Để giải quyết những vấn đề nêu trên, đề tài: “Đánh giá hiệu quả của một số hệ thống canh tácđiển hình tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hũa Bỡnh”được thực hiện nhằm xác định một số hệ t
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm trở lại đây Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sựphát triển kinh tế, văn húa, xã hội ở các vùng nông thôn, vùng sõu…đặc biệt làvùng nông thôn miền núi.Với vùng nông thôn miền núi các chính sách đưa ra đềuhướng tới việc nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng cuộc sống của người dân và
xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái Vì vậy, việc phát triển các hệ thống canhtácmang lại hiệu quả trên nhiều mặt ở các tỉnh miền núi đã và đang là vấn đề cấpthiết
Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường và hiệu quả tổng hợpcủa các hệ thống canh tác tại miền núi có sự khác nhau và phụ thuộc nhiều vàoviệc chọn lựa các hệ thống canh tácthích hợp với điều kiện từng vùng Nếu việcchọn lựa các hệ thống canh tác chỉ tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội mà không tínhđến hiệu quả môi trường thì dễ dẫn đến làm cạn kiệt nguồn tài nguyên ở khu vực
đó Ngược lại, nếu chỉ xét đến hiệu quả môi trường mà không chú ý đến hiệu quảkinh tế - xã hội thì việc nâng cao mức sống của người dân và phát triển kinh tếvùng là điều khó có thể thực hiện được Trên thực tế, ở các vùng sản xuất NLN,hiện tượng xói mòn rửa trôi trên các vùng đất dốc diễn ra rất mạnh làm đất đainghèo dinh dưỡng làm giảm khả năng canh tác dẫn đến năng suất cây trồng cũnggiảm dần, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và kinh tế của người dân
Việc phát triển các hệ thống canh tácđang là một hướng đi có triển vọng ởmiền núi Việt Nam, nhằm giải quyết đa dạng các nhu cầu về sản phẩm NLN; các
hệ thống canh tác còn tỏ ra có hiệu quả hơn hẳn các lối canh tác truyền thống nhưđộc canh, du canh bỏ húa…trước đây
Cao Sơn là một xã miền núi, nằm trong vùng phòng hộ hồ thủy điện HũaBình thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hũa Bình đã và đang được phát triển nhiều hệthống canh tác khác nhau Song, các hệ thống canh tác này được xây dựng dựa trênviệc khai thác và sử dụng đất đai bằng những kinh nghiệm
Trang 2sẵn có và với trình độ hạn chế, nên hiệu quả của các hệ thống canh tácthấp Chođến nay, ở xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hũa Bình vẫn còn thiếu những nghiêncứu về hiệu quả các hệ thống canh tácđể làm định hướng cho việc phát triển các hệthống canh tác mang lại hiệu quả tổng hợp Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thểlựa chọn được một hệ thống canh tác hợp lý và có tác động tích cực đến kinh tế, xãhội, môi trường Hệ thống canh tác đó phải nâng cao hiệu quả sử dụng đất và cònphát huy được cả chức năng phòng hộ, đảm bảo tính bền vững lâu dài và nâng caođời sống của người dân tại điểm nghiên cứu nói riêng và vùng phòng hộ hồ thủyđiện Hũa Bình nói chung.
Để giải quyết những vấn đề nêu trên, đề tài: “Đánh giá hiệu quả của một
số hệ thống canh tácđiển hình tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hũa Bỡnh”được thực hiện nhằm xác định một số hệ thống canh tác có hiệu quả cao và
làm cơ sở đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật nhằm cải thiện cấu trúc và nângcao hiệu quả của các hệ thống tại xã Cao Sơn – vùng ven hồ thủy điện tỉnh HũaBình
PHẦN II TỔNG QUAN VẤNĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Lý thuyết về hệ thống
Năm 1920 L Vonbertanlanfy đã đề xuất cơ sở cho lý thuyết hệ thống và
nú được ứng dụng rất rộng rãi trong công tác nghiên cứu khoa học nông nghiệpcũng như nhiều lĩnh vực khác Có thể nói nú như một cơ sở để giải quyết các vấn
đề phức tạp và tổng hợp
Khái niệm hệ thống: “Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau
có quan hệ và tác động qua lại, một hệ thống có thể xác định như một tập hợp cácđối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương
tỏc”(L.Vonbertanlanfy,1920)
Theo L Vonbertanlanfy nếu chỉ nghiên cứu các đặc điểm cơ bản của các
tổ chức sống riêng biệt thì chưa thể giải thích đầy đủ về sự phát triển và tiến hoá
Trang 3của sinh giới, sự phát triển của các ngành khoa học cần phải nghiên cứu các quyluật trong toàn bộ các mối quan hệ của chúng.
Hệ thống là một tổng thể có trật tự các yếu tố khác nhau có quan hệ tácđộng qua lại Hệ thống không phải là một phép cộng đơn giản của các yếu tố, cácđối tượng mà là sự kết hợp hữu cơ giữa các yếu tố, các đối tượng Mỗi hệ thốngbao gồm nhiều hệ thống nhỏ hợp thành, đến lượt mình nú lại là bộ phận cấu thànhcủa bộ phận lớn hơn
Các yếu tố bên ngoài hệ thống nhưng có tác động tương tác với hệ thốnggọi là yếu tố môi trường Những yếu tố môi trường tác động lên hệ thống gọi làyếu tố đầu vào, những yếu tố môi trường chịu tác động trở lại của hệ thống gọi làyếu tố đầu ra
Trong thiên nhiên có hai loại hệ thống cơ bản:
- Hệ thống kín: Là hệ thống mà ở đó các yếu tố tương tác với nhau trong phạm vi
hệ thống
- Hệ thống mở: Là hệ thống mà ở đó các yếu tố tương tác với nhau giữa các yếu tốđầu vào và đầu ra, giữa yếu tố bên trong và bên ngoài
Hiện nay nghiên cứu hệ thống có hai phương pháp cơ bản:
- Nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến một hệ thống đã có sẵn Thông qua phươngpháp phân tích hệ thống nhằm tìm ra điểm hẹp hay chỗ thắt lại của hệ thống cầnđược sửa chữa, khai thông để hệ thống hoàn thiện hơn, hoạt động có hiệu quả hơn
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới, phương pháp này mang tính chất vĩ mô đòihỏi phải có sự tính toán, cân nhắc kỹ càng
2.1.2 Lý thuyết về hệ thống nông nghiệp
Nông nghiệp đã gắn bó với con người từ hàng vạn năm nay, nú là ngànhquan trọng sản xuất ra vật chất duy trì và phát triển xã hội loài người Ngày nay,khái niệm hệ thống nông nghiệp đã trở lên phổ biến và nhìn từ
nhiều góc độ khác nhau thì việc áp dụng vào nghiên cứu phát triển nông nghiệp ởmỗi nước là có sự khác nhau
Trang 4Theo Phạm Chí Thành và cộng sự, 1969 [6] đến nay đã có một số địnhnghĩa về hệ thống nông nghiệp như sau:
- Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sảnxuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn các nhu cầu Nú biểu hiện sựtác động qua lại giữa hệ thống sinh học – sinh thái mà môi trường tự nhiên là đạidiện và hệ thống xã hội – văn hoá qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả
kỹ thuật (Vissac, 1979)
- Hệ thống nông nghiệp trước hết là một phương thức khai thác môi trường đượchình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sản xuất thích ứng với các điềukiện sinh thái khí hậu của một không gian nhất định, đáp ứng với các điều kiện vànhu cầu của thời điểm đó (Mozoyer, 1986)
- Hệ thống nông nghiệp thích ứng với các phương thức khai thác nông nghiệp củakhông gian nhất định do một xã hội tiến hành, là kết quả của sự phối hợp các nhân
tố tự nhiên, xã hội – văn hoá, kinh tế và kỹ thuật (Jouve, 1988)
Theo Đào Thế Tuấn, 1989 [7] hệ thống nông nghiệp về thực chất là sựthống nhất của hai hệ thống: (1) Hệ sinh thái nông nghiệp là một bộ phận của hệsinh thái tự nhiên, bao gồm các vật sống (cây trồng, vật nuôi) trao đổi năng lượng,vật chất và thông tin với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứcấp (chăn nuôi) của hệ sinh thái; (2) Hệ kinh tế - xã hội, chủ yếu là hoạt động củacon người trong sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho toàn xã hội
Trong thực tế hiện nay vẫn còn nhiều các quan điểm tồn tại về nhận thức
và tiếp cận của hệ thống nông nghiệp nhưng mục tiêu chung của các quan điểmđều hướng tới việc khai thác có hiệu quả các điều kiện tự nhiên, môi trường xungquanh đồng thời đảm bảo tính bền vững và lâu dài trong việc khai thác
2.1.3 Lý thuyết về hệ thống canh tác
HTCT đang là mối quan tâm lớn của rất nhiều nước trên thế giới vì đó làđầu mối để có thể phát triển NLN của mỗi quốc gia Với sự phát triển xã hội ngàycàng cao thì việc đáp ứng đa dạng các sản phẩm NLN càng tỏ ra cấp thiết hơn.Chính vì thế, lối sản xuất độc canh cây trồng sẽ trở nên không thích hợp với sự
Trang 5phát triển xã hội Các HTCT đã thể hiện được tính ưu việt của nú về hiệu quả kinh
tế, xã hội, môi trường Tuy nhiên, để tìm ra được một HTCT hợp lý cho mỗi vùngđang là bài toán khó
Khái niệm về HTCT:
HTCT là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại,được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội,phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của hộ
- Yếu tố sinh học: Là bao gồm các cây trồng, vật nuôi được canh tác để thoảmãn mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của hộ
+ Hệ phụ trồng trọt: Hệ phụ trồng trọt là một phần chủ yếu của HTCT, nói đếntrồng trọt là nói đến cây trồng vì vậy hệ thống cây trồng lại là bộ phận quan trọngcủa hệ phụ trồng trọt, là trung tâm của hệ phụ trồng trọt
+ Hệ phụ chăn nuôi: Là bao gồm tổng hợp các khâu kỹ thuật từ chọn giống đếnthức ăn, chế biến sản phẩm, …Hệ phụ này có quan hệ chặt chẽ đến trồng trọt,chúng tác động qua lại với nhau nhằm thoả mãn mục tiêu và nhu cầu của nông hộsao cho sự tác động đó đem lại hiệu quả về mọi mặt là cao nhất
- Yếu tố tự nhiên: Bao gồm các yếu tố quan trọng là khí hậu, đất và nước,các yếu tố này có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành vùng sinh thái nôngnghiệp, từ đó bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp
- Yếu tố kinh tế, xã hội: Là những yếu tố như tín dụng, thị trường, các phongtục tập quán trong đời sống cũng như trong canh tác, các yếu tố này ảnh hưởng rấtlớn đến hoạt động của các HTCT
- Người nông dân: Là người trực tiếp tạo ra sản phẩm, có tác động lớn đếnhiệu quả của các HTCT
Như vậy, tất cả các yếu tố của HTCT có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khimột yếu tố thay đổi sẽ dẫn đến các yếu tố khác thay đổi và dẫn đến hệ thống thayđổi theo
Theo H.G Zandstra HTCT là một khái niệm chưa được phổ cập, phải phõnbiệt nó với việc nghiên cứu nông học, quản lý tài nguyên hay hệ thống nông
Trang 6nghiệp Nghiên cứu HTCT nhằm tăng lợi nhuận sản xuất cõytrồng từ những tàinguyên thiên nhiên sẵn có, lấy hệ thống cõy trồng làm
hoạtđộng nghiên cứu hệ sản xuấtcủa trang trại[19]
Theo M Sectisarn - Hệthống canh tác là sản phẩm của 4 nhúm biến số: Môitrường - kỹ thuật sản xuất – tài nguyên – xó hội[17]
Qua đó chúng tôi thấy được nghiên cứu HTCT là phương pháp nghiêncứuNLN nhìn toàn bộ nông trại như một hệ thống Nghiên cứu HTCT tập trungvào những mối tương tác giữa thành phần cấu tạo của hệ thống trong tầm kiểmsoát của nông hộ và cách thức mà những thành phần này chịu tác động bởi các điềukiện vật lý, sinh học, kinh tế xã hội ngoài tầm kiểm soát của nông hộ
2.2 Những kết quả nghiên cứu về HTCT
Trong những năm qua, nghiên cứu nông nghiệp theo phương pháp hệthống là một vấn đề phổ biến trên thế giới nhằm phát triển nông nghiệp một cáchtoàn diện, sử dụng một cách hữu hiệu các nguồn lực tại chỗ, hạn chế việc khai thácquá mức tài nguyên thiên nhiên dẫn đến huỷ hoại môi trường sinh thái Nghiên cứu
hệ thống góp phần tạo điều kiện cho các thành phần của hệ thống có cơ hội tácđộng qua lại lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau phát triển, tránh được tình trạng thànhphần này cản trở sự phát triển của thành phần kia
2.2.1 Trên thế giới
Việc phát triển nông nghiệp hầu hết dựa vào các cơ sở sản xuất tư nhân, đóchủ yếu là các trang trại cung cấp Do vậy, nhà nước rất quan tâm đến sự tồn tại vàphát triển của các trang trại và đã dành một khoản ngân sách không
nhỏ để đầu tư cho kỹ thuật và vốn của trang trại với lãi suất thấp Trên thếgiới đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về HTCT từ lâu và theo nhiều hướng khácnhau
Sản xuất nông nghiệp trên đất đồi núi bao gồm canh tác trên đất dốc vàđất bằng trồng cả cây hàng năm và cây lâu năm, cùng có cả việc canh tác trên đấtngập nước ở thung lũng, các thềm bậc thang có nguồn nước, nhưng nhìn chung đất
Trang 7nông nghiệp ở miền núi phần lớn là đất dốc Theo tài liệu của FAO thì các vùngđồi núi, đất nông nghiệp có độ dốc trên 150 thường chiếm tới 50 -60% trong tổng
số đất nông nghiệp được khai thác Đất nông nghiệp ở vùng đồi núi thực chất làvấn đề nghiên cứu canh tác trên đất dốc, nghiên cứu mối quan hệ giữa HTCT vớivấn đề xói mòn, rửa trôi[5]
- HTCT Taungya (Taungya System): Được bắt đầu ở Mianma vào những năm
1856 Nhà nước đã cho trồng rừng gỗ tếch kết hợp trồng lúa cạn, ngô trồng hainăm đầu khi rừng chưa khép tán Mục tiêu chính của hệ thống canh tác này là khôiphục lại rừng bị tàn phá, sản xuất lương thực là thu nhập phụ Đây là dạng mô hìnhchuyển tiếp từ canh tác nương rẫy sang canh tác nông lâm kết hợp[15]
- Theo Blanford 1958, Taungya là một từđịa phương của ngôn ngữ Myanma:
“Taung” nghĩa là canh tác, “ya” làđồi núi Đõy là một phương thức canh tácđượcphát triển dựa trên hệ thống “Waldfeldbau” nổi tiếng của ngườiĐức, trong đó baogồm canh tác các cõy nông nghiệp ở ngay tại rừng Vào khoảng những năm 50của thế kỷ XIX, ẤnĐộđã sử dụng hệ thống nàyđể tái sinh,
hạt Tếch kết hợp với trồng hoa màu của nông dõn Một cách khái quát, Taungya
là một HTCT mà trong đó bao gồm sự kếthợpđồng thời của hai thành phần (cõynông nghiệp và cõy lõm nghiệp) trong những giai đoạnđầu tiên của quá trìnhhình thành rừng trồng, đổi lại họ phải giữgìn rừng non, sau vài năm khirừng khép tán, hoa màu không thể trồngđược nữa, họ sẽ di chuyển sang khuvực khác nếu quỹđất cũn cho phép Như vậy, sản phẩm gỗ là mục tiêucuối cùng trong
Taungya nhưng động lực thỳcđẩy trước mắt với thực tiễn là sản xuất lươngthực(Phạm Quang Vinh và các tác giả, 2005)[15]
- HTCT trong nông trại: Dân tộc Infugao (Philippin) biết canh tác lúa nước ở ruộng
có hệ thống tưới nước, kết hợp trồng cây gỗ để lấy củi, cây ăn quả, cây thuốc Hệthống này giữ được nước và chỗng xói mòn, sạt lở đất, đảm bảo tính bền vững[15]
Trang 8- HTCT trong nông lâm kết hợp: Đa dạng theo nhiều phương thức trồng và mật độkhác nhau được áp dụng rộng rãi ở Miền Trung và Bắc của Trung Quốc Cây đamục đích được trồng xen theo nguyên tắc đa loài tạo ra sản phẩm quanh năm vàmang tính hoang húa Trung Quốc phân loại nông lâm kết hợp theo vùng sinh thái(vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng) Mỗi loại hình nông lâm kết hợpphù hợp với từng vùng sinh thái riêng, nhưng đều đảm bảo lợi ích kinh tế theo kiểukinh tế trang trại[15].
Theo trung tõm phát triển đời sống nông thôn ở Mindanao Philippin
vệ tài nguyên đất làcần phải xõy dựng mô hình nông lõm kết hợp theo kiểuSALT [20]
Hoey.M, 1990 đưa ra mô hình sử dụng đất dốc nhấn mạnh việc làm đườngđồng mức, trồng cỏ theo băng, hạn chế làm đất đến mức tối thiểu góp phần pháttriển NLN ổn định ở Bắc Thái Lan trên đất kanđihult trồng cây ăn quả, cây cà phêtheo băng kết hợp với bón phân đã cho hiệu quả kinh tế cao và có tác dụng cải tạo
và nâng cao độ phì của đất
Quản lý đất bằng một số loại cây bản địa, trồng cải tạo đất bỏ hóa bằngcác loại cây rừng có giá trị kinh tế (như cây tống quá sủ, cây phi lao, keo dậu, câyđiền thanh, cây bồ đề, cọ Babassu, cây Bracatinga, cây Mimora Tenuiflora là câyrất phổ biến trên đất bỏ hóa ở Miền Nam Honduras và Trung Mỹ
Quản lý đất bỏ hóa dựa vào cây bụi ở Philippines (cây benet – Mimosainvisa), một loại hình cây trinh nữ, được đưa vào trồng trên đất bỏ hóa từ nhữngnăm 1960 để làm cây cải tạo đất Hệ thống quản lý đất bỏ hóa này có
tác dụng cung cấp nguồn phân xanh, che phủ đất để tái sinh độ phì nhiêu cho đất,tăng hiệu quả sản xuất các loại cây lương thực ở chu kỳ sau (Edwin Balbarino,David M.Bates, Z De la Rose, Julito Itumay, 1997) Cây cỏ lào, tre nứa ưu điểmcủa nú là sinh trưởng nhanh, phủ đất nhanh, nhờ đó thảm thực vật trên đất canh tácsau nương rẫy nhanh chóng được phục hổi, và đất dưới thảm tre nứa được coi làmàu mỡ, thích hợp cho một chu kỳ canh tác mới
Trang 9Quản lý đất bỏ hóa dựa vào cây họ đậu như cây keo dậu, muông hoa đào(ở Naala, Naga, Cebu – Philipines) hai loài cây trên là giống địa phương ỞNigờria loài cây này được coi là cây có khả năng rút ngắn thời gian bỏ hóa xuống
và có thể thâm canh và phát triển ổn định trên đất nương rẫy Làm giàu đất canhtác sau nương rẫy ở Peruvian Amazon đặc điểm chung của các hệ thống cây trồngtrên đất này là khi chặt cây - đốt rẫy các loại cây có giá trị kinh tế được chọn để lạihoặc được trồng xen với các loại cây lương thực trong thời gian canh tác nhằmmục đích làm giàu nương bỏ hóa sau khi kết thúc chu kỳ canh tác
Một số chương trình khoa học của Liên hợp quốc đang cho ứng dụng mộtchế độ canh tác hợp lý trên đất dốc theo hệ thống nông lâm kết hợp Theo hướngnày việc trồng cây rừng, cây nông nghiệp (hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả)
và phát trỉờn chăn nuôi trên cùng một mảnh đất dốc phù hợp với điều kiện sinh thái
và cho hiệu quả kinh tế cao rất được chú trọng
Ngày nay, mạng lưới nghiên cứu HTCT đã thu hút nhiều quốc giatrồng lúanhư Banglader, Miếnđiện, Ấnđộ, Indonesia, Malaisia, Nepan, Philippin,Triềutiên, Srilanca, Thailan, Việt Nam tham gia nghiên cứu Hệ thống canhtác là một tổhợp cõy trồng trong không gian và thời gian của 1 vùng khí hậu,thổ nhưỡngđặcthù, trong mộtđiều kiện kinh tế xó hội nhấtđịnh[18]
nghiệp ViệtNam có các hệphụ: Trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và ngành nghề,
hệ phụ VAC (Đào Thế Tuấn, 1987) [8]
Trang 10Người ta đã nhận thứcđược rằng vấn đề phát triển nông nghiệp trongtương lai cần có kế hoạch lõu dài, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và bảo vệ tàinguyên thiên nhiên đểđảm bảo thực sự tớnh bền vững và phát triển [9] Cần tiếntới một chếđộ canh tác hợp lý trên đất dốc nương rẫyở vùngđồi núi Việt Namvìhoạtđộng của con người khai thác tài nguyên thiên nhiên mà thảmthực vật ngàycàng bị thu hẹp nhanh, độ che phủ của mặtđất bằng cõy rừng, cõytrồng ngày cànggiảm sút, đất trốngđồi trọc ngày càng xuất hiện nhiều, đấtđai
bị xói mũn và rửatrôi nghiêm trọng[11]
Ở ViệtNam sử dụngđất dốc theo phương thức NLKH là một giải
kết hợpđược sự giúpđỡ của các tổ chức quốc tế như FAO,
SIDA, ESCAP, ICRAP, PAM cũng có giá trịđáng kể[14]
Trong việc phục hồi độ phì của đất nhờ cây phân xanh và cây họ đậu đượcnhiều tác giả chú ý Theo Lương Đức Loan (1992) cây phân xanh và cây họ đậu ănhạt trồng trên đất Bazan thoái húa sẽ nhanh chóng tạo ra một sinh khói hữu cơ lớn
có chất lượng cao làm nguồn năng lượng cải tạo đất, có khả năng điều hũa nhiệt
độ, ẩm độ, tăng khả năng hấp thụ cation, tăng lượng lân dễ tiêu, rút ngắn thời gianphục hồi ít nhất là từ 10 -15 năm so với bỏ hóa tự nhiên, phục hồi theo phươngthức này sau 1 -3 năm có thể đưa vào sản xuất được
* Ngành chăn nuôi: Cùng với việc phát triển ngành trồng trọt, ngành chăn nuôicũng được chú trọng phát triển Theo số liệu điều tra năm 2008 tổng số
đưa một HTCT nào đó vào sử dụng Vì vậy việc đánh giá hiệu quả kinh tế của mỗiHTCT là việc làm cần thiết và không thể thiếu
tế của các HTCT, đề tài sử dụng một số chỉtiêu sau:
Trang 11- Thu nhập
4.3.1.1 Chi phí
Chi phí cho cõy lõm nghiệp bao gồm từ khõu mua cõy giống, vật tư(cuốc,xẻng, dao phát, quang gánh, xảo, phõn NPK) đến khõu trồng (xử lý thực bì,đào hố,lấp hố…) tiếpđó là khõu chăm sóc, bảo vệ và khai thác Các chỉ tiêu tính toánđều
tếkỹ thuật trồng rừng
Chi phí cho cõy nông nghiệp trong PTCT cũng tương tự như với cõy lõmnghiệp Tuy nhiên, trên thực tế cõy nông nghiệpđược trồng xen cùng với cõy lõmnghiệp từ 1 đến 3 năm đầu (tớnh cả năm trồng rừng) do đó chi phí về phõnbúncũng có cả phần của cõy lõm nghiệp mang lại
phí thu được của cácPTCT ở phụ biểu 12, 13, 14, 15, 16
4.3.1.2 Thu nhập
Nguồn thu từ cõy lõm nghiệp bao gồm sản phẩm khaithác chớnh là gỗ vàthu cõy Đối với Luồng là cõy sinh trưởng hàng năm nênnóđược thu hoạch vào mỗi năm trong suốt chu kỳ kinh doanh; trong mộtđến hainăm đầu thì người ta thường thu măng, đến năm thứ ba người ta thu hoạch cả cõyluồng Cũnđối vớiloài Keo thì sản phẩm khai thác là gỗ Keo được thu hoạch vàonăm cuối của chu kỳ kinh doanh (ởđõy là năm thứ 7) Ngoài ra các sảnphẩm tỉa thưa và ngọn lá Nhưng thực tế người dõn ởđõy rấtít khi lên rừng
Như vậy, nếu xét theo chỉ tiêu NPV thì cao nhất là HTCT NLKH,trong đóPTCT 4 (NPV = 29 164 109 đồng) được xếp ở vị trí thứ 1,cũn xếp ở vị trí thứ 5 là PTCT 2 (NPV = 976 999 đồng)
4.3.1.4 Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (BCR)