để phục vụ đời sống của bộ tộc.Trong xã hội nước ta quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã
có những quan niệm về việc làm như sau: Việc làm là những công việc đòi hỏi người làm việc đó phải có một chuyên môn nhất định nào đó để tạo ra một thu nhập nhất định Và theo cách hiểu đó, người có việc là những người thuộc biên chế Nhà nước hoặc là những người làm việc trong hợp tác xã
Hiện nay, nước ta với nền kinh tế đã chuyển sang một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, với nhiều tư duy thay đổi thì quan niệm về việc làm cũng đã thay đổi một cách căn bản Theo Bộ Luật Lao động năm 1994 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khẳng định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
Theo quy định của pháp luật của mỗi nước đã quy định thì các hoạt động trong nền kinh tế được xác định là việc làm bao gồm các hoạt động sau:
- Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật
- Những công việc tự làm để thu lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc bằng hiện vật) cho công việc đó.Với một nền kinh tế nhiều thành phần và công việc được tạo ra trong nền kinh
tế nhiều thành phần đó rất phong phú, đa dạng thì cách hiểu về việc làm theo những quy định của pháp luật sẽ giới hạn, ngăn ngừa những việc làm có hại cho cộng đồng
và xã hội Nhưng cũng khác với thời kỳ nguyên thủy phải bó buộc trong một hai công việc của bộ tộc thì trong nền kinh tế hiện nay người lao động được phép tự do tìm kiếm cho mình một hoặc nhiều hơn một công việc cho phép, tự do kinh doanh, tự do tạo việc làm, tự do liên kết và tự do thuê mướn lao động theo quy định của pháp luật
mà Nhà nước đã quy định để tạo việc làm, tạo thu nhập đáp ứng những nhu cầu của bản thân và nhu cầu của xã hội
• Phân loại việc làm
Có rất nhiều căn cứ khác nhau để phân chia việc làm ra thành các loại để phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc, tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã phân chia việc làm thành các loại:
- Căn cứ vào khoảng thời gian có việc làm thường xuyên trong một năm thì việc làm có hai loại là việc làm ổn định và việc làm tạm thời Trong đó, người có việc làm
ổn định là những người làm việc trong khoảng thời gian là từ 6 tháng trở lên trong một năm và tiếp tục làm việc đó trong nhiều năm tiếp theo về sau Việc làm tạm thời
Trang 11là những người làm việc trong khoảng thời gian ít hơn 6 tháng trong một năm và làm công việc đó không liên tục.
- Căn cứ vào khối lượng thời gian, mức độ thu nhập trong việc thực hiện một công việc cụ thể nào đó chia thành việc làm chính và việc làm tạm thời Việc làm chính mang lại thu nhập chính thức cho người lao động và cũng trong khoảng thời gian dài, nhất định Việc làm tạm thời cũng mang lại khoản thu nhập cho người lao động nhưng khoản thu nhập đó không thường xuyên hoặc có thường xuyên nhưng không kéo dài trong năm
- Căn cứ vào số giờ thực hiện làm việc trong một tuần việc làm chia thành việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian
Như ở nước ta, làm việc trong khu vực Nhà nước, làm việc theo giờ hành chính
là làm đủ 8 tiếng trong một ngày từ 7h30’ đến 12h sáng, từ 1h30’ đến 5h Người lao động phải thực hiện đúng quy định đi làm đủ giờ, đúng giờ thì là làm việc đủ thời gian và làm việc không đủ số giờ trên là làm việc không đủ thời gian
1.1.2.Tổng quan về thị trường việc làm.
1.1.2.1 Cung việc làm.
Cung việc làm là mối quan hệ giữa lượng cung việc làm với giá cả của lao động, với giả thiết là các yếu tố khác không thay đổi
Trong nền kinh tế, cung việc làm được tạo ra nhiều hay ít phụ thuộc vào các đơn
vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước, tư nhân và của hộ gia đình (chính những người lao động) Khi việc làm tăng lên là các doanh nghiệp thuê mướn lao động nhiều hơn, việc thuê mướn nhiều hay ít lại phụ thuộc vào việc người tiêu dùng mua hàng hóa và dịch vụ nhiều hay ít của họ sản xuất ra Nhu cầu thuê mướn lao động cũng như cầu
về các đầu vào khác của quá trình sản xuất ( đất đai, nhà xưởng, máy móc, vốn, công nghệ ) là cầu phát sinh, xuất phát từ mong muốn của khách hàng Vì thế, người sử dụng lao động thuê nhiều hay ít phụ thuộc vào cầu sản phẩm, điều kiện hoàn cảnh của từng tổ chức, từng doanh nghiệp và của nền kinh tế dẫn đến cung việc làm nhiều hay ít biến động theo Ngoài ra, khi quyết định tạo ra thêm một hay nhiều việc làm,
cả hai bên người lao động và người sử dụng lao động cần chú trọng đến số lượng lao động, chất lượng lao động để xác định giá cả sức lao động và các quyết định về quan
hệ lao động như điều kiện làm việc, các chế độ khuyến khích, chính sách tiền lương, bảo hiểm Số lượng việc làm trong nền kinh tế có tăng lên hay không là phụ thuộc vào quyết định thuê lao động của các đơn vị sản xuất kinh doanh Giả sử trong một doanh nghiệp mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận và là một tác nhân không
Trang 12làm thay đổi đến các giá cả thị trường thì doanh nghiệp đó tối đa hóa lợi nhuận bằng cách là thuê “ đủ và đúng” số lượng vốn và lao động cần thiết Và mức độ thuê này khác nhau trong dài hạn và trong ngắn hạn Ngắn hạn là một khoảng thời gian mà doanh nghiệp không thể thay đổi quy mô nhà xưởng hoặc thay đổi thiết bị máy móc nên lượng vốn của đơn vị là cố định ở một mức K nào đó Cung việc làm ngắn hạn cho biết những thay đổi về số việc làm (hay số lao động cần thuê) của đơn vị sản xuất khi tiền công thay đổi và vốn được giữ nguyên Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể tối đa hóa lợi nhuận bằng cách thay đổi cả số lượng lao động thuê và lượng vốn đầu
tư vào nhà xưởng, thiết bị Vì ngoài việc thay đổi số lượng lao động, lượng vốn của doanh nghiệp còn thay đổi dẫn đến kết quả sản xuất khác nhau và từ đó cung việc làm cũng khác nhau
1.1.2.2 Cầu việc làm
Mỗi người lao động ở thời điểm khác nhau của cuộc đời đều phải tự quyết định
có làm việc hay không làm việc, nếu làm việc thì làm việc cho ai và với thời gian bao lâu? Đó chính là biểu hiện của cầu việc làm ở mỗi thời điểm nhất định
Cầu việc làm là mối quan hệ giữa lượng cầu việc làm với giá cả của lao động trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Nó được thể hiện ở số lượng, chất lượng con người hoặc ở thời gian của những người tham gia và mong muốn tham gia lao động trên thị trường lao động
Cầu việc làm là yếu tố xuất phát từ chính người lao động và những người mong muốn làm việc Cầu việc làm thay đổi như thế nào là phụ thuộc vào quy mô, tốc độ,
cơ cấu dân số, số lượng lao động, chất lượng lao động và thời gian làm việc Khi quy
mô dân số càng lớn sẽ tạo ra nguồn lực sẵn sàng cung cấp sức lao động cho xã hội càng lớn Trong quy mô dân số yếu tố cấu thành lên đường cầu việc làm là dân số hoạt động kinh tế có việc làm hay chính là tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quyết định cầu việc làm về số lượng Khi tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động càng tiến gần đến 100% chính là tạo ra cầu việc làm càng lớn, thu hút nguồn nhân lực càng lớn Tuy nhiên, phần lớn những người có việc làm (làm việc được trả công) đều được tính vào lực lượng lao động mà không cần biết họ làm việc bao nhiêu giờ trong ngày hoặc trong năm Thời gian làm việc khác nhau của người lao động sẽ tạo lên cầu việc làm
cà cung thời gian lao động là khác nhau Với một khoảng thời gian nhất định có sự đánh đổi giữa thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi Theo “ mô hình lựa chọn làm việc – nghỉ ngơi tân cổ điển” nếu nghỉ ngơi nhiều, chúng ta sẽ sống mà không có những tiện nghi Còn nếu làm việc, chúng ta sẽ có tiền để mua hàng hóa như mong
Trang 13muốn và phải từ bỏ thời gian nghỉ ngơi của mình Vậy quyết định làm việc của con người phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như sự tăng lương và thu nhập thực tế trên thị trường hay sự thay đổi sở thích, hành vi nghề nghiệp hứng thú và hoàn cảnh gia đình Khi quyết định đi làm thì người lao động mong muốn có được một mức tiền lương và
đó là mức tiền lương giới hạn Người lao động sẽ không làm việc nếu như tiền lương trên thị trường (là mức lương mà người chủ sẵn sàng trả) thấp hơn tiền lương giới hạn (là mức lương người lao động muốn có để chấp nhận việc làm) Như vậy, cầu việc làm là yếu tố do người lao động và những người mong muốn có việc làm quyết định, trái lại với cung việc làm là yếu tố do các đơn vị sản xuất kinh doanh tạo GDP cho nền kinh tế quyết định Sự vận động giữa hai yếu tố này như thế nào và đem lại kết quả gì, có như sự mong muốn của các nhà lãnh đạo, của người lao động không?
1.1.2.3 Giải quyết việc làm và thất nghiệp.
• Giải quyết việc làm.
Sự vận động giữa cung việc làm và cầu việc làm phù hợp với nhau thì người dân có việc làm và trở thành lực lượng lao động, nếu sự vận động đó khác đi và lệch với nhau là hiện tượng thất nghiệp xảy ra Với tất cả hoạt động và các chính sách liên quan đến dân số, đến nguồn lao động mà Nhà nước và người dân cố gắng thực hiện tốt đều có mục tiêu là giải quyết việc làm cho dân số Điều đó có nghĩa là hướng tới
có việc làm đầy đủ cho người lao động, đảm bảo thu nhập ổn định, tiến đến nâng cao mức sống cho người lao động và dần dần nâng cao chất lượng việc làm để sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn lực của đất nước
Căn cứ vào khái niệm và phân loại việc làm ở trên, theo đó có 3 nhóm người khi giải quyết việc làm là: nhóm người đủ việc làm, nhóm người thiếu việc làm và nhóm người thất nghiệp Trong đó, có hai nhóm người là nhóm người đủ việc làm và nhóm người thiếu việc làm là vẫn có việc làm nhưng những người lao động này có được làm việc theo nhu cầu, theo khả năng hay theo hoàn cảnh là phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, điều kiện như: năng lực của người lao động, môi trường làm việc, khả năng
về các yếu tố đầu vào của sản xuất Nhóm người thất nghiệp là nhóm người không
có việc làm nhưng đang mong muốn có việc làm
- Người đủ việc làm: là những người có số giờ làm việc trong một tuần lễ, có số giờ lớn hơn hoặc bằng 40 giờ nhưng cũng có những người làm việc ít hơn 40 giờ nhưng đồng thời họ lại làm lớn hơn số giờ quy định Đối với một quốc gia, số người
có đủ việc làm đạt được một số tối đa là điều mong muốn, điều luôn luôn hướng tới Trên thực tế thì mỗi quốc gia đều phấn đấu đạt được số người có đủ việc làm càng
Trang 14gần với con số của nguồn lao động bao nhiêu thì càng giảm được nạn thất nghiệp bấy nhiêu Mục tiêu phấn đấu nhằm đạt được sự thỏa mãn nhu cầu việc làm và thu nhập tương đối cao, ổn định cho người lao động.
Tỷ lệ người có đủ việc làm được xác định bằng cách lấy số người có đủ việc làm so với dân số hoạt động kinh tế, lấy theo tỷ lệ phần trăm
- Người thiếu việc làm: là những người mà trong khoảng thời gian trước cuộc tổng điều tra một tuần có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn giờ quy định và có nhu cầu làm thêm giờ Đây chính là tình trạng người lao động không sử dụng hết thời gian quy định và nhận được thu nhập thấp hơn so với nhu cầu của người lao động từ công việc đang làm đó khiến họ có nhu cầu làm thêm công việc khác vào khoảng thời gian
đó để tăng thu nhập
Tỷ lệ người thiếu việc làm được xác định bằng cách lấy số người hoặc số thời gian (ngày, giờ, ) thiếu việc làm (không đủ việc làm) trong năm chia cho toàn bộ lực lượng lao động hoặc tổng quỹ thời gian (ngày, giờ ) cần làm việc theo quy định trong năm đó
Nhóm người thất nghiệp được đề cập chi tiết hơn đến phần sau Vậy giải quyết việc làm gồm hoạt động tác động đến cung cầu lao động và mối quan hệ giữa cung cầu lao động Đồng thời với sự kết hợp các hoạt động từ ba phía: Nhà nước, doanh nghiệp và chính những người lao động nhằm mở rộng cung việc làm, nâng cao sự phù hợp của cầu việc làm và các yếu tố của thị trường, từ đó Nhà nước giúp đỡ rồi tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cho người lao động tự tạo việc làm cho chính mình và cho những người khác
• Thất nghiệp
Hoàn toàn ngược lại với những người được giải quyết việc làm như trên thì trong xã hội còn lại những người không có việc làm hoặc việc làm không ổn định Và chính sự vận động không phù hợp giữa cung và cầu việc làm mà tạo ra những người thất nghiệp Những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, mong muốn lao động nhưng không có việc làm
Trang 15Hình 1.1: Cân bằng thị trường việc làm.
Trong đó: S: Đường cung
D: Đương cầuE: Điểm cân bằng thị trường – Cầu việc làm phù hợp với cung việc làm.LA: Lượng cầu việc làm
LB: Lượng cung việc làm W: Tiền lương
Khi ở mức tiền công W1 thì dư thừa cung việc làm và thiếu cầu việc làm, đó là quy mô nền kinh tế được mở rộng và không có thất nghiệp Ở mức tiền công Wo thì cung cầu việc làm vận động phù hợp với nhau tại điểm cân bằng Eo, không có dư thừa, cũng không có thất nghiệp Trên thực tế không tồn tại điểm Eo, chỉ là tương đối với việc làm của từng nước, từng địa phương Còn ở mức tiền công W2 thì là dư thừa nhu cầu việc làm và thiếu cung việc làm, xuất hiện tình trạng thất nghiệp và lượng thất nghiệp là (Lb – La)
Có hai loại thất nghiệp: là thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình
Thất nghiệp hữu hình được hiểu theo đúng nghĩa thất nghiệp: là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm Thực tế chỉ đo được tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị hay chỉ xảy ra thất nghiệp hữu hình trên thị trường lao động thành thị chính thức nên gọi là tỷ lệ thất nghiệp thành thị Ở nước ta, tỷ lệ này thường lớn hơn 5%, so với hai thị trường còn lại trong nước thì đây là tỷ lệ thấp nhất nhưng so trên cùng thị trường thành thị với các nước khác thì Việt Nam vẫn có tỷ lệ thất nghiệp cao như Trung Quốc tỷ lệ này là 2%, Singapo là 2,3% Trên thị trường thành thị các đơn vị tạo ra việc làm (hay là cung việc làm) là các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ có quy mô lớn thuộc của cả Nhà nước và của tư nhân Nhờ tận dụng được lợi thế chuyên môn hóa, sản xuất kinh doanh ổn định, sử dụng công nghệ hiện đại mà đòi hỏi những người lao động phải có
L0
S
W2
Trang 16trình độ cao để làm những công việc chuyên môn hóa rõ ràng nên mức giá cả lao động luôn cao hơn mức giá cả thị trường Mà cầu việc làm trên thị trường này thể hiện rất rõ là cao do tính chất là trung tâm của một quốc gia để ổn định nền kinh tế
Do đó, cung việc làm nhỏ hơn cầu việc làm mà dẫn đến không có điểm cân bằng trên thị trường và xảy ra hiện tượng thất nghiệp hữu hình
Thất nghiệp trá hình: gồm bán thất nghiệp và thất nghiệp vô hình Bán thất nghiệp là những người nhìn bề ngoài là có việc làm nhưng thời gian lao động ít hơn
số giờ quy định, dẫn đến thu nhập thấp như: thất nghiệp trong nông thôn vì tính chất thời vụ, thất nghiệp do không có đủ vốn trong sản xuất kinh doanh, có việc làm nhưng làm với số lượng thời gian ngắn do tình hình sức khỏe không cho phép làm việc nhiều Trên thị trường nông thôn, cung việc làm ở các nước đang phát triển co giãn ít, ít biến động hơn so với các nước phát triển Thứ nhất là do tình hình ruộng đất ở các nước là hầu như cố định, không biến đổi Thứ hai là sự phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn không mạnh Trong khi đó, cầu việc làm lại co giãn lớn, thường xuyên biến đổi vì lý do vẫn tồn tại từ rất lâu là dân số ở khu vực nông thôn luôn có tốc độ tăng dân số tự nhiên cao, dân số tăng nhanh và lực lượng lao động cũng tăng nhanh theo Còn lý do nữa là hiện nay trong quá trình công nghiệp hóa nông thôn không những làm giảm dòng di dân ra thành thị mà còn xuất hiện hiện tượng di dân đảo Vậy cầu việc làm luôn lớn hơn cung ở việc làm nhưng điểm cân bằng ở thị trường này thấp hơn điểm cân bằng chung của thị trường lao động xã hội Và chính điểm cân bằng này đã phản ánh rằng người dân chia việc ra để làm chứ thị trường nông thôn không cần nhu cầu lao động lớn nên không có hiện tượng thất nghiệp hữu hình mà tồn tại bán thất nghiệp
Và cuối cùng là thất nghiệp vô hình là những người có việc làm, thời gian làm việc đầy đủ nhưng khối lượng giải quyết được công việc không được nhiều Thất nghiệp này thường tồn tại trong khu vực Nhà nước, các công chức hoặc thu nhập thấp hoặc có việc làm nhưng làm việc không đúng chuyên môn Việt nam có tỷ lệ thất nghiệp trá hình còn khoảng 30%, một con số cũng khá cao so với các nước khác trong khu vực và thế giới Nhà nước Việt Nam cùng các doanh nghiệp trong nước hay chính người lao động đang cố gắng giảm con số này xuống một cách tương đối
Tỷ lệ thất nghiệp được xác định bằng cách lấy số người thất nghiệp trên tổng dân số hoạt động kinh tế Hiện tượng thất nghiệp này xảy ra trên thị trường bán thành thị (hay thị trường thành thị không chính thức) Các đơn vị tạo ra cung việc làm trên thị trường này là gồm các đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ có quy mô
Trang 17nhỏ nhưng phải được pháp luật thừa nhận Các đơn vị này có lợi thế về quy mô kinh
tế giản đơn, thị trường dễ dàng gia nhập và rút lui, thay đổi hoạt động kinh tế thường xuyên theo thị trường nên khả năng ứng phó với thị trường tốt, linh hoạt Chính vì lý
do đó mà các đơn vị sản xuất đóng vai trò đặc biệt quan trọng để thực hiện chương trình giải quyết việc làm rất tốt, người dân cũng có thể tự tạo việc làm để giải quyết vấn đề thu nhập cho người lao động Nó phù hợp với nhu cầu của lực lượng lao động, phù hợp với trình độ tay nghề của người lao động Cung cầu việc làm luôn vận động
có xu thế ăn khớp với nhau, cung việc làm là yếu tố chi phối cầu việc làm Điểm cân bằng có xu thế chuyển về điểm cân bằng thị trường xã hội nên mọi người đều có việc làm nhưng vẫn có hiện tượng thất nghiệp là thất nghiệp vô hình Lực lượng lao động làm việc ở thị trường này là những người thất nghiệp hữu hình ở thị trường chính thức chuyển sang, những người lao động ở thị trường nông thôn di dân ra thành thị và những lực lượng lao động lần đầu tiên gia nhập vào thị trường lao động như các sinh viên mới tốt nghiệp Ở các nước đang phát triển có khoảng 50% lao động sống ở thị trường không chính thức này và ở Việt nam là khoảng 60% lao động
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tạo việc làm
1.2.1 Các điều kiện về tự nhiên.
Nhu cầu có việc làm bắt nguồn từ đòi hỏi của sản xuất và việc sản xuất có quy
mô ngày càng được mở rộng thì nhu cầu tạo việc làm sẽ càng lớn Muốn mở rộng sản xuất để phát triển kinh tế xã hội phải dựa vào những tiền đề vật chất, đây là nhân tố tiên quyết ảnh hưởng đến tạo việc làm Điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một tỉnh hay một khu vưc được hình thành một cách tự nhiên từ hàng nghìn, hàng vạn năm trước đây, không hề theo mong muốn của con người Với mỗi một quốc gia, một vùng, một lãnh thổ đều có những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên cho sự phát triển Trên thế giới có nước rất giàu tài nguyên thiên nhiên, đất đai rộng lớn, độ màu mỡ tự nhiên, thuận lợi cho việc phát triển các ngành sản xuất, thu hút lao động như Liên Xô cũ Các điều kiện tự nhiên sẵn có trở thành các nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ cho sản xuất và đời sống, như dầu lửa có nhiều ở Ả Rập phải được khai thác từ đáy biển, quặng vàng và các loại khoáng sản quý hiếm phải được lấy ra khỏi lòng đất, qua tinh chế mới có ích cho cuộc sống Bên cạnh đó cũng
có những quốc gia không được ưu đãi về thiên nhiên, rất nghèo về tài nguyên, đất đai chật hẹp thường xuyên xảy ra các sự cố bất lợi cho sản xuất, cho cuộc sống con người như động đất, núi lửa, bão lụt như đất nước Nhật Bản, Việt Nam cũng là nước được rất nhiều ưu thế về tài nguyên thiên nhiên, rừng vàng biển bạc nhưng cũng
Trang 18thường xuyên phải chịu cảnh bão lũ, nước lớn ở các vùng miền Trung gây khó khăn cho người dân sinh sống ở khu vực đó Các điều kiện tự nhiên chỉ là điều kiện thuận lợi để tạo việc làm khi quốc gia đó biết cách khai thác và sử dụng đúng mục đích đem lại lợi ích lớn hơn cho quốc gia Trong thực tế, như đất nước Nhật Bản rất nghèo
về tài nguyên thiên nhiên nhưng có công nghệ hiện đại, máy móc tiên tiến, phương pháp quản lý hiện đại đã tạo ra nhiều việc làm và việc làm có chất lượng cao, nâng cao đời sống của người dân Vì thế, để tạo ra việc làm còn phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác nhau của quốc gia đó
1.2.2 Các điều kiện về phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến toàn diện và mọi mặt trong nền kinh tế ( sự phát triển đồng thời giữa lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội trong nền kinh tế) Thì tạo việc làm tác động vào cả hai mặt của sự phát triển kinh tế
1.2.2.1 Về tăng trưởng kinh tế.
Việc làm vừa là kết quả vừa là điều kiện cho tăng trưởng kinh tế Khi nền kinh
tế của một quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định qua thời gian dài, có những tiền đề cho sự tăng trưởng vững chắc thì nhu cầu việc làm tăng lên, từ đó tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội Ngược lại, trong nền kinh tế có sự suy thoái, lạm phát cao thì nhu cầu về việc làm cũng giảm xuống theo, dẫn đến tình trạng thất nghiệp của một bộ phận dân cư Vậy tăng trưởng kinh tế và việc làm có mối quan hệ thuận chiều với nhau Phân tích tác động của việc làm tới tăng trưởng kinh tế ta thấy:
- Đối với tổng cầu: AD = C + I + G + X – M
là nguồn gốc để tăng đầu tư Với số lượng việc làm tăng lên, với nhiều đối tượng mà Chính phủ cần quan tâm đến để giải quyết việc làm thì chi tiêu của Chính phủ cho các đối tượng này cũng có thể tăng lên hoặc là giảm đi theo một mối quan hệ thích hợp Vậy trong ngắn hạn tổng cung chưa kịp thay đổi, sự gia tăng việc làm làm tổng cầu tăng lên (với điều kiện khác không thay đổi) Để đo được mức độ tác động của
Trang 19việc làm đến tăng trưởng kinh tế sử dụng chỉ tiêu hệ số co giãn việc làm theo GDP
Hệ số này cho biết cứ 1% tăng trưởng của GDP thì cho biết được có bao nhiêu phần trăm việc làm được tăng lên Ở nước ta, trong thời kỳ 1991 – 2000, tính trung bình cứ tăng 1% tỷ trọng của khu vực phi nông nghiệp trong tổng GDP thì sẽ tạo ra được 287,6 nghìn việc làm trong khu vực này Đến thời kỳ 2001 – 2009 thì tỷ lệ này là 1%
và 402,15 nghìn việc Con số tăng gần gấp đôi so với thời kỳ trước là do tốc độ tăng trưởng kinh tế trong các năm sau cao hơn các năm trước
- Đối với tổng cung: AS: Y= (K, L, TFP)
Trong đó: K: Vốn đầu tư
L: Lao động
TFP: Yếu tố năng suất tổng hợp
Nhìn thấy ngay trong hàm sản xuất, lao động là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, được xác định bằng số lượng nguồn lao động của mỗi quốc gia (có thể tính bằng đầu người hay thời gian lao động) Khi việc làm tăng lên thì đòi hỏi nhiều lao động tăng hay chất lượng lao động cũng tăng lên theo và quy mô sản xuất của các đơn vị sản xuất được mở rộng thì nguồn vốn, đầu tư tăng lên làm tổng cung tăng lên Việc làm phản ánh kết quả của đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ
và tăng trưởng kinh tế Khả năng thu hút lao động tạo việc làm của mọi nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào mô hình tăng trưởng được áp dụng Mô hình nào sử dụng nhiều yếu tố đầu vào là vốn để phát triển các ngành trọng điểm, hay mô hình nào sử dụng nhiều yếu tố đầu vào là lao động tận dụng lợi thế nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ và mô hình nào sử dụng kết hợp đồng đều hai yếu tố vốn và lao động đều nhằm một mục đích là tăng trưởng kinh tế cao hơn và ổn định trong thời gian dài Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động gọi là vốn nhân lực Chính là các yếu tố năng suất tổng hợp như các lao động có kỹ năng sản xuất, lao động có thể vận hành được máy móc thiết bị phức tạp, những lao động có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế Hiện nay, ở các nước đang phát triển đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bởi các yếu tố
về quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn ở vị trí thấp do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp Việt nam giai đoạn 2003 – 2006 yếu tố vốn đóng góp vào tăng trưởng kinh tế là 52,73%, lao động là 19,07% và yếu tố TFP
là 28,20% - lao động vẫn góp phần trăm là thấp nhất so với hai yếu tố còn lại, nhưng
về yếu tố TFP đã có sự tăng lên đáng kể so với thời kỳ trước 1998 – 2002 là 22,60%
1.2.2.2 Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trang 20Theo cách hiểu đơn giản nhất về chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình tạo ra
sự thay đổi trong các yếu tố cấu thành các thành phần kinh tế, đó là: số lượng các ngành kinh tế được hình thành (có ba nhóm ngành là: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân (về GDP, GO, L, K ) và cuối cùng là vị trí, sự tác động qua lại giữa các ngành trong nền kinh tế với nhau Kết quả cuối cùng là cơ cấu ngành chuyển từ dạng này sang dạng khác ngày càng hiện đại hơn
Trong quá trình phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự chuyển đổi theo một xu hướng chung là tỷ trong nông nghiệp có xu hướng giảm đi, trong khi đó tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên Trong tỷ trọng các ngành sản xuất sản phẩm có dung lượng vốn cao hơn sẽ tăng lên
và tỷ trọng các ngành sản xuất sản phẩm có dung lượng lao động cao sẽ giảm dần Qua đó mà việc làm cũng sẽ thay đổi theo sự chuyển đổi cơ cấu này, việc làm trong lĩnh vực các ngành công nghiệp, dịch vụ cũng tăng lên do sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành
Theo quy luật tăng năng suất lao động của Fisher (năm 1935): Ngành nông nghiệp dưới tác động của khoa học công nghệ là ngành dễ thay thế lao động nhất, đồng thời nhu cầu về hàng hóa nông sản giảm đi nên lực lượng lao động nông nghiệp giảm đi Nhưng về việc làm thì không có sự biến động nhiều vì các lực lượng lao động còn lại trong ngành nông nghiệp lại giải quyết lao động dư thừa mang tính thời
vụ bằng cách đa dạng hóa sản, tăng vụ, xen canh, tăng thêm các chủng loại sản phẩm làm giảm tình trạng bán thất nghiệp
Ngành công nghiệp dưới tác động của khoa học công nghệ thì lao động trong ngành khó thay thế hơn, cầu tiêu dùng hàng hóa không có xu hướng giảm nhưng tăng chậm dần đều Do đó, lao động trong ngành công nghiệp không giảm đi và có xu hướng tăng chậm dần Trong khi việc làm trong ngành có xu hướng tăng lên do tăng quy mô mở rộng sản xuất và đòi hỏi những công nhân có trình độ tay nghề cao, bắt đầu xuất hiện hiện tượng thiếu lao động làm áp lực về lao động tăng và tiền lương thực tế tăng
Ngành dịch vụ dưới tác động của khoa học công nghệ thì lao động là khó thay thế nhất, cầu tiêu dùng hàng hóa tăng dần lên Cả lao động và việc làm đều có xu hướng tăng dần lên Ở nước ta, hệ số co giãn việc làm trong khu vực dịch vụ cao gấp
3 lần khu vực nông nghiệp, khu vực công nghiệp – xây dựng cao gấp 1,5 đến 2 lần so với khu vực nông nghiệp Điều này cho thấy vai trò giải quyết việc làm của các hoạt
Trang 21động phi nông nghiệp Và xu hướng chuyển dịch ở nước ta đang đi đúng xu thế và hợp lý.
1.2.2.3 Về mặt tiến bộ xã hội.
Tiến bộ xã hội mà trung tâm là vấn đề phát triển con người được xem là tiêu thức đáng giá mục tiêu cuối cùng của phát triển Việc làm là kết quả của tăng trưởng kinh tế thì giải quyết việc làm cho người dân càng nhiều thì làm tăng trưởng kinh tế tăng lên hay thu nhập bình quân đầu người càng cao và chỉ số về HDI càng cao Đầu tiên, khi người lao động có việc làm ổn định và những người mong muốn làm việc có được việc làm thì tạo ra GDP cho nền kinh tế, tạo ra thu nhập cho chính bản thân đảm bảo được vấn đề tài chính, giảm thiểu được những rủi ro gặp phải trong cuộc sống Tiếp đến, mở rộng khả năng lựa chọn cho con người ( theo quan điểm của Liên Hiệp Quốc) đó là: tạo cơ hội cho con người tăng cường năng lực phát triển con người, năng lực về sức khỏe, thị lực, tuổi thọ , năng lực về trí lực như trình độ văn hóa, chuyên môn, chuyên sâu , các năng lực theo xu thế xã hội Cuối cùng là tạo điều kiện con người vận hành năng lực của mình trong các hoạt động kinh tế - xã hội, con người làm chủ được cuộc sống và chủ động tìm kiếm việc làm, nắm bắt các cơ hội việc làm
1.2.3 Các điều kiện về chính sách của Nhà nước về lao động và việclàm.
Việc làm còn phụ thuộc vào chính sách và sự quan tâm của Chính phủ đối với các vấn đề này Trong mỗi thời kỳ, các cơ chế chính sách của Chính phủ quốc gia, của chính quyền địa phương, các quy định của doanh nghiệp sẽ đề ra những chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm của lĩnh vực này, ngành này hay lĩnh vực khác Chính sách và
cơ chế của Nhà nước cũng trực tiếp hoặc gián tiếp khuyến khích các chủ sử dụng lao động để tạo việc làm thu hút lao động đặc thù hay hạn chế mức độ sa thải và ngăn ngừa việc sa thải đồng loạt Các chính sách kinh tế vi mô, vĩ mô, đổi mới kinh tế chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã làm thay đổi cơ cấu lao động, thay đổi cơ cấu nền kinh tế Bộ luật Lao động của nước CHXHCN Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 với 198 điều đã tạo thành nền tảng cho khung khổ pháp lý của thị trường lao động ở nước ta “Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ chỗ nào mà pháp luật không cấm” Điều 13 còn ghi rõ: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp
Trang 22và toàn xã hội” Bộ luật Lao động được coi là công cụ pháp luật quan trọng nhất để điều chỉnh cung cầu việc làm trên thị trường
1.2.4 Các điều kiện khác.
Ngoài các yếu tố mang tính chất căn bản luôn tác động tới việc làm như điều kiện tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế xã hội, các chính sách của Nhà nước, doanh nghiệp thì còn có rất nhiều các yếu tố khác cũng tác động tới cung cầu việc làm như: quy mô và sự phân bố dân số - nguồn nhân lực hay vấn đề toàn cầu hóa và hội nhập đem lại những cơ hội có thêm nhiều việc làm Đặc biệt nổi rõ nhất đó là vấn đề
về sự phát triển của khoa học công nghệ cũng là nhân tố tác động đến hoạt động sản xuất của con người Việc ứng dụng khoa học công nghệ đã và đang tác động đến rất nhiều nước trên thế giới nhằm tạo ra các ngành nghề mới với quy mô rộng lớn và đa dạng về chủng loại hơn Ứng dụng khoa học kỹ thuật làm tăng năng suất lao động, người lao động và các sản phẩm tạo ra chứa hàm lượng chất xám cao hơn tức là làm giảm số suất việc làm nhưng cũng làm mở mang thêm nhiều ngành nghề góp phần
mở rộng quy mô việc làm cho xã hội
1.3 Sự cần thiết giải quyết việc làm cho lao động
1.3.1 Giải quyết việc làm cho LLLĐ là tác động tới phát triển kinh tế.
Như đã tìm hiểu ở trên việc làm tác động đến phát triển kinh tế một cách trực tiếp và gián tiếp đối với một quốc gia, một tỉnh, một vùng Ngược lại, phát triển kinh
tế cũng tác động lại vấn đề giải quyết việc làm, người có việc làm và người không có việc làm Khi tốc độ tăng trưởng cao và ổn định thì việc làm của người lao động được ổn định và ngày càng nâng cao hơn về chất lượng công việc, việc làm mới được tạo ra nhiều hơn, những người không có việc làm sẽ giảm Khi việc làm được giải quyết tốt với những người thất nghiệp thì tốc độ tăng trưởng cao, xu hướng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế phù hợp với điều kiện đất nước Do đó, để có tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia thì việc giải quyết việc làm cho những người không có việc làm, giúp người có việc làm không ổn định giờ ổn định mang lại thu nhập ổn định là rất cần thiết cho sự tồn tại
và sự phát triển của chính quốc gia đó
1.3.2 Giải quyết việc làm cho LLLĐ làm giảm bớt các tệ nạn xã hội.
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì đời sống xã hội của con người ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp hơn Và đáng lo ngại nhất là các tệ nạn xã hội cũng xuất hiện nhiều hơn, dưới nhiều hình thức hơn Nếu như người dân không có việc làm thì thời gian rảnh rỗi của họ tăng lên rất nhiều Những mặt tiêu cực thường
đi kèm như suy nghĩ về làm liều, hoàn cảnh bắt buộc, xô đẩy những con người này
Trang 23vào con đường cờ bạc, nghiện hút, mại dâm và là đối tượng dễ dàng tham gia gây
ra các tệ nạn xã hội, gây ra những bất ổn cho cuộc sống, cho người dân sống cùng những con người này Nếu những người dân có thời gian nhàn rỗi này giảm xuống một cách đáng kể nhờ có công ăn việc làm phù hợp với sức lao động của họ thì lực lượng lao động tăng lên, lao động có mục tiêu để phấn đấu vươn tới, không có những suy nghĩ và hành động tiêu cực làm giảm một cách đáng kể các tệ nạn xã hội
1.3.3 Giải quyết việc làm cho LLLĐ góp phần xóa đói giảm nghèo.
Việc làm tăng lên là chìa khóa để giảm nghèo, giúp họ có cuộc sống ổn định và nâng cao đời sống của chính bản thân của người lao động Thu nhập bình quân đầu người tăng lên khi có việc làm, đảm bảo cho họ những nhu cầu tối thiểu nhất và ngày càng tăng nhu cầu lên giúp họ thoát khỏi cảnh đói nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống Theo số liệu điều tra mới nhất, tỷ lên hộ nghèo của Thái Nguyên theo chuẩn mới là 26,85% tương đương với 68.277 hộ, trong đó tỷ lệ hộ nghèo nông thôn là 32,33% và
tỷ lệ nghèo thành thị là 10,07% Phần lớn số hộ nghèo sinh sống tại những huyện thuộc miền núi, vùng sâu, vùng xa (huyện Võ Nhai là có tỷ lệ lớn nhất là 52,44%, Đại Từ là 31,84%, Định Hóa là 41,63% ) Chính vì thế tạo việc làm cho những người dân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa là cần thiết để giảm tỷ lệ đói nghèo của các huyện xuống Đồng thời góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn Mặc dù mức chênh lệch thu nhập giữa 20% dân số có thu nhập cao nhất
và 20% dân số có thu nhập thấp nhất của tỉnh còn khá cao khoảng 8,4 lần nhưng tổng thu nhập của người dân trong tỉnh năm 2007 đã tăng lên 1,5 lần so với năm 2005 Đây là dấu hiệu tốt để các nhà lãnh đạo tiếp tục các biện pháp xóa đói giảm nghèo, và tạo việc làm cho người dân
Trang 24CHƯƠNG IITHỰC TRẠNG VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2005 – 2009
2.1 Giới thiệu tổng quan vể tỉnh Thái Nguyên.
2.1.1 Các điều kiện tự nhiên – xã hội.
2.1.1.1 Vị trí địa lý.
Tỉnh Thái Nguyên là một trung tâm chính trị, kinh tế củ khu Việt Bắc nói riêng
và của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp với thủ đô Hà Nội (cách 80km) Với diện tích tự nhiên là 3541,1 km2 chiếm 1, 08% diện tích và 1,34% dân số cả nước Về mặt hành chính, theo QĐ của kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX: sau khi chia tỉnh ra thì Thái Nguyên gồm có bảy huyện: Phố Yên, Phú Bình, Đông Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, một thành phố là Thái Nguyên và một thị xã Sông Công, với tổng số 180 xã, phường và thị trấn, trong đó có 14 xã vùng cao, 106 xã vùng núi còn lại là các xã đồng bằng và trung du
Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân bay Nội Bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km
Vì thế tỉnh là điểm nút giao lưu thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành, đường quốc lộ 3 nối Hà Nội và Bắc Kạn, cửa khẩu Việt Nam với Trung Quốc
2.1.1.2 Điều kiện về khí hậu
Theo số liệu của Tổng cục Khí tượng thủy văn, lượng mưa trung bình hàng năm của tỉnh vào khoảng 1500 – 2500 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng chín và thấp nhất vào tháng một Nhiệt độ trung bình chêch lệch giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất là 13,7 độ C Tổng số giờ nóng trong năm dao động từ 1300 – 1750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 (lượng mưa khá lớn, tổng lượng mưa tự nhiên vào khoảng 6,4 tỷ m3/năm và tập trung khoảng 87% lượng mưa vào các tháng này) và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Mùa đông chia thành ba vùng rõ rệt: vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai, lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương
Trang 25và phía nam Võ Nhai, cuối cùng là vùng ấm gồm các huyện Đại Từ, thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và thị xã Sông Công Được thiên nhiên ưu đãi
về khí hậu và địa hình, tỉnh có nhiều khả năng để phát triển nông lâm nghiệp và công nghiệp
2.1.1.3 Đặc điểm về tài nguyên thiên nhiên
• Tài nguyên đất.
Diện tích tự nhiên không lớn nhưng cấu trúc địa tầng của Thái Nguyên khá phức tạp, có nhiều nguồn gốc khác nhau Tính phong phú của các giới hệ tầng quyết định rất lớn tới chất lượng đất và sự phong phú của các loại khoáng sản của Thái Nguyên Tổng diện tích đất tự nhiên là 354.104,39 ha, trong đó:
- Đất núi chiếm 43,83% diện tích tự nhiên, có độ cao trên 200m, diện tích rừng tự nhiên là 102.190 ha, diệnt tích rừng trồng khoảng 44.450 ha Đây là một lợi thế to lớn cho việc phát triển rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ nhân tạo, chế biến làm nguyên liệu giấy
- Đất đồi chiếm khoảng 24,57% diện tích tự nhiên, đây là vùng đất xen kẽ giữa nông và lâm nghiệp Loại đất này phân bố chủ yếu ở vùng như Đại Từ, Phú Lương, với độ cao từ 50-200m, có độ dốc từ 5-20m, cây hàng năm chủ yếu là cây chè Tỉnh là vùng đất thích hợp để phát triển loại cây chè đặc biệt là chè Tân Cương – đặc sản từ lâu nổi tiếng trong và ngoài nước Toàn tỉnh có 15.000 ha chè (đứng thứ hai trên cả nước sau tỉnh Lâm Đồng) Ngoài sản xuất lương thực, tỉnh còn có diện tích tương đối lớn để quy hoạch các đồng cỏ, phát triển mạnh chăn nuôi đai gia súc, chăn nuôi bò sữa Cây ăn quả của tỉnh hiện nay có trên 15000 ha phát triển các loại cây như vải, mơ, nhãn, cam, quýt
Tài nguyên nước.
Nguồn nước của Thái Nguyên chủ yếu do hệ thống sông ngòi cung cấp với hai sông chính là sông Công và sông Cầu:
- Sông Công có lưu vực 951 km2 bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá của huyện Định Hóa chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng mưa lớn nhất của tỉnh Dòng sông được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành hồ Núi Cốc có mặt nước rộng khoảng
25 km2 với sức chứa lên tới 210 triệu m3 nước Với lợi thế dòng sông có thể chủ động điều hòa dòng chảy, tưới tiêu cho 12 ngàn ha lúa hai vụ màu, cây công nghiệp
và cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố và thị xã sông Công
- Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lưu vực 6030 km2, bắt nguồn từ chợ Đồn chảy theo hướng Bắc – Đông Nam Hệ thống của con sông có khả
Trang 26năng tưới cho 24 ngàn lúa hai vụ của huyện Phú Bình và các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên của tỉnh Bắc Giang Kết hợp với nhiều nhánh sông nhỏ khác thuộc hệ thống sông Kỳ Cùng và hệ thống sông Lô thì đây là điều kiện tốt cho tỉnh về tiềm năng thủy điện.
Tài nguyên khoáng sản.
Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương nên phong phú về chủng loại khoáng sản, là một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng hiện có khoảng 34 loại hình khoáng sản phân bố tập trung ở Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai Tài nguyên khoáng sản của tỉnh có thể chia thành bốn nhóm:
- Nhóm nguyên liệu cháy: gồm than mỡ với trữ lượng tiềm năng khoảng trên
15 triệu tấn, tập trung ở các mỏ: Phấn Mễ, Làng Cẩm, Âm Hồn, chất lượng tương đối tốt đủ phục vụ cho nhu cầu ngành luyện kim than đá với tổng trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấn tập trung chủ yếu ở các mỏ: Bá Sơn, Khánh Hòa, Núi Hồng Thái Nguyên được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ hai trên cả nước
- Nhóm khoáng sản kim loại: gồm kim loại đen như sắt, mănggan, ti tan và kim loại màu như chì, kẽm, đồng, niken, nhôm, thiếc, vofram, altimoan, thủy ngân, vàng Quặng sắt có 47 mỏ và điềm quặng trong đó có 2 cụm mỏ lớn: Cụm mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng khoảng 20 triệu tấn có hàm lượng Fe 58,8% - 61,8%, cụm mỏ sắt Tiến Bộ nằm trên trục đường ĐT 259 có tổng trữ lượng quặng khoảng 30 triệu tấn Quặng Titan đã phát hiện 18 mỏ, tổng trữ lượng dự kiến khoảng 18 triệu tấn Thiếc có ở ba mỏ thuộc Đại Từ, mỏ Phục Linh, Núi Pháo, Đá Liền với khoảng 13.600 tấn Vonfram ở Núi Pháo Đại Từ trữ lượng 110.260.000 tấn Chì kẽm tập trung ở Lang Hít (huyện Đông Hỷ), Thấn Sa, Cúc Đường ( huyện Võ Nhai) quy mô không lớn Vàng sa khoáng ở khu vực Thấn Xa, dãy núi Bổ Cu, khu vực Ngàn Me, Cây Thị, khu vực phía tây của huyện Phổ Yên Khoáng sản kim loại là một trong những ưu thế của Thái Nguyên không chỉ so với các tỉnh trong vùng mà còn ý nghĩa đối với cả nước
- Khoáng sản phi kim loại: có pyrit, barit, photphorrit ở quặng Núi Văn, Làng Mới, La Hiên với khoảng 60.000 tấn
- Khoáng sản vật liệu xây dựng trong đó đất sét xi măng ở 2 mỏ Cúc Đường
và Khe Mo, trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn Đá Cacbônat bao gồm đá vôi xây dựng,
đá vôi xi măng, Đôlômit tìm thấy ở nhiều nơi Riêng đá vôi xây dựng có trữ lượng xấp xỉ 100 tỷ m3, trong đó 3 mỏ Núi Voi, La Hiên, La Giang có trữ lượng 222 triệu
Trang 27tấn, ngoài ra gần đây mới phát hiện mỏ sét cao lanh tại xã Phú Lạc, Đại Từ có chất lượng tốt, hàm lượng AL2CO3 cao, trữ lượng dự kiến 20 triệu m3 Đó là vùng nguyên liệu dồi dào cho sự phát triển ngành vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng
và đá ốp lát
Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa lớn trong cả nước Tiềm năng sắt tạo cho Thái Nguyên một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng để trở thành một trong các trung tâm luyện kim lớn của cả nước
Tài nguyên du lịch
Thái Nguyên có nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên và nhân tạo như hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng, núi Văn, núi Võ, các bảo tàng văn hóa, lịch sử và các di tích kiến trúc nghệ thuật đình, đền chùa, hang động như đình Phương Độ, hang Thần
Sa, đền thờ Đội Cấn, An toàn khu Việt Bắc, di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đá cũ ở huyện Võ Nhai Hiện nay, Thái Nguyên đang triển khai quy hoạch khu du lịch hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà, Hồ Suối Lạnh và cả hệ thống khách sạn chất lượng cao gần đạt tiêu chuẩn quốc tế Năm 2007 Thái Nguyên đã tổ chức rất thành công năm du lịch quốc gia hướng về cội nguồn chiến khu Việt Bắc thu hút hàng triệu khách du lịch đến thăm trong đó có nhiều khách nước ngoài Đây là một lợi thế cho tỉnh phát triển ngành du lịch làm tăng phần trăm đóng góp vào GDP Việc làm được tạo ra từ hoạt động du lịch tại tỉnh và xung quang các hoạt động du lịch đó giúp giảm
tỷ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệp xuống, người dân có tỉnh có thêm nguồn thu nhập cải thiện đời sống của chính bản thân của người lao động Lao động của tỉnh sẽ có xu hướng chuyển sang làm trong lĩnh vực du lịch hay chính là sang làm việc trong khu vực nhiều hơn
2.2.2 Về phát triển kinh tế
2.2.2.1. Về tăng trưởng kinh tế.
Về cơ cấu ngành kinh tế:Trong những năm qua, kinh tế Thái Nguyên đã có
những bước phát triển tương đối toàn diện và liên tục tăng trưởng với tốc độ khá Tỉnh đạt được nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số ngành nghề trọng điểm đều có sự tăng về năng lực sản xuất, các thành phần kinh tế đều có
sự tăng trưởng, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân
Bảng1.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước giai đoạn 2005 – 2009
Trang 28Đơn vị: %
Năm 2005 2006 2007 2008 2009GDPcả nước 8,44 8,32 8,48 6,23 5,14GDP tỉnh 9,05 11,45 12,46 8,5 8,73
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008, và năm 2009: Thời báo kinh tế Việt Nam năm 2009.
Niên giám thống kê hàng năm tỉnh.
Biểu đồ1: Về tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) qua các năm của cả nước và
Thái Nguyên
Nhìn biểu đồ ta thấy tăng trưởng kinh tế của tỉnh theo xu hướng tốt, tốc độ tăng trưởng cao dần qua các năm Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn
2001 – 2005 đạt xấp xỉ 9% - con số này đã vượt 2% so với mục tiêu tăng trưởng kinh
tế mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI đề ra Trong giai đoạn 2006 – 2010 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 12-13%, tăng lên
Trang 293-4% so với giai đoạn trước Tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cả nước như trong giai đoạn 2006 -2010 với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, tốc độ tăng bình quân của cả nước đạt 7,04% (thực tế trong 4 năm 2006 -2009) thấp hơn so với giai đoạn 2000 – 2005 là 7,33% Thái Nguyên không nằm ngoài ảnh hưởng đó: từ năm
2005 tốc độ tăng trưởng tăng dần chỉ đạt 9,05% đến năm 2007 đã đạt 12,46%, tăng hơn 3% trong 2 năm, đến năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh giảm xuống còn 8,5% - vẫn cao hơn so với tốc độ tăng chung của cả nước là 6,23% năm 2008 khi cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra Chính sự phát triển cao hơn so với bình quân chung của cả nước mặc dù cả nước trong điều kiện nền kinh tế khủng hoảng đã có tác động tiêu cực đến vấn đề giải quyết việc làm cho người thất nghiệp của tỉnh Khi tăng trưởng kinh tế là nhân tố quan trọng trong việc giải quyết việc làm của tỉnh, với năm có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ có những ảnh hưởng tốt trong công cuộc giải quyết việc làm trong cả ba ngành của nền kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Và khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp bắt đầu năm 2008 thì giải quyết việc làm cũng chịu ảnh hưởng đó là: tình trạng thất nghiệp xảy ra, những người lao động trước đây lao động nay mất việc do các doanh nghiệp phá sản, việc sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, các nguồn thu chi ngân sách của Nhà nước giảm đi Những lao động mới trong nền kinh tế không được giải quyết triệt để, tồn đọng lại trong nền kinh tế những người không có việc làm và làm việc không theo đúng khả năng và nhu cầu của người lao động Trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong năm năm 2010 – 2015 dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt khoảng 11-12%, trong đó tốc độ tăng trưởng của ngành nông – lâm – thủy sản là khoảng 5-5,5%, ngành công nghiệp – xây dựng là khoảng 13,5%-14% và cuối là ngành dịch vụ của tỉnh khoảng 12-13% Các mục tiêu đề ra trong năm năm tiếp theo của tỉnh có khả quan thực hiện được với tốc độ cao như trên vì cuối năm 2009 nền kinh tế của tỉnh đã có những khởi sắc cũng như nền kinh tế của cả nước có xu hương đi lên theo đúng chu kỳ của nền kinh tế
2.2.2.2 Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
•Cơ cấu theo nhóm ngành kinh tế.
Đi cùng xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nền kinh tế cả nước, trong những năm qua tỉnh Thái Nguyên cũng có xu hướng chuyển dịch cơ cấu đó là: tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ của tỉnh có xu hướng tăng lên, tỷ trọng của ngành nông nghiệp lại có xu hướng giảm đi
Bảng 1.2: Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế của tỉnh Thái Nguyên qua các
năm (theo giá so sánh năm 1994)
Trang 30Đơn vị: %
Năm 2005 2006 2007 2008 2009Tổng GDP 100 100 100 100 100Nông nghiệp 26,54 26,14 23,67 22,28 16,45Công nghiệp 38,64 38,87 40,26 41,53 45,01Dịch vụ 34,82 34,99 36,07 36,19 38,54
Nguồn: Niên giám thống kê hàng năm của tỉnh Thái Nguyên.
Qua bảng số liệu ta thấy: Đúng theo xu hướng tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm một cách đáng kể từ chiếm 26,54% trong GDP của tỉnh năm 2005 thì đến năm
2009 tỷ trọng này còn là 16,45% ( tốc độ giảm bình quân hàng năm là 2,57%) Mặc
dù giảm về tỷ trọng để phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế nhưng về giá trị tuyệt đối của ngành vẫn tăng dần qua các năm: năm 2005 giá trị ngành nông nghiệp là 1102 tỷ đồng đến năm 2009 giá trị của ngành tăng lên là 2124 tỷ đồng Sự gia tăng về giá trị tuyệt đối chính là nhờ sự tăng về hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào của ngành
Sự gia tăng lên về nguồn vốn được đầu tư vào nông nghiệp, các hệ thống về thủy lợi,
sử dụng các máy móc hiện đại, thâm canh, xen canh, chuyển đổi giống cây trồng – vật nuôi, áp dụng các công nghệ hiện đai, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong giống cây trồng và kỹ thuật chăm bón cây trồng đã làm giá trị của ngành tăng lên trong các năm qua mặc dù lao động trong ngành có hiện tượng giảm đi so với các năm trước
Tỷ trọng của ngành công nghiệp của tỉnh chiếm tỷ lệ cao nhất trong ba ngành của tỉnh và giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế của tỉnh Năm 2005 công nghiệp chiếm 38,64% GDP của tỉnh đến năm 2009 tỷ trọng của ngành chiếm là 45,01% Trong những năm qua ngành công nghiệp – xây dựng của tỉnh được đầu tư nhiều nhất nên tỷ trọng của ngành tăng liên tục, với tốc độ tăng cao trong suốt giai đoạn 2000 – 2005 tốc độ tăng là 19,24%, đến giai đoạn 2006 – 2010 tốc độ tăng là 17,7% Và trong mọi điều kiện của nền kinh tế ngành vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP của toàn tỉnh, đảm bảo sự phát triển của tỉnh Những năm qua tỉnh Thái Nguyên cũng đã cố gắng cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và cải thiện thủ tục hành chính để thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp đặc biệt là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Không những thế tỉnh tập trung phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tác là thế mạnh của các địa phương cùng với phát triển các ngành công nghệ cao, vật liệu xây dựng mới Đồng thời phát triển các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp mới đạt
Trang 31được kết quả tốt là tỷ trọng của ngành tăng dần qua các năm Nhưng đến năm 2008 khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nền kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó Đối với ngành công nghiệp thì sự ảnh hưởng đó cũng là nặng nhất so với các ngành khác, và đối với công nghiệp của tỉnh với sự đóng góp nhiều nhất của ngành thép cũng đã chịu tác động không nhỏ Tỷ trọng của ngành giảm không đáng
kể nhưng tốc độ tăng của ngành giảm xuống còn là 8,5% năm 2008 Đến năm 2009 tốc độ tăng của ngành là 9,55% có tăng lên so với năm 2008 nhưng đều thấp hơn so với các năm trước Hậu quả kéo theo là các công ty gang thép của tỉnh đã có doanh nghiệp phá sản và với giá phôi thép ngày cứ tăng lên làm chi phí sản xuất của các đơn
vị sản xuất tăng lên làm việc làm trong ngành giảm đi Nhiều lao động sau khi thời gian chờ cho nền kinh tế khởi sắc hơn thì đã tự tìm cách tạo việc làm cho chính mình
và di cư sang các tỉnh khác để tìm việc
Tỷ trọng của ngành dịch vụ chiếm thứ hai trong nền kinh tế, đến những năm gần đây tỷ trọng của ngành có những thay đổi tích cực Cơ cấu GDP ngành thương mại – dịch vụ tăng từ 30,68% năm 2001 lên 34,62% năm 2005 và dự tính lên đến 38,54 vào năm 2010 Nếu với đặc điểm của ngành dịch vụ thì trong các năm trước hầu như không cải thiện về cả giá trị tuyệt đối cho đến tỷ trọng, tốc độ tăng của ngành nhưng đến hiện nay thì ngành lại càng khẳng định vai trò của mình trong cơ cấu kinh tế của một quốc gia cũng như trong một tỉnh là ngành quan trọng phát triển có tác động mạnh nhất và nhanh nhất đến nền kinh tế
Có một đặc điểm khác biệt với xu hướng phát triển của nền kinh tế các nước phát triển thì với nền kinh tế đang phát triển thì tỉnh Thái Nguyên có tỷ trọng của ngành công nghiệp chiếm nhiều hơn so với tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP của tỉnh Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 bình quân tăng 17,5% cao hơn tốc độ tăng của ngành dịch vụ cùng giai đoạn là tăng 14,71% Đây là dấu hỏi lớn đối với các ngành, các lĩnh vực, với các nhà lãnh đạo của tỉnh, với các doanh nghiệp, các hộ gia đình – những người trực tiếp tạo ra GDP cho tỉnh thì muốn phấn đấu tỉnh trở thành nước công nghiệp trong cả nước và tận dụng lợi thế phát triển ngành dịch vụ thì đâu là sự phù hợp giữa hai tốc độ này và có đúng theo xu thế của toàn thế giới không?
• Cơ cấu thành phần kinh tế.
Thành phần kinh tế hiện nay của tỉnh phân ra thành: khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình Xu hướng chuyển dịch cơ cấu của các khu vực theo đúng xu hướng của nền kinh tế thị trường với sự tăng trưởng nhanh và
Trang 32gia tăng dần tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân, nhưng tỷ trọng của khu vực của kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo và với tỷ trọng cao nhất Các hoạt động kinh tế của thành phần kinh tế Nhà nước gồm rất nhiều các hoạt động phức tạp như hoạt động sự nghiệp, hoạt động hành chính, hoạt động kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp Nhà nước, các lĩnh vực chỉ có Nhà nước được đầu tư, sản xuất cung ứng như hệ thống đường tàu, hệ thống điện nước, hệ thống giáo dục Đây là những lĩnh vực cần thiết và chủ chốt nên mặc dù không theo cơ chế hóa tập trung nhưng thành phần kinh tế Nhà nước ở nước ta vẫn đóng vai trò quan trọng Chính vì thế mà lực lượng lao động đã ở trong thành phần kinh tế nhà nước là hầu như không biến động nhiều qua các năm Chỉ có xu hướng ngày nay những lực lượng trẻ chưa tham gia vào thị trường lao động thì không mong muốn hay thích vào khu vực Nhà nước
mà họ thích và đã có xu hướng tìm việc ở khu vực tư nhân nhiều hơn Do những ưu điểm của khu vực này mang lại như tính năng động, khả năng thích ứng cao hơn với thị trường, với thời cuộc và một phần là được trả lương cao hơn, dễ dàng tiếp cận hơn đối với những người có nhu cầu tìm việc và những người mới ra trường Trong tỉnh thì các loại hình tư nhân vẫn hoạt động mang tính tự phát, quy mô vừa và nhỏ nhiều hơn so với các loại hình có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, lượng vốn đầu tư còn ít và thấp như khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ xuất hiện trong tỷ trọng của ngành công nghiệp của tỉnh Đã có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập thêm, số lượng tăng và chất lượng tăng lên nhờ cải tiến máy móc, đổi mới công nghệ sản xuất nên tỷ trọng của khu vực tư nhân đang tiến dần đến con số của tỷ trọng thành phần kinh tế Nhà nước và có xu hướng trong tương lai nó sẽ cao hơn khu vực thành phần kinh tế Nhà nước
• Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ.
Một xu hướng tốt đối với tỉnh Thái Nguyên là cơ cấu đang có sự chuyển dịch theo hướng giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, các huyện, các khu vực trong tỉnh Đều có sự tăng lên về tốc độ tăng trưởng, về mặt kinh tế cũng như đời sống của người dân trong tỉnh được nâng cao – về mặt xã hội Nhưng sự tăng lên đó đã có sự chia sẻ giữa các huyện, các vùng cùng tạo điều kiện giúp đỡ nhau phát triển
Trong đó, thành phố Thái Nguyên là trung tâm kinh tế xã hội của toàn tỉnh vẫn
có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất, tập trung nhiều các khu công nghiệp, khu dân
cư và nhiều hoạt động xã hội diễn ra nhất Các vùng thuộc miền núi như huyện Định Hóa, Đại Từ cũng đang dần có tốc độ tăng trưởng tốt hơn, nhiều việc làm, hoạt động được tạo ra trên địa bàn các huyện để người dân có điều kiện tham gia, học hỏi
Trang 33kinh nghiệm phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân Các hoạt động sản xuất của khu vực nông thôn này đang dần được cải thiện thêm nhiều việc làm như xóa bỏ đất trống, đồi trọc để trồng rừng, chuyển đổi cây trồng ngô, khoai, sắn sang trồng cây chè mang lại giá trị cao hơn, chuyển đổi giống vật nuôi như bò thay lợn, phù hợp hơn, chuyển đổi cách chăm nuôi, chăn sóc thành mô hình kinh tế trang trại, mô hình kinh tế gò đồi Đây chính là bước đầu cho sự phát triển mạnh hơn cho công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng của các lĩnh vực sản xuất phi nông nghiệp Còn các hoạt động phi nông nghiệp trong ngành công nghiệp và dịch vụ thì tập trung nhiều hơn ở các đô thị như thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, thị trấn Đu quy mô được mở rộng và chất lượng được nâng cao.
2.2.2.3 Điều kiện về tổng vốn đầu tư xã hội
Vốn đầu tư là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế và nguồn vốn cũng là kết quả của quá trình tăng trưởng kinh tế Sự tác động thuận chiều đối với sự tăng trưởng: khi nguồn vốn tăng lên và được sử dụng hiệu quả thì giúp tăng trưởng kinh tế cao hơn và ổn định, ngược lại khi kinh tế phát triển với tốc độ cao thì nguồn vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh cũng tăng lên, kết cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ngày càng được cải thiện - tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sản xuất kinh doanh sản xuất tốt, tạo nhiều việc làm và cải thiện đời sống
Theo báo cáo tổng hợp “ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020” có nguồn vốn đầu tư toàn xã hội là Trong giai đoạn
2001 -2005, tổng vốn đầu tư xã hội đạt 8100 tỷ đồng (trong khi năm 2004 nguồn vốn này chỉ đạt 1847 tỷ), bình quân mỗi năm đạt khoảng 1620 tỷ đồng (chiếm 50,96% tổng GDP bình quân hàng năm) Đến giai đoạn 2006 – 2010, tổng nguồn vốn đầu tư
đã đạt tới 9035 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư xã hội bình quân hàng năm đạt 21,9% Về số lượng vốn của tỉnh các năm sau hầu như đều tăng cao hơn so với các năm trước nhưng hiệu quả sử dụng vốn của tỉnh thì như thế nào? Về tổng nguồn vốn được chia theo nguồn gốc hình thành thì bao gồm ba nguồn vốn lớn đó là: Nguồn vốn Nhà nước, nguồn vốn ngoài nhà nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Trong nguồn vốn kinh tế Nhà nước bao gồm thứ nhất là nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước – đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của mỗi tỉnh, nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng, quốc phòng, an ninh và hỗ trợ các dự án cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho việc lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế của tỉnh Nguồn vốn này chiếm đa số với tỷ lệ bình quân hàng năm trên 30% được sử dụng để xây
Trang 34dựng các công trình trọng điểm như các nhà máy, đơn vị sản xuất công nghiệp quy
mô lớn như nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn, công ty Gang thép Thái Nguyên Thứ hai, là nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của UBND tỉnh như một công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô và điều tiết nền kinh tế thị trường Thứ ba, là nguồn vốn từ doanh nghiệp Nhà nước bao gồm từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại của các doanh nghiệp thuộc sự quản lý và hoạt động dưới cơ chế của Nhà nước Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh, thông thường nguồn vốn của các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 14 -15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền doanh nghiệp để tạo thêm nhiều việc làm
Nguồn vốn ngoài Nhà nước bao gồm nguồn vốn của doanh nghiệp ngoài Nhà nước và nguồn vốn của hộ gia đình Theo ước tính của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn vừa qua, nguồn vốn ngoài Nhà nước cũng tăng nhanh trong đó nguồn vốn của các doanh nghiệp chiếm 41,8% và nguồn vốn của hộ gia đình chiếm 10,30% Thực tế trên địa bàn tỉnh cho thấy đầu tư của doanh nghiệp và hộ gia đình có vai trò đặc biệt trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ và vận tải của địa phương
Cuối cùng là nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của
cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tư phát triển vào tỉnh Thái Nguyên Theo tính chất luân chuyển của nguồn vốn phân thành tài trợ phát triển chính thức (ODF) trong đó hình thức tài trợ ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp tỉnh phát triển hơn Nguồn vốn ODA của tỉnh chỉ chiếm 2% tổng nguồn vốn đầu tư của tỉnh (đặc biệt nguồn vốn này vào tỉnh thông qua nguồn vốn đầu tư của chương trình 135 được thực hiện ở một số huyện miền núi của tỉnh như huyện Định Hóa ) Thứ hai, là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong tỉnh để thu lợi nhuận, nguồn vốn có ý nghĩa lớn cho sự phát triển kinh tế Trong thời gian qua, nguồn vốn FDI này trong tỉnh vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tỉnh năm 2005 chỉ chiếm 0,6% tổng nguồn vốn đầu tư toàn tỉnh, đến năm 2007 con số này đã tăng lên 3,4% và hiện nay năm 2009 là 4% nguồn vốn toàn xã hội Có sự tăng lên đáng kể là do tỉnh có ngành công nghiệp thép khá phát triển và đặc thù, có lợi thế về nguồn nguyên liệu nên thu
Trang 35hút được các nhà đầu tư Ngoài ra, còn có các nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ (NGO), nguồn vốn tín dụng thương mại nhưng chiếm với một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn toàn xã hội.
Vậy nguồn vốn đầu tư của toàn tỉnh là yếu tố quyết định đến tăng trưởng và giải quyết việc làm của tỉnh Mặc dù tỷ trọng nguồn vốn đầu tư khu vực kinh tế Nhà nước luôn đạt được mức cao nhất qua các năm nhưng có xu hướng giảm dần, về giá trị năm sau vẫn tăng so với năm trước Và chính sự gia tăng mạnh mẽ của các nguồn vốn khác trong tổng đầu tư toàn xã hội là giải thích cho nguyên nhân các nguồn vốn khu vực Nhà nước hoạt động không hiệu quả Tuy thế, đây lại là dấu hiệu tốt về môi trường đầu tư ở Thái Nguyên đang dần được cải thiện theo hướng khuyến khích đầu
tư khu vực ngoài Nhà nước, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
2.2 Thực trạng việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
2.2.1 Số lượng và chất lượng của nguồn lao động trên địa bàn của tỉnh.
2.2.1.1 Số lượng của nguồn lao động.
Quy mô dân số của tỉnh trong thời gian qua không có biến động nhiều: năm
2005 là 1.105.830 người, sau năm năm con số này của tỉnh là 1.156.500 người (năm 2010), tốc độ tăng dân số Thái Nguyên giai đoạn 2005 – 2010 thấp, bình quân là 0,96%/năm và có xu hướng ổn định (Theo thực trạng dân số lao động của tỉnh Thái Nguyên)
Quy mô dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh Thái Nguyên chiếm khoảng 65% tổng dân số: năm 2005 dân số trong độ tuổi lao động là 724.176 người đến năm 2010
dự tính là 809.220 người Tốc độ tăng bình quân hàng năm là 2,37% hay bình quân mỗi năm tăng thêm 15.687 người trong độ tuổi này Do đó, để đảm bảo hiện tượng thất nghiệp không xảy ra trong năm tiếp theo đó trên địa bàn tỉnh thì ngoài điều kiện phải đảm bảo các việc làm của năm trước ổn định thì có nghĩa năm là mỗi năm bình quân sẽ tương ứng cung việc làm trong tỉnh cũng là 15.687 việc làm
Dân số hoạt động kinh tế thường xuyên của tỉnh cũng đã tăng lên từ 617.598 người năm 2005 lên đến 723.439 người, tương ứng bình quân hàng năm tăng thêm khoảng 10.465 người
Bảng 1.3: Lực lượng lao động của tỉnh qua các năm
Đơn vị: Người
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
Trang 36Ds từ 15 tuổi trở lên 853.673 875.692 885.148 910.588 927.659
DS trong tuổi lao động 724.176 741190 758200 775200 792210
DS hoạt động kinh tế 617598 638960 651600 663420 674021
Nguồn: Thực trạng lao động việc làm tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 – 2010.
Bảng 1.4: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số.
Nguồn: Thực trạng lao động, việc làm tỉnh Thái Nguyên
Qua bảng số liệu thấy rằng phần lớn dân số hoạt động kinh tế của tỉnh Thái Nguyên nằm trong độ tuổi lao động (97,03%) Tỷ lệ lao động trong độ tuổi tham gia lực lượng lao động giai đoạn 2006 – 2009 dao động trong khoảng từ 82,75% -85,07%
và có xu hướng tăng lên trong các năm tiếp theo Tốc độ tăng bình quân hàng năm là 1,91%, điều này chứng tỏ rằng số người có việc làm ngày một tăng lên nhưng tăng chậm – cung việc làm tăng chậm Dân số từ 15 tuổi trở lên của tỉnh năm 2005 là
853673 người và tăng dần lên đến 927.659 người năm 2009, với kết cấu dân số trẻ số lượng người từ 15 tuổi tăng lên làm dân số trong tuổi lao động cũng tăng lên theo năm 2005 là 724.176 người đến năm 2009 là 792.210 người, bình quân cả giai đoạn
2005 -2009 lực lượng lao động của tỉnh tăng 68034 người, tạo ra một nguồn lực dồi dào cho tỉnh – đây là một lợi thế về yếu tố đầu vào cho các đơn vị sản xuất kinh doanh tận dụng Nhưng nhìn theo số liệu thì dân số hoạt động kinh tế vẫn có số lượng thấp nhất trong ba chỉ tiêu trong bảng: năm 2005 dân số trong độ tuổi lao động là 724.176 người, dân số tham gia hoạt động kinh tế có là 617.598 người Điều này cho thấy rằng vẫn có lượng người dư không nằm trong dân số hoạt động kinh tế nhưng vẫn nằm trong độ tuổi lao động, đó là lượng người thất nghiệp, lượng người không hoạt động kinh tế như dân số không có nhu cầu lao động, không muốn tham gia lao động vì nhiều lý do khác nhau
Nhưng khi nhìn vào riêng số liệu về dân số hoạt động kinh tế của tỉnh Thái
Trang 37Nguyên có: năm 2005 có 617.598 người đến năm 2009 dân số hoạt động kinh tế là 674.021 người, bình quân cả giai đoạn lượng người hoạt động kinh tế tăng lên là 56.423 người Chính những con số này đã thể hiện một xu hướng diễn ra trên cả nước
và trong tỉnh là con người ngày càng muốn và đã tham gia vào hoạt động kinh tế nhiều hơn hay chính là nhu cầu việc làm ngày càng tăng lên Nếu tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số trong độ tuổi lao động chiếm 82,75% năm 2005 thì đến năm 2009 là 85,08% Sự tăng lên này là do sự thay đổi của dân số là nội trợ, sự thay đổi của dân số mà thời gian trước không muốn lao động Với xã hội ngày càng phát triển hơn, con người muốn thích ứng với cuộc sống và nâng cao vị thế của mình thì làm việc là con đường mà họ cần đi Với ý thức, tư duy thay đổi thì phụ nữ nói chung
và phụ nữ của tỉnh nói riêng cũng đã tham gia vào lực lượng lao động nhiều hơn, mở mang kiến thức Vì vậy, số người cần việc làm trong giai đoạn này là tăng lên và đồng thời kinh tế tăng trưởng của tỉnh cũng đã tạo ra nhiều chỗ làm việc hơn so với thời kỳ trước Nhưng liệu sự tăng lên về cầu việc làm thì nhanh còn cung việc làm lại tăng lên chậm thì có xảy ra hiện tượng thất nghiệp không?
Trang 38Bảng 1.5: Về quy mô và tốc độ tăng bình quân hàng năm của dân số trong độ
tuổi lao động của tỉnh Thái Nguyên.
Đơn vị: Nghìn người
Giai đoạn Tổng số người
tăng thêm (nghìn người)
Mức tăng bình quân/ năm (nghìn người)
Tốc độ tăng bình quân hàng năm (%)
2006 – 2010 68,03 17,00 2,29
2010 – 2015 23,82 4,76 0,59
2016 – 2020 21,77 4,35 0,52
Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Thái Nguyên.
Theo mức dự báo của Sở kế hoạch đầu tư Thái Nguyên đưa ra trong giai đoạn
2010 – 2015 và giai đoạn 2016 – 2020 thì tổng số người tăng thêm trong tỉnh lần lượt
là 23,82 nghìn người và 21,77 nghìn người thấp hơn nhiều so với thực trạng hiện nay
2006 – 2010 là 68,03 nghìn người Tốc độ tăng bình quân hàng năm trong giai đoạn sau cũng thấp hơn rất nhiều so với giai đoạn này Dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh sẽ giảm dần, nguồn lao động cũng sẽ giảm dần, nhu cầu về việc làm không ít đi theo tốc độ tăng dân số của nguồn nhân lực, nhưng cũng giảm bớt được tốc độ nhanh của nhu cầu để cung việc làm kịp cân bằng với cầu việc làm, giảm bớt thất nghiệp trong tỉnh Vì thất nghiệp lại là có sự đánh đổi với tăng trưởng kinh tế nên mục tiêu của tỉnh không phải là giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 0% nhưng tỷ lệ này phải phù hợp với điều kiện tăng trưởng kinh tế của tỉnh
2.2.1.2 Chất lượng của nguồn lao động.
Chất lượng nguồn lao động thể hiện qua trình độ văn hóa của người lao động, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động và hiện nay có cả ý thức kỷ luật của người lao động
Trình độ văn hóa của người lao động
Là tỉnh nằm trung tâm của vùng Đông Bắc, Thái Nguyên là một tỉnh đầu về giáo dục đào tạo, tỉnh với nhiều trường học, trường đại học, dạy nghề Vì thế, trình
độ văn hóa của lực lượng lao động Thái Nguyên cao hơn so với mức chung của các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc (năm 2008 có 30,18% LLLĐ của tỉnh Thái Nguyên có trình độ văn hóa PTTH so với 23,18% của vùng Đông Bắc Với hệ thống giáo dục đào tạo nghề phong phú về số lượng và cấp trình độ (5 trường đại học, 7 trường Trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, 7 trường Công nhân kỹ thuật và hệ thống các