Chúng tôi cũng vậy, với tình thần và trách nhiệm của sinh viên đại học, chúng tôi cũng cố gắng tìm hiểu và vận dụng kiến thức của mình cùng với sự hướng dẫn tận tình của các thầy, cô tro
Trang 1ĐỒ ÁN CÔNG NGHỆ
ĐỀ TÀI:
TỔNG HỢP BIOGAS TỪ RÁC THẢI HỮU
CƠ ĐỂ CHIẾU SÁNG TRONG CÔNG VIÊN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : ThS Diệp Khanh
LỚP : DH11H1
SINH VIÊN THỰC HIỆN : Vũ Văn Phúc
Đặng Thị Thơm Dương Minh Tạo Huỳnh Minh Tuân
Lê Thanh Tuân
Vũng Tàu, tháng 12 năm 2014
Trang 2ĐỒ ÁN CÔNG NGHỆ
ĐỀ TÀI:
TỔNG HỢP BIOGAS TỪ RÁC THẢI HỮU
CƠ ĐỂ CHIẾU SÁNG TRONG CÔNG VIÊN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : ThS Diệp Khanh
LỚP : DH11H1
SINH VIÊN THỰC HIỆN : Vũ Văn Phúc
Đặng Thị Thơm Dương Minh Tạo Huỳnh Minh Tuân
Lê Thanh Tuân
Vũng Tàu, tháng 12 năm 2014
Trang 3-o0o -NHIỆM VỤ THIẾT KẾ ĐỒ ÁN THIẾT BỊ
Họ và tên sinh viên : Vũ Văn Phúc
Đặng Thị Thơm Dương Minh Tạo Huỳnh Minh Tuân
Lê Thanh Tuân Lớp: DH11H1
Ngành: Công nghệ kỹ thuật hóa học
1 Nhiệm vụ đồ án:
Tổng hợp Biogas từ rác thải hữu cơ để chiếu sáng trong công viên
2 Giảng viên hướng dẫn: ThS Diệp Khanh
3 Ngày giao nhiệm vụ: 15/10/2014
4 Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 08/12/2014
Vũng tàu, ngày 8 tháng 12 năm 2014
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
(Ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Vũng Tàu, ngày tháng năm 2014
Người nhận xét
Trang 5………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Vũng Tàu, ngày 8 tháng 12 năm 2014
Người nhận xét
Trang 6Công Nghệ Thực Phẩm - Trường đại học Bà Rịa Vũng Tàu cùng toàn thể quý thầy,
cô đang công tác tại trường đã tạo điều kiện cho chúng tôi có cơ hội để ứng dụng kiến thức vào một quy trình công nghệ Chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy ThS
Lê Diệp Khanh đã tận tình hướng dẫn chúng tôi hoàn thành đồ án này Chúng tôi cũng xin gửi lời biết ơn đến gia đình chúng tôi đã luôn động viên và là chỗ dựa vững chắc để chúng tôi vượt qua khó khăn đi đến hoàn thành đồ án công nghệ này Đồng thời, chúng tôi xin gửi lời cảm lời cảm ơn đến các bạn đang học tại lớp DH11H1 đã có những đóng góp, nhận xét để bài đồ án công nghệ được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng chúng tôi xin chúc cho tất cả quý thầy cô đang công tác tại trường đại hoc Bà Rịa – Vũng Tàu nói chung và toàn thể quý thầy, cô đang công tác tại Khoa hóa và Công Nghệ Thực Phẩm – Trường đại học Bà Rịa-Vũng tàu nói riêng
có sức khỏe tốt để tiếp tục sự nghiệp giáo dục, xin chúc quý thầy cô luôn hạnh phúc
và thành công trong sự nghiệp giảng dạy Chúng tôi cũng chân thành chúc cho gia đình chúng tôi- những người thân yêu nhất sức khỏe luôn tốt đê tiếp tục là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho chúng tôi Chúng cùng chúng tôi xin chúc cho tất cả các bạn đang học tại lớp DH11H1 luôn luôn có sức khỏe và bảo vệ thành công đồ án này!
Vũng Tàu, ngày 08 tháng 12 năm 2014
Những người thực hiện:
Vũ Văn PhúcĐặng Thị ThơmDương Minh TạoHuỳnh Minh Tuân
Lê Thanh Tuân
Trang 7LỜI CẢM ƠN 6
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2
1.1 Biogas 2
1.1.1 Giới thiệu Biogas 2
1.1.2 Cơ chế tạo thành khí sinh học trong hệ thống Biogas 12
- Tháp tách CO2 17
1.2 Phân Compost 18
1.2.1 Khái niệm [8] 18
1.2.2 Quy trình làm phân compost và các yếu tố ảnh hưởng 20
1.2.3 Thành phần đa lượng và vi lượng của phân compost [8] 25
1.2.4 Lợi ích của việc ủ phân compost [8] 25
1.2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước [8] 26
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM 32
2.1 Quy trình công nghệ 32
2.1.1 Sơ đồ công nghệ 32
2.1.2 Thuyết minh sơ đồ công nghệ 32
2.2 Tính toán công nghệ 33
2.3 Tính toán thiết bị 33
2.3.1 Tính toán bồn chứa 33
2.3.2 Tính toán thiết bị phụ 34
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 8Bảng 1.2 Phân tích ưu nhược điểm của một số nhà máy chế biến phân Compost
từ rác thải sinh hoạt 29
Trang 9Hình 1.2 Cơ chế lên men của vi sinh vật yếm khí 13
Hình 1.3 Vi sinh vật clostridium thermocellum 14
Hình 1.4 Vi sinh vật Bifido bacterium 14
Hình 1.5 Vi sinh vật Metanobacterium 15
Hình 1.6 Thiết bị tách H2S 17
Hình 1.7 Tháp tách CO2 18
Hình 1.8 Hệ thống lọc Biogas 18
Hình 2.9 Sơ đồ công nghệ hệ thống sản xuất Biogas 32
Hình 2.10 Đèn khí sinh học 33
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời buổi kinh tế phát triển như hiện nay thì vấn đề về nguyên, nhiên liệu và
ô nhiễm môi trường luôn là các vấn đề trọng điểm của xã hội Rất nhiều công trình nghiên cứu đã được đưa ra nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và tìm ra nguồn nguyên, nhiên liệu thay thế Chúng tôi cũng vậy, với tình thần và trách nhiệm của sinh viên đại học, chúng tôi cũng cố gắng tìm hiểu và vận dụng kiến thức của mình cùng với sự hướng dẫn tận tình của các thầy, cô trong khoa Hóa và Công nghệ thực Phẩm – trường đại học Bà Rịa – Vũng Tàu đề xuất quy trình tổng hợp Biogas từ rác thải hữu cơ để chiếu sáng trong công viên
Đề tài:” Tổng hợp Biogas từ rác thải hữu cơ để chiếu sáng trong công viên”
cho chúng tôi cái nhìn tổng quát về Biogas, giúp chúng tôi có thể giải quyết được các vấn đề về ô nhiễm môi trường từ rác thải, tiết kiệm nguồn năng lượng điện quốc gia và tận dụng Biogas làm nhiên liệu thắp sáng Đồng thời, chúng tôi còn thu hồi được phân Compost từ bã thải của quá trình để làm nguồn nguyên liệu cho nông nghiệp Đề tài của chúng tôi nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
Chương 2: XÂY DỰNG QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM
Chương 3: KẾT LUẬN
Trong quá trình làm đồ án này, mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng kinh nghiệm và kiến thức của chúng tôi có hạn nên không tránh khỏi những sai xót, nhóm chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn đề bài đồ án công nghệ này được hoàn thiện hơn
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1 Biogas
1.1.1 Giới thiệu Biogas
a Khái niệm về Biogas [1]
Biogas là sản phẩm khí của quá trình lên men kị khí phân giải các hợp chất hữu
cơ phức tạp thành những hợp chất hữu cơ đơn giản trong đó có sản phẩm chính mà chúng ta cần là khí Metan, khí này có thể sử dụng như một loại nhiên liệu dùng để sinh nhiệt, thành phần chủ yếu của biogas gồm: CH4 (40-70%), CO2 (35-40%) và các khí khác với hàm lượng thấp như H2S, CO, N2, O2…
Khí CH4 là 1 chất khí không màu, không mùi, nhẹ hơn không khí Khi đốt hoàn toàn 1m3 khí CH4 cho ra khoảng 5500 – 6000 kcal, tương đương với 0,5 – 0,7 lít dầu diesel Ở qui mô nhỏ, biogas có thể được sử dụng trực tiếp làm nhiên liệu đốt nóng, đun nấu Ở qui mô lớn hơn, biogas có thể được sử dụng trực tiếp làm nhiên liệu để chạy động cơ, phát điện Tuy nhiên, để sử dụng được với qui mô công nghiệp, biogas cần phải được lọc sạch các tạp chất, đặc biệt là Hydro sulfide và Siloxane H2S và SiO2
có thể ăn mòn kim loại, phá hủy máy móc
Tính chất của biogas phụ thuộc vào thành phần các chất khí trong nó Thành phần chủ yếu của biogas là CH4 và CO2 nên tính chất của nó phụ thuộc vào tính chất của 2 chất khí này
Với tỉ lệ phổ biến của biogas là 60% CH4 và 40% CO2 thì khối lượng riêng của biogas là 1,2196kg/m3, nhiệt trị là 8,576Kcal/m3, tỷ trọng so với không khí là 0,94 Như vậy, biogas nhẹ hơn không khí
b Nguồn nguyên liệu và các yếu tố ảnh hưởng [2]
- Nguồn nguyên liệu
Nói chung, các chất hữu cơ có nguồn gốc sinh học đều có thể làm nguyên liệu nạp cho các thiết bị khí sinh học Các nguyên liệu này có thể được chia thành hai loại: Nguyên liệu có nguồn gốc động vật và nguyên liệu có nguồn gốc thực vật
+ Nguyên liệu có nguồn gốc từ động vật:
Trang 13Thuộc loại này là các loại phân như: Phân người, phân gia súc, gia cầm,…các
bộ phận của cơ thể động vật như xác động vật chết, rác và nước thải các lò mổ, cơ sở chế biến thủy, hải sản… Vì được xử trong bộ máy tiêu hóa nên dễ phân hủy và nhanh chóng cho khí sinh học Tuy vậy, thời gian phân hủy của các loại phân không dài (2-3 tháng) và tổng lượng khí thu được từ 1kg phân là không lớn Phân trâu, bò, lợn phân hủy nhanh hơn Phân người và phân gà vịt phân hủy chậm hơn nhưng cho năng suất cao hơn Sản lượng phân trên một đầu gia xúc phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể và chế
độ dinh dưỡng Nhìn chung, hàm lượng chất khô của các loại phân tươi vào khoảng 20%, còn lại là nước Các loại phân thường giàu Nitơ, hiệu suất sinh khí của các loại phân tính cho chất khô nằm trong khoảng từ 0,2-0,3 m3/kg/ngày và hàm lượng Metan của khí sinh học sản xuất từ phân chiếm khoảng 50-70%
+ Nguyên liệu có nguồn gốc thực vật:
Các nguyên liệu thực vật gồm phụ phẩm cây trồng như: rơm rạ, thân lá ngô, khoai đậu,…rác sinh hoạt hữu cơ như: rau, quả, lương thực bỏ đi, và loại cây xanh hoang dại như: Bèo, các cây cỏ sống dưới nước,…Các nguyên liệu thực vật có lớp vỏ cứng rất khó bị phân hủy Vì vậy, nguyên liệu càng già càng khó phân hủy Để cho quá trình phân hủy được thuận lợi, những nguyên liệu thực vật cần được xử lý sơ bộ (chặt, băm, đập nhỏ và ủ sơ bộ) mục đích của công việc này là để phá vỡ lớp vỏ cứng
và tăng diện tích bề mặt cho vi khuẩn tấn công Quá trình phân hủy của nguyên liệu thực vật thường dài hơn so với các loại phân (có thể kéo dài hàng năm) Do vậy, nguyên liệu thực vật nên sử dụng theo cách nạp từng mẻ nhỏ, mỗi mẻ kéo dài từ 3-6 tháng
Đối với đề tài “Tổng hợp Biogas từ rác thải hữu cơ để chiếu sáng trong công viên” thì nguyên liệu sử dụng là rác thải sinh hoạt
Trong thực tế, sản lượng khí thu được khi lên men nguyên liệu trong các thiết bị khí sinh học thường thấp hơn so với lý thuyết vì chúng được phân hủy trong một thời gian nhất định và chưa phân hủy hoàn toàn Bảng dưới đây, cho chúng ta số liệu tham khảo đối với một số nguyên liệu thường gặp Sản lượng khí hàng ngày được tính theo lượng nguyên liệu nạp hàng ngày (lít/kg/ngày) Phân động vật được nạp theo phương thức liên tục bổ sung hàng ngày Thực vật được nạp từng mẻ
Trang 14Bảng 1.1 Đặc tính và lượng khí sinh ra của một số nguyên liệu
Nguyên liệu
Hàm lượng chất khô (%)
Lượng thải hằng ngày (kg)
Tỉ lệ cacbon/Nitơ
Sản lượng khí hằng ngày (l/kg)
Tổng lượng khí cho l/ngày tính trung bình/conPhân bò
15-2018-251,2-40,02-0,050,18-0,34
24-2524-2512-135-152,9-1012-2544-117
15-3215-3240-6050-6060-700,3-0,51,5-2
4704701301,92516,9
+ Nhiệt độ: Có hai vùng nhiệt độ thích hợp cho sự lên men của vi khuẩn sinh khí methane: Một là messophilic (nhiệt độ trung bình) biến động từ 20-450C, và hai là thermophilic (nhiệt độ cao) trong vùng trên 450C Nhiệt độ tối ưu là 350C cho vùng thứ nhất và 550C cho vùng thứ hai Sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình sinh khí Vi khuẩn sinh khí methane rất nhạy cảm với nhiệt độ, biên độ nhiệt độ thay đổi cho phép là 100C trong mỗi ngày Nhiệt độ dưới 100C làm vi khuẩn hoạt động kém và gas sẽ không được sinh ra hoặc rất ít Ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình từ 18 –
320C là thuận lợi cho hoạt động của vi sinh, sinh khí methane
Trang 15+ Độ pH: pH cũng góp phần quan trọng đối với hoạt động sống của vi khuẩn sinh khí methane Vi khuẩn sinh khí methane thích hợp ở pH 6,5 – 7 Khi pH lớn hơn
8 hay nhỏ hơn 6 thì hoạt động của nhóm vi khuẩn giảm nhanh
+ Thành phần dinh dưỡng (hàm lượng chất khô): Để đảm bảo quá trình sinh khí bình thường và liên tục phải cung cấp đầy đủ nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của vi khuẩn Thành phần chủ yếu của nguyên liệu phải cấp là C và N; với cacbon ở dạng là Carbohyrat, còn nitơ ở dạng nitrate, protein, amoniac Ngoài việc cung cấp đầy đủ nguyên liệu C và N cần phải đảm bảo tỉ lệ tương ứng C/N Tỉ lệ thích hợp sẽ đảm bảo cân đối dinh dưỡng cho hoạt động sống của snh vật kỵ khí, trong đó C
sẽ tạo năng lượng còn N sẽ tạo cơ cấu của tế bào Nhiều thí nghiệm cho thấy với tỉ lệ C/N = 25/1-30/1 thì sự phân hủy kỵ khí xảy ra tốt
+ Tỉ lệ phân/nước: Nếu phân quá loãng thì lượng phân không đủ để phân hủy, ngược lại dịch phân quá đặc sẽ gây cứng hầm ủ và cản trở quá trình thoát khí Tốt nhất cho sự phân hủy biến thiên từ 1/3 hoặc 1/4 đến 1/7 Dịch thải ra tốt có màu đen sậm Nước thải sau quá trình phân hủy trong công nghệ hầm ủ biogas sẽ giảm mùi hôi, không thấy ruồi nhặng đeo bám tiêu diệt mầm bệnh, nhất là ký sinh trùng và các bệnh lây lan khác
+ Thời gian lưu ủ nguyên liệu trong hầm biogas ở môi trường nước ta nên tuân thủ theo mốc: Khi nhiệt độ 10-150C cần 55 ngày; nhiệt độ 15-200C cần 40 ngày; khi nhiệt độ trên 200C thì chỉ cần 30 ngày để nguyên liệu phân giải sinh ra khí Do môi trường sản sinh ra khí sinh học rất khắt khe, dị ứng với nhiều loại hóa chất mà ta thường gọi là độc tố nên người vận hành hầm biogas cần lưu ý tránh những chất thải
có chứa thuốc sâu, thuốc diệt cỏ, sát trùng, kháng sinh, nước xà phòng, thuốc nhuộm, dầu nhờn… có nhiều trong quá trình sinh hoạt, tẩy rửa chuồng trại theo nguyên liệu nạp vào hầm biogas làm ảnh hưởng đến quá trình phân giải sản sinh ra khí Metan
c Lợi ích của biogas mang lại [4]
Đối với nước ta, công nghệ biogas được phát triển các đây không lâu, khoảng thập niên 60 Kể từ đó công nghệ này luôn được cải tiến và ứng dụng rộng rãi ở những quy mô khác nhau Công nghệ này đã và đang đem lại những hiệu quả đáng mừng về kinh tế, xã hội và môi trường cho người dân Theo “Báo cáo khảo sát người sử dụng
Trang 16khí sinh học năm 2006” lợi ích của công trình khí sinh học đối với cuộc sống người dân được thể hiện ở các mặt:
- Về kinh tế: Việc phát triển khí sinh học là một bước tiến quan trọng để tiến tới
giải quyết vấn đề thiếu chất đốt ở nông thôn Việc sử dụng biogas, một chất đốt thu được từ các nguồi sinh vật dồi dào trong tự nhiên, là một nguồn thay thế cho các nguyên liệu rắn như than và củi đã mang lại một sự thay đổi cơ bản trong lịch sử chất đốt đối với các vùng nông thôn Trước khi có công trình khí sinh học, hầu hết các hộ gia đình đều sử dụng loại nhiên liệu phổ biến là điện, củi, rơm rạ, trấu, than và khí hóa lỏng Sau khi các hộ gia đình này xây dựng công trình khí sinh học, việc thay thế các loại nhiên liệu thường dùng thay đổi khá rõ rệt Cụ thể, số hộ sử dụng củi giảm 70%,
số hộ sử dụng than giảm 47%, số hộ sử dụng rơm, trấu giảm 49% và số hộ sử dụng khí hóa lỏng giảm 11,5% Căn cứ vào loại, số lượng nhiên liệu được thay thế và giá cả mua bán thì mức độ tiết kiệm nhiên liệu bình quân đối với mỗi hộ gia đình ước tính từ 85.000 – 95.000 đồng/tháng Đặc biệt, đối với những hộ gia đình sử dụng khí sinh học thay thế hoàn toàn nhiên liệu khác trong việc đun nấu thì tiết kiệm được khoảng 100.000 đồng/tháng Bên cạnh đó, việc sử dụng phụ phẩm khí sinh học giúp giảm chi phí mua phân bón cho cây trồng Chi phí mua phân bón hóa học cho cây trồng của hộ gia đình sau khi có công trình khí sinh học giảm đi đáng kể (từ khoảng 18-30%) so với trước khi có công trình khí sinh học Nhìn chung, việc sử dụng phụ phẩm khí sinh học không những tăng năng suất cây trồng, góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn góp phần giảm việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu và phân bón hóa học
- Về xã hội: Đối với các gia đình nông thôn, trước khi có công trình khí sinh học,
hộ dân thường dùng củi, rơm rạ, than hoặc khí hóa lỏng để đun nấu Để có được những nguyên liệu này, hộ dân thường phải đi tìm kiếm, nhặt nhạnh hoặc tìm mua Sau khi có công trình khí sinh học, hộ dân đã gần như sử dụng khí sinh học để thay thế hoàn toàn cho các nhiên liệu phục vụ cho hoạt động đun nấu trước đây Mỗi hộ dân có thể tiết kiệm 3-4 giờ/tuần cho việc tìm kiếm hoặc mua các nhiên liệu Ngoài ra, việc sử dụng khí sinh học trong đun nấu thuận tiện và sạch sẽ cũng góp phần giải phóng phụ nữ khỏi gánh nặng vất vả của công việc nội trợ và kiếm củi, tiết kiệm thời gian cho các công việc khác và nghỉ ngơi Chính vì thế, xây dựng công trình khí sinh học trực tiếp
Trang 17mang lại cuộc sống tiện nghi cho người dân như: sử dụng chất đốt có chất lượng cao, khu công trình phụ, chuồng trại vệ sinh sạch đẹp,…
- Về môi trường: Phát triển chương trình biogas cũng là con đường hiệu quả để
giải quyết vấn đề phân bón và cải thiện vệ sinh môi trường, tiêu chuẩn sức khỏe ở nông thôn Nó là biện pháp để thủ tiêu các trứng sán, giun và các loại ký sinh trùng khác sống trong mọi loại phân Thu gom tất cả các phân thải của gia súc và người vào một hầm biogas là cách giải quyết vấn đề chất thải tốt nhất
Trước khi có công trình khí sinh học thì 54% hộ gia đình có thói quen ủ phân trước khi bón cho cây trồng, 16% hộ dân bón phân chuồng trực tiếp cho cây và 15% hộ gia đình
đổ trực tiếp chất thải chăn nuôi ra cống rãnh hoặc mương thoát nước Cách giải quyết chất thải vật nuôi như trên đã tác động xấu đến môi trường sống, gây ra mùi hôi thối quan khu vực sống và ảnh hưởng đến những hộ dân bên cạnh Sau khi có công trình khí sinh học, 72% lượng chất thải vật nuôi được nạp vào công trình khí sinh học, 20%
hộ gia đình sử dụng sau khi ủ phân, 4,8% lượng chất thải vật nuôi được các hộ gia đình bán hoặc cho hàng xóm và chỉ còn 2,1% lượng chất thải vật nuôi được thải trực tiếp vào cống rãnh Tóm lại, việc sử dụng các công trình khí sinh học góp phần quan trọng giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi Phụ phẩm khí sinh học được sử dụng làm phân bón cho đồng ruộng và hoa màu có tác dụng cải tạo đất, nâng cao độ phì chống bạc màu và xói mòn đất, góp phần bảo vệ và cải tạo nguồn tài nguyên đất canh tác, giúp cho cây trồng tăng sản lượng từ 20-30% Thêm vào đó, sử dụng khí sinh học làm chất đốt nhằm gảm thiêu thụ gỗ củi phục vụ các mục đích khác nhau và cũng góp phần giảm các bệnh về mắt và phổi do khói bụi gây ra khi đun nấu
d Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước [5]
- Tình hình nghiên cứu của thế giới:
Công nghệ biến đổi các chất hữu cơ thành KSH đã có từ hàng trăm năm nay Theo huyền thoại, KSH đã được dùng để đun nước tắm ở Assyri trong thế kỷ thứ X trước CN và ở Ba Tư trong thế kỷ thứ XVI Người đầu tiên phát hiện thấy sự phát ra
Trang 18loại khí cháy được từ các chất hữu cơ thối rữa là Van Helmont (1630) Shirley (l667) cũng đã nói đến khí đầm lầy Volta (1776) đã tiến hành một loạt quan sát và kết luận rằng lượng khí đầm lầy được sinh ra phụ thuộc vào lượng thực vật thối rữa trong lớp lắng đọng ở đáy mà từ đó khí nổi lên và với một tỷ lệ nhất định, hỗn hợp khí thu được
lơ lửng trong nước thải
Cuối thế kỷ 19, sự sản sinh ra Metan đã được phát hiện là có liên quan với hoạt động của các vi sinh vật Bunsen (1856), Hoppe Seyler (1886), Bechamp (l868), Tappeiner (1882) và Gayon (1884) đã tiến hành nghiên cứu về các khía cạnh vi sinh vật học của quá trình sản sinh Metan Bechamp (1868) đã đặt tên cho "sinh vật" chịu trách nhiệm về sự sản sinh ra Metan từ etanol Sinh vật này dường như là một quần thể hỗn hợp vì Bechamp đã có thể chỉ ra rằng những sản phẩm lên men khác nhau đã hình thành từ những cơ chất khác nhau
Năm 1875, Popoff trình diễn sự sản sinh ra hydro và Metan từ sự lên men của các nguyên liệu chứa xenlulo được bổ sung thêm bùn sông Năm 1876, Herter báo cáo rằng axetat ở bùn cống đã biến đổi thành Metan và cacbon dioxit Gayon (một học trò của Pasteur) đã cho lên men phân ở 350C và thu được 100 lít Metan đối với 1 m3phân Ông kết luận rằng: “Sự lên men có thể là một nguồn cung cấp khí để sưởi ấm và thắp sáng” Năm 1884, Pasteur đã trình bày trước Viện Hàn lâm Khoa học Paris những phát hiện thực nghiệm của Gayon Việc sử dụng khí thu được lần đầu tiên được thực hiện vào năm 1859 khi một bể phân huỷ Metan được xây dựng tại Bombay (Ấn Độ) để xử
lý chất thải của người và khí sinh ra đã được dùng để thắp sáng Năm 1895 (Anh quốc), Cameron trình diễn việc dùng KSH để thắp sáng Năm 1986, khí từ hệ thống cống được dùng để thắp sáng các phố ở Exeter (Anh quốc) Về mặt vi sinh vật học, năm 1901: Schengon đã mô tả những đặc điểm hình thái của vi khuẩn Metan Năm
1906, Sohngen làm giàu được 2 vi khuẩn sử dụng acetate khác nhau và phát hiện thấy
Trang 19focmat và hydro cùng carbon dioxit có thể đóng vai như những tiền chất cho Metan Một chủng vi khuẩn Metan đã được Omelianskii phân lập năm 1916 Năm 1950, Hungate đã thiết lập kỹ thuật kỵ khí do Bryant phát triển Schnellen (1947) phân lập được hai vi khuẩn Metan: Methanosarcina barkeri và Methanobacterium formicicum Năm 1967, Bryant đã thuần chủng được vi khuẩn Methanobacillus omehanskii Cuối những năm 1920, những nghiên cứu hoá sinh về sự phân huỷ kỵ khí đã được tăng cường Buswell đã bắt đầu nghiên cứu và giải thích những vấn đề như vai trò của nitơ trong quá trình phân huỷ kỵ khí, hoá học lượng pháp của phản ứng, việc sản xuất năng lượng từ những chất thải của các trang trại và ứng dụng quá trình này cho các chất thải công nghiệp Những nghiên cứu của Barker đã đóng góp quan trọng cho hiểu biết của chúng ta về các vi khuẩn Metan và những Cultua được làm giàu của ông giúp ông thực hiện được những nghiên cứu cơ bản về hoá sinh (1956) Trong những năm gần đây, phân huỷ kỵ khí đã phát triển từ một kỹ thuật biến đổi sinh khối tương đối đơn giản, với mục đích chủ yếu là sản xuất năng lượng, thành một hệ thống đa chức năng:
- Xử lý các chất thải hữu cơ và nước thải với phạm vi tải lượng hữu cơ và nồng
độ cơ chất rộng
- Sản xuất và sử dụng năng lượng
- Cải thiện vệ sinh, giảm mùi hôi thối
- Sản xuất phân bón chất lượng cao
Hoạt động nghiên cứu chuyển từ những nghiên cứu cơ bản về quá trình phân huỷ kỵ khí của các cơ chất tương đối đồng nhất với hàm lượng chất rắn hữu cơ trong giới hạn khoảng 5 – 10% sang sự phân huỷ của những nguyên liệu phức tạp hơn đòi hỏi những kiểu bể phân huỷ cải tiến hiệu quả hơn Công nghệ phân huỷ kỵ khí đã được phát triển rộng lớn ở cả các nước công nghiệp (Đức, Đan mạch, Pháp ) và các nước đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Độ ) với đa chức năng như trên
Trang 20Hình 1.1 Thùng chứa biogas trong công viên ở Mỹ
Công viên này đã giới thiệu loại thùng chứa biogas Spark trong tuần này Hiện
dự án này mới chỉ mới cung cấp điện năng cho đèn đường Trang web chính thức của
dự án này tuyên bố, chiếc thùng này có thể thay thế thùng rác và biến rác thành nhiên liệu một cách dễ dàng Chỉ cần những người dân trong thành phố nuôi chó, chỉ cần họ
bỏ phân chó vào thùng chứa Biogas thì nguồn nhiêu liệu sạch từ phân chó sẽ là vô tận
Dự án này gồm 3 bước cơ bản: Trước tiên là vứt phân chó vào thùng Biogas sau đó vi khuẩn kỵ khí sẽ bắt đầu phân hủy phân, đảo đều hỗn hợp để làm tăng hàm lượng khí Metan, cuối cùng thu hồi khí Metan và dùng để thắp sáng Người nuôi chó sau khi dùng túi tự phân hủy để đựng phân chó có thể vứt phân chó vào thùng Biogas sau đó dùng gậy để đảo Thùng đựng vi khuẩn được chôn dưới đất và đưa khí Metan lên cột đèn qua một đoạn ống và khí Metan sẽ được đốt cháy để thắp sáng [6]
- Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam:
+ Thời kì 1960 – 1975:
•Miền Bắc: Nhiều người đã chú ý đến thông tin về công nghệ KSH Tài liệu dịch
"Cách sinh hơi mê tan nhân tạo và lấy hơi mê tan tự nhiên" được Bộ Công Nghiệp xuất bản năm 1960 Một số cá nhân và tổ chức, đã xây thử một số công trình ở vài nơi như Hà Nội, Bắc Thái (xây "Xưởng phát điện mê tan" đầu tiên của Việt Nam năm 1964), Hà Nam Ninh, Hải Hưng nhưng đều bị ngừng hoạt động vì lí do kỹ thuật
•Miền Nam: Năm 1960, Nhà Khảo cứu Nông lâm và gia súc đã nghiên cứu sản xuất khí mê tan từ phân động vật, nhưng không ứng dụng triển khai được vì khí hoá lỏng và phân bón vô cơ được nhập khẩu ồ ạt Một số công trình đã xây dựng cũng không được duy trì hoạt động Từ cuối những năm 60 đến đầu những năm 70, công nghệ KSH gần như bị lãng quên
Trang 21+ Thời kì 1976 -1980:
•Năm 1975, Việt Nam thống nhất, Nhà nước đã chú ý tới nguồn năng lượng tái tạo "Đề án sử dụng KSH ở Việt Nam" (1976) đề tài cấp nhà nước "Nghiên cứu ứng dụng hầm ủ lên men sinh khí mê tan" đã khởi động hoạt động nghiên cứu triển khai công nghệ KSH Thiết kế ban đầu được chọn thử nghiệm là loại nắp nổi bằng tôn, bể phân huỷ xây gạch, được xây dựng ở Bắc Thái và Hà Bắc (1977 – 1978)
•Những công trình loại này đã bị bỏ dở do khả năng kỹ thuật và quản lý Cuối năm 1979 xây dựng thành công công trình nắp nổi có Thể tích phân huỷ Vd= 27 m3 ở nông trường Sao Đỏ (Mộc Châu, Sơn La), đã đặt cơ sở cho việc triển khai sau này Nhiều Viện nghiên cứu, Ban KHKT và nhiều tổ chức, cá nhân cũng đã tiến hành thiết
kế xây dựng, nhưng kết quả rất hạn chế Tháng 12/1979, UBKHKT Nhà nước đã tổ chức "Hội nghị chuyên đề về bể khí sinh học" để sơ kết công tác thiết kế, xây dựng,
vận hành thí điểm một số bể KSH
+ Thời kì 1981 – 1990:
•Chương trình nghiên cứu Nhà nước về năng lượng mới (mã số 52C) được ưu tiên trong hai kế hoạch năm năm 1981 – 1985 và 1986 – 1990 do Viện Nghiên cứu KHKT điện chủ trì, một số Viện, Trung tâm nghiên cứu, các trường đại học; các Ban KHKT tỉnh, nhiều cơ quan, địa phương, đơn vị quân đội, cá nhân cũng tham gia chương trình này Bộ Y tế cũng thực hiện một số dự án ứng dụng KSH với mục tiêu vệ sinh môi trường Một số tổ chức quốc tế cũng đã giúp đỡ và hợp tác nghiên cứu, triển khai công nghệ KSH: Viện Sinh lý – Sinh hoá – Vi sinh vật (Liên xô cũ), Tổ chức OXFAM (Anh), UNICEF (Liên hợp quốc), ACCT (Tổ chức các nước nói tiếng Pháp), SIDA (Thuỵ Điển)…
•Hội thảo quốc gia lần thứ nhất về KSH được tổ chức vào năm 1990 của chương trình nhà nước về năng lượng mới đã đánh dấu bước phát triển kỹ thuật KSH của Việt Nam trong nghiên cứu và triển khai Đến năm 1990, có khoảng 2000 công trình KSH trên toàn quốc cỡ từ 2m3– 200m3nhưng đa số là cỡ gia đình từ 2m3– 10m3(TP Hồ Chí Minh – 700, Đồng Nai – 468, Hậu Giang – 43)
+ Thời kỳ 1991 đến nay:
Trang 22•Sau năm 1990, chương trình “Năng Lượng Mới” kết thúc Viện Năng lượng vẫn tiếp tục hoạt động nghiên cứu – triển khai về sử dụng KSH để phát điện, bảo quản rau quả, xử lý nước thải công nghiệp Từ 1993 đến năm 2001, công nghệ KSH đã phát triển mạnh trong khuôn khổ các dự án về vệ sinh môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn Giai đoạn này không có tổ chức đầu mối quốc gia, nên sự phát triển KSH có phần vô tổ chức Đến tháng 03/2002, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã ban hành tiêu chuẩn ngành về công trình KSH nhỏ dự án "Hỗ trợ chương trình KSH cho ngành chăn nuôi ở một số tỉnh Việt Nam" được triển khai ở 12 tỉnh, do chính phủ Hà Lan tài trợ không hoàn lại với tổng giá trị 2 triệu USD Đây là dự án lớn nhất trong số các dự án được tài trợ cùng loại được triển khai (02/2003 – 0l/2006) Dự
án được triển khai một cách khoa học, tổ chức nhiều lớp tập huấn cho kỹ thuật viên và thợ xây về công nghệ KSH Dự án đã thu được kết quả rất khả quan Nhiều hộ dân đã
tự nguyện bỏ tiền để xây dựng công trình KSH do tính hiệu quả của nó về mặt năng lượng, vệ sinh môi trường, nâng cao năng suất cây trồng, tăng thu nhập
•Giai đoạn 2 của dự án sẽ được tiếp nối đến năm 2011 trên khắp các tỉnh của Việt Nam Thiết kế được lựa chọn trong dự án này là kiểu nắp cố định dạng vòm cầu xây gạch kiểu KT.1 và KT.2 vì những ưu điểm nổi bật của nó Tính đến nay, tổng số công trình các loại đang hoạt động trên toàn quốc là gần 73.000 Trong đó, dạng túi nilon có gần 32.000 (Kiên Giang – 8.000, Đồng Nai – 6.500, Tiền Giang – 5000, Đắc Lắc – 3000 túi…)
Hiện nay, theo tìm hiểu của nhóm thì việc ứng dụng Biogas để thắp sáng đèn cho nhà hàng ở Việt Nam chưa có Nhóm hy vọng ứng dụng này của Biogas sẽ được phát triển rộng rãi ở Việt Nam trong những năm sắp tới
1.1.2 Cơ chế tạo thành khí sinh học trong hệ thống Biogas
a Quá trình hình thành khí [1]
Dựa vào các vi khuẩn yếm khí để lên men phân huỷ kỵ khí các chất hữu cơ sinh
ra một hỗn hợp khí có thể cháy được : H2, H2S, NH3, CH4, C2H2,… trong đó CH4là sản phẩm khí chủ yếu (nên còn gọi là quá trình lên men tạo Metan )
Trang 23- Quá trình hình thành khí trong hầm Biogas trải qua ba giai đoạn với mỗi
giai đoạn có sự có mặt của một chủng loại vi sinh vật khác nhau.
Hình 1.2 Cơ chế lên men của vi sinh vật yếm khí
+ Giai đoạn thủy phân cơ chất:
Trong chất thải hữu cơ làm nguyên liệu lên men Metan cũng gồm các thành phần chủ yếu Hydratcacbon (chủ yếu là Xenluloza, Tinh bột, Protrin, Lipit) Ở giai đoạn này, các thành phần nói trên bị phân hủy dưới tác động của men Hydrolaza do vi sinh vật tiết ra để hình thành các hợp chất đơn giản hơn có thể tan trong nước (các Đường đơn, các Peptit, Glyxerin, Axit béo, Axit amin,…) các vi sinh vật tham gia vào giai đoạn này
là Clostridium Thermocellum chuyển Xenluloza thành Rượu etylic, Hydro
Chất hữu cơ phức tạp (Hidrocacbon, Lipit, Protein…)
Chất hữu cơ đơn giản (Đường, Peptit, acidamin…)
Các acid (acetic, propionic, butyric, lactic…)
CO2, CH4
Trang 24Hình 1.3 Vi sinh vật clostridium thermocellum
+ Giai đoạn hình thành các axit hữu cơ:
Dưới tác động của các Enzym vi sinh vật tiết ra thì các chất hữu cơ dễ tan
chuyển thành các axit hữu cơ (Axit axetic, Axit propionic, Axit butyric,…) rượu etylic , rượu metylic, khí Carbonic, và Hydro ở giai đoạn này chúng ta có thể gặp một số chủng loại vi khuẩn sống trong điều kiện kị khí như: Bacteroides, Suminicola, Clostridium, Bifido bacterium.
Hình 1.4 Vi sinh vật Bifido bacterium
+ Giai đoạn hình thành Metan:
Đây là giai đoạn quan trọng nhất vì nó là giai đoạn hình thành khí Metan, dưới tác động của các vi khuẩn các axit hữu cơ và các hợp chất khác chuyển thành khí Metan, Cacbonic, Oxy, Nitơ, Hydro sunfua,…các vi sinh vật tham gia vào quá trình này là Metanobacterium, Methanosarcina, Barkeri,…sự tạo thành Metan có thể diễn ra theo 2 cách sau:
Trang 25Các axit hữu cơ có phân tử lượng cao sẽ bị phân hủy và hình thành CH4 theo chuổi phản ứng sau:
Hình 1.5 Vi sinh vật Metanobacterium
Các vi sinh vật ưa ẩm hoạt động ở nhiệt độ tối ưu là 30-450 C nhiệt độ tối ưu
- Các phản ứng tạo Metan từ các nguồn nguyên liệu trong bể ủ khí:
Trang 26- Thiết bị tách H2S
H2S là chất cần loại bỏ càng triệt để càng tốt do nó gây mùi khó chịu Chất hấp phụ H2S thường được sử dụng nhất là ôxit sắt dưới dạng mạt hay sợi Các oxit sắt này sau khi bão hòa H2S lại có thể tái sinh nên được sử dụng rộng rãi Ngoài ra theo nghiên cứu gần đây thì H2S còn được xử lý bằng phế phẩm của quá trình sản xuất nhôm oxit
đó là bùn đỏ Tuy nhiên tính độc hại của bùn đỏ còn đang trong giai đoạn nghiên cứu như chứa hàm lượng kim loại nặng và phóng xạ, chưa kể còn chứa một lượng lớn kiềm dư nên không được lựa chọn trong công nghệ này Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phoi sắt để tách H2S Chất này được EPA (Cục bảo vệ môi trường Mỹ) chứng nhận không gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và có thể thải trực tiếp ra các bãi rác Trước khi sử dụng, phoi sắt được oxy hóa để tạo thành một lớp oxyt sắt trên bề mặt Phản ứng oxy hóa phoi sắt diễn ra như sau:
Trang 27chúng ta có thể tái sinh lõi lọc bằng cách phơi phoi sắt ngoài không khí Phản ứng tái sinh diễn ra như sau:
FeS + O →FeO+ SO FeS + 3/2O 2 FeO + SO 2 (1.21)
Phoi sắt có thể được tái sử dụng từ 3-5 lần
Hình 1.6 Thiết bị tách H 2 S
- Tháp tách CO2
CO2 là chất khí không màu, không mùi, không duy trì sự cháy, nặng hơn không khí (1,5 lần) và tan tốt trong nước Ở điều kiện bình thường 200C, 1 atm thì 1 thể tích H2O có thể hòa tan hết 1 thể tích CO2 Chính vì vậy, nước là chất hấp thụ CO2
lý tưởng nhất, phù hợp với điều kiện kinh tế của nông dân và rất dễ tìm Ngoài ra CO2
còn được xử lý bằng rất nhiều công nghệ khác như hấp thụ bằng Ca(OH)2, etanolamin, vật liệu cơ kim…nhưng không kinh tế bằng H2O trong công nghệ này Trong đề tài này chúng tôi chọn công nghệ hấp thụ CO2bằng tháp đệm, sử dụng dung môi nước, vật liệu đệm bằng sứ (có thể dùng dăm gạch, đá…) Với công nghệ như vậy chúng ta
Trang 28có thể tiết kiệm được chi phí đáng kể mà vẫn đảm bảo được khả năng tách CO2khỏi hỗn hợp khí.
Hình 1.7 Tháp tách CO 2
Hình 1.8 Hệ thống lọc Biogas
1.2 Phân Compost
1.2.1 Khái niệm [8]
- Phân Compost hay còn gọi là phân rác, là một loại phân hữu cơ được chế biến
từ rác, cỏ dại, thân lá cây xanh, bèo tây, rơm rạ, chất thải sinh hoạt (rau, quả, củ dư thừa, héo, hỏng…) được ủ với một số phân men như phân chuồng, nước giải, lân, vôi,
của khí
LốI vào của khí
Lối ra của nước
Trang 29tro bếp… cho đến khi hoai mục để bón cho cây trồng như nhiều loại phân chuồng, phân hữu cơ khác.
- Quá trình chế biến Compost là quá trình phân hủy sinh học và ổn định của chất hữu cơ dưới điều kiện nhiệt độ cao Kết quả của quá trình phân hủy sinh học tạo ra nhiệt, sản phẩm cuối cùng ổn định, không mang mầm bệnh và có ích trong việc ứng dụng cho cây trồng
Quá trình làm Compost có thể phân ra làm các giai đoạn khác nhau dựa theo sự biến thiên nhiệt độ:
+ Pha thích nghi (latent phase) là giai đoạn cần thiết để vi sinh vật thích nghi với môi trường mới
+ Pha tăng trưởng (growth phase): đặc trưng bởi sự gia tăng nhiệt độ
do quá trình phân hủy sinh học đến ngưỡng nhiệt độ mesophilic
+ Pha ưu nhiệt (thermophilic phase) là giai đoạn nhiệt độ tăng cao nhất Đây là giai đoạn ổn định hóa chất thải và tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh hiệu quả nhất
+ Pha trưởng thành (maturation phase) là giai đoạn nhiệt độ đến mức mesophilic và cuối cùng bằng nhiệt độ môi trường Quá trình lên men lần thứ hai xảy
ra chậm và thích hợp cho sự hình thành chất keo mùn (là quá trình chuyển hóa các phức chất hữu cơ thành mùn) và các chất khoáng (sắt, canxi, nitơ …) và cuối cùng thành mùn
- Các loại Compost: [9]
+ Compost Nấm:
Chất này làm bằng vật liệu nấm, phân gà, phân ngựa, rơm lúa mì và thạch cao
Nó có nhiều dưỡng chất và giúp tạo cấu trúc đất
+ Compost Hữu Cơ Vườn:
Làm từ thân cây, cành, lá cây và cọng cỏ Nó giữ nước trong đất và giúp cải thiện cấu trúc đất
+ Compost Hữu Cơ Nhà:
Trang 30Có thể làm từ những thứ như bánh mì, vỏ trứng, rác vườn, chất hữu cơ vườn, rau và mảnh trái cây Nó có nhiều dưỡng chất và giúp cải thiện cấu trúc đất.
+ Compost Cứng Sinh Học:
Đây là chất rắn khô từ sản phẩm xử lý rác thải Nó được trộn với đất hay chất hữu cơ để biến thành compost Nó có rất nhiều dưỡng chất
1.2.2 Quy trình làm phân compost và các yếu tố ảnh hưởng
a Quy trình làm phân compost[8]
Bước 1: Làm thùng ủ rác hữu cơ và chọn vị trí đặt thùng
- Chọn loại thùng bằng nhựa, hình tròn, dung tích 160lít được bán phổ biến tại các chợ
- Đối với thùng nhựa, vách thùng được khoan nhiều lỗ nhỏ cách nhau 10 cm -15
cm đều nhau Hai bên thành thùng gần mép đáy thùng được khoan 2 cửa vuông khoảng 2 - 3 tấc vuông để lấy phân
- Chọn vị trí đặt thùng: Cách xa nguồn nước sinh hoạt, làm bệ bằng gạch, bệ xi măng, đặt chậu nhựa để thu nước rỉ từ rác Nước rỉ được dùng tưới lên đống rác ủ trong thùng giúp rác mau phân hủy thành phân
Bước 2: Phân loại rác và bỏ rác hữu cơ vào thùng
- Rác hữu cơ: Là các loại rác phân hủy nhanh (vài tháng) như các loại rau, trái, rơm, các loại lá non, thực phẩm, phân gia súc… bỏ nguyên liệu rác hữu cơ đã được phân loại vào thùng ủ
* Lưu ý: Không đưa vào lá bạch đàn, lá tràm, lá xả tươi, vỏ cam, quýt vì các loại này chứa tinh dầu làm hại đến sự phát triển của vi sinh vật
- Rác vô cơ: Là các loại rác khô, khó phân hủy như vỏ ruột của các loại xe, sành
sứ, gạch vỡ, thủy tinh, thân, cát,…Rác vô cơ có thể được tái sử dụng hoặc tái chế (không nên bỏ vào thùng ủ vì rác vô cơ không thể phân hủy)
Bước 3: Quá trình ủ rác thành phân compost
- Kiểm tra độ ẩm:
Trang 31+ Nếu bóp thấy nước rỉ ra ngoài kẻ tay là thừa nước, cần bổ sung thêm lá cỏ khô, rơm rạ để điều chỉnh độ ẩm.
+ Nếu bóp thấy rác dính chặt thì độ ẩm đạt yêu cầu
+ Nếu bóp thấy rác không dính chặt (bời rời) thì không đủ nước, cần bổ sung thêm nước (vừa đủ)
- Đảo trộn và kiểm tra nhiệt độ:
+ Sau 10 ngày đảo phân trộn đều rác trong thùng một lần (chú ý đảo từ trong ra ngoài và đảo từ ngoài vào trong để các vật liệu được trộn đều) Tại mỗi lần đảo nếu thấy phân bị khô ta cần phải bổ sung thêm nước bằng cách tưới để độ ẩm luôn đạt 60%
+ Sau 2-3 tháng, rác sẽ phân hủy thành phân compost
+ Kiểm tra nhiệt độ bằng cách dùng một cành tươi cắm vào giữa khối phân ủ Sau 5 hoặc 6 ngày rút cành cây ra khỏi đống phân và sờ vào phần cắm trong khối phân
ủ, nếu thấy cành cây nóng mạnh là đạt yêu cầu
+ Nếu nhiệt độ không tăng lên thì đống phân ủ không đạt yêu cầu có thể do thiếu ẩm, thiếu vi sinh vật hoặc do nén lên các vật liệu quá chặt
- Khi rác có mùi hôi, ruồi nhặng:
+ Rải một lớp đất mỏng khô hoặc rơm rạ, lá cỏ khô
+ Hoặc dùng tro bếp rải lên bề mặt đống ủ để giảm mùi hôi và ruồi, sau đó tiếp tục bổ sung thêm rác
+ Không nên bổ sung thêm nước vào thùng rác
- Lấy phân compost ra ngoài:
+ Sau 2-3 tháng thì lớp phân bên dưới đáy thùng sẽ phân hủy trước Ta lấy phân
ra từ 2 cửa bên dưới
+ Phân tơi xốp, hạt mịn, không có mùi hôi thối, ngã màu nâu đen (đặc điểm của phân compost) lấy ra ở cửa bên dưới bón cho rau màu, cây kiểng