Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình và bài viết đề cập cụ thể, chi tiết đến vấn đề phát triển dịch vụ ngân hàng để nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát tri
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THU QUỲNH
ĐA DẠNG HOÁ LOẠI HÌNH KINH DOANH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội - 2009
Trang 2-
NGUYỄN THU QUỲNH
ĐA DẠNG HOÁ LOẠI HÌNH KINH DOANH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành:
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội - 2009
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 88
MỞ ĐẦU 1
I Tính cấp thiết của đề tài 1
II Tình hình nghiên cứu 2
III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
V Phương pháp nghiên cứu 5
VI Dự kiến những đóng góp mới của luận văn 5
VII.Bố cục của luận văn 6
Chương 1: Một số vấn đề chung về đa dạng hóa loại hình kinh doanh của Ngân hàng thương mại 7
1.1.Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại 7
1.1.1 Khái niệm năng lực cạnh của ngân hàng thương mại 7
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại 8
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại: 15
1.2.Đặc điểm loại hình kinh doanh của ngân hàng: 18
1.3.Đa dạng hóa loại hình kinh doanh và vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng trong bối cảnh hội nhập: 20
1.3.1 Khái niệm đa dạng hoá: 20
1.3.2 Lợi ích từ đa dạng hoá loại hình kinh doanh đối với Ngân hàng: 21
Trang 41.4.Kinh nghiệm quốc tế về đa dạng hoá loại hình kinh doanh để nâng cao
năng lực cạnh tranh cho ngân hàng thương mại: 24
1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc: 24
1.4.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 27
1.4.3 Một số bài học rút ra: 29
Chương 2: Thực trạng đa dạng hóa loại hình kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 32
2.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 32
2.1.1 Cấu trúc mô hình tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 32
2.1.2 Khái quát quá trình phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 33
2.2 Thực trạng đa dạng hóa để nâng cao năng lực cạnh tranh kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 35
2.2.1 Hoạt động huy động vốn của ngân hàng 35
2.2.2 Lĩnh vực tín dụng 38
2.2.3 Dịch vụ thanh toán: 43
2.2.3.1 Dịch vụ thanh toán trong nước 43
2.2.3.2 Dịch vụ thanh toán ngoài nước 46
2.4 Đánh giá chung 48
2.3.1 Những mặt mạnh 48
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân: 49
Trang 5Chương 3: Giải pháp đa dạng hóa loại hình kinh doanh nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 51
3.1 Môi trường kinh doanh mới của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam 51
3.2.Định hướng hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong giai đoạn tới 53
3.2.1 Định hướng chung 53
3.2.2 Định hướng đa dạng hoá loại hình kinh doanh 56
3.3 Một số giải pháp cơ bản 58
3.3.1 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính và sức cạnh tranh của các ngân hàng 58
3.3.2 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hoá loại hình kinh doanh 65
3.3.3 Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng 75
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt
NHĐT&PTVN Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHNNg Ngân hàng nước ngoài
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTM CP Ngân hàng Thương mại cổ phần
NHTM QD Ngân hàng Thương mại Quốc doanh TCTC Tổ chức tài chính
TCTD Tổ chức tín dụng
Tiếng Anh
ATM Máy rút tiền tự động
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam FDI Vốn đầu tư trực tiếp
Trang 7MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thế giới đang chuyển mình vận động theo xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế vì vậy đòi hỏi nước ta phải thực hiện đường lối đổi mới cho phù hợp với tiến trình phát triển chung của nhân loại Trên quan điểm đó, Đảng và Nhà nước ta đang từng bước thực hiện triệt
để đường lối đổi mới kinh tế theo xu hướng hội nhập Hiện nay Việt Nam cũng đã trở thành thành viên chính thức của WTO từ năm 2007 Vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là phải nhận diện được những
cơ hội cũng như thách thức trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng để kịp thời có những bước cải cách thích hợp nhằm hạn chế tối đa những rủi ro đối với nền kinh tế trong nước, cũng như đảm bảo để Việt Nam trở thành nước có vị thế trên trường quốc tế Không nằm ngoài quỹ đạo chung, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã và đang không ngừng đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường và trở thành một trong những ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực đầu tư và phát triển
Tuy nhiên, cho đến nay hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập Các hoạt động của ngân hàng vẫn chủ yếu là hoạt động ngân hàng truyền thống, chưa đa dạng nên chưa đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của khách hàng
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập và cũng đã có những cam kết trong việc tham gia hội nhập của mình với các thể chế tài chính trong khu vực và quốc tế Theo những cam kết đó các Ngân hàng thương mại đã có những lộ trình cụ thể để thực hiện và tuân theo Tiến tới hội nhập Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam sẽ có những
Trang 8thuận lợi, cơ hội để nâng cao vị thế của mình bên cạnh đó cũng gặp không ít những thách thức, khó khăn trong thời gian tới
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, việc triển khai nghiên cứu đề tài là thực sự cần thiết
II Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu và bài viết trên các tạp chí đề cập đến vấn đề phát triển dịch vụ ngân hàng Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Luận văn “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam” của tác giả Lê Thị Hồng Điều nghiên cứu về những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng thời gian qua tại BIDV, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng này được tốt hơn
- Luận văn “Cơ chế quản lý vốn tập trung tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam”, tác giả Trương Võ Kim Ngân nghiên cứu và đưa ra những cơ sở lý luận về quản trị vốn tự có của các NHTM, quá trình triển khai ứng dụng cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV, từ
đó rút ra những thành tựu và tồn tại trong thực tiễn ứng dụng đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV
- Luận văn “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam trong quá trình hội nhập”, tác giả Thân Thị Vân đã nghiên cứu lý luận và thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh như: nâng cao năng lực tài chính, tăng vốn điều lệ
Trang 9Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình và bài viết đề cập cụ thể, chi tiết đến vấn đề phát triển dịch vụ ngân hàng để nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Do đó, với đề tài: “Đa dạng hóa loại hình kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”,
tác giả muốn đóng góp một cách nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nhằm tăng vị thế, năng lực cạnh tranh của ngân hàng này trong quá trình hội nhập và phát triển
III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ lý luận cạnh tranh, tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP, những luận cứ khoa học về sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam góp phần phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
- Làm rõ thực trạng về năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đánh giá những đóng góp cho nền kinh tế và những tồn tại trong năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, đồng thời phân tích một số nguyên nhân của những tồn tại này và đưa ra những đề xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập
Trang 10- Phân tích thực trạng kinh doanh của các loại hình dịch vụ ngân hàng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, từ đó đưa ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân cơ bản về vai trò đóng góp của từng loại hình kinh doanh vào tăng trưởng của ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đa dạng hóa các loại hình kinh doanh
để nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
- Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các NHTM về nhân lực, quản trị, tài chính, sản phẩm dịch vụ, công nghệ,
uy tín thương hiệu và mạng lưới; những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các NHTM như môi trường vĩ mô mà các NHTM đang hoạt động
- Thực trạng kinh doanh của các loại hình dịch vụ (huy động vốn, tín dụng, thanh toán trong nước và nước ngoài) tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam để rút ra những điểm mạnh và hạn chế từ đó đề ra một số giải pháp nhằm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng để nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Giải pháp và những kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu toàn bộ hệ thống Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam trên cơ sở một số lĩnh vực hoạt động
Trang 11chính của BIDV (huy động vốn, tín dụng, thanh toán trong và ngoài nước),
số liệu vể các lĩnh vực hoạt động của hệ thống BIDV trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2008
V Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở phân tích số liệu quá khứ từ các thông tin tài liệu, báo cáo đã được công bố và định hướng phát triển Ngành để đưa ra xu hướng vận động và phát triển của đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, so sánh: Trên cơ sở thống kê các số liệu thu thập được trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể của từng năm, so sánh hiệu quả hoạt động qua các năm và với một số ngân hàng khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động cũng như là thời gian hoạt động
- Phương pháp tư duy lôgic: Dựa trên những số liệu thực tế để đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động kinh doanh của các lĩnh vực dịnh vụ, thế mạnh cần phát huy cũng như là vị thế năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam trong quá trình hội nhập, làm cơ sở để vạch ra những chiến lược giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng này
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: trên cơ sở những số liệu trong quá khứ làm căn cứ để đưa ra những đánh giá, nhận định tình hình hoạt động của ngân hàng
VI Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, khái quát xu thế cạnh tranh của các NHTM trong thời gian tới, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức của các NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 12Phân tích đầy đủ và toàn diện hơn về các loại hình dịch vụ của ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, những kết quả đã đạt được cũng như là những hạn chế trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của ngân hàng này trong thời gian qua
Đưa ra định hướng phát triển trên cơ sở đa dạng hóa mảng dịch vụ này nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đặc biệt là trong giai đoạn Việt Nam vừa gia nhập WTO
VII Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề chung về đa dạng hóa loại hình kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng đa dạng hóa loại hình kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chương 3: Giải pháp đa dạng hóa loại hình kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong giai đoạn tới
Trang 13Chương 1: Một số vấn đề chung về đa dạng hóa loại hình kinh doanh của
Ngân hàng thương mại 1.1 Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, theo WEF (1997) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu thì năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng , năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng với tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó đạt được
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phần của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó Nó dựa vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm dịch vụ đó
Trang 14Cũng giống như mọi doanh nghiệp, Ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp và là một doanh nghiệp đặc biệt, vì thế Ngân hàng thương mại cũng tồn tại vì mục đích cuối cùng là lợi nhuận Do vậy, các Ngân hàng thương mại cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấp sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, với mức giá và chi phí cạnh tranh nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác, độ tin cậy và sự tiện lợi nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng Do vậy, cạnh tranh trong Ngân hàng thương mại cũng là sự tranh đua, giành giật khách hàng dựa trên tất cả những khả năng, tiềm lực, lợi thế mà ngân hàng có được để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng thông qua việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, mang tính đặc trưng riêng của mình so với các Ngân hàng thương mại khác trên thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế trên thương trường
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng của ngân hàng
đó tạo ra, duy trì và phát triển liên tục những lợi thế nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của cổ đông trên cơ sở mở rộng thị phần, đạt được những mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình ngành đồng thời đảm bảo được sự hoạt động kinh doanh an toàn, lành mạnh và có khả năng chống đỡ rủi ro cao và vượt qua những biến động bất lợi trong môi trường kinh doanh
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Năng lực tài chính:
Năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại được thể hiện qua các yếu tố sau:
Vốn tự có:
Trang 15Về mặt lý thuyết, vốn điều lệ và vốn tự có đang đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng Vốn điều lệ cao sẽ giúp ngân hàng tạo được
uy tín trên thị trường và tạo lòng tin nơi công chúng Vốn tự có thấp đồng nghĩa với sức mạnh tài chính yếu và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng thấp
Quy mô và khả năng huy động vốn:
Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Khả năng huy động vốn còn thể hiện tính hiệu quả, năng lực và uy tín của ngân hàng đó trên thị trường Khả năng huy động vốn tốt cũng có nghĩa là ngân hàng đó sử dụng các sản phẩm dịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút được khách hàng
Khả năng thanh khoản:
Theo chuẩn mực quốc tế, khả năng thanh toán của ngân hàng thể hiện qua tỷ lệ giữa tài sản “có” có thể thanh toán ngay và tài sản “nợ” phải thanh toán ngay Chỉ tiêu này đo lường khả năng ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu tiền mặt của người tiêu dùng Khi nhu cầu về tiền mặt của người gửi tiền bị giới hạn, thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm một cách đáng kể, kết quả là ngân hàng đó sẽ bị phá sản nếu để điều này xảy ra
Khả năng sinh lời:
Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá tình hình kinh doanh của Ngân hàng thương mại Mức sinh lời được phân tích qua các thông số sau:
(tỷ lệ thu nhập sau thuế trên vốn tự có – return on equity)
ROE: thể hiện tỷ lệ thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu
Trang 16(tỷ lệ thu nhập sau thuế trên tổng tài sản – return on assets)
ROA: thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản - đánh giá công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng
Mức độ rủi ro:
Mức độ rủi ro của ngân hàng thường được đo lường bằng 2 chỉ tiêu cơ bản sau:
- Hệ số an toàn vốn (CAR: capital adequacy ratio): Chính là tỷ lệ giữa
vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi (theo ủy ban giám sát tín dụng Basel) Theo chuẩn quốc tế thì CAR tối thiểu phải phải đạt 8% Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng càng mạnh, càng tạo được uy tín, sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng càng lớn
- Chất lượng tín dụng (tỷ lệ nợ quá hạn): Chất lượng tín dụng thể hiện
chủ yếu thông qua tỷ lệ nợ quá hạn/tổng nợ Nếu tỷ lệ này thấp cho thấy chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại đó tốt, tình hình tài chính của ngân hàng đó lành mạnh và ngược lại thì tình hình tài chính của NHTM đó cần được quan tâm
1.1.2.2 Tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ:
Với đặc tính riêng của ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ hầu như không
có sự khác biệt thì các Ngân hàng thương mại phát huy khả năng cạnh tranh của mình không chỉ bằng những sản phẩm cơ bản mà còn thể hiện ở tính độc đáo, sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ của mình
Trang 17Một ngân hàng có thể tạo ra sự khác biệt riêng cho từng loại sản phẩm của mình trên cơ sở những sản phẩm truyền thống sẽ làm cho danh mục sản phẩm của mình trở lên đa dạng hơn, điều này sẽ đáp ứng được hầu hết các nhu cầu khác nhau của những khách hàng khác nhau, từ đó dễ dàng chiếm lĩnh thị phần và làm tăng sức cạnh tranh của ngân hàng
Ngoài ra, các Ngân hàng thương mại còn sử dụng các sản phẩm dịch vụ bổ trợ khác để thu hút khách hàng, tạo thu nhập cho ngân hàng như cung cấp sao
kê định kỳ, tư vấn tài chính…
1.1.2.3 Nguồn nhân lực:
Trong một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như Ngân hàng thương mại thì yếu tố con người có vai trò quan trọng trong việc thể hiện chất lượng của dịch vụ Đội ngũ nhân viên của ngân hàng chính là người trực tiếp đem lại cho khách hàng những cảm nhận về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thời tạo niềm tin của khách hàng đối với mình Đó chính là những đòi hỏi quan trọng đối với đội ngũ nhân viên ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng chiếm giữ thị phần cũng như tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của các Ngân hàng thương mại phải được xem xét trên cả hai khía cạnh số lượng và chất lượng lao động
Về chất lượng lao động:
Chất lượng nguồn nhân lực trong ngân hàng thể hiện qua các tiêu chí:
Trang 18- Trình độ văn hóa của đội ngũ lao động: bao gồm trình độ học vấn và các kỹ năng hỗ trợ như ngoại ngữ, tin học, khả năng giao tiếp, thuyết trình,
ra quyết định, giải quyết vấn đề,… Tiêu chí này khá quan trọng vì nó là nền tảng thể hiện khả năng của người lao động trong ngân hàng có thể học hỏi, nắm bắt công việc để thực hiện tốt kỹ năng nghiệp vụ
- Kỹ năng quản trị đối với nhà điều hành, trình độ chuyên môn nghiệp vụ
và kỹ năng thực hiện nghiệp vụ đối với nhân viên: đây là tiêu chí quan trọng quyết định đến chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng Ngân hàng thương mại cần một đội ngũ nhân viên với kỹ năng nghiệp vụ cao, có khả năng tư vấn cho khách hàng để tạo được lòng tin với khách hàng, qua đó tạo được ấn tượng tốt về ngân hàng
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định đối với năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại Chất lượng nguồn nhân lực là kết quả của sự cạnh tranh trong quá khứ đồng thời lại chính
là năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong tương lai Có một đội ngũ cán bộ thừa hành và nhân viên giỏi, có khả năng sáng tạo và thực thi chiến lược sẽ giúp ngân hàng hoạt động ổn định và phát triển bền vững Có thể khẳng định nguồn nhân lực đủ về số lượng và đầy đủ về chất lượng là một biểu hiện năng lực cạnh tranh cao của Ngân hàng thương mại
1.1.2.4 Năng lực công nghệ:
Trong lĩnh vực ngân hàng thì việc áp dụng công nghệ là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại Để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng, ngoài yếu tố con người thì nhu cầu công nghệ là vô cùng quan trọng và không thể thiếu, đặc biệt là khi Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, khi mà những cam kết về mở cửa hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng đang được tiến hành theo đúng lộ trình, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt khi
Trang 19có sự tham gia đầy đủ của các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam Công nghệ
sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến mang tính độc đáo và tiện ích hơn, nó giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam với các ngân hàng nước ngoài (vốn đã có sẵn tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ vượt trội) Ngày nay, các NHTM đang triển khai phát triển những sản phẩm ứng dụng công nghệ cao, và sử dụng các sản phẩm dịch vụ mang tính chất công nghệ làm thước đo cho sự cạnh tranh, đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán và các sản phẩm dịch vụ điện tử khác Công nghệ trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế là yếu tố sống còn, quyết định vị thế, sự phát triển và tồn tại của các Ngân hàng thương mại
Trong diễn đàn quốc tế “banking vietnam“ khẳng định việc sử dụng công nghệ thông tin là công cụ chính để khẳng định năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại, sự phát triển các sản phẩm dịch vụ E-banking là xu hướng thời thượng, công nghệ là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các Ngân hàng thương mại trong kinh doanh
1.1.2.5 Năng lực quản trị điều hành ngân hàng:
Một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào là vai trò của những người lãnh đạo, những quyết định của họ có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp
Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo trong ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt động ngân hàng Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để ngân hàng có một chiến lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn Thông thường đánh giá năng lực quản trị, kiểm soát, điều hành của một ngân hàng người ta xem xét đánh giá các chuẩn mực và các chiến lược mà ngân hàng xây dựng cho hoạt động của mình Hiệu quả hoạt động cao, có sự tăng trưởng theo thời
Trang 20gian và khả năng vượt qua những bất trắc là bằng chứng cho năng lực quản trị cao của ngân hàng
Một số tiêu chí thể hiện năng lực quản trị của ngân hàng là:
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: bao gồm chiến lược marketing (xây dựng uy tín, thương hiệu), phân khúc thị trường, phát triển sản phẩm dịch vụ,
- Cơ cấu tổ chức và khả năng áp dụng phương thức quản trị ngân hàng hiệu quả
- Sự tăng trưởng trong kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.1.2.6 Danh tiếng, uy tín và khả năng hợp tác:
Hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng luôn gắn liền với yếu tố uy tín của ngân hàng đó, tâm lý của người tiêu dùng luôn là yếu tố quyết định sự sống còn đến hoạt động của ngân hàng với hiệu ứng dây chuyền do tâm lý của người tiêu dùng mang lại Vì thế, danh tiếng và uy tín của Ngân hàng thương mại là yếu tố nội lực vô cùng to lớn, nó quyết định sự thành công hay thất bại của ngân hàng đó trên thương trường Việc gia tăng thị phần, mở rộng mạng lưới hoạt động, tăng thu nhập phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của Ngân hàng thương mại
Tuy nhiên, uy tín của Ngân hàng thương mại chỉ được tạo lập sau một khoảng thời gian khá dài thông qua hình thức sở hữu, đội ngũ nhân viên, việc ứng dụng các sản phẩm mang tính công nghệ cao, việc đáp ứng đầy đủ và thỏa đáng các nhu cầu của người tiêu dùng Vì vậy, để tạo được uy tín và danh tiếng trên thương trường, các Ngân hàng thương mại phải nỗ lực và luôn luôn cải biến sản phẩm dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và khó tính của khách hàng
Ngày nay, ngoài danh tiếng và uy tín của mình, các Ngân hàng thương mại còn phải thể hiện được sự liên kết lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh của
Trang 21mình, sự kiện một Ngân hàng thương mại hợp tác với một Tổ chức tín dụng
có uy tín và danh tiếng khách trên thương trường, hoặc sự hợp tác chiến lược giữa các ngân hàng hay tổ chức tài chính, tập đoàn kinh tế lớn nào cũng góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh của Ngân hàng thương mại đó trên thương trường
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại:
Các đặc điểm trong hoạt động kinh doanh của một Ngân hàng thương mại thể hiện năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại đó, nhưng để phát huy năng lực cạnh tranh trên, Ngân hàng thương mại còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố từ bên ngoài, đó là:
1.1.3.1 Môi trường kinh doanh:
Môi trường kinh doanh của Ngân hàng thương mại thể hiện ở các đặc điểm sau:
Tình hình kinh tế trong và ngoài nước:
- Nội lực của nền kinh tế của một quốc gia được thể hiện qua quy mô và mức độ tăng trưởng của GDP, dự trữ ngoại hối, …
- Độ ổn định của nền kinh tế vĩ mô thông qua các chỉ tiêu như chỉ số lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế,…
- Độ mở cửa của nền kinh tế thể hiện qua các rào cản, sự gia tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp, sự gia tăng trong hoạt động xuất nhập khẩu
- Tiềm năng tài chính, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn trong nước cũng như xu thế chuyển hướng hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài vào trong nước
Các yếu tố này tác động đến khả năng tích lũy và đầu tư của người dân, khả năng thu hút tiền gửi, cấp tín dụng và phát triển các sản phẩm của Ngân
Trang 22hàng thương mại, khả năng mở rộng hoặc thu hẹp mạng lưới hoạt động của các ngân hàng… Từ đó làm giảm hay tăng nhu cầu mở rộng tín dụng, triển khai các dịch vụ, mở rộng thị phần của Ngân hàng thương mại Để đạt được các mục tiêu trên, các Ngân hàng thương mại sẽ áp dụng các chiến lược khác nhau để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
Sự biến động của nền kinh tế thế giới sẽ tác động đến lưu lượng vốn của nước ngoài vào Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp Ngoài ra, chúng ảnh hưởng đến tình hình hoạt động chung của các Ngân hàng thương mại, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có tham giao quan hệ thanh toán, mua bán với các doanh nghiệp trong nước cũng như các Ngân hàng thương mại trong nước Điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nước và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại trong nước
Hệ thống pháp luật, môi trường văn hóa, xã hội, chính trị:
Với đặc điểm đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của NHTM chịu chi phối và ảnh hưởng của rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, luật dân sự, luật xây dựng, luật đất đai, luật cạnh tranh, luật các tổ chức tín dụng Bên cạnh đó, Ngân hàng thương mại còn chịu sự quản lý chặt chẽ từ NHNN và được xem là một trung gian để NHNN thực thi các chính sách tiền tệ của mình Do vậy, sức mạnh cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại phụ thuộc rất nhiều vào chính sách tiền tệ, tài chính của chính phủ và NHNN
Ngoài những hệ thống và văn bản pháp luật trong nước, các Ngân hàng thương mại còn phải chịu những quy định, chuẩn mực chung của tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong việc quản trị hoạt động kinh doanh của mình
Trang 23Do vậy, bất kỳ sự thay đổi nào trong hệ thống pháp luật, chuẩn mực quốc
tế, cũng như chính sách tiền tệ của NHNN đều sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại
1.1.3.2 Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế:
Với quá trình mở cửa nền kinh tế, tự do hóa và hội nhập thị trường tài chính tiền tệ, sự cạnh tranh với ngành ngân hàng tất yếu sẽ ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt Hiện nay, cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại không chỉ dừng ở các loại hình dịch vụ truyền thống (huy động cho vay) mà còn cạnh tranh ở thị trường sản phẩm dịch vụ mới Phân tích những yếu tố dưới đây có thể thấy được nhu cầu dịch vụ ngân hàng tương lai gần sẽ ngày càng tăng cao:
Sự biến đổi về cơ cấu dân cư, sự tăng dân số (đặc biệt là khu vực đô thị),
sự tăng lên của các khu công nghiệp, khu đô thị mới dẫn đến số doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng tăng lên rõ rệt
Thu nhập bình quân đầu người ở hầu hết các quốc gia đều được nâng lên, qua đó các dịch vụ ngân hàng cũng sẽ có những bước phát triển tương ứng
Các hoạt động giao thương quốc tế ngày càng phát triển làm gia tăng nhu cầu thanh toán quốc tế qua ngân hàng
Số lao động di cư giữa các quốc gia tăng lên nên nhu cầu chuyển tiền cũng như thanh toán qua ngân hàng có chiều hướng tăng cao
Ngoài ra, thị trường tài chính càng phát triển thì khách hàng càng có nhiều sự lựa chọn Các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng cao và khắt khe hơn cả về chất lượng, giá cả, các tiện ích lẫn phong cách phục vụ Đây vừa là động lực và áp lực buộc các ngân hàng phải đổi mới
Trang 24và hoàn thiện mình hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
1.1.3.3 Sự phát triển của thị trường tài chính và các ngành phụ trợ liên quan với ngành ngân hàng
Thị trường tài chính trong nước phát triển mạnh là điều kiện để các ngân hàng phát triển và gia tăng cùng đầu tư vào một ngành có lợi nhuận, từ
đó dẫn đến gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau
Mặt khác, đặc điểm hoạt động của các loại hình định chế tài chính có mối liên hệ rất chặt chẽ và có sự bổ trợ lẫn nhau, như ngành bảo hiểm và thị trường chứng khoán với ngân hàng Sự phát triển của thị trường bảo hiểm và thị trường chứng khoán một mặt chia sẻ thị phần với ngân hàng, mặt khác lại
hỗ trợ cho sự tăng trưởng của ngân hàng thông qua việc cắt giảm chi phí và tạo điều kiện để các ngân hàng đa dạng hóa dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh nhờ tận dụng lợi thế theo phạm vi, mở rộng mạng lưới khách hàng thông qua khách hàng kinh doanh chứng khoán, mua bảo hiểm (phát triển dịch vụ cho vay và cầm cố chứng khoán, giấy tờ có giá, mở rộng kênh huy động vốn….)
Ngoài ra, sự phát triển của ngân hàng còn phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các ngành, lĩnh vực kinh doanh khác như tin học viễn thông, giáo dục đào tạo, kiểm toán Đây
là những ngành phụ trợ mà sự phát triển của nó sẽ giúp ngân hàng nhanh chóng đa dạnh hóa các dịch vụ, tạo lập thương hiệu và uy tín, thu hút nguồn nhân lực cũng như có những kế hoạch đầu tư hiệu quả trong một thị trường tài chính vững mạnh
1.2 Đặc điểm loại hình kinh doanh của ngân hàng:
Có thể nói ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, loại hình kinh doanh của ngân hàng được thể hiện dưới dạng sản phẩm dịch vụ, nên mô
Trang 25hình và phương thức kinh doanh của ngân hàng cũng có những đặc điểm và đặc thù riêng so với các loại hình doanh nghiệp khác Trên cơ sở những loại hình kinh doanh mà ngân hàng thực hiện, ngân hàng sẽ khai thác những đặc điểm và thế mạnh của các loại hình kinh doanh của mình để tạo nên sự khác biệt nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Kinh doanh của ngân hàng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: sản phẩm ngân hàng mang tính vô hình Không giống như
sản phẩm vật chất, sản phẩm dịch vụ ngân hàng mang tính vô hình tức là khách hàng không thể nhìn thấy được, không nghe hay ngửi thấy được trứơc khi mua chúng mà chỉ có thể cảm nhận và đánh giá chúng khi sử dụng Quyết định mua và sử dụng sản phẩm sẽ phụ thuộc vào uy tín, thương hiệu của ngân hàng đó, lời khuyên và nhận xét của những người đã sử dụng sản phẩm đó, kinh nghiệm bản thân, những đánh giá chủ quan dựa trên những biểu hiện vật chất bề ngoài của sản phẩm trực tiếp hoặc có liên quan đến chất lượng sản phẩm Vì thế, các ngân hàng cần vận dụng những biểu hiện vật chất đó để
“làm cho cái vô hình trở thành hữu hình”
Thứ 2: sản phẩm ngân hàng mang tính không tách rời giữa quá trình sản
xuất, phân phối và sử dụng Khác với sản phẩm vật chất, quá trình cung cấp
và quá trình tiêu dùng sản phẩm ngân hàng diễn ra đồng thời, đặc biệt là có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng đó Điều này đòi hỏi ngân hàng phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong việc cung ứng sản phẩm dịch vụ, xác định nhu cầu của khách hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, phát triển hoạt động chăm sóc khách hàng và hiện đại hoá
hệ thống cung ứng
Thứ 3: sản phẩm ngân hàng mang tính không ổn định và khó xác định về
chất lượng Sản phẩm dịch vụ ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như trình độ đội ngũ nhân viên, kỹ thuật công nghệ và trình độ
Trang 26khách hàng Đồng thời nó còn được thực hiện ở các không gian khác nhau nên đã tạo ra tính không đồng nhất về cách thức thực hiện Các yếu tố này lại thường xuyên biến động, đặc biệt là đội ngũ nhân viên giao dịch trực tiếp là yếu tố quyết định tạo ra sự không ổn định và khó xác định về chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng Vì vậy, các ngân hàng cần chú trọng nâng cao chất lượng quản trị nhân sự, áp dụng các biện pháp kiểm soát chất lượng dịch vụ
1.3 Đa dạng hóa loại hình kinh doanh và vấn đề nâng cao năng lực cạnh
tranh cho ngân hàng trong bối cảnh hội nhập:
1.3.1 Khái niệm đa dạng hoá:
Theo đại từ điển Kinh tế thị trường, đa dạng hoá kinh doanh là sách lược kinh doanh của một xí nghiệp cùng một lúc kinh doanh từ hai ngành nghề trở lên; xí nghiệp áp dụng kinh doanh đa dạng, tham gia vào hoạt động sản xuất và tiêu thụ nhiều loại hàng hoá và dịch vụ Trước tiên cần chọn phương hướng da dạng hoá, và chọn loại nào để đa dạng hoá thì tương đối hữu hiệu hơn Kinh doanh đa dạng hoá không chỉ hạn chế ở chỗ mở rộng chủng loại sản phẩm mà còn gồm cả mở rộng phạm vi sản xuất và thị trường Mục đích của nó là để phân tán nguy cơ, tránh cho thị trường của một loại hàng hoá nào đó có biến động ảnh hưởng đến thu lợi và lợi dụng đầy đủ tiềm lực sản xuất và tiềm lực tiêu thụ của thị trường, tận dụng sản phẩm phụ và tiết kiệm chi phí tiêu thụ
Như vậy, đối với mỗi Ngân hàng thương mại, đa dạng hoá quy mô và hình thức thực hiện dịch vụ là việc ngân hàng kinh doanh nhiều hình thức dịch vụ khác nhau, tạo ra sự phong phú, đa dạng trong toàn bộ các dịch vụ tài chính mà ngân hàng đó có thể cung cấp cho tất cả các đối tượng khách hàng trong nền kinh tế Đồng thời, đa dạng hoá không chỉ hạn chế ở việc mở rộng các hình thức thực hiện dịch vụ, mà còn bao hàm cả mở rộng, phát triển dịch
Trang 27vụ về phạm vi, quy mô Điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng cần duy trì mô hình hoạt động đa năng, phục vụ các loại hình dịch vụ cho tất cả các đối tượng trong nền kinh tế không chỉ để tăng thu nhập cho ngân hàng mà còn làm giảm bớt rủi ro trong kinh doanh
1.3.2 Lợi ích từ đa dạng hoá loại hình kinh doanh đối với Ngân hàng:
Đa dạng hoá giúp các Ngân hàng thương mại nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh:
- Thứ nhất, đa dạng hoá giúp Ngân hàng thương mại phân tán và giảm
rủi ro Một Ngân hàng thương mại kinh doanh dịch vụ đa dạng sẽ phân tán được rủi ro và nâng cao được lợi nhuận của ngân hàng đó Bởi vì, nếu theo các dịch vụ truyền thống và cổ điển, ngân hàng sẽ chỉ thu lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng, nhưng tín dụng lại là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro và bất trắc Do ngân hàng ở vào thế bị động sau khi cấp tín dụng cho khách hàng, quản lý hoạt động tín dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài ngân hàng: khách hàng, pháp luật, hiệu lực pháp chế của Nhà nước, mức
độ phát triển của nền kinh tế v.v Thực tế đã có quá nhiều Ngân hàng thương mại trên thế giới bị phá sản do đầu tư vốn mà không thu hồi được
nợ Chỉ với tỷ lệ nợ khó đòi vượt quá 4 - 5% tổng dư nợ làm cho các Ngân hàng thương mại không còn lợi nhuận và mất dần vốn tự có Vì vậy thực hiện kinh doanh mạnh và đa dạng các loại hình dịch vụ khác bên cạnh tín dụng là một phương sách hiệu quả nhất để phân tán bớt rủi ro, giữ vững sự
ổn định của ngân hàng Lợi nhuận thu được từ các dịch vụ khác nhau, bổ sung cho nhau khi thị trường biến động sẽ giúp cho ngân hàng ổn định mức doanh lợi Do vậy, ngày nay các NHTM đều cố gắng đa dạng hoá dịch vụ của mình, thực hiện câu châm ngôn: "đừng đặt tất cả trứng của bạn vào một cái rổ"
Trang 28- Thứ hai, đa dạng hoá quy mô và các hình thức thực hiện dịch vụ ngân
hàng sẽ làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng thương mại Khi thực hiện đa dạng hoá, Ngân hàng thương mại sẽ mở rộng thị trường và khách hàng, tạo khả năng tăng doanh thu và lợi nhuận Với nhiều hình thức dịch vụ khác nhau, Ngân hàng thương mại có thể khai thác những khoảng trống trên thị trường, kể cả những khoảng trống nhỏ, để tăng thêm thị phần Mặt khác,
đa dạng hoá sẽ giúp ngân hàng sử dụng được triệt để, có hiệu quả nguồn vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ; do vậy, giảm chi phí quản
lý, chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận tối đa cho ngân hàng
- Thứ ba, đa dạng hoá quy mô và hình thức thực hiện dịch vụ ngân hàng
sẽ thúc đẩy các nghiệp vụ cùng phát triển Các nghiệp vụ của một Ngân hàng thương mại có mối quan hệ hữu cơ, có tác động qua lại với nhau tạo thành một thể thống nhất và thúc đẩy nhau cùng phát triển Huy động vốn tạo nguồn cho thực hiện nghiệp vụ tín dụng và phát triển dịch vụ; nhưng ngược lại, nghiệp vụ tín dụng và dịch vụ thực hiện tốt cũng tạo điều kiện
để thu hút khách hàng với những nguồn tiền nhàn rỗi của họ Kinh tế thị trường càng phát triển, các doanh nghiệp càng đa dạng hoá kinh doanh và nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng, tài chính ngày càng phong phú đa dạng Điều đó đòi hỏi sự phục vụ của ngân hàng cũng phải đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn Chỉ khi đa dạng hoá quy mô và hình thức thực hiện dịch vụ, ngân hàng mới cung cấp được nhiều sản phẩm dịch vụ một cách nhanh chóng, linh hoạt, có chất lượng cho khách hàng và nền kinh tế Hơn nữa, việc phục vụ khách hàng theo phương thức "trọn gói" bao giờ cũng ưu việt hơn phương thức đơn lẻ
- Thứ tư, đa dạng hoá quy mô và hình thức thực hiện dịch vụ ngân hàng
làm tăng khả năng cạnh tranh của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường Trong điều kiện có rất nhiều ngân hàng với các hình thức sở
Trang 29hữu, quy mô hoạt động khác nhau, nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh và các tổ chức tài chính tín dụng cùng hoạt động, đã tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các Ngân hàng thương mại Ngân hàng nào muốn tồn tại, phát triển, đạt được lợi nhuận cao và tạo ra vị thế của mình trong cạnh tranh, đều phải thay đổi, cải tiến hoạt động sao cho đáp ứng kịp thời, thuận tiện các nhu cầu phong phú, đa dạng để thu hút được nhiều khách hàng Muốn làm được điều này, cách tốt nhất là phải
đa dạng hoá quy mô và hình thức để tự hoàn thiện các dịch vụ Những ngân hàng hoạt động đơn điệu dễ bị phá sản hoặc tự đóng cửa do không dễ dàng chuyển hướng kinh doanh hoặc giữ cho hoạt động của mình luôn ổn định Mặt khác, phát triển theo hướng kinh doanh đa dạng là điều kiện quan trọng để mở rộng quy mô và mạng lưới ngân hàng trong chiến lược phát triển, cạnh tranh; vì nó cho phép các ngân hàng có thể mở rộng ảnh hưởng một cách vững chắc
Tuy nhiên, Ngân hàng thương mại hoạt động đa năng cũng gặp những khó khăn nhất định, đòi hỏi việc quản lý phức tạp hơn, nguồn vốn bị phân tán hơn ngân hàng phải có đủ bộ máy cán bộ vận hành giỏi ở mỗi loại nghiệp vụ; đồng thời người lãnh đạo các ngân hàng phải am hiểu hết sức sâu sắc về kinh doanh và phải có năng lực chỉ đạo điều hành đồng bộ, hợp lý Đây là một yêu cầu hết sức khó khăn, đặc biệt đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Hơn nữa, không phải ngân hàng nào cũng có điều kiện về vốn để thực hiện đa dạng hoá dịch vụ Nếu quản lý điều hành không tốt, thì chi phí cho việc đa dạng hoá có khi còn cao hơn thu nhập do đa dạng hoá mang lại Mặt khác, trong môi trường kinh doanh đa năng, các khách hàng có quyền lựa chọn ngân hàng để giao dịch và sẽ xảy ra tình trang một khách hàng giao dịch với nhiều ngân hàng Lúc đó, nếu không có thông tin kịp thời và chính xác thì rủi ro lại xảy ra cho bản thân các ngân hàng
Trang 30 Hiệu quả hoạt động kinh doanh cao sẽ tạo điều kiện tốt hơn để các Ngân hàng thương mại hoàn thiện các dịch vụ:
- Một là, hiệu quả hoạt động cao, lợi nhuận nhiều, ngân hàng sẽ có điều
kiện bổ sung nguồn vốn để thực hiện đa dạng hoá dịch vụ Với hiệu quả hoạt động cao, ngân hàng hoàn toàn có điều kiện để lựa chọn danh mục đầu tư phù hợp, lựa chọn triển khai những nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng hiện đại để hướng đạo thị trường sử dụng
- Hai là, trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, một ngân
hàng hoạt động ổn định, chắc chắn, có hiệu quả cao sẽ tạo được lòng tin và thu hút khách hàng Sản phẩm mới triển khai của ngân hàng đó sẽ dễ dàng được các khách hàng chấp nhận
Ba là, hoạt động có hiệu quả, mức lương cao, ổn định sẽ giúp cho ngân
hàng thu hút được lao động có trình độ chuyên môn cao, khuyến khích họ làm việc nhiệt tình, tận tụy và có trách nhiệm với khách hàng Đồng thời, ngân hàng có điều kiện phát triển chuyên môn hoá sâu, nâng cao kỹ năng từng nhóm nhân viên hoặc từng bộ phận và đó là một trong những điều kiện để thực hiện hoàn thiện các dịch vụ
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về đa dạng hoá loại hình kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng thương mại:
1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Chiến lược phát triển hệ thống Ngân hàng thương mại của Chính Phủ Trung Quốc
Để tăng khả năng cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại sau khi gia nhập WTO, chiến lược trung hạn của Trung Quốc là phát triển các thể chế tài chính lành mạnh không bị tổn thương bởi làn sóng cạnh tranh nước
Trang 31ngoài và phát triển thị trường liênngân hàng tạo điều kiện cho tự do hoá thương mại tạo điều kiện cho tự do hoá lãi suất và quản lý rủi ro
Năm 1988, Bộ tài chính Trung Quốc đã phát hành 270 tỷ nhân dân tệ trái phiếu đặc biệt để tăng cường vốn cho ngân hàng lớn, nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trung bình của các ngân hàng này từ 4,4% lên 8% theo đúng Luật Ngân hàng thương mại Trung Quốc
Cổ phần hoá 4 Ngân hàng thương mại lớn của Trung Quốc và khuyến khích các ngân hàng này bán cổ phiếu trên thị trường trong và ngoài nước, coi đây như một cách để tăng vốn và nâng cao năng lực quản lý
Sự giám sát tài chính các ngân hàng cũng đã được củng cố Cuối năm
1988, Trung Quốc đã đưa ra các tiêu chuẩn kế toán quốc tế cho các ngân hàng, mặc dù hệ thống này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi
Một phần trong chương trình cải cách hệ thống ngân hàng là cải cách lãi suất nhằm đưa các mức lãi suất về sát với cung cầu thị trường để tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao chất lượng tài sản của các ngân hàng Bước đầu, Ngân hàng trung ương Trung Quốc (PBOC) đã tự do hoá lãi suất thị trường liên ngân hàng Tháng 9/2000, PBOC lên kế hoạch ba năm để tự do hoá lãi suất Các hạn chế đối với việc cho vay bằng ngoại tệ
đã được loại bỏ ngay lập tức và tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ đã tăng lên
Tháng 6/2004, 2 ngân hàng China Construction Bank (CCB) và Bank of China (BOC) đã xử lý 300 tỷ nhân dân tệ (tương đương khoảng 36,2 tỷ USD)
nợ khó đòi, giảm tỷ lệ nợ xấu từ 5,16% xuống còn 3,74 % và chuẩn bị cho lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra công chúng
Tháng 5/2006, International Commercial Bank of China (ICBC) cũng bán cổ phiếu ra công chúng và trở thành ngân hàng Trung Quốc có tỷ lệ vốn đầu tư nước ngòai cao nhất, chiếm khoảng 8,89% vốn điều lệ Tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu của ICBC được tăng lên tới 10,26% và tỷ lệ nợ xấu
Trang 32giảm xuống còn 4,43%, gần tới mức 1-2% của các NHNNg
Đã 7 năm kể từ khi gia nhập WTO, khu vực ngân hàng của Trung Quốc không dễ bị thôn tính bởi các đối thủ nước ngòai bởi Chính phủ Trung Quốc
đã có những phản hồi đúng hướng và có những bước đi thận trọng Mở cửa thị trường tài chính và sự tham gia của các NHNNg đã trở thành động lực cho khu vực tài chính của Trung Quốc trong việc cải cách thể chế cơ cấu mà không đem lại những cuộc khủng hoảng trầm trọng
Chiến lược “xi măng và con chuột” của các Ngân hàng thương mại Trung Quốc:
Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, nhiều chuyên gia tài chính ngân hàng tại Trung Quốc cho rằng e-banking sẽ là đầu cầu để các NHNNg tấn công vào thị trường tài chính ngân hàng trong nước Để có thể cạnh tranh với các NHNNg ngay trong dịch vụ này, các Ngân hàng thương mại Trung Quốc đã áp dụng chiến lược “xi măng và con chuột” cho dịch vụ e-banking với đặc tính nhanh chóng, linh hoạt như “con chuột” và khả năng bảo mật an toàn cao, vững chắc như “xi măng” Nội dung của chiến lược này như sau:
Để dịch vụ e-banking có được sự thông minh, lanh lợi như “con chuột”, các Ngân hàng thương mại lớn tại Trung Quốc đã liên tục nâng cấp hệ thống ngân hàng trực tuyến và thực hiện nhiều chiến dịch quảng cáo lớn về
sự tiện dụng của dịch vụ e-banking này Ngòai ra, các Ngân hàng thương mại Trung Quốc còn tuyển dụng những nhân viên giỏi nhất, thành thạo nghiệp vụ nhất vào làm việc tại bộ phận e-banking
Và để vững chắc như “xi măng”, các Ngân hàng thương mại Trung Quốc phải áp dụng nhiều biện pháp để tăng tính an toàn và bảo mật cho dịch vụ này như: xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu hoàn toàn tự động để lưu giữ hồ
sơ và phân tích các giao dịch của khách hàng; áp dụng biện pháp “lưu dấu
Trang 33vết” đối với các giao dịch e-banking để tăng cường việc kiểm tra nội bộ trong ngân hàng và đặc biệt chú trọng việc bảo mật thông tin e-banking để giữ cho các thông tin thiết yếu không bị rò rỉ và không bị truy cập trái phép, nhất là khi các giao dịch này hoàn toàn được thực hiện qua Internet và được lưu trong cơ sở dữ liệu
Có thể dẫn chứng sự thành công của chiến lược này của các Ngân hàng thương mại Trung Quốc qua kết quả đạt được tại Ngân hàng ICBC ICBC
đã nâng cấp hệ thống ngân hàng trực tuyến của mình lên gấp 2 lần trong 2 năm đầu thực hiện chiến lược và đã thu được giá trị giao dịch lên đến 4 tỷ nhân dân tệ (482 triệu USD) mỗi ngày kể từ tháng 12/2003 ICBC cũng dẫn đầu trong việc cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến cước điện thoại cố định và di động tại thị trường nội địa Hầu hết các công ty bảo hiểm, phần lớn trong số 10 tập đoàn môi giới bảo hiểm lớn nhất cả nước và một số các tổ chức tài chính đa quốc gia, trong đó phải kể đến Citibank, hiện là khách hàng trong tổng số 5.600 khách hàng của hệ thống ngân hàng trực tuyến ICBC
Thế mạnh của các Ngân hàng thương mại Trung Quốc so với các Ngân hàng thương mại nước ngòai là họ dễ chiếm lĩnh lòng tin của khách hàng nội địa hơn Do vậy, họ đã biết tận dụng lợi thế này để phát triển một dịch vụ mới và hiện đại (là điểm mạnh của Ngân hàng nước ngòai), nhưng dịch vụ này cũng cần có sự tin tưởng của khách hàng Vì vậy, họ đi trước và họ đã thành công
1.4.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Cũng như với các ngân hàng Trung Quốc, Việt Nam cũng học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ những chính sách của chính phủ Hàn Quốc cũng như cách quản trị của các ngân hàng Hàn Quốc, đó là:
Trang 34- Thứ nhất: Để giảm thiểu chi phí quản lý, các ngân hàng cần phải
tăng cường đầu tư vào công nghệ thông tin, đặc biệt là việc tự phát triển hệ thống công nghệ thông tin sẽ giúp tiết giảm chi phí và hiệu quả hơn, tăng quy mô tài sản lên một mức nhất định vẫn duy trì được các chi phí theo tỷ lệ tương ứng một cách tiết kiệm
- Thứ hai: Để giảm thiểu các rủi ro tín dụng, thì Việt Nam cần có một
hệ thống xếp hạng tín dụng hiệu quả (bao gồm cơ sở dữ liệu, công nghệ thông tin…), riêng ngân hàng công nghiệp Hàn Quốc (IBK) cũng có trên 20 mô hình chấm điểm và xếp hạng tín dụng theo quy
mô, theo ngành, theo lịch sử phát triển của doanh nghiệp… Các ngân hàng cũng phải duy trì được đủ cán bộ tín dụng có năng lực, việc thẩm định tín dụng phải độc lập và có hiệu quả, các khoản vay phải
có tài sản đảm bảo, một số ngân hàng của Hàn Quốc khi thực hiện các khoản vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì sẽ không đặt
ra một tỷ lệ cho vay không có tài sản bảo đảm
Đối với các sản phẩm cho vay, thì các ngân hàng nên thực hiện cho vay với lãi suất tăng dần có quyền lựa chọn vốn hoá khoản vay trong doanh nghiệp: các sản phẩm cho vay này chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp thiếu vốn lưu động và ngân hàng dự đoán tình hình tài chính của doanh nghiệp có xu hướng phát triển Lãi suất của khoản vay tăng dần trong 3 năm từ khi cho vay và ngân hàng có quyền chuyển đổi khoản vay thành vốn góp hoặc trái phiếu chuyển đổi của chính doanh nghiệp vay vốn
Thực hiện cho vay theo mạng lưới: Trên cơ sở cam kết thanh toán và thư
giới thiệu của nhà thầu chính ngân hàng sẽ cung cấp cho nhà thầu phụ, các nhà thầu phụ này sẽ mở tài khoản tại ngân hàng Nhà thầu chính sẽ thanh
Trang 35toán cho nhà thầu phụ để trả nợ ngân hàng, ngân hàng sẽ thu nợ trên cơ sở xem xét dòng tiền của phương án, kế hoạch vay vốn…
Về cho vay thanh toán: ngân hàng sẽ cho vay ngắn hạn đáp ứng các nhu
cầu thanh toán của doanh nghiệp nhằm giảm các gánh nặng tài chính cho người cung cấp Ví dụ như ở Hàn Quốc, ngân hàng công nghiệp Hàn Quốc (IBK) thực hiện các khoản vay dựa trên tiềm lực của POSCO – một hãng sản xuất thép lớn của Hàn Quốc IBK cho vay các đại lý của POSCO thông qua việc điều tra thông tin khách hàng từ POSCO và lượng tài khoản tiền gửi dài hạn của POSCO tại IBK Khoản vay từ nguồn vốn dài hạn này sẽ cung cấp cho các doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với POSCO, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này vay đựơc với nguồn vốn giá rẻ
1.4.3 Một số bài học rút ra:
1.4.3.1 Về phía Chính phủ:
- Tạo một môi trường kinh doanh tiền tệ công bằng, mang tính thị trường để tăng cường năng lực cạnh tranh bình đẳng cho các Ngân hàng thương mại trong quá trình tự do hóa theo một lộ trình có kiểm soát, bao gồm: cải cách lãi suất nhằm đưa các mức lãi suất về sát với cung cầu thị trường; tự do hoá lãi suất thị trường liên ngân hàng; dỡ bỏ các hạn chế đối với việc cho vay bằng ngoại tệ; tiến tới tự do hoá lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi Tiến trình này sẽ từng bước giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, giúp các Ngân hàng thương mại trong nước tăng cường tính chủ động trong kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh
- Ngòai ra, Chính phủ cũng cần có những biện pháp để hỗ trợ tăng cường năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại như: tăng vốn
Trang 36cho các Ngân hàng thương mại để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo thông lệ quốc tế; xử lý nợ xấu của các NHTMQD; khuyến khích các Ngân hàng thương mại bán một phần cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngòai như một biện pháp tăng vốn, tăng cường năng lực quản lý, tiếp thu công nghệ mới; nâng cao công tác kiểm tra, giám sát năng lực quản trị, năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại theo thông lệ quốc tế
1.4.3.2 Về phía các Ngân hàng thương mại:
- Tăng cường năng lực cạnh tranh thông qua phát triển sản phẩm dịch vụ để chiếm lĩnh thị phần, tăng lợi nhuận Các sản phẩm dịch vụ này phải được thực hiện thành một chiến lược kiên quyết, triệt để, trên cơ sở xem xét các thế mạnh cũng như điểm yếu của các Ngân hàng thương mại trong nước trong tương quan so sánh với Ngân hàng thương mại nước ngòai Bên cạnh đó, tạo được sự tin tưởng và lòng trung thành của khách hàng đối với ngân hàng là hết sức quan trọng để làm cơ sở cho ngân hàng đưa ra những sản phẩm mới đến với khách hàng, từ đó mở rộng thị phần Việc phát triển các sản phẩm mới không loại trừ sản phẩm dịch vụ là thế mạnh của Ngân hàng thương mại nước ngòai tại nước sở tại nhưng Ngân hàng thương mại trong nước có thể tận dụng lợi thế đi trước và sự am hiểu truyền thống, tập quán văn hóa xã hội của quốc gia để phát triển các dịch vụ này như một thế mạnh cạnh tranh
- Nâng cao khả năng tài chính đối với các NHTM: tăng vốn tự có, tăng khả năng sinh lời và tháo gỡ những khó khăn để xử lý dứt điểm nợ tồn đọng, làm sạch bảng cân đối kế toán; đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ cung cấp trên thị trường theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ truyền thống và phát triển các dịch vụ mới
- Điều chỉnh mức lãi suất và phí phù hợp với thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam Cần điều chỉnh lãi suất linh hoạt cho phù hợp với cung và cầu
Trang 37vốn cũng như phù hợp với việc phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Cần tăng cường vai trò của Hiệp hội ngân hàng cũng như nâng cao vai trò của Ngân hàng Nhà Nước trong việc kiểm soát, điều tiết lãi suất thị trường thông qua lãi suất định hướng của mình
- Cần xây dựng các định chế quản lý tài sản nợ, tài sản có, quản lý vốn, quản lý rủi ro, hệ thống thông tin (MIS)… theo đúng thông lệ quốc tế Nâng cao quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm của các NHTM Nâng cao khả năng dự báo thị trường để có thể vừa mở rộng khả năng kinh doanh, vừa đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng
Trang 38Chương 2: Thực trạng đa dạng hóa loại hình kinh doanh nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
2.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
2.1.1 Cấu trúc mô hình tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam
Trang 392.1.2 Khái quát quá trình phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ Trong quá trình hoạt động và trưởng thành, Ngân hàng được mang các tên gọi khác nhau phù hợp với từng thời kỳ xây dựng và phát triển của đất nước:
Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam từ ngày 26/4/1957
Ngân hàng Đầu tư và xây dựng Việt Nam từ ngày 24/6/1981
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày 14/11/1990
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong bốn Ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất ở Việt Nam được hình thành sớm nhất và lâu đời nhất, là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức hoạt động theo mô hình Tổng công ty nhà nước Tính đến 31/12/2008, tổng tài sản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đạt gần 243,8 nghìn tỷ VND, vốn điều lệ là 8.755.818 triệu đồng với 13.100 nhân viên vừa có kinh nghiệm, vừa
am hiểu công nghệ ngân hàng hiện đại, huy động vốn đạt 201,1nghìn tỷ đồng, tổng tín dụng đạt 158,4nghìn tỷ đồng, dư nợ tín dụng cho vay đạt 149,4nghìn
tỷ đồng, kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo đúng chỉ đạo, kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức 27% Thu dịch vụ ròng trong năm 2008 cũng đạt 1.953 tỷ đồng, doanh số mua bán ngoại tệ ước đạt 41 tỷ USD Hệ thống tổ chức được hình thành và hoàn thiện dần theo mô hình của một tập đoàn trong tương lai Hiện nay, mô hình tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam gồm 05 khối lớn: Khối Ngân hàng thương mại quốc doanh (bao gồm 1 Hội sở chính, 2 văn phòng đại diện, 2 đơn vị sự nghiệp, 3 sở giao dịch, 105 chi nhánh cấp I và hơn 400 phòng giao dịch và điểm giao dịch tại khắp các tỉnh và thành phố trên cả nước); Khối Công ty; Khối các đơn vị sự nghiệp; Khối liên doanh; Khối đầu tư
Trang 40Bên cạnh việc hoạt động đầy đủ các chức năng của một Ngân hàng thương mại được phép kinh doanh đa năng tổng hợp về tiền tệ, tín dụng, dịch
vụ ngân hàng và phi ngân hàng, làm ngân hàng đại lý, phục vụ các dự án từ các nguồn vốn, các tổ chức kinh tế, tài chính, tiền tệ trong và ngoài nước, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn khẳng định là ngân hàng chủ lực phục vụ đầu tư phát triển, huy động vốn cho vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn cho các thành phần kinh tế; là ngân hàng có nhiều kinh nghiệm về đầu tư các dự án trọng điểm
Giai đoạn hiện nay, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam xác định mục tiêu hoạt động là: Hiệu quả, an toàn, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế
Trong quan hệ với khách hàng, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn nêu cao phương châm hành động Hiệu quả kinh doanh của khách hàng là mục tiêu hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, quan hệ giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và bạn hàng là mối quan hệ hợp tác cùng phát triển , cùng chia sẻ kinh nghiệm, khó khăn, cơ hội kinh doanh với bạn hàng Với cam kết cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao, tiện ích tốt nhất cho khách hàng , trong hơn 3 năm trở lại đây, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn được tổ chức BVQI và Quacert chứng nhận có hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001: 2000
Là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, tiền tệ, Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam luôn duy trì sự phối hợp, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng bè bạn trong nước và quốc tế theo tinh thần hợp tác phát triển cùng có lợi
Là thành viên tích cực của cộng đồng, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn quan tâm đến cộng đồng, tham gia tích cực vào các chương