1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình

92 335 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam, việc xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là biện pháp quản lý phân người tốt nhất góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, phòng chống dịch bệnh, cải thiện điều kiện số

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN



NGUYỄN HUY CƯỜNG

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG NHẰM CẢI THIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG

TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Trần Khắc Hiệp PGS.TS Trần Đắc Phu

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Khắc Hiệp và PGS.TS Trần Đắc Phu đã tận tình hướng dẫn, động viên, khích

lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Khoa học

Tự nhiên, phòng sau Đại học, Khoa Môi trường và Bộ môn Quản lý môi trường đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này tôi cũng bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến lãnh đạo Sở Y tế Hòa Bình, Lãnh đạo Trung tâm Y tế dự phòng, Lãnh đạo TTYT huyện Đà Bắc, chính quyền và các ban ngành đoàn thể tại 5 xã cùng các hộ gia đình trong địa bàn nghiên cứu đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu

Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y tế cùng các đồng nghiệp tại Phòng Sức khỏe môi trường cộng đồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, những người thân và bạn bè đã luôn ở bên cạnh, động viên và chia sẻ hết mình giúp tôi vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 8 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Huy Cường

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 3

1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XỬ LÝ PHÂN NGƯỜI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG 3

1.3 MỘT SỐ LOẠI NHÀ TIÊU HỢP VỆ SINH ĐANG ĐƯỢC KHUYẾN KHÍCH SỬ DỤNG TẠI VIỆT NAM 6

1.4 KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI SỬ DỤNG NHÀ TIÊU HGĐ CỦA NGƯỜI DÂN 8

1.4.1 Hành vi sử dụng nhà tiêu HGĐ của người dân trên Thế giới 8

1.4.2 Kiến thức và hành vi sử dụng nhà tiêu HGĐ tại Việt Nam 9

1.5 MỘT SỐ CÁCH TIẾP CẬN VỆ SINH VÀ HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP CẢI THIỆN NHÀ TIÊU HGĐ TRIỂN KHAI TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 13

1.5.1 Các cách tiếp cận vệ sinh ở Việt Nam 13

1.5.2 Một số hoạt động can thiệp cải thiện nhà tiêu HGĐ đang triển khai 16

1.6 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 ĐỊA BÀN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 21

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 21

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 21

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 22

2.2.2 Phương pháp xây dựng các giải pháp can thiệp truyền thông 22

2.2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24

2.2.4 Nội dung nghiên cứu 26

2.2.5 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 27

2.3 CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ 29

2.4 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 30

2.5 HẠN CHẾ NGHIÊN CỨU 30

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 31

Trang 6

3.1 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI SỬ DỤNG NHÀ TIÊU HỘ GIA ĐÌNH

CỦA NGƯỜI DÂN TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 31

3.1.1 Kiến thức của người dân về một số nội dung liên quan đến sử dụng nhà tiêu hộ gia đình 31

3.1.2 Hành vi của người dân về sử dụng nhà tiêu HVS 38

3.1.3 Nhu cầu xây dựng nhà tiêu của người dân 49

3.1.4 Tiếp cận với các thông tin về nhà tiêu 52

3.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ BAN ĐẦU MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG 54

3.2.1 Kết quả triển khai các hoạt động can thiệp truyền thông 54

3.2.2 Hiệu quả ban đầu thực hiện các giải pháp can thiệp truyền thông 58

KẾT LUẬN 66

KIẾN NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC BỘ CÔNG CỤ ĐIỀU TRA

Phụ lục 1 Phiếu thu thập thông tin tại TYT xã

Phụ lục 2 Phiếu phỏng vấn hộ gia đình

Phụ lục 3 Bảng kiểm nhà tiêu

Phụ lục 4 Khung hướng dẫn phỏng vấn sâu

Phụ lục 5 Khung hướng dẫn thảo luận nhóm

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Mối liên quan giữa tỷ lệ % người dân biết ít nhất 3 bệnh do tiếp xúc với phân người gây ra

theo một số đặc trưng người trả lời phỏng vấn 33

Bảng 3.2 Mối liên quan giữa tỷ lệ % người dân biết ít nhất 3 bệnh do tiếp xúc với phân người gây ra theo một số đặc điểm hộ gia đình 34

Bảng 3.3 Liên quan giữa tỷ lệ người dân biết ít nhất 3 loại nhà tiêu HVS theo một số đặc trưng người trả lời phỏng vấn 36

Bảng 3.4 Liên quan giữa tỷ lệ người dân biết ít nhất 3 loại nhà tiêu HVS theo một số đặc điểm HGĐ 38 Bảng 3.5 Tỷ lệ % các loại nhà tiêu thuộc loại HVS đang sử dụng trên tổng số HGĐ 42

Bảng 3.6 Tỷ lệ % HGĐ có nhà tiêu đạt các tiêu chuẩn XD, sử dụng, bảo quản trên tổng số hộ điều tra 43

Bảng 3.7 Tỷ lệ % độ bao phủ nhà tiêu theo một số đặc trưng 44

Bảng 3.8 Nơi vệ sinh của những HGĐ không có nhà tiêu (%) 48

Bảng 3.9 Tỷ lệ % HGĐ thích sử dụng các loại nhà tiêu, theo điều kiện kinh tế 49

Bảng 3.10 Tỷ lệ % HGĐ đã có sự định sẽ cải tạo/xây mới nhà tiêu 50

Bảng 3.11 Loại nhà tiêu HGĐ sẽ cải tạo/xây mới 50

Bảng 3.12 Tỷ lệ % HGĐ đưa ra lý do chính chưa có dự định xây mới/cải tạo nhà tiêu 51

Bảng 3.13 Nguồn cung cấp thông tin về nhà tiêu và xử lý phân 53

Bảng 3.14 Hiệu quả thay đổi kiến thức của người dân về những bệnh do tiếp xúc phân người gây ra 58 Bảng 3.15 Sự thay đổi nhận thức của người dân về các bệnh do tiếp xúc với phân người gây ra theo một số yếu tố 59

Bảng 3.16 Hiệu quả thay đổi hiểu biết của người dân biết về các loại nhà tiêu HVS 60

Bảng 3.17 Sự thay đổi nhận thức của người dân về các loại nhà tiêu HVS theo một số yếu tố 61

Bảng 3.18 Hiệu quả thay đổi độ bao phủ nhà tiêu và nhà tiêu HVS tại HGĐ 62

Bảng 3.19 Loại nhà tiêu HVS hiện đang sử dụng tại các HGĐ trước và sau can thiệp 62

Bảng 3.20 Hiệu quả thay đổi nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về XD, SD và BQ 63

Bảng 3.21 Sự thay đổi hành vi sử dụng phân người và ủ phân trước và sau can thiệp 64

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Tỷ lệ % người dân biết về bệnh do tiếp xúc phân người gây ra 31

Hình 3.2 Tỷ lệ % người dân biết về các loại nhà tiêu hộ gia đình 34

Hình 3.3 Tỷ lệ % người dân biết về các loại nhà tiêu HVS 36

Hình 3.4 Tỷ lệ % HGĐ hiện đang có nhà tiêu theo xã 39

Hình 3.5 Tỷ lệ % HGĐ có nhà tiêu thuộc loại HVS trên tổng số hộ điều tra 40

Hình 3.6 Tỷ lệ % HGĐ sử dụng phân người trong sản xuất nông nghiệp 46

Trang 9

MỞ ĐẦU

Các chất thải sinh hoạt trong quá trình sống của con người nói chung và phân người nói riêng không được quản lý và xử lý tốt là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đã và đang được các quốc gia và cộng đồng thế giới quan tâm Theo Nguyễn Huy Nga, điều kiện vệ sinh không đảm bảo liên quan đặc biệt đến một số bệnh như tiêu chảy, lỵ, viêm gan A, giun sán và các bệnh đường ruột, bệnh ngoài da,v.v Phân người và gia súc là nguồn truyền nhiễm chủ yếu của nhiều bệnh nhiễm trùng,

ký sinh trùng đặc biệt là các bệnh đường ruột

Tại Việt Nam, việc xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là biện pháp quản lý phân người tốt nhất góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, phòng chống dịch bệnh, cải thiện điều kiện sống và mang lại cuộc sống văn minh cho người dân trong cộng đồng Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ người dân ở vùng nông thôn được sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh còn rất thấp Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Liên hợp quốc, Việt Nam vẫn còn có 4% dân số phóng uế trực tiếp ra môi trường bên ngoài và 16% dân số cả nước đang sử dụng loại nhà tiêu không cách ly được nguồn phân với môi trường xung quanh Còn theo báo cáo của Chương trình Mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2012, tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh ở khu vực nông thôn nước ta chỉ mới đạt 56% [15] Chính vì vậy, hàng năm người dân phải chi ra một khoản tiền lớn cho công tác khám chữa bệnh Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

Hòa Bình là một tỉnh miền núi ở phía Tây Bắc của tổ quốc, gồm có thành phố Hòa Bình và 10 huyện với mật độ dân số 178 người/km² Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Hòa Bình, ước tính tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp

vệ sinh khoảng 49%, nhưng thực tế con con số này có thể còn thấp hơn nhiều nếu được đánh giá theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu - Điều kiện bảo đảm vệ sinh do Bộ Y tế ban hành Ngoài ra, tập quán sử dụng phân người chưa ủ đúng cách

để bón ruộng vẫn tồn tại ở nhiều xã, do vậy tình trạng ô nhiễm môi trường do phân người đang diễn ra trên hầu hết các huyện

Trang 10

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012-2015, nhằm đạt mục tiêu 65% hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh vào năm 2015 [41] thì việc đề xuất giải pháp để tăng tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh của vùng nông thôn là hết sức cần thiết Trong khi nguồn lực dành cho Chương trình còn hạn chế thì việc huy động mọi nguồn lực của xã hội để thực hiện các mục tiêu của Chương trình là rất quan trọng Hiện nay, phần lớn dân cư nông thôn, đặc biệt ở miền núi còn thiếu hiểu biết về vệ sinh, nước sạch, bệnh tật và sức khỏe; về môi trường sống xung quanh mình cần được cải thiện và có thể cải thiện được Thực tế cho thấy trong nhiều lĩnh vực nếu người nông dân nhận thức được vấn

đề và có sự giúp đỡ của chính phủ, các đoàn thể, họ có thể vươn lên khắc phục khó khăn, cải thiện được điều kiện vệ sinh và môi trường sống cho mình tốt hơn Điều

đó chỉ được thực hiện nhờ các hoạt động thông tin- giáo dục- truyền thông, thông qua các hoạt động đó nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, thu hút được sự quan tâm của các nhà quản lý, hoạch định chính sách đối với vệ sinh môi trường Với tầm quan trọng và mục đích của truyền thông, chúng tôi tiến hành thực

hiện đề tài “Nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm

cải thiện vệ sinh môi trường tại một số xã thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Nâng cao nhận thức và hành vi của người dân tại 5 xã huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình về nhà tiêu hợp vệ sinh

Mục tiêu cụ thể

1 Mô tả kiến thức và hành vi sử dụng nhà tiêu hộ gia đình của người dân tại 5

xã của huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình năm 2013

2 Đánh giá hiệu quả ban đầu các giải pháp can thiệp truyền thông tại địa bàn nghiên cứu

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

Hộ gia đình là một đơn vị điều tra (hộ y tế), bao gồm một người ở riêng hay

một nhóm người ở chung và ăn chung hoặc ăn riêng, có thể có hoặc không có quỹ thu chi chung Một hộ gia đình bao gồm những người có quan hệ họ hàng, như bố

mẹ và các con (gia đình một thế hệ), hoặc gia đình nhiều thế hệ cùng sống chung trong một mái nhà [2]

Nhà tiêu là hệ thống thu nhận, xử lý tại chỗ phân và nước tiểu của con người [8] Nhà tiêu hợp vệ sinh là nhà tiêu bảo đảm cô lập được phân người, ngăn

không cho phân chưa được xử lý tiếp xúc với động vật, côn trùng Có khả năng tiêu diệt được các mầm bệnh có trong phân, không gây mùi khó chịu và làm ô nhiễm môi trường xung quanh [8], [15]

Nhà tiêu khô là nhà tiêu không dùng nước để dội sau mỗi lần đi tiêu Phân

được lưu giữ và xử lý trong điều kiện ủ khô [8]

Nhà tiêu dội nước là nhà tiêu dùng nước để dội sau mỗi lần sử dụng [8]

Ủ phân: Là một quá trình xử lý phân nhằm phân hủy các chất hữu cơ và tiêu

diệt các mầm bệnh, tạo mùn làm phân bón cho cây và nuôi trồng thủy sản [7]

Ủ phân hợp vệ sinh: Là ủ phân đúng quy trình vệ sinh và phải đủ thời gian

quy định từ 6 tháng trở lên theo bản dự thảo thông tư hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động ủ phân của Bộ Y tế [7]

1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XỬ LÝ PHÂN NGƯỜI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG

VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

Khi nói đến vấn đề quản lý phân người cũng chính là nói đến thực trạng quản

lý và sử dụng nhà tiêu, nhà tiêu hợp vệ sinh (HVS) Tại các vùng thành phố, thị xã, nơi có điều kiện kinh tế phát triển thì đa phần người dân sử dụng nhà tiêu thuộc loại HVS (tự hoại, thấm dội nước, ) do đó vấn đề quản lý phân tương đối tốt và thuận

Trang 12

lợi Còn ở vùng nông thôn, những vùng khó khăn, người dân sử dụng các loại nhà tiêu không HVS (cầu tro, cầu tiêu ao cá, hố đào,…), thậm trí là không có nhà tiêu khiến cho vấn đề quản lý và xử lý phân gặp rất nhiều khó khăn [28]

Bên cạnh đó, nước ta là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Hiện nay hơn 70% dân số nước ta vẫn sống ở các vùng nông thôn Giải quyết phân người ở nước ta là một vấn đề bức xúc từ nhiều năm nay vì lượng phân người khổng lồ thải ra hàng ngày trên mặt đất đang góp phần làm ô nhiễm các nguồn nước do vi sinh vật ngày càng nặng nề [17], [33] Việc nhiễm các mầm bệnh từ phân người và phân súc vật do hai yếu tố [17]:

Tập quán quản lý phân: thói quen sử dụng các nhà tiêu không hợp vệ sinh

làm cho phân người bị rơi vãi ra ngoài, hoặc do súc vật và côn trùng (ruồi, muỗi,…) mang đi gieo rắc khắp nơi

Tập quán sử dụng phân để bón ruộng, nuôi cá: việc sử dụng phân người

trong nông nghiệp là một tập quán từ lâu đời chưa thể xóa bỏ, người dân sử dụng phân tươi, hoặc phân đã ủ nhưng không đúng quy cách và không đảm bảo thời gian nên các mầm bệnh chưa bị tiêu diệt hết

Tình trạng quản lý phân người không tốt với việc sử dụng các loại nhà tiêu không HVS đã dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và làm phát sinh, lây lan nhiều loại bệnh tật trong cộng đồng Phân người là nguồn truyền nhiễm mang đủ loại mầm gây bệnh đường ruột từ vi khuẩn, siêu vi khuẩn, đơn bào và trứng giun sán [32] Các bệnh do phân người gây nên phải kể đến là bệnh tiêu chảy, giun sán, bệnh ngoài da, phụ khoa, mắt và các bệnh khác [1], [23] Từ năm 1999-

2003, nước ta có sự gia tăng số ca bệnh tả trong phạm vi cả nước Các đợt bùng phát dịch tả nghiêm trọng thường tập trung ở vùng ven biển và đồng bằng châu thổ sau khi có lũ lụt Điều này phù hợp với thực tế là bệnh dịch này thường do chất thải của con người làm cho ô nhiễm nguồn nước, thường xảy ra sau khi có lũ lụt [29]

Bệnh tật liên quan đến phân người đã tạo một gánh nặng không nhỏ cho kinh

tế cũng như sự phát triển của cộng đồng Từ năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới thông báo 80% bệnh tật của con người có liên quan đến vệ sinh môi trường Mỗi

Trang 13

năm trên thế giới có khoảng 4 triệu trẻ em chết vì tiêu chảy, 2 tỷ người đang có nguy cơ nhiễm và hơn 1 tỷ người nhiễm giun, 60 ngàn người chết do giun đũa, 10 ngàn người chết do giun tóc, 65 ngàn người chết do giun móc thải làm ô nhiễm môi trường [42] Một nghiên cứu gần đây ở 65 quốc gia cũng đã chứng minh rằng có sự tương quan giữa phóng uế bừa bãi và tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ

em trong một cộng đồng Ở những cộng đồng có môi trường bị ô nhiễm phân do đi tiêu bừa bãi, nhà tiêu không hợp vệ sinh và xử lý phân trẻ em không đúng cách thường có nhiều trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi hơn [15]

Phân người chứa trên 50 loại vi khuẩn gây bệnh, phân cung cấp thức ăn và là nơi sinh sản của ruồi nhặng - véc tơ truyền bệnh đường tiêu hóa Ước tính 1 gam phân người có thể chứa tới 10 triệu virut, 1 triệu vi khuẩn, 1000 nang ký sinh trùng

và 100 trứng ký sinh trùng [5], [46], [48]

Theo kết quả điều tra thực trạng nhiễm giun tại 526 hộ gia đình tại tỉnh Hòa Bình của Verle.P, Kongs.A cho thấy 88% tổng số mẫu điều tra có ít nhất là một loại giun trong đó tỷ lệ nhiễm giun móc là 52% Tỷ lệ nhiễm giun ở những gia đình có nhà tiêu thấp hơn so với những hộ gia đình không có nhà tiêu [47]

Điều tra của Van der Hoek W và cộng sự được tiến hành cho biết có khoảng 44,4% dân số Việt Nam bị nhiễm giun đũa, 28,6% dân số đang bị nhiễm giun móc và được phân bố trên toàn quốc nhưng tập trung chủ yếu vào vùng ngoại ô thành phố hoặc tại vùng nông thôn sản xuất nông nghiệp Những vùng trồng rau nơi mà sử dụng phân bón là yếu tố nguy cơ mắc bệnh giun móc đặc biệt đối với phụ nữ [43]

Nghiên cứu về mối liên quan giữa tình trạng nhiễm giun đường ruột với tình trạng sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh của Vũ Bình Phương ở nhóm học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở hai xã thuộc huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình cho thấy tỷ lệ nhiễm giun của nhóm học sinh mà gia đình sử dụng nhà tiêu không hợp

vệ sinh cao hơn so với nhóm học sinh mà gia đình sử dụng nhà tiêu HVS (96,0% so với 87,5%) [31]

Theo đánh giá chất lượng rau sạch thông qua chỉ số ô nhiễm trứng giun và thực trạng xử lý phân người tại hai xã ngoại thành Hà Nội, tác giả Nguyễn Huy Nga

Trang 14

đã chỉ ra rằng có sự kết hợp rõ rệt giữa việc bón phân người và ô nhiễm ký sinh trùng ở rau ăn Số lượng trung bình từng loại trứng và ấu trùng có trong 100 gam rau với tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun móc cao nhất (79%), giun đũa (73%) và trung bình

100 gam rau có 48,03 trứng và ấu trùng [27]

Như vậy, một trong những biện pháp quản lý phân người tốt nhất là sử dụng nhà tiêu HVS từ đó tiêu diệt các mầm bệnh không cho chúng phát tán ra ngoại cảnh, bảo vệ sức khỏe cho người dân và môi trường xung quanh Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng nhà tiêu HVS có thể giảm được 37,5% nguy cơ mắc các bệnh tiêu chảy, nguy cơ nhiễm giun sán cũng giảm được một nửa khi người dân có và sử dụng nhà tiêu HVS [15]

1.3 MỘT SỐ LOẠI NHÀ TIÊU HỢP VỆ SINH ĐANG ĐƯỢC KHUYẾN KHÍCH SỬ DỤNG TẠI VIỆT NAM

Theo Thông tư 27/2011/TT-BYT ngày 24 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng

Bộ Y tế, các loại nhà tiêu được coi là thuộc loại HVS bao gồm nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu thấm dội nước (thuộc nhóm nhà tiêu dội nước), nhà tiêu khô 2 ngăn, nhà tiêu khô 1 ngăn, nhà tiêu khô chìm có ống thông hơi (thuộc nhóm nhà tiêu khô) Ngoài

ra, nhà tiêu Biogas về cơ bản là một dạng của nhà tiêu tự hoại, nhưng có một số điểm khác biệt về cấu trúc so với nhà tiêu tự hoại thông thường

Mỗi loại nhà tiêu HVS nói trên đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của từng địa phương và điều kiện của mỗi hộ gia đình từ đó lựa chọn loại nhà tiêu phù hợp

Nhà tiêu tự hoại: là nhà tiêu dội nước, bể chứa và xử lý phân kín, nước thải

không thấm ra bên ngoài, phân và nước tiểu được lưu giữ trong bể chứa và được xử

lý trong môi trường nước Đây được coi là loại nhà tiêu tốt nhất nước ta hiện nay Phân được xử lý theo nguyên tắc ngâm ủ và lên men, các mầm bệnh bị tiêu diệt, mùn được giữ lại ở đáy bể, nước lắng qua bể và thấm vào đất hoặc vào hệ thống cống thải Ưu điểm của nhà tiêu này là không có mùi hôi, không thu hút ruồi nhặng, không gây ô nhiễm môi trường xung quanh, tạo sự dễ chịu cho người sử dụng Tuy vậy, giá thành xây dựng của loại nhà tiêu này khá cao và thường chỉ phù hợp cho vùng có đủ nguồn nước

Trang 15

Đối với loại nhà tiêu này, ngoài loại nhà tiêu phổ biến là xây bằng gạch, hiện nay các địa phương cũng đã cải tiến cách xây dựng nhưng vẫn đảm bảo các tiêu chí xây dựng như nhà tiêu vượt lũ (khu vực đồng bằng sông Cửu Long), nhà tiêu tự hoại làm bằng ống bi (giảm giá thành sản phẩm),v.v…

Nhà tiêu thấm dội nước: là nhà tiêu dội nước, phân và nước trong bể, hố

chứa được thấm dần vào đất Loại nhà tiêu này phù hợp với những nơi có nguồn nước dội dồi dào, chất đất dễ thấm nước và không có nguy cơ gây ô nhiễm nước ngầm Ngược lại nhà tiêu này không phù hợp với các nơi thiếu nước dội, vùng đồng trũng, vùng có lớp đất sét khó thấm nước và nhân dân có nhu cầu sử dụng phân bón ruộng Ưu điểm: Vệ sinh sạch sẽ, không có mùi hôi thối, không có ruồi nhặng; xử lý đơn giản và rẻ tiền, sử dụng ở những nơi không có cống nước thải, dễ sử dụng và bảo quản

Nhà tiêu khô hai ngăn: Nhà tiêu khô có hai ngăn (hoặc nhiều hơn) là nhà tiêu

khô có hai ngăn để luân phiên sử dụng và ủ phân, trong đó luôn có một ngăn để sử dụng và ngăn còn lại để ủ Đây là loại nhà tiêu phù hợp cho những vùng sản xuất nông nghiệp, đang được khuyến cáo triển khai mở rộng cho vùng nông thôn Việt Nam Đây là loại nhà tiêu được cải tiến từ nhà tiêu hai ngăn truyền thống Nhà tiêu

có hai ngăn, một ngăn sử dụng, một ngăn ủ phân, thay đổi nhau khi đầy, có máng dẫn nước tiểu ra ngoài tránh ẩm ướt, có nắp đậy hố tiêu để tránh ruồi, muỗi, vật nuôi chui vào hố phân, có ống thông hơi để tránh mùi hôi khi đang dùng Ưu điểm của nhà tiêu này là dễ xây dựng, không làm ô nhiễm nguồn nước và môi trường Khi phân đã ủ đúng thời gian và kỹ thuật có thể trở thành nguồn phân bón khá tốt cho cây trồng, làm tăng màu mỡ đất, như vậy chất thải được tái sử dụng lại theo hướng sinh thái

Nhà tiêu khô chìm (có ống thông hơi): là loại nhà tiêu khô, hố chứa phân

chìm dưới đất Đây là loại nhà tiêu áp dụng cho những vùng thiếu nước dội, vùng đất rộng người thưa như miền trung du, miền núi, nhân dân không có thói quen dùng phân để bón ruộng lúa và hoa màu Loại nhà tiêu này dễ làm, đơn giản, rẻ tiền,

dễ sử dụng

Trang 16

Ngoài các loại nhà tiêu nói trên, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi địa phương có thể thay đổi cách thiết kế nhưng vẫn đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng như nhà tiêu tự hoại vượt lũ bằng composite, nhà tiêu tự hoại đúc bằng ống bi, nhà tiêu sinh thái VinaSanres,v.v…

1.4 KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI SỬ DỤNG NHÀ TIÊU HGĐ CỦA NGƯỜI DÂN

1.4.1 Hành vi sử dụng nhà tiêu HGĐ của người dân trên Thế giới

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2002 vẫn còn 42% dân số thế giới không được tiếp cận với nhà tiêu HVS (chủ yếu là châu Á) Mức độ bao phủ nhà tiêu HVS ở các thành phố của châu Phi và châu Đại Dương là thấp nhất, châu Mỹ Latin, vùng Caribe và châu Á có phạm vi bao phủ cao hơn, châu Âu

và Bắc Mỹ có phạm vi bao phủ cao nhất Tại châu Á và các nước đang phát triển, tỷ

lệ dân số sử dụng nhà tiêu dội nước tăng nhanh hơn so với khu vực khác (43,5%) Tại châu Phi, nhà tiêu tự hoại cũng phổ biến như các khu vực khác nhưng tỷ lệ dân số

sử dụng nhà tiêu đào hố (22,4%) hoặc nhà tiêu đào cải tiến có ống thông hơi (13,6%), cao hơn châu Á và Thái Bình Dương Ở châu Phi, tỷ lệ bao phủ nhà tiêu HVS ở một

số quốc gia thấp, đặc biệt ở khu vực nông thôn của các nước chậm phát triển như Ethiopia (6%), Nigeria (5%), Rwanda (8%), Namibia (17%), Trung Phi (23%),… Ở châu Á, những nước có tỷ lệ nhà tiêu HVS ở nông thôn thấp nhất là Afghanistan (8%), Campuchia (10%), Ấn Độ (14%), Trung Quốc (24%), Lào (34%) [43]

Cũng theo WHO, tỷ lệ người thành thị và nông thôn tiếp xúc với nhà tiêu hợp vệ sinh ở các nước là khác nhau: ở Thái Lan, gần 100% người dân được tiếp xúc với nhà tiêu hợp vệ sinh Ở Indonesia, tỷ lệ người dân thành thị được sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là 64%, còn ở nông thôn là 42% Tại Campuchia, 62% người dân thành thị được sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh trong khi chỉ có 10% số dân nông thôn tiếp cận được với nhà tiêu hợp vệ sinh [13]

Theo thống kê của Salabh International, một tổ chức phi chính phủ chuyên tài trợ cho các chương trình dịch tễ, thì ngay tại Ấn Độ có tới 700 triệu người dân không có nhà xí Tình trạng này dẫn đến việc họ phải “loại bỏ” cặn bã trong cơ thể bừa bãi ngoài trời, một điều kiện thuận lợi cho bệnh tật lây lan Phụ nữ phải hứng chịu nhiều bất tiện hơn khi không có nhà tiêu, vì vậy họ phải “đi” vào lúc trước hoặc sau khi mặt trời lặn

Trang 17

Theo Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc, có khoảng 2,5 tỷ người trên toàn thế giới không có nhà tiêu trong đó 75% sống ở nông thôn; cứ trong hai người không được tiếp cận nhà tiêu hợp vệ sinh thì có một người đi tiêu bừa bãi [22] Chính vì thế nguồn gây ô nhiễm nước chủ yếu ở các nước đang phát triển là phân người Tình trạng này tạo điều kiện cho vi khuẩn, ký sinh trùng và vi rút thâm nhập vào nước uống và gây bệnh Đánh giá mức độ ô nhiễm tại các con sống lớn tại châu

Á cho thấy lượng vi khuẩn nguy hiểm có nguồn gốc từ phân người cao gấp 50 lần mức cho phép của WHO Do thiếu nhà tiêu sạch sẽ, trẻ em tại các vùng nông thôn ở các nước đang phát triển rất dễ mắc các bệnh đường tiêu hóa và truyền nhiễm

Để cải thiện tình hình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, ngày 19 tháng 11 năm

2001, Hội nhà vệ sinh tế giới đã được thành lập tại Singapore với sự tham gia của các tổ chức có liên quan đến vệ sinh từ hơn 20 nước trên thế giới như Anh, Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Philipine,v.v… nhằm nâng cao nhận thức và mối quan tâm của các tổ chức và các quốc gia về vệ sinh, cũng như tăng cường hợp tác, giúp

đỡ để cải thiện vấn đề vệ sinh toàn cầu Các chuyên gia cho rằng nhà tiêu nói riêng

và điều kiện vệ sinh nói chung là những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển của một dân tộc Nhiều trường hợp, chúng còn quan trọng hơn cả vấn đề phát triển kinh tế

1.4.2 Kiến thức và hành vi sử dụng nhà tiêu HGĐ tại Việt Nam

Các nghiên cứu gần đây cho thấy mặc dù đã có những thay đổi tuy nhiên nhận thức của người dân về nguy cơ sức khỏe liên quan tới phân người chưa thực

sự rõ ràng và đầy đủ Một số người cho rằng nguy cơ sức khỏe từ phân người chủ yếu từ “mùi hôi, thối” và sẽ không còn nguy cơ sức khỏe khi phân không còn mùi Trên thực tế, khi người dân nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về mầm bệnh có trong phân người và nguy cơ lây lan có thể là nguyên nhân dẫn tới việc xây dựng,

sử dụng và bảo quản nhà tiêu không hợp vệ sinh

Điều tra của Bộ Y tế năm 2006 cho thấy có tới 25,2% người dân không kể được bất kỳ một loại nhà tiêu HVS nào, 54,9% biết đến nhà tiêu tự hoại, 20,7% biết đến nhà tiêu thấm dội nước và 13,6% biết nhà tiêu hai ngăn [6], [12]

Trang 18

Kết quả điều tra tại xã Bình Kiều huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên năm

2009 cho thấy có tới 8% đối tượng phỏng vấn không biết một tác hại nào của việc

sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh, trên 50% không biết việc sử dụng nhà tiêu không HVS là nguồn lây lan bệnh đường ruột Nghiên cứu cũng thấy 88,5% đối tượng hiểu đúng nhà tiêu tự hoại là loại hình nhà tiêu HVS, tuy nhiên rất ít đối tượng biết các loại nhà tiêu HVS khác (hai ngăn, thấm dội nước, chìm có ống thông hơi) cũng là loại nhà tiêu HVS [20] Nghiên cứu của Đỗ Thị Mùa trên 620 hộ gia đình tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam cũng chỉ ra rằng hầu hết người dân biết tên nhà tiêu tự hoại (97,7%), các loại nhà tiêu HVS khác chỉ có từ 0,2%-9,7% đối tượng biết đến [30]

Theo kết quả điều tra tại 15 xã của 4 tỉnh Đồng Tháp, Kon Tum, Ninh Thuận, Điện Biên cuối năm 2011 có tới 85,1% người dân biết rằng phân người do phóng uế bừa bãi ảnh hưởng tới sức khỏe con người, 64% đối tượng phỏng vấn biết rằng tiếp xúc với phân người có thể mắc bệnh ỉa chảy và 19,5% biết gây nên giun sán Tuy vậy, vẫn còn 17,7% đối tượng không biết bất kỳ loại nhà tiêu nào Số đối tượng biết loại nhà tiêu tự hoại xây gạch cao nhất (42,3%), tiếp theo là nhà tiêu chìm có ống thông hơi (25,5%), nhà tiêu thấm dội nước hai ngăn (16,5%), nhà tiêu thấm dội nước một ngăn (12,1%), nhà tiêu hai ngăn (7,7%) [14]

Về hành vi sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, kết quả điều tra 36.000 hộ gia đình trong phạm vi 1.200 phường, xã trên toàn quốc năm 2003 cho thấy tỷ lệ hộ gia đình (HGĐ) có nhà tiêu hợp vệ sinh là 21% Đến năm 2006, kết quả điều tra vệ sinh môi trường nông thôn Việt Nam cho thấy vẫn còn 25% số hộ gia đình nông thôn Việt Nam không có nhà tiêu; tỷ lệ hộ có nhà tiêu tự hoại là 8,8%, nhà tiêu hai ngăn là 4,8% và Biogas là 0,4%; 18% hộ gia đình có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn về cả 3 tiêu chí

về xây dựng, sử dụng và bảo quản theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT; 30% hộ gia đình sử dụng phân người trong nông nghiệp và trong số này chỉ có 20,6% ủ phân đủ

6 tháng theo quy định [11], [12] Các kết quả điều tra cho thấy vẫn còn một phần lớn các hộ gia đình chưa có nhà tiêu hoặc vẫn đang phải sử dụng các loại nhà tiêu khác không hợp vệ sinh như nhà tiêu cầu, nhà tiêu đào, nhà tiêu ao cá v.v… Đó là những nguy cơ cao gây nhiễm bẩn các nguồn nước bề mặt trong đó có các nguồn

Trang 19

nước sinh hoạt ở cộng đồng, hiện đang là một vấn đề môi trường và sức khoẻ ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam [11] Từ kết quả của cuộc điều tra 2006, tác giả Trương Đình Bắc đã phân tích riêng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long và cho thấy 19,3% số hộ gia đình có nhà tiêu đạt cả về xây dựng, sử dụng, bảo quản [4]

Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Huệ tại một xã thuần nông thuộc tỉnh Hưng Yên năm 2009, tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu tại địa bàn điều tra là 98,7% Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu thuộc loại hình hợp vệ sinh là 23,7%, trong đó 18,5% nhà tiêu

tự hoại, 2,6% nhà tiêu hai ngăn, 2,1% nhà tiêu biogas, 0,5% nhà tiêu thấm dội nước

và không có hộ nào có nhà tiêu chìm có ống thông hơi Tỷ lệ nhà tiêu HVS theo các tiêu chuẩn xây dựng, sử dụng và bảo quản theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT trên tổng số hộ gia đình điều tra rất thấp, chỉ đạt 15,1% số HGĐ được điều tra, bao gồm 13% số hộ có nhà tiêu tự hoại, 1,3% số hộ có nhà tiêu biogas, 0,5% số hộ có nhà tiêu 2 ngăn và 0,3% có nhà tiêu thấm dội nước 69,8% HGĐ có sử dụng phân người làm phân bón trong sản xuất nông nghiệp, trong đó tỷ lệ dùng phân tươi rất cao (54,1%), trên một nửa (53,7%) số hộ có ủ phân chỉ ủ dưới 6 tháng [20]

Kết quả điều tra tại 4 tỉnh Đồng Tháp, Kon Tum, Ninh Thuận, Điện Biên cho thấy, 80,4% HGĐ được điều tra có nhà tiêu, 46,0% HGĐ có nhà tiêu thuộc loại HVS, 22,7% HGĐ có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn về xây dựng (theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT), 18,1% HGĐ tra có nhà tiêu đạt cả 2 tiêu chuẩn về xây dựng và

sử dụng, bảo quản Trong số các hộ gia đình không có nhà tiêu, 73,9% thường đi vệ sinh ở vườn, rừng, ngoài cánh đồng, 8,5% tại ao, hồ, sông, suối và 19% đi nhờ nhà tiêu của nhà khác [14]

Nghiên cứu của Trần Thị Hữu tại Kon Tum năm 2011 cho thấy chỉ có 69,2%

hộ gia đình có nhà tiêu, 22,6% số HGĐ có nhà tiêu thuộc loại HVS Cũng chỉ có 7,3% số nhà tiêu đạt đầy đủ các tiêu chuẩn HVS (cả về xây dựng, sử dụng và bảo quản) [21]

Kết quả đánh giá cuối kỳ Dự án “Nâng cao sức khoẻ cộng đồng thông qua việc cải thiện hành vi vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường tại các xã dự án do Quỹ Unilever Việt Nam tài trợ” cho thấy có sự cải thiện ấn tượng về tỷ lệ hộ gia đình có

Trang 20

từ 27,5% ở đầu kỳ lên 69,7% ở cuối kỳ (p<0,001) Đến thời điểm cuối kỳ, chỉ còn 2,7% HGĐ không có nhà tiêu, giảm đáng kể so với đầu kỳ (10,4%, p<0,001) Sự cải thiện về tình trạng HGĐ có nhà tiêu thuộc loại HVS tập trung ở sự cải thiện nhà tiêu

tự hoại Nếu như đầu kỳ chỉ có 12,1% HGĐ có nhà tiêu tự hoại thì ở cuối kỳ đã tăng lên 55,7% (p<0,001) [13]

Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến hết năm 2012, 65% HGĐ nông thôn có nhà tiêu HVS Tại một số vùng, tỷ lệ bao phủ cao với khoảng 65% HGĐ đã có nhà tiêu HVS, tuy nhiên nhiều nơi vẫn còn rất nhiều hộ gia đình chưa có nhà tiêu hoặc có nhà tiêu nhưng không HVS như ở vùng núi cao, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long Ở rất nhiều tỉnh, tỷ

lệ nhà tiêu cũng rất khác nhau giữa các huyện [15] Số liệu điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2011 (MICS 2011) trên mẫu điều tra gồm 11.614 hộ gia đình cho thấy, gần 3 phần 4 thành viên hộ gia đình sử dụng hố xí hợp

vệ sinh (73,8%), trong đó các hộ gia đình người dân tộc thiểu số chỉ có khoảng một nửa (44,2%) sử dụng các loại hố xí hợp vệ sinh Việc phóng uế bừa bãi không phổ biến (chỉ có 6,4%) Tuy nhiên, tỷ lệ này tăng đến 27,7% trong số các hộ gia đình thuộc các nhóm dân tộc thiểu số, có nghĩa là cứ bốn thành viên hộ gia đình dân tộc thiểu số thì có 1 thành viên phóng uế bừa bãi Ngoài ra, phân của 2 trong số 5 trẻ

em dưới 2 tuổi không được xử lý an toàn (chiếm 39,9%) Đây là thói quen của người dân tộc thiểu số, cứ 5 trẻ em dưới 2 tuổi thì có 4 trẻ em có thói quen này (78,5%) [38]

Nghiên cứu của Lê Văn Chính về thực trạng quản lý phân người tại vùng nông thôn một số tỉnh phía Bắc cho thấy: tuy số hộ gia đình có nhà tiêu 91,1% nhưng phổ biến là nhà tiêu không HVS, còn tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu HVS chỉ là 7,6% Tỷ lệ nhà tiêu cầu/thùng là 60,9%, nhà tiêu một ngăn là 22,9%, nhà tiêu

2 ngăn là 8,5%, nhà tiêu tự hoại 3,8%, nhà tiêu chìm và nhà tiêu thấm dội nước là 3,5% và 0,5% Nghiên cứu về thực hành xử lý phân người của Lê Văn Chính đã chỉ

ra rằng có 87,1% hộ gia đình sử dụng phân người trong đó chỉ có 17,5% số hộ ủ phân đúng thời gian quy định (trên 6 tháng), 19,9% số hộ sử dụng phân tươi bón ruộng [17]

Trang 21

Một nghiên cứu khác mô tả phương thức sử dụng phân người làm phân bón tại miền Trung Việt Nam được tiến hành với cỡ mẫu 471 hộ gia đình tại 5 xã của tỉnh Nghệ An cho thấy trên 90% hộ gia đình sử dụng phân người làm phân bón trong đó 94% hộ gia đình thực hành ủ phân trong và ngoài nhà tiêu Với tình hình sản xuất 3 vụ trong năm do đó thời gian ủ phân chỉ đạt trung bình từ 3-4 tháng trước khi đưa vào sử dụng Thời gian này ngắn hơn so với quy định là 6 tháng [44]

Dân tộc thiểu số là nhóm đối tượng đặc biệt thiệt thòi về tình trạng các công trình vệ sinh Dân tộc Kinh vẫn có tỷ lệ sử dụng nhà tiêu đơn giản cao, nhưng tỷ lệ nhà tiêu tự hoại đang dần tăng lên Tỷ lệ dân tộc Kinh không có nhà tiêu chỉ dưới 10% Trong khi đó, ở các dân tộc thiểu số nói chung, tỷ lệ không có nhà tiêu từ 30-50%, tùy nhóm dân tộc, tỷ lệ sử dụng nhà tiêu HVS chỉ dưới 10% Ở miền Nam, tỷ

lệ người sử dụng nguồn nước sông để ăn uống, sinh hoạt cũng như tỷ lệ sử dụng nhà tiêu đổ trực tiếp ra ao, hồ, sông, kênh, rạch là cao nhất [24]

Nhìn chung, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực trạng kiến thức và thực hành của người dân về nhà tiêu và xử lý phân còn thấp Cùng với sự hiểu biết và thực hành vệ sinh kém, thể hiện tỷ lệ nhà tiêu HVS và xử lý phân đúng cách ở vùng nông thôn Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra trong chiến lược cấp nước

và vệ sinh môi trường nông thôn [39]

1.5 MỘT SỐ CÁCH TIẾP CẬN VỆ SINH VÀ HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP CẢI THIỆN NHÀ TIÊU HGĐ TRIỂN KHAI TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

1.5.1 Các cách tiếp cận vệ sinh ở Việt Nam

Tại Việt Nam hiện nay đang thử nghiệm và thực hiện nhiều cách cách tiếp cận vệ sinh khác nhau nhằm cải thiện tình trạng vệ sinh của các hộ gia đình Trong

đó bao gồm các cách tiếp cận sau [45]:

Trang 22

xấu hổ trong cộng đồng khi họ nhận ra rằng đã ăn phải “phân” của nhau Về mặt lý thuyết, cú sốc tập thể này đã kích thích cộng đồng có hành động tập thể và chấm dứt

sự phóng uế bừa bãi Cách tiếp cận này đầu tiên đã được phát triển ở Bangladesh, sau đó đã được chứng thực là thành công ở nhiều nước châu Á, châu Phi, Trung Đông và Mỹ Latin CLTS đã được thử nghiệm ở Việt Nam từ năm 2008 và hiện đang được Bộ Y tế, UNICEF, tổ chức Plan tại Việt Nam, SNV, World Vision, Childfund,… thực hiện ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam

Giáo dục hành động (PAOT)

Cách tiếp cận này khuyến khích các hộ gia đình xây dựng và thực hiện cải thiện cấp nước, vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân hộ gia đình một cách thiết thực nhất, như là cải tiến thiết bị rửa tay ít tốn kém, làm nắp đậy giếng sử dụng vật liệu sẵn có,vv Điều quan trọng là những cải thiện này phải cụ thể, đặc trưng trong khuôn khổ của địa phương, phù hợp với từng hộ gia đình hơn là những giải pháp được bên ngoài giới thiệu Cách tiếp cận PAOT được đặc trưng bởi: sử dụng các gương tốt của địa phương, nhấn mạnh các cách cải thiện đơn giản và ít tốn kém, phát triển kỹ năng thông qua thực hiện các cải tiến, khuyến khích và hỗ trợ các hộ gia đình với những gì họ đạt được, hỗ trợ sự tham gia của mọi người, trợ giúp, chia

sẻ ý tưởng và giải pháp giữa các hộ gia đình Cho đến nay, PAOT đã và đang được thực hiện bởi Hội phụ nữ tỉnh Tiền Giang, bởi Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Ninh Thuận và Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường tỉnh Đắc Lắc

Câu lạc bộ sức khỏe cộng đồng (CHCs)

Cách tiếp cận này sử dụng phương pháp tham gia để khuyến khích các thành viên trong cộng đồng phản ánh tình trạng cấp nước và vệ sinh của mình Bằng việc tạo môi trường gặp gỡ trong câu lạc bộ, CHCs đã có ảnh hưởng tốt khuyến khích sự thay đổi trong các chuẩn mực xã hội liên quan đến cải thiện thực hành cấp nước và

vệ sinh Các thành viên câu lạc bộ họp 1 tuần 1 lần trong 24 tuần, trao đổi và lên kế hoạch hướng thay đổi hành vi vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân của mình Công việc này có sự hỗ trợ của bộ công cụ CHCs-gồm những ảnh và thẻ thành viên câu lạc bộ Cách tiếp cận đã được thực hiện ở một vài nơi của Nam châu Phi, được Bộ

Y tế áp dụng thử ở 3 tỉnh của Việt Nam

Trang 23

Giáo dục vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân có sự tham gia của cộng đồng (PHAST)

Mục tiêu của phương pháp PHAST là nhằm tăng cường các hành vi vệ sinh cho người dân để giảm thiểu các bệnh liên quan tới nước và khuyến khích cộng đồng quản lý một cách hiệu quả các dịch vụ về nước sạch và vệ sinh môi trường Sau khi đã hiểu được các vấn đề liên quan tới nước sạch, vệ sinh cá nhân và VSMT tại địa phương thông qua các hoạt động có tính chất tham gia, người dân sẽ được khuyến khích xây dựng và triển khai các kế hoạch để cải thiện tình trạng trên

Cách tiếp cận tham gia này dựa vào 2 nguyên tắc: 1) Cộng đồng sẽ muốn thay đổi hành vi của họ một khi hiểu được những hậu quả của việc tiếp tục thực hành những hành vi vệ sinh yếu kém; và 2) Những hệ quả thay đổi trong hành vi sẽ được thúc đẩy và sở hữu bởi cộng đồng, tạo ra sự bền vững hơn Cách tiếp cận có 7 bước: xác định vấn đề, phân tích vấn đề, lên kế hoạch cho các giải pháp, lựa chọn giải pháp, lên kế hoạch làm các phương tiện mới và thay đổi hành vi, lên kế hoạch theo dõi giám sát, và đánh giá có sự tham gia

PHAST đã được thực hiện ở nhiều nơi châu Phi và châu Á Ở Việt Nam, PHAST đã được áp dụng thử ở 3 tỉnh như là một phần của chương trình mục tiêu quốc gia 1 cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn, và hiện nay đang được Tổ chức phi chính phủ Chữ thập đỏ Pháp thực hiện ở Bắc Kạn

Tiếp thị vệ sinh (SM)

Cách tiếp cận này sử dụng kỹ thuật tiếp thị truyền thống để tạo nhu cầu vệ sinh tại hộ gia đình, đồng thời với việc thúc đẩy mở rộng mảng cung ứng các sản phẩm và dịch vụ vệ sinh dựa vào thị trường

Mảng tạo cầu có thể được xây dựng dựa vào các cách tiếp cận CLTS, CHC, PHAST và PAOT, trong khi mảng cung ứng được củng cố nhằm tạo ra thị trường

vệ sinh năng động tại chỗ, phục vụ cho các nhu cầu vệ sinh của đông đảo các hộ gia đình có mức thu nhập thấp ở các địa bàn Tiếp thị vệ sinh đã và đang được thực hiện

ở một số nước và ở Việt Nam bởi iDE, Oxfam và Codespa

Trang 24

1.5.2 Một số hoạt động can thiệp cải thiện nhà tiêu HGĐ đang triển khai

Trong thời gian qua, cùng với hoạt động của ngành y tế, các tổ chức quốc tế

và trong nước đã nỗ lực có những hoạt động can thiệp nhằm cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường nông thôn tại Việt Nam nói chung và tình trạng nhà tiêu HGĐ nói riêng Với các cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung các hoạt động can thiệp

đã mang lại được hiệu quả cao trong việc nâng cao nhận thức của người dân về việc cần thiết phải xây dựng cho gia đình một nhà tiêu HVS từ đó dẫn đến việc thay đổi hành vi Một số chương trình/dự án có liên quan đến nhà tiêu HGĐ đã và đang triển khai tại Việt Nam có thể được kể đến đó là:

Dự án thí điểm “Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ và phát

triển và tiếp thị vệ sinh tại khu vực nông thôn các tỉnh Thanh Hóa và Quảng Nam”

triển khai từ tháng 1 năm 2003 đến năm 2006 (trừ sáu tháng trong năm 2005) tại 30

xã trong 6 huyện của 2 tỉnh Thanh Hóa và Quảng Nam do tổ chức phát triển quốc tế (iDE) Các hoạt động chính của dự án thí điểm bao gồm: (1) Đánh giá thị trường nhà tiêu nông thôn: Tính chi phí xây nhà tiêu HVS; (2) Giới thiệu bốn mô hình nhà tiêu HVS chi phí thấp; (3) Đào tạo cho lãnh đạo địa phương (cán bộ thôn, cán bộ hội phụ nữ và cán bộ y tế thôn bản); và (4) Đào tạo cho các nhà cung ứng dịch vụ (như người bán hàng vật liệu xây dựng, nhà sản xuất, và thợ xây) Sau ba năm rưỡi triển khai dự án thí điểm cho thấy, các h ộ gia đình ở 30 xã thí điểm đã xây d ựng hoặc nâng cấp 15.149 nhà vệ sinh, trung bình 3.787 nhà vệ sinh mỗi năm Tỷ lệ trung bình hộ dân được sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đã tăng từ 16% lên 46% [18]

Dự án “Phát triển thị trường vệ sinh tại Yên Bái”: Từ tháng 7/2007,

TTYTDP tỉnh Yên Bái đã hợp tác với iDE tranh thủ sự tài trợ của Quỹ Codespa triển khai mô hình cải thiện vệ sinh dựa trên cơ chế thị trường Dự án phát triển và tiếp thị xây dựng nhà tiêu phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán để người dân có thể chấp nhận áp dụng gồm 4 loại: nhà tiêu tự hoại bể, nhà tiêu tự hoại cải tiến đúc bằng ống bi, nhà tiêu 2 ngăn đơn giản và nhà tiêu đào cải tiến có ống thông hơi Dự án được triển khai ban đầu thực hiện tại 5 xã của huyện Văn Yên là: Yên Thái, Ngòi A, An Thịnh, Yên Phú, Viễn Sơn từ năm 2007-2008, đến năm 2009-2010 mở rộng thêm 7 xã trong đó có 3 xã của huyện Văn Yên và 4

Trang 25

xã của huyện Lục Yên, với các hoạt động: thiết lập, duy trì mạng lưới dự án từ tỉnh đến cơ sở, tổ chức tuyên truyền vận động về tác hại của phân người, lợi ích của nhà tiêu HVS, giới thiệu các loại nhà tiêu HVS, cách xây dựng, sử dụng, bảo quản để người dân lựa chọn loại nhà tiêu phù hợp với khả năng kinh tế của gia đình họ, thường xuyên tổ chức thăm hộ gia đình để tư vấn, hướng dẫn người dân xây dựng,

sử dụng nhà tiêu đúng cách, định kỳ tổ chức các cuộc họp giao ban, giám sát để đánh giá tiến độ các hoạt động

Kết quả cho thấy, sau 4 năm thực hiện dự án, bước đầu tạo nên sự thay đổi đáng kể về nhận thức và hành vi của người dân về đầu tư xây dựng và sử dụng nhà tiêu HVS, xây dựng hệ thống cán bộ từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã, thôn có thể tự thực hiện chương trình khuyến khích vệ sinh theo định hướng thị trường Các địa phương đã vận động người dân đầu tư xây mới và cải tạo 5.123 nhà tiêu với 100% tiền đầu tư là của các hộ gia đình Tại các xã pha I (2007 - 2008), tỷ lệ hộ gia đình

có nhà tiêu HVS đã tăng 58,5% so với thời điểm trước khi thực hiện dự án (từ 8,7% lên 67,2%), tại các xã pha II (2009 - 2010) tăng 25,3% Trong số hộ gia đình tự đầu

tư xây nhà vệ sinh đã có 7% là hộ nghèo, 42% là hộ người dân tộc thiểu số Số hộ nghèo xây nhà tiêu chiếm 21% trên tổng số hộ nghèo trên địa bàn thực hiện dự án

Điểm khác biệt cơ bản và cũng là yếu tố giúp dự án thành công và duy trì được lâu dài là thay vì hỗ trợ kinh phí, vật tư xây dựng các công trình vệ sinh cho người dân, dự án tập trung cho công tác truyền thông, vận động để nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi của người dân, từ đó, người dân bỏ tiền đầu tư cho chính các công trình vệ sinh của họ Người dân được tư vấn, tự quyết định lựa chọn loại nhà tiêu phù hợp với điều kiện, thói quen và khả năng kinh tế của gia đình họ Mặt khác, dự án tập trung nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cấp xã và thôn, bản

để họ có thể tự làm nhà tiêu tự hoại đơn giản Với những kết quả đã đạt được, dự án thí điểm của iDE đã chứng minh được rằng: Người dân nông thôn ngay cả người nghèo, dân tộc thiểu số cũng có thể tự đầu tư xây được nhà tiêu HVS trong điều kiện có sẵn các mô hình nhà tiêu phù hợp với điều kiện kinh tế gia đình, được họ chấp nhận và có sẵn mạng lưới cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ xây dựng

Trang 26

Sau khi đạt được thành công ở các dự án thí điểm, từ tháng 11/2010 đến 9/2011 iDE cùng với Cục Quản lý Môi trường Y tế tiếp tục thực hiện dự án thí điểm

Tiếp thị vệ sinh nhưng với hướng tiếp cận mới là Tiếp thị vệ sinh vào trong chương

trình Mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nhằm góp

phần vào việc đẩy nhanh tốc độ cải thiện vệ sinh một cách bền vững Địa bàn thí điểm bao gồm 5 xã Triệu Thượng, Triệu Độ, Triệu Trung, Triệu An và Triệu Lăng huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị

Dự án “Nâng cao sức khoẻ cộng đồng thông qua việc cải thiện hành vi vệ

sinh cá nhân và vệ sinh môi trường tại các xã dự án do Quỹ Unilever Việt Nam tài trợ” đã được Cục quản lý môi trường Y tế - Bộ Y tế triển khai từ năm 2007 đến

năm 2010 tại 11 tỉnh, 34 huyện, 70 xã Dự án đã đưa ra một hướng tiếp cận mới trong các hoạt động can thiệp nhằm tăng tỷ lệ rửa tay xà phòng, cải thiện hành vi vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường Dự án đã tập trung nhiều vào các hoạt động truyền thông như tổ chức lễ phát động với quy mô rộng, hình thức phong phú, tổ chức các lớp tập huấn đào tạo cho các truyền thông viên, cấp phát xà phòng lồng ghép với các hoạt động tuyên truyền tại trường học, Trạm Y tế, các cuộc họp thôn, tại buổi tiêm chủng Đặc biệt hoạt động truyền thông qua hệ thông loa đài xã, truyền hình, báo chí tỉnh cũng được tổ chức rất thường xuyên và có hiệu quả Ngoài ra, Dự

án cũng hỗ trợ kinh phí hàng năm cho hoạt động xây dựng, cải tạo cho các công trình vệ sinh, lắp đặt pano, áp phích tuyên truyền Kết quả điều tra cuối kỳ cho thấy

tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh đã tăng lên đáng kể so với điều tra đầu kỳ (69,7% so với 27,5%) [13]

Dự án “Hỗ trợ phụ nữ nghèo làm nhà vệ sinh và rửa tay xà phòng tại đồng

bằng sông Cửu Long” do tổ chức Đông Tây Hội Ngộ tài trợ Địa bàn thực hiện dự

án được chọn tại 3 tỉnh: Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp với mục đích của dự

án là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và điều kiện vệ sinh môi trường cho phụ

nữ nghèo thông qua việc tác động, hỗ trợ họ làm nhà vệ sinh và thay đổi hành vi vệ sinh theo hướng tích cực, giúp cộng đồng giải quyết việc đi tiêu bừa bãi và thu gom rác thải Hướng tiếp cận của dự án theo cách tiếp cận dựa trên kết quả đầu ra Mỗi

hộ sẽ được hỗ trợ 470.000 đồng sau khi hoàn thành xây dựng nhà vệ sinh đảm bảo

Trang 27

các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu của dự án Kết quả đã có 4.200 hộ gia đình phụ nữ nghèo xây và sử dụng nhà tiêu tự hoại, lắp đặt vòi rửa tay gần nhà vệ sinh, đạt 100% mục tiêu dự án, cam kết thực hiện hành vi vệ sinh rửa tay với xà phòng, đảm bảo sức khỏe gia đình và cộng đồng [35] Dự án đã có sức lan tỏa, tạo thành phong trào xây hố xí hợp vệ sinh trên địa bàn dự án, đồng thời cũng đã tạo được nguồn cung cấp dịch vụ thông qua việc xây dựng được đội ngũ thợ xây cung ứng kỹ thuật, lao động tại địa phương, trực tiếp hỗ trợ các gia đình khi có nhu cầu trên địa bàn Hiện nay, tổ chức Đông Tây Hội Ngộ cũng đã mở rộng phạm vi ra các tỉnh Hải Dương, Tiền Giang, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Bình Định,v.v…

1.6 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Hòa Bình là một tỉnh miền núi nằm trong vùng Tây Bắc Việt Nam Phía bắc

và tây bắc giáp tỉnh Phú Thọ và Sơn La, phía đông và đông nam giáp thủ đô Hà Nội

và Hà Nam, phía nam và tây nam giáp giáp tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa Hòa Bình cách thủ đô Hà Nội 72 km về phía Tây theo đường quốc lộ số 6 Tỉnh bao gồm

10 đơn vị hành chính huyện, thị và 1 thành phố Hòa Bình, trong đó có 2 huyện vùng cao, còn lại đều là những huyện, thị miền núi, với 210 xã/phường, thị trấn Diện tích

tự nhiên toàn tỉnh là 4.608,7 km², dân số trung bình là 806.100 người, với mật độ dân số 175 người/km² [37] Địa hình tỉnh chủ yếu là núi rừng, xen kẽ giữa các sườn núi là các thung lũng hẹp Nơi cao nhất so với mực nước biển là huyện huyện Đà Bắc 560m, nơi thấp nhất so với mực nước biển là thị xã Hòa Bình 20m Trên địa bàn tỉnh có 6 thành phần dân tộc chính bao gồm: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao và Mông, trong đó chiếm tỷ lệ đông nhất là dân tộc Mường (64%) [3] Các nhóm dân tộc ở tỉnh Hòa Bình không chỉ có những đặc điểm văn hóa chung của vùng Tây Bắc,

mà còn có những đặc điểm khác biệt trong ngôn ngữ cũng như tập quán

Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2012 cho thấy thu nhập bình quân đầu người/tháng ở Hòa Bình là 1.219.200 đồng trong đó thu nhập từ nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 33,1% tổng thu nhập [36] Tỷ lệ hộ nghèo trên toàn tỉnh năm 2012 là 24,5% Theo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh nông thôn giai đoạn 2 năm 2013 của Bộ Nông

Trang 28

nghiệp và Phát triển Nông thôn thì tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS tại tỉnh Hòa Bình là 44,0%, cao hơn một chút so với khu vực Tây Bắc (37,5%), tuy nhiên lại thấp hơn khá nhiều so với tỷ lệ chung toàn quốc (60%) Số lượt mắc một số bệnh đường tiêu hóa (tiêu chảy, tả, lỵ trực trùng, amip, thương hàn)/100.000 dân theo báo cáo của Cục Y tế Dự phòng năm 2013 tại tỉnh là 635,7/100.000 dân, thấp hơn một chút so với số liệu chung toàn quốc (815,5/100.000 dân)

Đà Bắc là một huyện thuộc tỉnh Hòa Bình Huyện bao gồm 19 xã và 1 thị

trấn là Đà Bắc, trung tâm huyện cách thành phố Hòa Bình khoảng 20 km Theo điều tra dân số tháng 4/2009, huyện có dân số 53.128 người trong đó nam giới chiếm 50,5% [3] Trên địa bàn huyện có 5 dân tộc cùng chung sống gồm: Mường, Kinh, Dao, Thái, Tày

Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân huyện, cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu kinh tế của huyện (49,9%) Thu nhập bình quân đầu người năm 2012 là 13,2 triệu, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện là 42,53% và tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 19,3%

Tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu thuộc loại HVS toàn huyện năm 2013 là 26,53%, thấp hơn nhiều so với mức bình quân toàn tỉnh (44,0%), trong đó 11/20 xã thị trấn có tỷ

lệ HGĐ có nhà tiêu HVS ở mức dưới 10%, đặc biệt xã Trung Thành chỉ đạt 0,67%

Năm xã điều tra bao gồm Tân Minh, Vầy Nưa, Hiền Lương, Tu Lý và Hào

Lý có tổng số hộ gia đình năm 2013 là 3734 hộ, trong đó thấp nhất là xã Hòa Lý (430 hộ) và cao nhất ở xã Tu Lý (1392 hộ) Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu thuộc loại HVS tính chung cho cả 5 xã ở mức thấp so với toàn huyện (18,5%) với tỷ lệ lần lượt là 9,99%, 24,75%, 28,04%, 16,31% và 21,40% Cơ cấu một số loại nhà tiêu HVS so với tổng số hộ gia đình như sau: nhà tiêu tự hoại (7,0%), thấm dội nước (8,9%), nhà tiêu hai ngăn (2,1%), nhà tiêu chìm có ống thông hơi (0,4%)

Trang 29

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỊA BÀN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 5 xã thuộc huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình bao gồm Tu Lý, Hào Lý, Tân Minh, Hiền Lương và Vầy Nưa Đây cũng là các xã đã

được chọn nghiên cứu mẫu để phục vụ cho Dự án thí điểm “Truyền thông vận động

cộng đồng xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh” do Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y

tế chủ trì Học viên được sự đồng ý của Cục Quản lý môi trường y tế cho phép tham gia dự án với vai trò điều phối các hoạt động bao gồm: thiết kế đề cương, bộ công

cụ, tham gia tập huấn điều tra viên, thu thập số liệu tại thực địa, thiết kế các giải pháp truyền thông, tập huấn truyền thông viên và giám sát các hoạt động truyền thông tại địa bàn Dự án

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng phỏng vấn định lượng là chủ hộ hoặc người thay thế tại các hộ gia đình được chọn Người trả lời phỏng vấn là người trưởng thành, có đủ sức khỏe để trả lời được các câu hỏi của điều tra viên Mỗi hộ gia đình chỉ phỏng vấn một người

- Đối tượng phỏng vấn sâu là lãnh đạo Trung tâm Y tế Dự phòng huyện, lãnh đạo UBND huyện/xã, lãnh đạo HPN huyện/xã, lãnh đạo HND huyện/xã HPN, trưởng Trạm Y tế xã

- Đối tượng thảo luận nhóm là đại diện hộ gia đình chưa có nhà tiêu hoặc có nhà tiêu nhưng không thuộc loại hợp vệ sinh

- Đối tượng quan sát là nhà tiêu của các hộ gia đình người được phỏng vấn

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2013 đến tháng 4/2014 Trong đó:

Trang 30

Giai đoạn 2 (can thiệp): 12 tháng, từ tháng 4/2013 đến tháng 3/1014

Giai đoạn 3 (điều tra đánh giá hiệu quả): Tháng 4/2014

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

+ Thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích thực hiện cho cuộc điều tra ban đầu

tại 5 xã huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình (giai đoạn 1)

+ Thiết kế nghiên cứu thử nghiệm cộng đồng bằng một số biện pháp can thiệp

truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu HGĐ tại địa bàn nghiên cứu (giai đoạn 2)

+ Thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích thực hiện cho cuộc điều tra đánh giá

hiệu quả một số biện pháp can thiệp truyền thông tại địa bàn nghiên cứu (giai đoạn 3)

2.2.2 Phương pháp xây dựng các giải pháp can thiệp truyền thông

Các bước xây dựng giải pháp:

Bước 1: Tổng quan tài liệu về tất cả những vấn đề liên quan đến chủ đề

nghiên cứu, xem xét đánh giá các can thiệp về nhà tiêu HVS đã triển khai tại Việt Nam, lý thuyết cơ bản về các loại hình truyền thông, Chương trình mục tiêu quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012-2015, các khuyến cáo, tiêu chuẩn đánh giá của Bộ Y tế liên quan đến nhà tiêu HVS

Bước 2: Xem xét thực tế môi trường tại địa phương, các chương trình/dự án

có liên quan đang triển khai tại địa phương (các hoạt động đã và đang triển khai, tồn tại, khoảng trống chưa can thiệp), lồng ghép chương trình và tìm kiếm hỗ trợ

Bước 3: Xây dựng các giải pháp can thiệp truyền thông

Bước 4: Xin ý kiến chuyên gia, địa phương và tìm kiếm hỗ trợ nguồn lực và

kỹ thuật từ các tổ chức trong nước và quốc tế

Trang 31

Nhóm đối tượng đích của can thiệp truyền thông:

(1) Nhóm đối tượng đích chính: hộ gia đình chưa có nhà tiêu, HGĐ có nhà tiêu

nhưng chưa thuộc loại HVS hoặc có nhà tiêu HVS nhưng chưa đạt các tiêu chuẩn về xây dựng, sử dụng và bản quản

(2) Nhóm đối tượng đích 2: Cán bộ lãnh đạo chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã

hội, đội ngũ truyền thông viên thôn bản và toàn thể cộng đồng

Hình thức truyền thông:

Sử dụng các biện pháp truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp qua nhiều kênh truyền thông Các hình thức truyền thông được lựa chọn sau khi kết thúc điều tra ban đầu dựa trên nguyên tắc phù hợp với điều kiện địa phương cũng như khả năng tiếp cận của hộ gia đình nhằm đảm bảo hiệu quả của các hoạt động truyền thông

Nội dung can thiệp truyền thông:

Nội dung can thiệp truyền thông được thiết kế phù hợp dựa trên các kết quả điều tra ban đầu Các nội dung tuyên truyền cơ bản bao gồm:

- Tác hại của việc phóng uế bừa bãi tới môi trường và sức khỏe cộng đồng

- Lợi ích của việc sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

- Các loại nhà tiêu HVS

- Cách xây dựng, sử dụng và bảo quản nhà tiêu HVS

- Vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường

Các hoạt động can thiệp truyền thông:

- Tổ chức hội nghị giới thiệu với các đối tác và các bên liên quan: Sở Y tế, TTYTDP tỉnh, TTYT huyện, các ban ngành đoàn thể và các xã can thiệp

- Lựa chọn truyền thông viên cho các xã can thiệp, bao gồm đại diện UBND, TYT, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, y tế thôn bản, trưởng thôn, tổ trưởng tổ tiết kiệm và vay vốn, thợ xây chính và đại diện hộ gia đình

- Tập huấn cho đội ngũ truyền thông viên thôn bản về các kỹ năng tư vấn, kỹ năng truyền thông, kỹ năng lập kế hoạch truyền thông, cách tổ chức buổi truyền thông

Trang 32

- Các truyền thông viên thôn bản triển khai các hoạt động truyền thông: Truyền thông viên thôn bản với đầu mối là TYT xã tìm kiếm chia sẻ tài liệu truyền thông với các chương trình khác, tổ chức các hoạt động truyền thông tại cộng đồng Hoạt động truyền thông tại cộng đồng còn được lồng ghép với các dịch vụ sẵn có tại TYT để tăng số lượt người dân được tiếp cận với hoạt động truyền thông Sau mỗi buổi truyền thông, truyền thông viên sẽ đánh giá và rút kinh nghiệm để lập kế hoạch cho buổi truyền thông khác

- Hàng quý, học viên giám sát hỗ trợ các hoạt động can thiệp truyền thông tại các xã can thiệp và họp bàn rút kinh nghiệm

2.2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Hai cuộc điều tra ban đầu và điều tra đánh giá hiệu quả sau can thiệp đều sử dụng cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu giống nhau (đối tượng được phỏng vấn có thể trùng hoặc không trùng nhau giữa hai cuộc điều tra)

* Điều tra định lượng hộ gia đình

Cỡ mẫu:

Công thức: n = Z2

(1-/2) x p.(1- p) x DE

d2Trong đó:

n là cỡ mẫu cần cho nghiên cứu

Z là hệ số tin cậy được lấy dựa vào ngưỡng xác suất  Trong đề tài này ngưỡng xác suất  được lấy là 0,05  Z(1- α/2) = 1,96

p là tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu thuộc loại HVS Trong nghiên cứu này chúng tôi lấy p=32%=0,32 theo điều tra tại Thanh Hóa năm 2011 [13]

d là sai số mong muốn, d được ước tính bằng 0,05

DE (hiệu lực thiết kế) = 2

Thay số vào công thức trên ta có n = 669 hộ gia đình, tăng cỡ mẫu lên 670 để chia đều cho 5 xã được chọn Như vậy, cỡ mẫu cho mỗi xã là 670:5=134 hộ gia đình Trên thực tế chúng tôi đã phỏng vấn được mỗi xã 134 hộ gia đình và tổng số HGĐ được phỏng vấn tại 5 xã là 670 hộ gia đình

Trang 33

 Chọn thôn: Lập danh sách thôn của xã được chọn, sau đó chọn ngẫu nhiên 1/2 số thôn của xã đó Chia đều số mẫu điều tra của mỗi xã cho số thôn được chọn để có số hộ cần điều tra cho mỗi thôn bản

 Chọn hộ gia đình: Ở mỗi thôn được chọn, dùng danh sách hộ gia đình (dùng

sổ hộ tịch của thôn) chọn ngẫu nhiên hộ gia đình đầu tiên bằng cách dùng bảng số ngẫu nhiên và các hộ tiếp theo được chọn theo nguyên tắc cổng liền cổng cho tới khi đủ số hộ cần điều tra ở mỗi thôn

* Phiếu thu thập thông tin

 Tuyến huyện: thực hiện 1 phiếu thu thập thông tin tại TTYTDP huyện

 Tuyến xã: Mỗi xã thực hiện 1 phiếu thu thập thông tin tại TYT xã

* Điều tra định tính

 Tuyến huyện: Chọn chủ định 04 lãnh đạo các đơn vị Trung tâm Y tế Dự phòng huyện, UBND huyện, HPN huyện và HND huyện để tiến hành phỏng vấn sâu

 Tuyến xã:

- Mỗi xã điều tra tiến hành 04 phỏng vấn sâu bao gồm 01 lãnh đạo UBND

xã, trưởng Trạm Y tế xã, 01 lãnh đạo HPN, 01 lãnh đạo HND Tổng số có 20 phỏng vấn sâu tại 5 xã điều tra

Trang 34

- Mỗi xã tiến hành 01 thảo luận nhóm người dân Mỗi cuộc thảo luận nhóm bao gồm 8 người đại diện cho 4 HGĐ chưa có nhà tiêu và 4 HGĐ có nhà tiêu nhưng chưa thuộc loại HVS Tổng số có 5 cuộc thảo luận nhóm tại 5 xã với

sự tham gia của 40 người

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Kiến thức và hành vi sử dụng nhà tiêu hộ gia đình của người dân tại 5

xã của huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình

 Hiểu biết của người dân về các bệnh liên quan đến phân người

 Hiểu biết của người dân về các loại nhà tiêu, các loại nhà tiêu HVS

 Độ bao phủ nhà tiêu, nhà tiêu HVS tại các HGĐ

 Hành vi về xây dựng và sử dụng nhà tiêu HVS tại HGĐ

 Sở thích sử dụng loại nhà tiêu HVS của người dân

 Nhu cầu xây dựng nhà tiêu HVS của các HGĐ chưa có nhà tiêu HVS

 Nguồn thông tin về nhà tiêu mà người dân nhận được

 Các kênh truyền thông người dân ưa thích

Nội dung 2: Hiệu quả ban đầu các giải pháp can thiệp truyền thông tại địa bàn

nghiên cứu

 Kết quả các hoạt động truyền thông đã triển khai trong thời gian can thiệp

 So sánh tỷ lệ % hiểu biết của người dân về các bệnh liên quan đến phân người tại hai thời điểm TCT và SCT, chỉ số hiệu quả can thiệp

 So sánh tỷ lệ % hiểu biết của người dân về các loại nhà tiêu HVS tại hai thời điểm TCT và SCT, chỉ số hiệu quả can thiệp

 So sánh tỷ lệ % người dân sử dụng nhà tiêu tại hai thời điểm TCT và SCT, chỉ số hiệu quả can thiệp

 So sánh tỷ lệ % người dân sử dụng nhà tiêu HVS tại hai thời điểm TCT và SCT, chỉ số hiệu quả can thiệp

 So sánh tỷ lệ % nhà tiêu đạt các tiêu chuẩn về xây dựng, sử dụng và bảo quản tại hai thời điểm TCT và SCT, chỉ số hiệu quả can thiệp

Trang 35

2.2.5 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

Xây dựng bộ công cụ điều tra:

Bộ phiếu điều tra được hoàn thiện sau khi tham khảo ý kiến đóng góp của giáo viên hướng dẫn và các chuyên gia về lĩnh vực vệ sinh môi trường Bộ phiếu này cũng được chỉnh sửa cho phù hợp tất cả các khía cạnh thu thập số liệu sau điều tra thử tại một xã của huyện Đà Bắc Bộ công cụ thu thập số liệu gồm: (1) Phiếu thu thập thông tin, (2) Phiếu phỏng vấn hộ gia đình, (3) Bảng kiểm đánh giá tình trạng nhà tiêu HGĐ, (4) Khung hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo các đơn vị, ban ngành

và (5) Khung hướng dẫn thảo luận nhóm hộ gia đình

- Phiếu thu thập thông tin tại TYT xã (Q1_TTTT_XA) có nội dung thu thập các thông tin chung điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, tình trạng nhà vệ sinh tại địa bàn xã (xem Phụ lục 1)

- Phiếu điều tra định lượng nhà tiêu hộ gia đình (Q2_HGĐ) có nội dung thu thập những thông tin từ các hộ gia đình về kiến thức của người dân về các bệnh liên quan đến sử dụng phân người, các hành vi vệ sinh của người dân, thực trạng xây dựng, sử dụng và bảo quản nhà tiêu, các lý do không xây nhà tiêu, tiếp cận thông tin

Tập huấn điều tra viên

Tất cả điều tra viên và giám sát viên là cán bộ TTYTDP huyện Đà Bắc, cán

bộ trạm y tế xã điều tra Những giám sát viên và điều tra viên này đều có trình độ và

có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động điều tra thực địa về nước sạch và vệ sinh môi

Trang 36

Trước mỗi cuộc điều tra hộ gia đình (trước và sau can thiệp), tổ chức tập huấn 2 ngày cho điều tra viên, giám sát viên về kỹ thuật điều tra được tổ chức tại Trung tâm Y tế Dự phòng huyện Đà Bắc Nội dung tập huấn là hướng dẫn chi tiết

về cách thu thập các thông tin một cách chính xác nhất

Điều tra tại thực địa

Trước khi cuộc điều tra được triển khai, Trung tâm Y tế Dự phòng huyện gửi công văn tới các trạm y tế xã nằm trong địa bàn điều tra, thông báo về mục đích, nội dung, đối tượng và thời gian điều tra để các địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn điều tra hoàn thành nhiệm vụ

Các phiếu thu thập thông tin sẽ được gửi trước xuống các TYT để điền các thông tin Trong quá trình điều tra thực địa tại xã, giám sát viên sẽ kiểm tra và hoàn thiện các thông tin trong phiếu thu thập thông tin để đảm bảo tính chính xác của số liệu thu thập được

Với sự dẫn đường là cán bộ y tế địa phương, điều tra viên đến từng hộ gia đình gặp đối tượng nghiên cứu đã được xác định, giải thích rõ mục tiêu nghiên cứu,

và sau khi nhận được sự đồng ý tham gia của đối tượng nghiên cứu thì các điều tra viên tiến hành phỏng vấn đối tượng theo bộ phiếu phỏng vấn và kết hợp quan sát đánh giá tình trạng vệ sinh nhà tiêu hộ gia đình theo bảng kiểm

Điều tra viên phỏng vấn trực tiếp với các đối tượng để thu thập thông tin bằng bộ công cụ điều tra đã chuẩn bị sẵn Trong quá trình phỏng vấn chỉ có hai người (điều tra viên và đối tượng phỏng vấn), và ngồi đối diện nhau, không có người thứ ba nhằm đảm bảo đối tượng nghiên cứu cảm thấy dễ chịu, thoải mái khi trả lời phỏng vấn và như vậy các thông tin thu được đảm bảo khách quan

Những trường hợp đối tượng nghiên cứu vắng mặt không về trong ngày thì

bỏ qua không phỏng vấn Những đối tượng này được chọn thay thế bằng hộ gia đình của hộ kế tiếp theo phương pháp cổng liền cổng

Xử lý số liệu:

- Toàn bộ số phiếu định lượng thu được từ thực địa được làm sạch trước khi nhập số liệu vào máy tính

Trang 37

- Sử dụng phần mềm của EPI-INFO 6.04 để vào số liệu Tất cả các phiếu đều được vào máy tính hai lần, sau đó sử dụng chương trình kiểm tra phát hiện và sửa những sai sót do nhập số liệu

- Số liệu được phân tích, tính toán và lập thành các bảng số liệu thông qua sử dụng các chương trình phần mềm của EPI-INFO 6.04, Visual FOX PRO Version 7.0 Các kết quả được trình bày bằng các bảng biểu và hình vẽ

- Các thông tin định tính được tổng hợp số liệu bằng phương pháp xếp nhóm thông thường

Hạn chế sai số:

- Xây dựng phương pháp nghiên cứu khoa học

- Xây dựng bộ câu hỏi mang tính logic

- Điều tra thử và sửa chữa hoàn chỉnh bộ câu hỏi

- Điều tra viên là những cán bộ có chuyên môn và được tập huấn kỹ

- Giám sát, kiểm tra tính chính xác của số liệu ngay tại thực địa

- Phiếu điều tra được mã hóa và xử lý thô trước và vào phiếu 2 lần

2.3 CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ

Điều kiện kinh tế gia đình: Dựa trên mức chuẩn nghèo áp dụng cho khu vực

nông thôn áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 [40], trong đó:

- Hộ gia đình thuộc hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống

- Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

Đánh giá tình trạng nhà tiêu hợp vệ sinh: Dựa trên Thông tư số

27/2011/TT-BYT, ngày 24/6/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế Trong đó, có các tiêu chuẩn vệ sinh trong xây dựng và tiêu chuẩn vệ sinh trong sử dụng và bảo quản [8]

- Nhà tiêu được coi là đạt các tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng khi đạt tất cả các tiêu chí vệ sinh về xây dựng phù hợp với loại nhà tiêu đó

Trang 38

- Nhà tiêu được coi là đạt các tiêu chuẩn vệ sinh về sử dụng và bảo quản khi đạt tất cả các tiêu chí vệ sinh về sử dụng và bảo quản phù hợp với loại nhà tiêu đó

- Nhà tiêu được coi là đạt cả hai tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng và sử dụng

và bảo quản khi đạt đồng thời tất cả các tiêu chí vệ sinh về xây dựng và sử dụng và bảo quản phù hợp với loại nhà tiêu đó

Phân tích Chỉ số hiệu quả (CSHQ):

Đánh giá trước can thiệp và sau can thiệp bằng so sánh một số tỷ lệ trước và sau can thiệp bằng chỉ số hiệu quả tính theo công thức:

CSHQ (%) = P2 – P1 x 100

P1 Trong đó:

P1 là kết quả có tại thời điểm đánh giá trước can thiệp (TCT), tháng 3/2013 P2 là kết quả tại thời điểm đánh giá sau can thiệp (SCT), tháng 4/2014

2.4 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

- Sử dụng bộ câu hỏi phù hợp với phong tục tập quán của địa phương

- Được sự chấp nhận của các cơ quan chức năng, lãnh đạo địa phương

- Đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu

2.5 HẠN CHẾ NGHIÊN CỨU

- Do thời gian và nguồn lực hạn chế nên nghiên cứu của chúng tôi chỉ tiến hành tại 5 xã của huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình Kết quả nghiên cứu chỉ mang tính đại diện cho địa bàn huyện Đà Bắc hoặc huyện có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tương đồng

- Cũng vì do thời gian và kinh phí hạn chế nên việc đánh giá hiệu quả các giải pháp can thiệp không so sánh giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng mà chỉ so sánh trước sau

Trang 39

3.1.1 Kiến thức của người dân về một số nội dung liên quan đến sử dụng nhà tiêu hộ gia đình

Hiểu biết về ảnh hưởng của phân người tới sức khỏe

Quản lý phân người không phù hợp sẽ gây ra những tác động tới môi trường sống của con người Hành vi đi tiêu bừa bãi bên ngoài làm phát sinh dòi , virus, mầm bê ̣nh ra ngoà i môi trường , gây ra mùi hôi thối ,v.v… Hậu quả là những người tiếp xúc trực tiếp với phân có nguy cơ cao bị nhiễm các bệnh về tiêu hóa và các loại bệnh dịch; dẫn tới mất sức lao động và tốn tiền chữa trị Ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm do phân người nói riêng, nếu không được quản lý an toàn sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng sống của con người, đặc biệt là đối với các đối tượng dễ

bị tổn thương như người nghèo, phụ nữ và trẻ em [14], [34]

%

Trang 40

Kết quả điều tra cho thấy, phần lớn người dân được hỏi biết được bệnh liên quan đến phân là tiêu chảy (55,4%), tiếp đến là bệnh giun sán (37,0%), tả (22,2%) Các bệnh khác như lỵ, mắt hột, viêm gan A, thương hàn chỉ được một số ít đối tượng phỏng vấn biết đến (dao động từ 2,8% đến 10,9%) Có tới 31,9% đối tượng được phỏng vấn không biết bất kỳ một bệnh nào có thể là hậu quả của việc tiếp xúc với phân người Kết quả này chỉ ra rằng hiểu biết của người dân về tác hại của phân người còn rất kém

Nghiên cứu tại 4 tỉnh Điện Biên, Kon Tum, Ninh Thuận và Đồng Tháp của Cục Quản lý Môi trường Y tế năm 2012 cũng cho kết quả tương tự khi đa số đối tượng phỏng vấn mới biết đến việc tiếp xúc với phân người có thể mắc bệnh tiêu chảy (64%) trong khi đó vẫn còn gần 30% đối tượng được phỏng vấn không biết bất

kỳ một bệnh nào có thể là hậu quả của việc tiếp xúc với phân người [14] Khảo sát ban đầu VSMT tại Thanh Hóa, 63,5% người dân được hỏi biết được bệnh liên quan đến phân, các bệnh khác như tả, mắt hột, viêm gan A, giun sán, lỵ, thương hàn chỉ được một số ít đối tượng phỏng vấn biết đến (dao động từ 0,3%-14,2%), 14,6% người dân trong nghiên cứu không thể kể tên một loại bệnh nào có thể mắc phải khi tiếp xúc với phân người [34]

Kết quả thảo luận nhóm cộng đồng cũng cho thấy nhận thức của người dân

về các bệnh do tiếp xúc với phân người còn chưa cao Đa số họ chỉ biết tiếp xúc với phân người là bẩn và có thể mắc bệnh thông thường như đau bụng, đi ngoài: “Không biết việc tiếp xúc phân người gây ra bệnh gì và cũng không biết gây hậu quả gì”; “Chỉ biết tiếp xúc với phân người là bẩn và có thể mắc bệnh nào đó, ví dụ như đau bụng, đi ngoài” -

Thảo luận nhóm người dân xã Tân Minh

Xử lý phân người để không gây ô nhiễm môi trường trên cơ sở sử dụng các loại nhà tiêu HVS phù hợp với điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán, kinh tế của người dân là một trong những giải pháp tối ưu nhất Bên cạnh những chính sách ưu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được tiếp cận với các dịch vụ về cấp nước và vệ sinh, cũng cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức

và thay đổi hành vi vệ sinh của người dân trong đó có kiến thức về các bệnh liên quan đến nhà tiêu [14]

Ngày đăng: 08/01/2015, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tôn Thất Bách và CS (2001), Nghiên cứu một số giải pháp làm giảm tác động của các yếu tố nguy cơ từ môi trường sống tới sức khỏe cộng đồng ở một số vùng sinh thái, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp làm giảm tác động của các yếu tố nguy cơ từ môi trường sống tới sức khỏe cộng đồng ở một số vùng sinh thái
Tác giả: Tôn Thất Bách và CS
Năm: 2001
2. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ƣơng (2009), Tài liệu Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra trong tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra trong tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ƣơng
Năm: 2009
3. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ƣơng (2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: kết quả toàn bộ, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: kết quả toàn bộ
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ƣơng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2010
4. Trương Đình Bắc, Nguyễn Huy Nga (2005), “Độ bao phủ nhà tiêu ở đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Y học Việt Nam, 334, tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ bao phủ nhà tiêu ở đồng bằng sông Cửu Long”, "Tạp chí Y học Việt Nam
Tác giả: Trương Đình Bắc, Nguyễn Huy Nga
Năm: 2005
5. Bộ môn Vệ sinh-Môi trường-Dịch tễ, trường Đại học Y Hà Nội (2001), Vệ sinh môi trường – Dịch tễ: Vệ sinh môi trường đất, tập 1, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.87-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường – Dịch tễ: Vệ sinh môi trường đất
Tác giả: Bộ môn Vệ sinh-Môi trường-Dịch tễ, trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
7. Bộ Y tế (2009), Bản dự thảo Thông tư về Hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động ủ phân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản dự thảo Thông tư về Hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động ủ phân
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
8. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 27/2011/TT-BYT, ngày 24/6/2011 ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu – điều kiện đảm bảo hợp vệ sinh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 27/2011/TT-BYT, ngày 24/6/2011 ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu – điều kiện đảm bảo hợp vệ sinh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
9. Bộ Y tế - Cục Y tế dự phòng - UNICEF (2007), Vệ sinh môi trường ở một số dân tộc thiểu số Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường ở một số dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế - Cục Y tế dự phòng - UNICEF
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
10. Bộ Y tế - Tổng cục thống kê (2003), Kết quả điều tra Y tế quốc gia giai đoạn 2001-2002, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra Y tế quốc gia giai đoạn 2001-2002
Tác giả: Bộ Y tế - Tổng cục thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
11. Bộ Y tế &amp; UNICEF - Cục Y tế dự phòng (2007), Vệ sinh môi trường nông thôn Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường nông thôn Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế &amp; UNICEF - Cục Y tế dự phòng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
12. Bộ Y tế &amp; UNICEF – Trung tâm nghiên cứu ứng dụng cấp nước và VSMT (2010), Nghiên cứu mối liên quan giữa vệ sinh môi trường nguồn nước hộ gia đình và hành vi vệ sinh chăm sóc trẻ của bà mẹ với tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối liên quan giữa vệ sinh môi trường nguồn nước hộ gia đình và hành vi vệ sinh chăm sóc trẻ của bà mẹ với tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế &amp; UNICEF – Trung tâm nghiên cứu ứng dụng cấp nước và VSMT
Năm: 2010
13. Cục Quản lý Môi trường y tế (2011), Báo cáo kết quả Sự thay đổi kiến thức và hành vi liên quan đến rửa tay bằng xà phòng tại địa bàn dự án do UNILEVER tài trợ từ 2007-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả Sự thay đổi kiến thức và hành vi liên quan đến rửa tay bằng xà phòng tại địa bàn dự án do UNILEVER tài trợ từ 2007-2010
Tác giả: Cục Quản lý Môi trường y tế
Năm: 2011
14. Cục Quản lý Môi trường Y tế (2012), Báo cáo kết quả Điều tra thị trường vệ sinh tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả Điều tra thị trường vệ sinh tại Việt Nam
Tác giả: Cục Quản lý Môi trường Y tế
Năm: 2012
15. Cục Quản lý Môi trường Y tế (2014), Sổ tay hướng dẫn lập kế hoạch thực hiện hợp phần vệ sinh (Tài liệu dành cho cán bộ cấp tỉnh, huyện), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn lập kế hoạch thực hiện hợp phần vệ sinh (Tài liệu dành cho cán bộ cấp tỉnh, huyện)
Tác giả: Cục Quản lý Môi trường Y tế
Năm: 2014
16. Cục Y tế dự phòng (2008), Hiện trạng rửa tay xà phòng trước và sau can thiệp tại địa bàn dự án do Unilever tài trợ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng rửa tay xà phòng trước và sau can thiệp tại địa bàn dự án do Unilever tài trợ
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Năm: 2008
17. Lê Văn Chính (2005), Nghiên cứu thực trạng quản lý phân người, kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của cộng đồng tại một số tỉnh phía Bắc, Luận văn Thạc sỹ Y học, Học viện Quân Y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng quản lý phân người, kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của cộng đồng tại một số tỉnh phía Bắc
Tác giả: Lê Văn Chính
Năm: 2005
18. Christine Sijbesma, Trương Xuân Trường và Jacqueline Devine (2010), Nghiên cứu về tính bền vững của phương pháp tiếp thị VSNT ở Việt Nam, Dự án Thúc đẩy VSNT toàn cầu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về tính bền vững của phương pháp tiếp thị VSNT ở Việt Nam, Dự án Thúc đẩy VSNT toàn cầu
Tác giả: Christine Sijbesma, Trương Xuân Trường và Jacqueline Devine
Năm: 2010
19. Lương Xuân Hiến, Nguyễn Huy Nga, Trịnh Hữu Vách (2001), “Đánh giá thực trạng nhà tiêu hộ gia đình tại 10 tỉnh Việt Nam”, Tạp chí Y học thực hành, 11 (404), tr.19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng nhà tiêu hộ gia đình tại 10 tỉnh Việt Nam”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Lương Xuân Hiến, Nguyễn Huy Nga, Trịnh Hữu Vách
Năm: 2001
20. Trần Thị Thanh Huệ (2009), Kiến thức, thực hành xây dựng, sử dụng bảo quản nhà tiêu hộ gia đình, xử lý phân người và một số yếu tố liên quan tại xã Bình Kiều, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kiến thức, thực hành xây dựng, sử dụng bảo quản nhà tiêu hộ gia đình, xử lý phân người và một số yếu tố liên quan tại xã Bình Kiều, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Trần Thị Thanh Huệ
Năm: 2009
21. Trần Thị Hữu (2011), Nghiên cứu thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình tại một số xã tỉnh Kon Tum, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình tại một số xã tỉnh Kon Tum
Tác giả: Trần Thị Hữu
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Mối liên quan giữa tỷ lệ % người dân biết ít nhất 3 bệnh do tiếp xúc với  phân người gây ra theo một số đặc trưng người trả lời phỏng vấn - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.1. Mối liên quan giữa tỷ lệ % người dân biết ít nhất 3 bệnh do tiếp xúc với phân người gây ra theo một số đặc trưng người trả lời phỏng vấn (Trang 41)
Hình 3.2. Tỷ lệ % người dân biết về các loại nhà tiêu hộ gia đình - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Hình 3.2. Tỷ lệ % người dân biết về các loại nhà tiêu hộ gia đình (Trang 42)
Bảng 3.2. Mối liên quan giữa tỷ lệ % người dân biết ít nhất 3 bệnh do tiếp xúc với  phân người gây ra theo một số đặc điểm hộ gia đình - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.2. Mối liên quan giữa tỷ lệ % người dân biết ít nhất 3 bệnh do tiếp xúc với phân người gây ra theo một số đặc điểm hộ gia đình (Trang 42)
Hình 3.3. Tỷ lệ % người dân biết về các loại nhà tiêu HVS - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Hình 3.3. Tỷ lệ % người dân biết về các loại nhà tiêu HVS (Trang 44)
Bảng 3.3. Liên quan giữa tỷ lệ người dân biết ít nhất 3 loại nhà tiêu HVS theo một số  đặc trưng người trả lời phỏng vấn - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.3. Liên quan giữa tỷ lệ người dân biết ít nhất 3 loại nhà tiêu HVS theo một số đặc trưng người trả lời phỏng vấn (Trang 44)
Bảng 3.4. Liên quan giữa tỷ lệ người dân biết ít nhất 3 loại nhà tiêu HVS theo một số  đặc điểm HGĐ - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.4. Liên quan giữa tỷ lệ người dân biết ít nhất 3 loại nhà tiêu HVS theo một số đặc điểm HGĐ (Trang 46)
Hình 3.4. Tỷ lệ % HGĐ hiện đang có nhà tiêu theo xã - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Hình 3.4. Tỷ lệ % HGĐ hiện đang có nhà tiêu theo xã (Trang 47)
Bảng 3.5. Tỷ lệ % các loại nhà tiêu thuộc loại HVS đang sử dụng trên tổng số HGĐ  Thông tin  Hiền Lương - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.5. Tỷ lệ % các loại nhà tiêu thuộc loại HVS đang sử dụng trên tổng số HGĐ Thông tin Hiền Lương (Trang 50)
Bảng 3.6. Tỷ lệ % HGĐ có nhà tiêu đạt các tiêu chuẩn XD, sử dụng, bảo quản trên  tổng số hộ điều tra - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.6. Tỷ lệ % HGĐ có nhà tiêu đạt các tiêu chuẩn XD, sử dụng, bảo quản trên tổng số hộ điều tra (Trang 51)
Bảng 3.7. Tỷ lệ % độ bao phủ nhà tiêu theo một số đặc trƣng - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.7. Tỷ lệ % độ bao phủ nhà tiêu theo một số đặc trƣng (Trang 52)
Bảng 3.8. Nơi vệ sinh của những HGĐ không có nhà tiêu (%) - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.8. Nơi vệ sinh của những HGĐ không có nhà tiêu (%) (Trang 56)
Bảng 3.9. Tỷ lệ % HGĐ thích sử dụng các loại nhà tiêu, theo điều kiện kinh tế  Loại nhà tiêu  Số lƣợng (n=670)  Tỷ lệ % - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.9. Tỷ lệ % HGĐ thích sử dụng các loại nhà tiêu, theo điều kiện kinh tế Loại nhà tiêu Số lƣợng (n=670) Tỷ lệ % (Trang 57)
Bảng 3.11. Loại nhà tiêu HGĐ sẽ cải tạo/xây mới - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.11. Loại nhà tiêu HGĐ sẽ cải tạo/xây mới (Trang 58)
Bảng 3.10. Tỷ lệ % HGĐ đã có sự định sẽ cải tạo/xây mới nhà tiêu - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.10. Tỷ lệ % HGĐ đã có sự định sẽ cải tạo/xây mới nhà tiêu (Trang 58)
Bảng 3.12. Tỷ lệ % HGĐ đƣa ra lý do chính chƣa có dự định xây mới/cải tạo nhà tiêu - nghiên cứu áp dụng một số giải pháp can thiệp truyền thông nhằm cải thiện nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã huyện đà bắc tỉnh hòa bình
Bảng 3.12. Tỷ lệ % HGĐ đƣa ra lý do chính chƣa có dự định xây mới/cải tạo nhà tiêu (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w