ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- HOÀNG MAI VÂN ANH CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM Chuyên ngành : Quản lý
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
HOÀNG MAI VÂN ANH
CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
HOÀNG MAI VÂN ANH
CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng biểu v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 7
1.1 KHÁI LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ (CNHT) 7
1.1.1 Tổng quan về FDI 7
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về ngành công nghiệp hỗ trợ 12
1.1.3Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ 16
1.2 CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 18
1.2.1 Khái niệm 18
1.2.2 Đặc điểm & nội dung 20
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI VÀO CNHT VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 21
1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 21
1.3.2 Kinh nghiệm của Malaysia 24
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 26
Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 28
Trang 42.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP
HỖ TRỢ TẠI VIỆT NAM 28
2.1.1 Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo 29
2.1.2 Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử, tin học 32
2.1.3 Công nghiệp hỗ trợ ngành công nghiệp hóa chất 33
2.1.4 Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may 34
2.1.5 Công nghiệp hỗ trợ ngành da giày 36
2.2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 37
2.2.1 Hình thức đầu tư, hình thức pháp lý và chuyển nhượng vốn 38
2.2.2 Thủ tục đầu tư 39
2.2.3 Quản lý nhà nước và phân cấp quản lý 41
2.2.4 Ưu đãi về tài chính 42
2.2.5 Ngoại tệ và vay vốn 44
2.2.6 Xúc tiến đầu tư 44
2.2.7 Visa, giấy phép lao động và tiền lương 45
2.2.8 Đất đai và tiền thuê đất 46
2.2.9 Cung cấp hạ tầng 47
2.2.10 Giải quyết tranh chấp 48
2.3 KẾT QUẢ THU HÚT FDI VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 48
2.3.1 FDI vào CNHT ngành cơ khí 49
2.3.2 FDI vào CNHT ngành điện - điện tử 50
2.3.3 FDI vào CNHT ngành hóa chất 51
2.3.4 FDI vào CNHT ngành dệt may 52
2.3.5 FDI vào CNHT ngành da giày 54
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG 55
Trang 52.4.1 Những tác động tích cực 55
2.4.2 Một số hạn chế 59
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 62
3.1 ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT FDI VÀO CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TRONG THỜI GIAN TỚI 62
3.1.1 Thu hút FDI vào các dự án sản xuất CNHT phục vụ nhu cầu nội địa 63
3.1.2 Thu hút FDI vào các dự án sản xuất CNHT thuộc mạng lưới sản xuất của các tập đoàn lắp ráp hiện có ở Việt Nam 63
3.1.3 Thu hút FDI vào các dự án sản xuất vật liệu phục vụ công nghiệp chế tạo 64
3.1.4 Thu hút FDI từ các tập đoàn sản xuất linh kiện xuất khẩu 64
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 64
3.2.1 Thành lập cơ quan quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ 64
3.2.2 Chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp FDI đầu tư vào ngành CNHT 65
3.2.3 Chính sách phát triển hệ thống mô hình phát triển CNHT 66
3.2.4 Chính sách phát triển nhân lực cho ngành CNHT 67
3.2.5 Chính sách về hệ thống chất lượng liên quan đến linh phụ kiện 67
3.2.6 Chính sách xúc tiến thương mại, quảng bá cho sản phẩm CNHT68 KẾT LUẬN 69
Tài liệu tham khảo 72
Trang 6Danh mục các từ viết tắt
1 BCC Hợp đồng hợp tác kinh doanh
3 BSID Ban phát triển CNHT của Thái Lan
5 DIP Cục phát triển công nghiệp
6 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
8 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
10 MIDA Cục Phát triển Công nghiệp Malaysia
11 MOI Bộ công nghiệp Thái Lan
12 NGOs Tổ chức phi chính phủ
13 ODA Tài trợ phát triển chính thức
14 SME doanh nghiệp vừa và nhỏ
TNCs
Các tập đoàn đa quốc gia
16 UNIDO Tổ chức phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc
17 VDF Diễn đàn phát triển Việt Nam
Trang 7Danh mục các bảng biểu
1 Bảng 1.1 Các chính sách ưu đãi chính của Ủy ban Đầu
tư Thái Lan
24
2 Bảng 2.2 Thống kê đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
CNHT ở Việt Nam phân theo ngành và quy
mô doanh nghiệp
1 Biểu đồ 2.1 Kim ngạch nhập khẩu máy vi tính sản phẩm
điện tử & linh kiện theo tháng năm 2010-2011
và 11 tháng năm 2012
33
Trang 81
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay các quốc gia đang phát triển phụ thuộc rất nhiều vào dòng vốn nước ngoài trong công cuộc phát triển kinh tế Sự tăng trưởng đáng kể của các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, trong vài thập kỷ qua cũng nhờ một phần vào đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
25 năm thi hành Luật Đầu tư nước ngoài đã đem lại những thành công lớn mà trước hết đó là huy động được nguồn lực lớn cho phát triển kinh tế FDI đã góp phần không nhỏ vào nền kinh tế đất nước và trở thành một bộ phận không thể tách rời FDI đã đem lại hiệu quả kinh tế lớn như đóng góp hơn 18% GDP, khoảng 1/3 sản lượng công nghiệp, 36% kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu thô), góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra thế và lực phát triển mới cho nền kinh tế, đổi mới và chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, tạo công ăn việc làm cùng thu nhập ổn định cho người lao động; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế; hiện thực hoá sự hội nhập kinh tế của Việt Nam với thế giới [2]
Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là ngành quan trọng của nền kinh tế, đóng vai trò như nguồn đầu vào cho hoạt động sản xuất và thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong nước Có thể nói, trong những năm gần đây đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong các lĩnh vực này đã tạo được những bước phát triển mới, từng bước đẩy mạnh được hoạt động sản xuất, tăng hàm lượng giá trị gia tăng cho xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa các nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất, tạo công ăn việc làm, tạo môi trường văn minh thương mại, đa dạng hóa sản phẩm thị trường Năm 2012, có 1.631 doanh
Trang 92
nghiệp FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ với số vốn đăng ký lên tới trên 22,8 tỷ USD, chiếm 13,2% số dự án và 20,8% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp[1]
Tuy vậy, công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam hiện nay còn đơn giản, quy
mô sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu sản xuất các linh kiện chi tiết đơn giản, giá trị gia tăng thấp và còn chưa đáp ứng được yêu cầu Thiếu công nghiệp hỗ trợ nên việc thu hút FDI vẫn còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn FDI vào công nghiệp
hỗ trợ chủ yếu là sản xuất linh kiện, chi tiết đơn giản, giá trị gia tăng thấp, chất lượng còn có sự chênh lệch so với yêu cầu sản xuất toàn cầu Các ngành công nghiệp khác như chế tạo ô tô, xe máy các mục tiêu về tỉ lệ nội địa hóa vẫn không đạt được kết quả như mong muốn Các nhà đầu tư vẫn chủ yếu là từ Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc
Thực tế sản xuất trong nước còn khá hạn chế, các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ chủ yếu là vẫn là các doanh nghiệp FDI Trong giai đoạn 10 năm tới, CNHT vẫn phải dựa rất nhiều vào trụ cột chính là các nhà đầu tư nước ngoài Việc thu hút FDI vào Phát triển công nghiệp hỗ trợ một mặt vừa thu hút FDI cho một ngành như mọi ngành đơn thuần khác nhưng mặt khác quan trọng hơn - nó còn tạo điều kiện, môi trường để tiếp tục một lần nữa phát huy tác dụng là mở rộng thu hút FDI Chất lượng của dòng thu hút đầu tư nước ngoài phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý nhà nước
về thu hút đầu nước ngoài mà trong đó chính sách thu hút là một nội dung hết sức quan trọng
Vậy, chính sách thu hút FDI của Việt Nam vào phát triển Công nghiệp Hỗ
trợ hiện nay như thế nào? Thực trạng công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam và kết quả thu hút FDI vào phát triển CNHT? Cần phải có giải pháp chính sách gì nhằm tăng cường thu hút FDI hơn nữa để phát triển CNHT của Việt Nam?
Trang 10Từ yêu cầu đó, tác giả đã chọn đề tài "Chính sách thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) vào Phát triển Công nghiệp Hỗ trợ ở Việt Nam" cho
luận văn thạc sỹ của mình và nhằm giải đáp câu hỏi trên
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu về đầu tư nước ngoài nói chung và chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng trên nhiều mức độ khác nhau, cụ thể như sau:
PGS TS Phùng Xuân Nhạ (2007), Các hình thức đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam: Chính sách và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà
nội Công trình đã tập trung phân tích, so sánh bản chất và đặc điểm giữa các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó làm rõ ưu điểm và hạn chế về lợi ích kinh tế của từng hình thức đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư
Nguyễn Thị Phương Hoa (2004), Đóng góp của Đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Đây là
một trong những nghiên cứu định lượng toàn diện đầu tiên về tác động của vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được thực hiện, trong đó phân tích xu hướng và động cơ của đầu tư nước ngoài Nghiên cứu có xét đến hiệu ứng vốn của DN vốn ĐTNN tới các ngành công nghiệp Việt Nam
Đặng Thị Kim Chung (2009), Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài của Việt Nam, phân tích ảnh hưởng của chính sách thu hút FDI đối với
nền kinh tế, những điểm hợp lý và hạn chế, bất hợp lý của chính sách, tìm ra
Trang 114
nguyên nhân tại sao chính sách FDI của nước ta thiếu thực tiễn và chưa được
sự ủng hộ thật sự của các nhà đầu tư nước ngoài
Nguyễn Thị Tuệ Anh và các cộng sự (2006),Tác động của Đầu tư trực
tiếp nước ngoài tới tăng trưởng Kinh tế ở Việt nam, có đề cập phân tích tông
quan khung chính sách thu hút FDI
UNIDO (2011), Tìm hiểu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
trong phát triển công nghiệp, đã phản ánh những mặt tác động quan trọng của
FDI đối với công nghiệp Việt Nam
Trương Thị Chí Bình (2012), Nghiên cứu chính sách thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) vào phát triển CNHT ở một số địa phương điển hình, đã nghiên cứu tình hình và đánh giá tiềm năng thu hút FDI vào CNHT
của 3 tỉnh đại diện điển hình là Vĩnh Phúc, Đồng Nai, và Bà Rịa Vũng Tàu
Ngô Quang Trung (2012), Một số hạn chế trong thu hút và sử dụng
FDI ở Việt Nam hiện nay, đã đánh giá những hạn chế trong việc thu hút và sử
dụng FDI trong thời gian qua tại Việt Nam
Hoàng Văn Châu (2010), Chính sách phát triển công nghiệp Hỗ trợ của
Việt Nam, đã nghiên cứu và đánh giá các chính sách phát triển công nghiệp Hỗ trợ
của việt Nam bao gồm cả chính sách thu hút đầu tư nước ngoài
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu, bài báo, đề tài nghiên cứu khác được nêu trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn này Nhưng đối với việc nghiên cứu sâu về Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào phát triển ngành CNHT hiện chưa có Do vậy, đề tài ‘‘Chính sách thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Phát triển Công nghiệp Hỗ trợ ở Việt Nam’’ là một đề tài mới, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống tại
Việt Nam
Trang 125
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích: Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về chính sách thu hút FDI vào phát triển công nghiệp hỗ trợ; những bất cập trong chính sách thu hút FDI vào phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất định hướng giải pháp
hoàn thiện chính sách này ở nước ta trong thời gian tới
Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau
- Phân tích những vấn đề chung về chính sách thu hút FDI vào phát triển công nghiệp hỗ trợ
- Đánh giá thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam, chính sách và kết quả thu hút FDI vào ngành này trong thời gian qua
- Đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút FDI vào
phát triển hơn nữa công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chính sách thu hút Đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) vào phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian và nội dung: Đề tài nghiên cứu tập trung vào chính sách thu hút FDI vào ngành CNHT ở Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà
nước trong lĩnh vực này
Về thời gian: Thời gian từ năm 2005 - đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê đối với các số liệu thứ cấp
Trang 136
- Nghiên cứu đã xử lý dữ liệu lấy từ cơ quan quản lý doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài là Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng cục thống kê, dữ liệu từ Bộ Công thương
- Phương pháp phân tích số liệu: phương pháp toán thống kê, tổng hợp,
so sánh số tương đối, tuyệt đối, v.v
- Ngoài ra nghiên cứu còn sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Đề tài phân tích, làm rõ thực trạng chính sách thu hút FDI vào CNHT ở Việt Nam, chỉ ra những hạn chế của các chính sách này trong thời gian vừa qua
- Đề tài đưa ra định hướng và một số giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút FDI vào phát triển CNHT của Việt Nam trong thời gian tới
7 Kết cấu chính của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển Công nghiệp hỗ trợ
Chương 2: Thực trạng chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển ngành Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam
Trang 147
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.1 KHÁI LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ (CNHT)
1.1.1 Tổng quan về FDI
1.1.1.1 Khái niệm FDI
Năm 1997 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa khái niệm Đầu tư trực tiếp
nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực
hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh
tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là giành
được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó
Cách tiếp cận khác, khi tìm kiếm một định nghĩa về FDI là cách tiếp
cận sở hữu Synthia day, Wallace, một chuyên gia Mỹ nghiên cứu về công ty
xuyên quốc gia viết: “Đầu tư nước ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng
là việc thiết lập hay giành được quyền sở hữu đáng kể trong một hàng “công
ty” ở nước ngoài hay sự gia tăng khối lượng của một khoản đầu tư nước
ngoài nhằm đạt được quyền sở hữu đáng kể”
Các nhà kinh tế Việt Nam, khi nghiên cứu FDI thường đi theo cách tiếp
cận nguồn vốn, coi FDI là một trong các nguồn vốn nước ngoài, bên cạnh các
nguồn vốn khác như: tài trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ của các tổ
chức phi chính phủ (NGOs), tín dụng từ các ngân hàng thương mại
Theo Luật Đầu tư năm 2005 “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng
các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
Trang 15- Đầu tư FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phần để thôn tính hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu theo luật đầu tư của từng nước quy định Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình
- Đây là hình thức nhà đầu tư tự bỏ vốn cùng điều hành nguồn vốn đó theo nhu cầu kinh doanh của mình Họ sẽ bị lỗ hay hưởng lãi vì vậy nước nhận đầu tư sẽ không phải tham gia vào các hoạt động đầu tư loại này trừ việc điều hành bằng hành lang pháp lý của mình
- Đầu tư trực tiếp chịu sự chi phối mãnh liệt của quy luật thị trường, vì vậy lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các nhà đầu tư Lợi nhuận của các nhà đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước
sở tại và trả lợi tức cổ phần (nếu có)
- Thông qua FDI, nước tiếp nhận đầu tư có cơ hội học hỏi được công nghệ, kỹ thuật hiện đại, tiếp thu được kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển Đây cũng chính là ưu điểm mà các hình thức đầu tư khác không có được
Trang 169
- Nguồn vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ dự án đầu tư dưới hình thức vốn pháp định, mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được
Các đặc điểm trên đã tạo một ưu thế chắc chắn FDI hơn những hình thức đầu tư khác, và FDI trên thế giới hiện nay là hình thức đầu tư được quan tâm đặc biệt
1.1.1.3 Các hình thức chủ yếu của FDI
Hiện nay, có ba hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu sau đây:
* Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract – BCC)
BCC là văn bản được ký kết giữa 2 hoặc nhiều bên (nước ngoài và nước
sở tại – các bên hợp doanh), nhằm tiến hành một hoặc nhiều hoạt động đầu tư tại nước sở tại trên cơ sở quy định quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên hợp doanh mà không thành lập pháp nhân mới
Phương thức hoạt động là các tổ chức kinh tế trong nước sản xuất, gia công, lắp ráp sản phẩm cho phía nước ngoài và nhận lại tiền công lao động hoặc bằng sản phẩm Khi hết hạn hợp đồng, các máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, gia công có thể được bán lại cho doanh nghiệp
* Doanh nghiệp liên doanh (Joint – Venture Enterprise)
Là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp của nước nhận đầu tư trên cơ sở hợp đồng liên doanh Các bên tham gia góp vốn cùng điều hành hoạt động kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH
có tư cách pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan của Việt Nam Thời gian hoạt động của các doanh nghiệp khoảng từ 30-50 năm Doanh nghiệp này hoàn toàn tự chủ về tài chính vì vốn pháp định do mỗi bên liên doanh đóng góp Trong quá trình hoạt động kinh doanh muốn tăng vốn phải được sự chấp nhận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 1710
* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% foreign owned capital)
Là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân riêng với 100% vốn của phía nước ngoài Loại hình doanh nghiệp này do phía nước ngoài toàn quyền quản
lý, điều hành, tự tổ chức sản xuất kinh doanh và chịu toàn bộ trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật của nước sở tại Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp không được giảm vốn pháp định
Ngoài ra còn có hình thức công ty cổ phần, công ty quản lý vốn và còn
có nhiều hình thức biến tướng khác tùy theo mục đích và đặc điểm trong yêu cầu tiếp nhận đầu tư Thí dụ, đối với lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên
có hình thức hợp đồng chia sản phẩm, trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng có hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (B.O.T) Hoặc hình thức đầu tư vào khu chế xuất hiện nay cũng có nhiều cải biến, ví dụ người ta bắt đầu chú ý đến hình thức xây dựng khu công nghiệp tập trung hoặc có nước lại quan tâm xây dựng khu kinh tế
1.1.1.4 Vai trò của FDI
Bổ sung nguồn vốn trong nước: Trong các lý luận về tăng trưởng kinh
tế, nhân tố vốn luôn được đề cập Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa Ở nước ta, nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển chủ yếu là từ ngân sách, bên cạnh đó nguồn vốn trực tiếp từ nước ngoài FDI cũng góp một phần quan trọng trong đó Nước ta là một nước đang phát triển với mục tiêu năm 2020 cơ bản là nước công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng trong khi đó nguồn vốn tích lũy được không nhiều vì thế vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài có ý nghĩa quan trọng đến quá trình phát triển kinh tế
Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp,
vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng" Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì
Trang 1811
không thể có được bằng chính sách đó Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước
Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công
ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi
cho đẩy mạnh xuất khẩu
Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những
mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc
đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng
Trang 19ra từ những quá trình sản xuất và lắp ráp các đầu vào Công nghiệp hỗ trợ chính là những ngành sản xuất các sản phẩm đầu vào, gồm:
- Các sản phẩm, hàng hóa trung gian (intermediate goods)
- Các sản phẩm, hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất (capital goods) Việc phân biệt hàng hóa trung gian và hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất phụ thuộc vào hình thức chuyển hóa của những hàng hóa này vào trong sản phẩm cuối cùng Như trong sản xuất hàng điện tử tiêu dùng, các linh kiện lắp ráp được xem như hàng hóa trung gian, trong khi máy móc, thiết bị sản xuất các linh kiện ấy được xem như hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất
Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có hai cách hiểu về công nghiệp
hỗ trợ Ở góc độ hẹp, công nghiệp hỗ trợ là các ngành sản xuất phụ tùng linh kiện phục vụ cho công đoạn lắp ráp ra sản phẩm hoàn chỉnh Ở góc độ rộng hơn, công nghiệp hỗ trợ được hiểu như toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng như tạo ra các máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất nào khác góp phần tạo thành sản phẩm
Có ba cách thể hiện chính thức định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ trong các văn bản cấp quốc gia, gồm:
- Theo cách tổng quát Định nghĩa chính thức của quốc gia về công nghiệp hỗ trợ được Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản
(METI) đưa ra vào vào năm 1993: Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công
Trang 2013
nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn… cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử)
- Theo cách cụ thể Định nghĩa của Văn phòng phát triển công nghiệp
hỗ trợ Thái Lan (Bureau of Supporting Industries Development - BSID):
Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản (nhấn mạnh các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện
tử là những ngành công nghiệp hỗ trợ quan trọng)
- Theo cách liệt kê Hội đồng đầu tư Thái Lan phân loại các ngành công nghiệp sản xuất thành phẩm thành 3 bậc: lắp ráp, sản xuất linh kiện và phụ kiện, và các ngành công nghiệp hỗ trợ Năm sản phẩm chính của ngành công nghiệp hỗ trợ là gia công khuôn mẫu, gia công áp lực, đúc, cán và các gia công nhiệt
Các định nghĩa trên chủ yếu nhìn công nghiệp hỗ trợ theo ngành Nếu tiếp cận theo chuỗi giá trị, từ góc độ doanh nghiệp, công nghiệp hỗ trợ được hiểu gồm ba dạng doanh nghiệp:
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nước ngoài
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc nước ngoài ở thị trường trong nước
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nội địa
Trong Quy hoạch Tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020 của Bộ Công thương, công nghiệp hỗ trợ được hiểu là những ngành công nghiệp cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết
để sản xuất ra sản phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường Trong bản quy hoạch này, hệ thống công nghiệp hỗ trợ là hệ thống các nhà sản xuất và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, cho khâu lắp ráp cuối cùng
Trang 2114
1.1.2.2 Đặc điểm
Công nghiệp hỗ trợ có 3 đặc điểm cơ bản [10]:
Thứ nhất, công nghiệp hỗ trợ chỉ sản xuất ra những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho quá trình sản phảm chính chứ không trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm chính Do vậy những sản phẩm này không có giá trị tiêu dùng, nó chỉ có tác dụng hoàn thiện sản phẩm cho các nhà sản xuất chính
Thứ hai, việc sản xuất công nghiệp hỗ trợ phụ thuộc vào việc sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm chính Quá trình sản xuất của các doanh nghiệp hỗ trợ chỉ tồn tại khi tồn tại ngành sản xuất sản phẩm chính cần đến những sản phẩm hỗ trợ từ nó
Thứ ba, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đây là một quy ước cho khái niệm công nghiệp hỗ trợ, những sản phẩm hỗ trợ mà được sản xuất bởi các nhà sản xuất lớn và quy mô lớn không được coi là công nghiệp hỗ trợ Chẳng hạn như trong nghành xe hơi sản xuất đầu máy, bánh xe, thân xe … không được coi là công nghiệp hỗ trợ
1.1.2.3 Phân loại công nghiệp hỗ trợ
Theo cách tiếp cận về công nghiệp hỗ trợ là một hệ thống bao trùm chuỗi giá trị sản xuất ra một sản phẩm, một chủng loại sản phẩm cụ thể, công nghiệp hỗ trợ có thể phân thành các ngành phù hợp với các sản phẩm cuối cùng chính như:
- Công nghiệp hỗ trợ ngành giày da
- Công nghiệp hỗ trợ ngành may mặc
- Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí: ô tô, xe máy
- Công nghiệp hỗ trợ ngành hóa chất
- Công nghiệp hỗ trợ ngành điện, điện tử
- …
Trang 2215
Cách phân loại công nghiệp hỗ trợ theo ngành nghề sản xuất ra sản phẩm cuối cùng này được sử dụng khá phổ biến trong thực tế và trong nghiên cứu, nhất là nghiên cứu từng ngành sản xuất riêng lẻ Ưu điểm là xác định rõ ràng các đối tượng tham gia một hệ thống ngành công nghiệp đóng góp vào chuỗi giá trị để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng
1.1.2.4 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ
Thứ nhất, CNHT đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theo hướng vừa mở rộng vừa thâm sâu CNHT không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác
sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu Dù những sản phẩm này có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng phí tổn đầu vào Đó là chưa nói đến sự rủi
ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu Vì lý do này, CNHT không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sức cạnh tranh và phạm vi cũng giới hạn trong một số ít các ngành
Thứ hai, CNHT có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp, đồng thời, kích thích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước Muốn thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI, CNHT phải đi trước một bước, tạo nên cơ sở hạ tầng để cung cấp sản phẩm đầu vào cần thiết cho các ngành công nghiệp lắp ráp bởi lẽ bản thân các tập đoàn và các công ty lớn về lắp ráp hiện cũng chỉ giữ lại trong quy trình của mình các khâu nghiên cứu, phát triển sản phẩm và lắp ráp thay vì tất cả gói gọn trong một công ty hay nhà máy
Thứ ba, CNHT còn góp phần thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Bởi lẽ, dưới áp lực cạnh tranh, các
Trang 2316
công ty CNHT phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI
Thứ tư, CNHT còn góp phần tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa trên các địa bàn sản xuất của doanh nghiệp và khu vực lân cận
1.1.3 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ
Tác động của FDI lên công nghiệp hỗ trợ [8] có thể hiểu thông qua 3 giai đoạn phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ:
1) Trước khi FDI vào đã có nhiều công ty trong nước sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cung cấp cho các công ty lắp ráp, sản xuất sản phẩm chính cho thị trường nội địa Khi có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất công nghiệp hỗ trợ sẽ phát triển mạnh hơn nếu được tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI Sự liên kết (linkage) này không phải tự nhiên hình thành mà các công ty công nghiệp hỗ trợ phải tỏ ra
có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI
2) Đồng thời với sự gia tăng của FDI, nhiều doanh nghiệp bản xứ ra đời trong các ngành công nghiệp hỗ trợ chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI Những doanh nghiệp sớm hình thành sự liên kết với doanh nghiệp FDI sẽ được chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển nhanh 3) Sau một thời gian hoạt động của doanh nghiệp FDI với lượng sản xuất ngày càng mở rộng, tạo ra thị trường ngày càng lớn cho công nghiệp hỗ trợ, nhiều công ty nhỏ và vừa ở nước ngoài sẽ đến đầu tư Ở đây có trường hợp các công ty con hoặc các công ty có quan hệ giao dịch lâu dài của các doanh nghiệp FDI đến đầu tư do sự khuyến khích của các doanh nghiệp FDI;
Trang 2417
cũng có trường hợp các công ty nhỏ và vừa ở nước ngoài độc lập với các doanh nghiệp FDI nhưng thấy thị trường của công nghiệp hỗ trợ đã lớn mạnh nên đến đầu tư [8]
Khi CNHT được FDI thúc đẩy phát triển thì chính lúc này CNHT lại quay lại thu hút FDI Đặc trưng của ngành công nghiệp hỗ trợ là sản xuất
quy mô nhỏ được thực hiện bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự tác nghiệp của nó luôn gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các hãng lớn và
có mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế và kỹ thuật với các hãng lớn Khi các mối liên hệ trở nên thường xuyên và ổn định thì chúng trở thành vệ tinh của các hãng lớn Đây cũng là một trong các con đường chủ yếu để các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) cắm nhánh và khai thác thị trường thế giới thông qua việc hút các doanh nghiệp này vào quỹ đạo hoạt động của mình để hình thành các chi nhánh cấp 2 và cấp 3… với các mối liên kết chặt và lỏng khác nhau
Mặt khác, thông qua những mối liên kết này, các doanh nghiệp của nước nhận đầu tư cũng dễ dàng thâm nhập vào hệ thống phân công lao động của TNCs Doanh nghiệp hỗ trợ có thể tồn tại như một vệ tinh của TNCs Theo đà phát triển về năng lực sản xuất và trình độ công nghệ, các doanh nghiệp hỗ trợ này không chỉ cung cấp sản phẩm cho các xí nghiệp sản xuất ở trên địa bàn quốc gia, mà còn cung cấp cho mạng lưới các xí nghiệp chhi nhánh của TNCs cắm ở hàng trăm quốc gia trên thế giới
Đối với các TNCs, công nghiệp hỗ trợ kém phát triển sẽ là rào cản lớn đối với các công ty lắp ráp và các công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng, vì
sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu Bởi lẽ, để lắp ráp hoàn chỉnh một chiếc ô tô, người ta cần tới khoảng 20.000 – 30.000 linh kiện và các chi tiết khác nhau Với một khối lượng khổng lồ phụ tùng, linh kiện như vậy, ngay cả những tập đoàn công nghiệp hùng mạnh, có đủ năng lực chuyên môn, tài chính, nguồn nhân lực cũng không thể tự làm hết được tất cả các công đoạn
Trang 2518
một cách hiệu quả vì độ rủi ro lớn Thay vào đó, họ chỉ đảm nhiệm những khâu trọng yếu nhất rồi sử dụng phụ tùng, linh kiện của các doanh nghiệp vệ tinh trong ngành công nghiệp hỗ trợ để lắp ráp hoàn chỉnh thành phẩm và nắm giữ hệ thống phân phối
Xuất phát từ vai trò trên, có thể thấy công nghiệp hỗ trợ phải phát triển mới có thể thu hút có hiệu quả FDI, nhất là trong các ngành sản xuất các loại máy móc, là những ngành đang có tốc độ phát triển nhanh tại khu vực Đông
Á, đồng thời cũng là những ngành Việt Nam có lợi thế so sánh động Tỷ lệ của chi phí về công nghiệp hỗ trợ cao hơn nhiều so với chi phí về lao động,
do vậy một quốc gia có ưu thế về lao động nhưng công nghiệp hỗ trợ yếu kém sẽ làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn Dĩ nhiên, cũng không phải là phát triển công nghiệp hỗ trợ một cách đồng bộ rồi mới thu hút FDI Bài học kinh nghiệm phát triển các nền kinh tế cho thấy, nhiều khi FDI
đi trước và kéo theo các công ty vệ tinh trong và ngoài nước đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ với phương châm “buôn có bạn, đầu tư có vệ tinh” Do
đó, có mối quan hệ tương hỗ giữa FDI và công nghiệp hỗ trợ, trong đó ngành công nghiệp hỗ trợ như “miếng mồi” nhằm thu hút các luồng đầu tư mạnh từ các trung tâm tài chính và công nghệ nguồn của thế giới [7]
1.2 CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.2.1 Khái niệm
Để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý đã tạo lập và sử dụng các công cụ quản lý để truyền dẫn các tác động của mình lên các đối tượng, khách thể quản lý Chính nhờ các công cụ quản lý mà Nhà nước truyền tải được các ý định và ý chí của mình lên mỗi con người, mỗi bộ phận trong hê thống, trên toàn bộ các vùng, các khu vực, các ngành của nền kinh tế Các công cụ quản lý kinh tế - xã hội
Trang 2619
được Nhà nước sử dụng bao gồm: Kế hoạch, Pháp luật, các chính sách kinh tế
- xã hội, bộ máy nhà nước, tài sản của nhà nước, hê thống thông tin nhà nước,
văn hoá dân tộc
Chính sách là một loại quyết định quản lý mà tầm ảnh hưởng của nó lớn hơn các quyết định tác nghiêp Đó là các quyết định chung, hướng dẫn đối tượng quản lý thực hiên các mục tiêu kinh tế' vĩ mô Chính sách tồn tại ở các cấp của hê thống quản lý nó bao gồm: Chính sách quốc gia, chính sách ngành, chính sách địa phương, vùng lãnh thổ, công ty và bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị xã hôi
Chính sách có ba đặc trưng sau: (1) Chính sách là hệ thống các hoạt động
có mục đích của chủ thể quản lý trong việc giải quyết một vấn đề nào của hệ thống, (2) Chính sách là tập hợp các bước giải quyết những vấn đề của hệ thống,
tổ chức, (3) Chính sách luôn gắn với mục tiêu do chủ thể quản lý đặt ra
Để thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các nước đang phát triển đã hoạch định những chính sách riêng phù hợp với những đặc thù của mình Tuy có nhiều nét riêng biệt song chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của tất cả các nước đều được ban hành nhằm tăng cường thu hút FDI để tận dụng hết các nguồn lực trong nước như tài nguyên, đất đai, lao động, phục vụ cho việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã định Chính sách thu hút FDI còn là cầu nối quan trọng nối liền nền kinh tế quốc gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế
Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm một hệ thống các quyết định thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thu hút
và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc gia trong một thời kỳ nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia [4]
Trang 2720
Chính sách thu hút FDI vào phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ là một nội dung trong chính sách thu hút FDI nói chung, đồng thời là một trong những chính sách cơ bản để phát triển công nghiệp hỗ trợ của quốc gia
Phát triển công nghiệp hỗ trợ là sự gia tăng về số lượng các doanh nghiệp kèm theo sự cải thiện về năng lực của các doanh nghiệp công nghiệp
hỗ trợ [10]
Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ bao gồm tổng hợp các công cụ nhằm tập trung nguồn lực cho phát triển công nghiệp hỗ trợ thông qua tác động vào các yếu tố nhằm thay đổi cơ cấu ngành, tạo việc làm, nâng cao năng suất, thúc đẩy sản xuất, đẩy mạnh đầu tư…trong ngành công nghiệp hỗ trợ [10]
Như vậy ta có thể hiểu Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào phát
triển công nghiệp hỗ trợ như sau: “Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào phát triển công nghiệp hỗ trợ bao gồm một hệ thống các quyết định thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành CNHT để đạt được mục tiêu phát triển hệ thống các doanh nghiệp hỗ trợ, xây dựng lợi thế cạnh tranh quốc tế của ngành này, xây dựng nền tảng công nghiệp, tạo động lực phát triển công nghiệp quốc gia”
1.2.2 Đặc điểm & nội dung
Đối với công nghiệp hỗ trợ tại các nước đang phát triển như Việt Nam, thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này là một chính sách quan trọng Với vai trò của công nghiệp hỗ trợ, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cho chính ngành sản xuất này cần thiết có những ưu tiên đặc biệt Đây cũng chính là điểm khác biệt của chính sách thu hút FDI vào ngành này so với các ngành, lĩnh vực kinh tế khác Các chính sách thu hút có thể từ các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư tới các quy định ưu đãi cụ thể cho đầu tư sản xuất linh kiện
Trang 28- Quản lý nhà nước và phân cấp quản lý
- Ưu đãi về tài chính
- Ngoại tệ và vay vốn
- Xúc tiến đầu tư
- Visa, giấy phép lao động và tiền lương
- Đất đai và tiền thuê đất
- Cung cấp hạ tầng
- Giải quyết tranh chấp
- Hỗ trợ đầu tư (tài chính, đất đai, thuế, lao động, …)
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI VÀO CNHT VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Chính sách của chính phủ Thái Lan theo hướng tạo ra các động cơ khuyến khích đầu tư mạnh mẽ đã trở thành những lực đẩy cần thiết thúc đẩy
sự phát triển ngành CNHT, đặc biệt là sản xuất linh kiện ô tô, linh kiện điện
tử CNHT ngành ô tô của Thái Lan được xem là điển hình thành công về phát triển CNHT Thái Lan hiện đứng thứ 9 về tổng lượng sản xuất ô tô của toàn cầu, với khoảng 2,5 triệu sản phẩm được ra đời vào năm 2013 Gần một nửa các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô lớn nhất thế giới đã đặt nhà máy tại đây như Ford, General Motors, BMW, Daimler Chrysler, Mitsubishi, Mazda, Toyota, Isuzu, Nissan, Honda, Yamaha và Suzuki
Trang 29Về ưu đãi đầu tư, Ủy ban đầu tư (BOI) chịu trách nhiệm về phê duyệt
và cấp ưu đãi đầu tư BOI đưa ra hai loại ưu đãi: ưu đãi thuế và ưu đãi phi thuế dựa trên hệ thống phân vùng Ưu đãi thuế bao gồm miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu máy móc và nguyên liệu thô cũng như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp Các ưu đãi phi thuế bao gồm cho phép thuê công nhân nước ngoài, sở hữu đất và mang hoặc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài [12]
Bảng 1.1: Các chính sách ƣu đãi chính của Ủy ban Đầu tƣ Thái
Lan Tài liệu Loại dự án Quyền và lợi ích
- Giảm 50% thuế nhập khẩu máy móc
- Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm
- Miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu thô hoặc nguyên liệu cần thiết sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu trong 1 năm
Vùng 2: 12 tỉnh
- Giảm 50% thuế nhập khẩu máy móc
- Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm (5 năm đối với các dự án
Trang 3023
Tài liệu Loại dự án Quyền và lợi ích
nằm trong các đồn điền công nghiệp hoặc các khu công nghiệp được ưu tiên
- Miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu thô hoặc nguyên liệu cần thiết sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu trong 1 năm
Vùng 3: 58 tỉnh có
thu nhập thấp và cơ
sở hạ tầng kém phát
triển hơn
- Miễn thuế nhập khẩu máy móc
- Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 8 năm
- Miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu thô hoặc nguyên liệu cần thiết sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu trong 5 năm
- Các dự án khác theo Thông báo số 1/2543 của BOI
Trang 3124
Tài liệu Loại dự án Quyền và lợi ích
xếp loại ưu tiên: các hoạt động thuộc 7 lĩnh vực do BOI xếp loại được ưu tiên:
nông nghiệp (21), khai khoáng (19), công nghiệp nhẹ (16), máy móc (20), điện- điện tử (9), hóa chất (16) và dịch vụ (28)
- Những hoạt động khác sẽ được hưởng
ưu đãi theo Thông báo số 1/2543 của BOI
Nguồn: VDF (2011), Điều tra so sánh bối cảnh, biện pháp chính sách
và kết quả phát triển CNHT ở ASEAN
Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan cũng có những nỗ lực không ngừng thúc đẩy các liên kết công nghiệp giữa các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước
Ủy ban đàu tư (BOI) đã thành lập Cơ quan Phát triển liên kết Công nghiệp để khuyến khích các liên doanh giữa các công ty địa phương với các công ty nước ngoài trong công nghiệp hỗ trợ
1.3.2 Kinh nghiệm của Malaysia
Malaysia có những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài với sự nhấn mạnh vào ngành chế tạo rất rõ rệt Malaysia hiện nay là cơ sở sản xuất của nhiều công ty đa quốc gia từ Mỹ, Nhật, châu Âu, Đài Loan và Hàn Quốc đặc biệt trong ngành điện tử FDI vào ngành điện tử của Malaysia chiếm một phần ba tổng FDI vào công nghiệp chế tạo trong thời kỳ 1996-1998
Trang 3225
Chính phủ Malaysia khuyến khích thu hút FDI vào lĩnh vực chế tạo như đưa ra các ưu tiên về mặt bằng và thuế, đơn giản hóa các thủ tục và giảm bớt vác hạn chế về sở hữu, đặc biệt là hỗ trợ miễn thuế cho các hoạt động sử dụng công nghệ cao
Ưu đãi thuế dành cho các nhà sản xuất chế tạo gồm giảm một phần hay toàn bộ thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, miễn thuế nhập khẩu, thuế bán hàng và thuế tiêu thụ đặc biệt Các chương trình ưu đãi
cơ bản ở Malaysia gồm có tư cách tiên phong và trợ cấp thuế được quản lý bởi Cơ quan chuyên trách về cấp giấy phép đầu tư và ưu đãi đầu tư là Cục Phát triển Công nghiệp Malaysia (MIDA) Hiện nay các chương trình ưu đãi chính của MIDA gồm có:
- Tư cách tiên phong (PS; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong khoảng từ 70% đến 100% thu nhập hợp pháp trong vòng từ 5 đến 10 năm)
- Trợ cấp thuế đầu tư (ITA; 60% đến 100% chi phí vốn hợp lệ trong vòng 5 đến 10 năm có thể được bù bằng 70% đến 100% thu nhập hợp pháp)
- Trợ cấp tái đầu tư (RA; 60% chi phí vốn hợp lệ có thể được bù bằng 70% đến 100% thu nhập hợp pháp)
Nhà đầu tư có thể chọn hoặc PS hoặc ITA nhưng không được cả hai Ngoài ra doanh nghiệp cũng được miễn thuế nhập khẩu và thuế bán hàng đối với các nguyên liệu thô, linh phụ kiện và máy móc thiết bị nhập khẩu để phục
vụ mục đích sản xuất, không phải để kinh doanh thương mại Các ưu đãi này được quản lý bằng cách kết hợp danh mục hợp lệ và đánh giá cho từng trường hợp cụ thể Để có được ưu đãi, các hoạt động và sản phẩm phải nằm trong danh mục hợp lệ và sẽ được Ủy ban hành động của MIDA quyết định có ưu đãi hay không tại các buổi họp hàng tuần Đối với danh mục hợp lệ, MIDA xuất bản và cập nhật danh mục các hoạt động và sản phẩm khuyến khích phát triển trên trang web của mình và trong ấn phẩm xúc tiến đầu tư in bằng năm
Trang 3326
ngôn ngữ (Anh, Nhật, Trung, Arập và Malaysia) Khi có thêm các sản phẩm mới hay linh phụ kiện mới, hoặc khi các sản phẩm hay linh phụ kiện đã có trở nên lỗi thời, MIDA sẽ bổ sung hoặc xóa bỏ khỏi danh mục hợp lệ và đăng tải danh sách mới trên công báo [6]
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm của 2 quốc gia trong khu vực ASEAN, khá thành công trong thu hút FDI vào phát triển CNHT, có điều kiện khá tương đồng với Việt Nam, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi thu hút FDI vào CNHT:
Tạo thị trường cho CNHT Cần xây dựng chiến lược, tầm nhìn về thu
hút đầu tư và đầu tư nước ngoài trong phát triển CNHT: chỉ rõ đối tượng hạ nguồn ưu tiên, lĩnh vực CNHT cần đầu tư phát triển kèm theo chương trình hành động cụ thể để định hướng dòng đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên Thái Lan đã hướng vào sản xuất linh kiện ô tô, linh kiện điện tử, Malaysia hướng vào sản xuất linh kiện điện tử, cả hai nước đều đã có những thành công đáng
kể nhờ những định hướng đúng đắn này
Ưu đãi khi thu hút đầu tư Nhà nước có quy định rõ ràng về đối tượng
ưu tiên trong dài hạn và tập trung nguồn lực phát triển lĩnh vực đó, có những
ưu đãi vượt trội, cụ thể, rõ ràng so với các lĩnh vực khác để thu hút nguồn lực xây dựng CNHT Xây dựng chính sách hỗ trợ đầu tư vào CNHT tập trung vào các hỗ trợ cụ thể trên các mặt: ưu đãi thuế khi đầu tư mới, hỗ trợ địa điểm sản xuất, hỗ trợ tài chính, kết nối kinh doanh Hầu hết các nhà đầu tư FDI khi xem xét cơ hội đầu tư tại các nước đều đặt vấn đề minh bạch các ưu đãi, hỗ trợ bên cạnh yếu tố thị trường Các doanh nghiệp lắp ráp lớn cũng cần nhận được các hỗ trợ trong quá trình đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho các nhà cung cấp (đặc biệt trong giai đoạn “huấn luyện”- xúc tiến đào tạo và xây dựng quan
hệ ban đầu giữa nhà cung ứng và nhà lắp ráp) Tương tự như vậy, các doanh
Trang 3427
nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đầu tư CNHT cũng cần được nhận các ưu đãi thích đáng
Có chính sách khuyến khích đầu tư vào các khu vực mục tiêu: các
khu công nghiệp tập trung, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu vực kinh tế khó khăn… thông qua việc tăng cường ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu
tư vào các khu vực này
Cơ quan đầu mối Cả Thái Lan và Malaysia đều có các cơ quan
chuyên trách thực hiện quản lý Nhà nước về CNHT: Thái Lan là Ủy ban đầu
tư (BOI) và Malaysia là Cục Phát triển Công nghiệp Malaysia (MIDA), cả hai
cơ quan này đều có thẩm quyền xây dựng và sửa đổi danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên, xét duyệt các ưu đãi cũng như thực hiện một số dịch vụ công
đi kèm; các cơ quan khác thực hiện các dịch vụ có liên quan, không được đề
ra các văn bản quy phạm về lĩnh vực này
Cơ chế thực thi các hỗ trợ cần được minh bạch và dễ dàng tiếp cận từ phía doanh nghiệp và nhà đầu tư trong đó, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ phát triển CNHT cụ thể và hiệu quả (chương trình phát triển nhà cung cấp, chương trình hỗ trợ liên kết doanh nghiệp…) làm cơ sở thực hiện các chính sách phát triển CNHT đã nêu
Trang 35Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đã tồn tại và đang phát triển một cách
tự phát Nhìn chung ngành CNHT đạt được một số kết quả nhất định nhưng còn nhiều hạn chế Phần lớn sản phẩm quan trọng, có giá trị cao đều phải nhập khẩu Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam có thể khái quát ở những điểm chính sau:
- Thứ nhất, công nghiệp hỗ trợ manh mún, kém phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp ô-tô, xe máy; công nghiệp dệt may, giày da
- Thứ hai, các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm hỗ trợ ở trong nước công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh yếu kém
- Thứ ba, còn vắng bóng công nghiệp công nghệ cao
- Thứ tư, các doanh nghiệp FDI vẫn chiếm ưu thế
Mới được quan tâm và bắt đầu hình thành trong các năm gần đây, CNHT ở Việt Nam còn yếu kém, lạc hậu và thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các ngành công nghiệp lắp ráp Ngoại trừ ngành công nghiệp xe máy có tỷ lệ nội địa hóa đạt khoảng 85% đến 90%, CNHT cho các ngành công nghiệp quan trọng khác còn rất yếu Dưới đây là hiện trạng CNHT cho các ngành cụ thể sẽ cho ta thấy rõ điều này
Trang 3629
2.1.1 Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo
Số liệu thống kê gần đây cho thấy, khoảng 80% giá trị kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam dành cho nguyên liệu đầu vào, thiết bị và máy móc phục
vụ sản xuất trong nước [1]
Đặc biệt, ngành cơ khí chế tạo- xương sống cho một nền công nghiệp phát triển- cũng chưa có sự chuyển biến tích cực nếu không muốn nói là đã quá tụt hậu so với sự phát triển chung của thế giới Các công nghệ tạo phôi, nhiệt luyện hay gia công kim loại của ngành cơ khí đều quá lạc hậu, sản phẩm làm ra chưa đảm bảo chất lượng theo yêu cầu thị trường
Công nghệ chế tạo cơ khí nội địa về tổng thể vẫn là công nghệ chế tạo đơn giản, lạc hậu, trình độ tụt hậu khoảng 2-3 thế hệ so với khu vực Thiết bị phần lớn là vạn năng, qua nhiều năm sử dụng đã lạc hậu về tính năng kỹ thuật,
độ chính xác kém, thiếu phụ tùng thay thế, thiếu chú ý bảo dưỡng định kỳ, thiếu vốn để đầu tư thay thế, đổi mới, nâng cấp Khâu tạo phôi – một khâu rất quan trọng trong công nghiệp cơ khí, các cơ sở sản xuất vấn sử dụng chủ yếu công nghệ đúc bằng khuôn cát, chất lượng vật đúc thấp, tỉ lệ chế phẩm cao
Cơ khí Việt Nam chưa có kinh nghiệm đúc chính xác cao, chưa đúc được những mác thép có chất lượng và độ bền cao Công nghệ chế tạo phôi bằng phương pháp biến dạng dẻo kim loại ở trạng thái nóng (cán, rèn dập) cũng còn yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường Khâu nhiệt luyện và xử lý chất lượng bề mặt các sản phẩm cơ khí còn yếu đã ảnh hưởng xấu đến chất lượng của các chi tiết thành phẩm
Ngành Công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực chế tạo máy Việt Nam đang
có một lỗ hổng rất lớn ở “chân móng” Các sản phẩm thép xây dựng được đầu
tư sản xuất ồ ạt để đáp ứng một thị trường xây dựng đang phát triển mạnh mẽ
Trang 3730
Trong khi đó ngành thép chế tạo chưa hề có mặt tại Việt Nam khi không nhìn
ra được hiệu quả đầu tư
Lĩnh vực công nghiệp chế tạo giàn khoan dầu khí lại gặp nhiều vướng mắc trong công tác nội địa hóa Việc kết hợp trong công tác nội địa hóa còn thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp cơ khí trong nước dẫn đến sự thiếu thông tin kịp thời và cụ thể cho việc cung cấp các sản phẩm
Các sản phẩm hiện có của các doanh nghiệp trong nước hầu như chưa phù hợp với môi trường biển, dầu khí dễ cháy nổ, đòi hỏi độ tin cậy cao và nghiêm ngặt về các chỉ tiêu kỹ thuật theo các yêu cầu của cơ quan kiểm định, đăng kiểm quốc tế
Nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng vào Việt Nam trong
11 tháng đầu năm 2012 đạt 14,68 tỷ USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ 2011, trong khi xuất khẩu chỉ đạt 5,09 tỷ USD, tăng 29,9% so với cùng kỳ [9]
Công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô
Ngành sản xuất lắp ráp ô tô được kỳ vọng với nhiều chính sách ưu đãi phát triển nhưng đến nay tỉ lệ nội địa hóa vẫn còn rất thấp, chỉ khoảng trên dưới 10% đối với xe con, do dung lượng thị trường thấp nên không thu hút được doanh nghiệp sản xuất phụ tùng tham gia chuỗi cung ứng
Công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ô tô Việt Nam hình thành và phát triển rất chậm trong giai đoạn vừa qua Năm 2010, ước tính cả nước có khoảng 230 doanh nghiệp tham gia sản xuất các loại linh kiện, phụ tùng ô tô Ngoài ra là hàng trăm cơ sở dịch vụ sửa chữa ô tô và các cơ sở kinh doanh linh kiện, phụ tùng ô tô [9]
Tính đến năm 2012, tổng số các DN sản xuất ô tô trên lãnh thổ Việt Nam là gần 400 DN Các DN sản xuất ô tô tập trung chủ yếu tại vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng Đa số các DN có quy mô vừa và nhỏ Theo công suất thiết kế, các DN sản xuất ô tô cả nước có tổng công suất sản
Trang 3831
xuất lắp ráp xe hiện nay là khoảng 458.000 xe/năm, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 47%, các DN trong nước chiếm 53% [9] Năm 2010, cả nước sản xuất 112,3 ngàn xe các loại, cao gấp gần 2 lần năm
2005 và 8,4 lần năm 2000 Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 10 năm là 17,44%/năm[9] Năm 2011, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, sản xuất lắp ráp xe trong nước chỉ đạt 107,9 ngàn xe, giảm 4% so với năm 2010 Năm 2012 số lượng xe lắp ráp trong nước còn 72.749 xe, giảm 31% so với năm 2011[9]
Do hạn chế trong khả năng cung ứng nội địa, ngành ô tô Việt Nam hàng năm vẫn nhập khẩu một lượng lớn linh kiện, phụ tùng với giá trị nhập khẩu lên tới gần 2 tỷ USD, từ các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Philippin…Hạn chế lớn nhất khi phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành ô tô là dung lượng thị trường trong nước nhỏ, lại bị chia sẻ bởi nhiều nhà lắp ráp
Công nghiệp ô tô được hoạch định và kỳ vọng rất lớn đến năm 2010 đạt tỷ lệ nội địa hóa cao (40-60%), tự chủ công nghệ, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước (60-80%), hướng tới xuất khẩu ô tô và phụ tùng [1]
Tuy nhiên hầu hết các chỉ tiêu đều không đạt được, đặc biệt đối với dòng xe con và xe chuyên dùng (tỷ lệ hiện tại dưới 25%) Các chi tiết linh kiện phụ tùng có hàm lượng kỹ thuật cao như động cơ, hộp số đều chưa thể sản xuất trong nước Nguyên nhân chủ yếu là do thị trường ô tô chưa được
mở ra như mong đợi, sản lượng thấp nên khó có thể đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ
Công nghiệp hỗ trợ ngành xe máy
Công nghiệp hỗ trợ cho ngành xe máy là lĩnh vực phát triển nhất cả về
số lượng và chất lượng so với các ngành công nghiệp khác ở Việt Nam Với nhu cầu thị trường lớn cùng một số ưu đãi phát triển của chính phủ, CNHT
Trang 3932
cho ngành xe máy đã có những bước phát triển mạnh mẽ Việt Nam là quốc gia có lượng phương tiện giao thông chiếm tới 90% là xe máy Dự báo đến năm 2015 lượng xe máy lưu hành trong cả nước sẽ khoảng 31 triệu xe và đến năm 2020 khoảng 33 triệu chiếc Chính vì vậy, số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường sản xuất và lắp ráp xe máy cũng khá đông, khoảng gần 60 doanh nghiệp, trong đó có những tập đoàn lớn đến từ Nhật Bản, Italia, Đài Loan Các doanh nghiệp đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu của các nhà lắp ráp Năm 2010, với 166 doanh nghiệp và hơn 40 ngàn lao động, GTSXCN linh kiện phụ tùng xe máy lên tới 55 ngàn tỷ đồng, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 15,77%/năm Hiện nay tỷ lệ nội địa hoá các loại
xe gắn máy trong nước sản xuất đã đạt khoảng 85-90% Các linh kiện chủ yếu trong xe máy hầu hết đã được sản xuất nội địa, như động cơ xe, các bộ phận của hộp số, khung, sườn xe, yên xe, tay lái… đạt tiêu chuẩn của các nhà lắp ráp FDI, tạo thành hệ thống cung ứng khá hiệu quả Một số linh kiện xe máy do doanh nghiệp nội địa sản xuất đã được xuất khẩu đi toàn cầu [1]
Theo Bộ Công thương, tới cuối năm 2012 này, tổng công suất sản xuất
và lắp ráp xe máy của Việt Nam sẽ đạt mức khoảng 5 triệu xe/năm [1]
Từ chỗ phải nhập khẩu 100% từ nước ngoài, ngành công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực sản xuất và lắp ráp xe máy của Việt Nam đã có thể tự sản xuất được khoảng 70% các loại linh kiện, phụ tùng, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm xe máy sản xuất tại Việt Nam Tuy vậy, giá thành các linh kiện, phụ kiện sản xuất trong nước còn cao, chất lượng không ổn định
2.1.2 Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử, tin học
Vốn đầu tư trong nước vào lĩnh vực điện tử tin học là rất ít, chủ yếu là các doanh nghiệp FDI; cơ cấu sản phẩm cũng mất cân đối nghiêm trọng khi mới chỉ dừng ở sản xuất sản phẩm dân dụng, thiếu nhiều sản phẩm điện tử
Trang 4033
chuyên dụng (chỉ chiếm 10-12% cơ cấu hàng hóa của ngành) và công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh thấp cũng như nguyên vật liệu đang phụ thuộc phần lớn vào nhà cung cấp nước ngoài Đặc biệt, Việt Nam hiện chưa có một
cơ sở sản xuất công nghiệp nào tham gia vào việc sản xuất vật liệu điện tử
Tính chung trong 11 tháng đầu năm 2012, trị giá nhập khẩu máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện vào Việt Nam lên tới gần 11,9 tỷ USD, tăng 71,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 6,98
tỷ USD, tăng 69% so với cùng kỳ năm ngoái [9]
Biểu đồ 2.1:Kim ngạch nhập khẩu máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện theo tháng năm 2010-2011 và 11 tháng năm 2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2012
Cũng trong 11 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu điện thoại và linh kiện đạt tới 4,48 tỷ USD, tăng 84,7% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi kim ngạch xuất khẩu đạt 11,34 tỷ USD, tăng gấp đôi cùng kỳ năm 2011[9] Tuy nhiên, phần lớn xuất khẩu vẫn nhờ vào các doanh nghiệp có vốn FDI
2.1.3 Công nghiệp hỗ trợ ngành công nghiệp hóa chất
Trong hệ thống sản xuất CNHT, các sản phẩm bằng nhựa và cao su đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng cho lắp ráp các ngành như điện