Một lượng lớn nước thải sản xuất của các cơ sở sản xuất trong khu công nghiệp chưa được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn xả trực tiếp vào suối Văn Dương gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ảnh h
Trang 1i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
**************
Nguyễn Thị Thanh Huệ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG NƯỚC THẢI KHU CÔNG NGHIỆP SÔNG CÔNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SUỐI VĂN DƯƠNG,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2012
Trang 2ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
**************
Nguyễn Thị Thanh Huệ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG NƯỚC THẢI KHU CÔNG NGHIỆP SÔNG CÔNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SUỐI VĂN DƯƠNG,
Hà Nội - 2012
Trang 3iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nước và những vấn đề môi trường liên quan 3
1.2 Quản lý môi trường nước thải công nghiệp trong nước và trên thế giới 5
1.3 Vấn đề môi trường khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên 11
1.4 Ảnh hưởng của việc nguồn nước bị ô nhiễm 11
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thị xã Sông Công 13
1.5.1 Điều kiện tự nhiên 13
1.5.1.1 Vị trí địa lý 13
1.5.1.2 Địa hình, địa mạo 15
1.5.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn 15
1.5.2 Điều kiện kinh tế xã hội 18
1.5.2.1 Điều kiện kinh tế 18
1.5.2.2 Điều kiện xã hội 19
1.5.2.3 Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật 21
1.5.2.4 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn thị xã Sông Công 22
1.6 Đặc điểm suối Văn Dương 28
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32 2.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.2 Nội dung nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Hiện trạng chất lượng nước thải Khu công nghiệp Sông Công 36
3.2 Ảnh hưởng nước thải khu công nghiệp Sông Công đến chất lượng nước suối Văn Dương 51
3.2.1 Hiện trạng chất lượng nước suối Văn Dương 51
3.2.2 Diễn biến chất lượng nước suối Văn Dương 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
1 Kết luận 60
2 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 4iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Tình hình phát triển KCN qua các năm 2006, 2007, 2008 6
Bảng 2 Đặc trưng nước thải một số ngành công nghiệp (trước xử lý) 8
Bảng 3 Diện tích, dân số, mật độ dân số 2009 21
Bảng 4 Cơ cấu sử dụng đất của thị xã Sông Công năm 2009 23
Bảng 5 Các doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp Sông Công 25
Bảng 6 Ký hiệu và đặc điểm của các mẫu nghiên cứu 34
Bảng 7 Đặc thù ô nhiễm trong nước thải của một số cơ sở hoạt động trong KCN Sông Công 37
Bảng 8 Kết quả phân tích chất lượng nước thải khu công nghiệp Sông Công trước khi chảy vào suối Văn Dương 38
Bảng 9 Tải lượng một số chất ô nhiễm trong nước thải khu công nghiệp 40
Sông Công vào mùa mưa 40
Bảng 10 Kết quả phân tích chất lượng nước thải Công ty cổ phần đầu tư và thương mại TNG 41
Bảng 11 Kết quả phân tích chất lượng nước thải nhà máy kẽm điện phân 42
Bảng 12 Kết quả phân tích chất lượng nước thải Công ty TNHH Titan Hoa Hằng tại điểm thoát nước mưa của Công ty ra cống thoát nước KCN Sông Công 43
Bảng 13 Ảnh hưởng đến nguồn nước tiếp nhận từ nước mưa chảy tràn của một số nhà máy trong khu công nghiệp 45
Bảng 14 Bảng diễn biến trung bình chất lượng nước thải khu công nghiệp Sông Công qua các năm từ năm 2005 đến 2010 47
Bảng 15 Kết quả phân tích chất lượng nước Suối Văn Dương trước và sau điểm tiếp nhận nước thải KCN Sông Công 52
Bảng 16 Diễn biến chất lượng nước suối Văn Dương 55
Trang 6vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Đồ thị thể hiện tình hình phát triển KCN (thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) thời gian qua 6 Hình 2 Biểu đồ tỷ lệ gia tăng lượng nước thải từ các KCN và tỷ lệ gia tăng tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc 8 Hình 3 Vị trí địa lý thị xã Sông Công 13 Hình 4 Vị trí suối Văn Dương 30 Hình 5 Trên suối Văn Dương trước điểm tiếp nhận nước thải KCN Sông Công 31 Hình 6 Trên suối Văn Dương sau điểm tiếp nhận nước thải KCN Sông Công 31 Hình 7 Vị trí lấy mẫu nước thải và nước mặt trên suối Văn Dương 35 Hình 8 Biểu đồ diễn biến hàm lượng Zn trong nước thải KCN Sông Công qua các năm 49 Hình 9 Biểu đồ diễn biến hàm lượng NH4-N trong nước thải khu công nghiệp Sông Công qua các năm 49 Hình 10 Biểu đồ diễn biến hàm lượng TSS trong nước thải khu công nghiệp Sông Công qua các năm 50 Hình 11 Biểu đồ diễn biến hàm lượng Coliform trong nước thải khu công nghiệp Sông Công qua các năm 50
Trang 71
MỞ ĐẦU
Hiện nay Việt Nam là nước đang phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ đó đưa nước ta thành nước phát triển Các ngành công nghiệp của Việt Nam đang trên đà lớn mạnh, với rất nhiều ngành nghề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên mặt trái của nền công nghiệp phát triển đó chính là tình trạng ô nhiễm môi trường Hậu quả này gây ra ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí… khu vực sản xuất và xung quanh Việt Nam có rất nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất; các khu công nghiệp này đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế rõ ràng Tuy nhiên điều đáng nói nhất là tốc độ phát triển kinh tế “nóng” của các khu công nghiệp, khu chế xuất này đã kéo theo nhiều tác động tiêu cực đến môi trường Tại các khu công nghiệp công tác bảo vệ môi trường chưa được thực hiện đồng bộ, nước thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi xả thải, nhiều khu công nghiệp chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi được tái lập từ năm 1997 Mặc dù địa bàn có lợi thế nằm liền kề với thủ đô Hà Nội, nhưng Thái Nguyên vẫn được coi
là tỉnh có điểm xuất phát thấp Để tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội lãnh đạo tỉnh
đã chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp mà tập trung chủ yếu ở một số khu vực: Thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, khu vực Quang Sơn - La Hiên… Khu công nghiệp Sông Công là khu công nghiệp của tỉnh được hình thành từ cuối năm 1999 và được khởi công xây dựng vào năm 2000 Đây là khu công nghiệp hoạt động theo Nghị định 36/CP ngày 24/04/1997 của Chính phủ Theo quy hoạch được phê duyệt, khu công nghiệp có tổng diện tích là 320 ha, nằm kề bên quốc lộ 3, cách ga Lương Sơn 500m, cách cảng đường thuỷ Đa Phúc 17km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 45km [4]
Khu công nghiệp Sông Công I hiện đang hoạt động với 26 nhà máy xí nghiệp bao gồm các ngành: vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, lắp ráp bao bì, may mặc điện
tử, … (Bao gồm cả khu A và khu B) Góp phần đáng kể vào phát triển nền kinh tế của tỉnh, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương Tuy mới hình thành nhưng môi trường khu công nghiệp đang trở thành vấn đề khá bức xúc của vùng,
Trang 82
trong đó đáng quan tâm là nước thải khu công nghiệp Một lượng lớn nước thải sản xuất của các cơ sở sản xuất trong khu công nghiệp chưa được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn xả trực tiếp vào suối Văn Dương gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân
Xuất phát từ những vấn đề bức xúc trên, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng nước thải khu công nghiệp Sông Công đến chất lượng nước suối Văn Dương, tỉnh Thái Nguyên” nhằm đánh giá những ảnh hưởng của nước thải từ hoạt động sản
xuất công nghiệp khu công nghiệp Sông Công đến chất lượng nước nguồn tiếp nhận Từ có có những đề xuất nhằm hạn chế ảnh hưởng từ những hoạt động đó đến chất lượng nước suối Văn Dương
Trang 93
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nước và những vấn đề môi trường liên quan
Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử
dụng vào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt.[1]
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt
và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần đây Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảm nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền.[1]
Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm
bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người
và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên
Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, dưới tốc độ phát triển như hiện nay con người vô tình làm ô nhiễm nguồn nước bằng các hóa chất, chất thải từ các nhà máy,
xí nghiệp Các nhà máy xí nghiệp xả khói bụi công nghiệp vào không khí làm ô nhiễm không khí, khi trời mưa, các chất ô nhiễm này sẽ lẫn vào trong nước mưa cũng góp phần làm ô nhiễm nguồn nước
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước
Trang 104
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý
Các vấn đề môi trường liên quan tới tài nguyên nước:
Nước phân bố không đều trên bề mặt trái đất Lượng mưa ở sa mạc dưới 100mm/năm, trong khi ở nhiều vùng nhiệt đới (Ấn Độ) có thể đạt 5000mm/năm Do vậy, có nơi thiếu nước, hạn hán, trong khi nhiều vùng mưa lụt thường xuyên Các biến đổi khí hậu do con người gây ra đang làm trầm trọng thêm sự phân bố không đều tài nguyên nước trên trái đất
- Con người ngày càng khai thác và sử dụng nhiều hơn tài nguyên nước Lượng nước ngầm khai thác trên thế giới năm 1990 gấp 30 lần năm 1960 dẫn đến nguy cơ suy giảm trữ lượng nước sạch, gây ra các thay đổi lớn về cân bằng nước
- Nguồn nước đang bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người Ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, nước biển bởi các tác nhân như NO3, P, thuốc trừ sâu và hoá chất, kim loại nặng, các chất hữu cơ, các vi sinh vật gây bệnh v.v Do vậy, vấn đề đảm bảo nguồn nước sạch cho dân cư các vùng trên thế giới đang là nhiệm vụ hàng đầu của các tổ chức môi trường thế giới Trong khoảng từ năm 1980 - 1990, thế giới
đã chi cho chương trình cung cấp nước sạch khoảng 300 tỷ USD, đảm bảo cung cấp cho 79% dân cư đô thị, 41% dân cư nông thôn
Các tác nhân gây ô nhiễm nước có thể chia ra làm nhiều loại: Kim loại nặng (As, Pb, Cr, Sb, Cd, Hg, Mo, Al, Cu, Zn, Fe, Al, Mn ), anion (CN-, F-, NO3, Cl-,
SO4), một số hoá chất độc (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, Dioxin), các sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, ký sinh trùng).[13]
- Kim loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn trong cơ thể con người khi đạt liều lượng nhất định sẽ gây bệnh Một số kim loại có khả năng gây ung thư như Cr,
Cd, Pb, Ni
- Một số anion có độc tính cao điển hình là xyanua (CN-) Ion (F-) khi có nồng độ cao gây độc, nhưng ở nồng độ thấp làm hỏng men răng Nitrat (NO-
3) có thể chuyển thành (NO-
2) kích động bệnh methoglobin và hình thành hợp chất
Trang 115
nitrozamen có khả năng tạo thành bệnh ung thư Các ion (Cl-) và (SO
2-4) không độc nhưng nồng độ cao gây bệnh ung thư Các nhóm hợp chất phenon hoặc ancaloit độc với người và gia súc
- Các thuốc trừ sâu có khả năng tích luỹ chuỗi thức ăn gây độc Một số loại clo hữu cơ như 2,4D gây ung thư [13]
- Nhiễm độc chì:
Chì tích tụ trong xương và có thể được chẩn đoán nhiễm độc chì từ một dòng màu xanh xung quanh nướu răng Chì là đặc biệt có hại cho não phát triển của bào thai và trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai Chì cản trở sự trao đổi chất của canxi và Vitamin D dẫn nồng độ trong máu cao ở trẻ em có thể gây ra hậu quả có thể không thể đảo ngược bao gồm cả khuyết tật học tập, các vấn đề hành vi, và chậm phát triển tâm thần Ở mức độ rất cao, chì có thể gây co giật, hôn mê và tử vong [13]
1.2 Quản lý môi trường nước thải công nghiệp trong nước và trên thế giới
Ô nhiễm môi trường là vấn đề nghiêm trọng nhất mà nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt Các vấn đề ô nhiễm đã khiến người dân trên khắp trái đất phải đương đầu với nhiều bệnh dịch có sức tàn phá khủng khiếp
1.2.1 Quản lý môi trường nước thải công nghiệp trong nước
Tính đến tháng 10 năm 2009, toàn quốc đã có 223 KCN được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Trong đó, 171 KCN đã đi vào hoạt động, với tổng diện tích đất 57.264 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy trung bình khoảng 46%
Giai đoạn 2006-2015, theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, sẽ ưu tiên thành lập mới 115 KCN với tổng diện tích khoảng 26.400 ha và
mở rộng diện tích 27 KCN, nâng tổng diện tích KCN lên khoảng 70.000 ha, phấn đấu tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt khoảng 60%
Các KCN đã có nhiều đóng góp quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống người dân Riêng năm 2008, các KCN đã tạo giá trị sản xuất công nghiệp đạt hơn 33 tỷ USD (chiếm 38% GDP cả nước), giá trị xuất khẩu đạt trên 16 tỷ USD (chiếm gần 26%
Trang 126
tổng giá trị xuất khẩu cả nước), nộp ngân sách khoảng 2,6 tỷ USD tạo công ăn việc làm cho gần 1,2 triệu lao động.[5]
Hình 1 Đồ thị thể hiện tình hình phát triển KCN (thành lập theo Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ) thời gian qua [5]
Bảng 1 Tình hình phát triển KCN qua các năm 2006, 2007, 2008 [5]
Giá trị sản xuất kinh doanh/1ha diện tích đất
cho thuê (triệu USD)
Trang 137
* Áp lực môi trường từ hoạt động của các khu công nghiệp
Thực tiễn cho thấy, các KCN có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam Các KCN là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng, công nghiệp, tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, quá trình phát triển các KCN ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do chất thải, nước thải và khí thải công nghiệp
Ô nhiễm môi trường từ các KCN ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái tự nhiên Đặc biệt, nước thải không qua xử lý của các KCN xả thải trực tiếp vào môi trường gây thiệt hại không nhỏ tới hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại các khu vực lân cận Theo các chuyên gia môi trường, sự gia tăng nước thải từ các KCN trong những năm gần đây là rất lớn Lượng nước thải từ các KCN phát sinh lớn nhất ở khu vực Đông Nam Bộ, chiếm 49% tổng lượng nước thải các KCN và thấp nhất ở khu vực Tây Nguyên là 2% [7]
Xét về mặt môi trường, việc tập trung các cơ sở sản xuất trong KCN nhằm mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và năng lượng, khoanh vùng sản xuất công nghiệp vào một khu vực nhất định, tập trung nguồn thải, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và năng lượng, hiệu quả xử lý nguồn thải ô nhiễm và giảm thiểu tối đa ảnh hưởng ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất đối với cộng đồng sinh sống trong khu dân cư xung quanh Việc tập trung các cơ sở sản xuất trong các KCN góp phần nâng cao hiệu quả xử lý nước thải, chất thải rắn đồng thời, giảm chi phí đầu tư cho hệ thống xử lý, giảm chi phí xử lý môi trường trên một đơn vị chất thải Ngoài ra, công tác quản lý môi trường đối với các cơ sở sản xuất trong KCN cũng được thuận lợi hơn
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế trên, KCN khi được xây dựng và đi vào hoạt động đã bộc lộ những thách thức không nhỏ đối với môi trường
Nước thải từ các KCN có thành phần đa dạng, chủ yếu là các chất lơ lửng, chất hữu cơ và một số kim loại nặng Khoảng 70% trong số hơn 1 triệu m3
nước
Trang 148
thải/ngày từ các KCN được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nước mặt Chất lượng nước mặt tại những vùng chịu tác động của nguồn thải từ các KCN đã suy thoái [5]
Hình 2 Biểu đồ tỷ lệ gia tăng lượng nước thải từ các KCN và tỷ lệ gia tăng tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc [5]
* Đặc trưng nước thải khu công nghiệp
Thành phần nước thải của các KCN chủ yếu bao gồm các chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ (thể hiện qua hàm lượng BOD, COD), các chất dinh dưỡng và kim loại nặng Thành phần nước thải phụ thuộc vào ngành nghề của các cơ sở sản xuất trong KCN
Bảng 2 Đặc trưng nước thải một số ngành công nghiệp (trước xử lý) [5]
Ngành công nghiệp Chất ô nhiễm chính Chất ô nhiễm phụ
Chế biến đồ hộp, thủy sản,
rau quả, đông lạnh
BOD, COD, pH, SS Màu, tổng P, N
Chế biến nước uống có cồn,
bia, rượu
BOD, pH, SS, N, P TDS, màu, độ đục
Chế biến thịt BOD, pH, SS, độ đục NH4+, P, màu
Trang 15đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn thấp Nhiều doanh nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ nhưng không vận hành hoặc vận hành không hiệu quả Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả thải ra môi trường đều có các thông số
ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với QCVN Chính nguồn nước này là nguyên nhân gây ô nhiễm hệ thống nước sông suối ao hồ, làm cho tình trạng ô nhiễm sông suối ngày càng trầm trọng hơn.[5]
1.2.2 Quản lý môi trường nước thải công nghiệp trên thế giới
Vấn đề ô nhiễm nước là một trong những thực trạng gây hủy hoại môi trường
tự nhiên do hoạt động của con người Môi trường nước rất dễ bị ô nhiễm, các ô nhiễm từ đất, không khí đều có thể làm ô nhiễm nước, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người và các sinh vật khác
Theo Viện Nước quốc tế Xtốc-khôm (SIWI), cơ quan tổ chức sự kiện này, tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang gia tăng ở mọi nơi trên Trái đất, với trung bình mỗi
Trang 1610
ngày khoảng hai triệu tấn chất thải sinh hoạt bị đổ ra sông, hồ và biển Nghiêm trọng nhất là tại các nước đang phát triển, có đến 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước, khiến nguồn nước cho sinh hoạt con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Tại một số nước, có tới một nửa số bệnh nhân phải vào điều trị tại bệnh viện là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp vì thiếu nước và các bệnh liên quan đến nước Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm Tại các diễn đàn ở Xtốc-khôm, đại diện nhiều nước châu Phi báo động về thảm cảnh khan hiếm nước tại lục địa này Nguồn nước ở đây vừa rất thiếu, lại rất thừa và bị ô nhiễm nặng nề do rác thải và sử dụng các chất hóa học vô tội vạ Rất nhiều nước lãng phí nguồn tài nguyên này do không có khả năng và kế hoạch "tích
trữ nước" [13]
Do sự đồng nhất của môi trường nước, các chất gây ô nhiễm gây tác động lên toàn bộ sinh vật ở dưới dòng, đôi khi cả đến vùng ven bờ và vùng khơi của biển Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với tốc độ lớn + Nước Anh: Đầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch Tuy nhiên đến nay dòng sông đã trở nên ô nhiễm do hoạt động sản xuất sinh hoạt của con người
+ Nước Pháp: Cuối thế kỷ 18 các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp đã bị ô nhiễm
+ Hoa Kỳ: Vùng Đại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng
+ Ngày 13/1/2005, vụ nổ nhà máy hóa dầu ở thành phố Cát Lâm (Trung Quốc) gây ô nhiễm sông Tùng Hoa với chất benzen, mức độ ô nhiễm dầu gấp 50 lần mức độ cho phép
+ Tại Nhật Bản: Nước thải từ Công ty Chisso không qua xử lý đổ thẳng vào sông suối có hàm lượng lớn thủy ngân hữu cơ độc hại gây ảnh hưởng đến chất lượng nước và sinh vật sống trong nước
Trang 1711
1.3 Vấn đề môi trường khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên
Theo quy hoạch, toàn tỉnh Thái Nguyên có 25 khu, cụm công nghiệp, trong
đó KCN Sông Công 1 thu hút được 68 dự án đầu tư, 1 số khu, cụm công nghiệp đã kết thúc giai đoạn đầu tư bắt đầu đi vào hoạt động.[8]
Việc xử lý chất thải tại các khu, cụm công nghiệp hầu hết còn manh mún, tự phát, chưa có thiết kế quy hoạch chi tiết và xây dựng kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường của từng KCN nên việc xử lý ô nhiễm không đáp ứng được các tiêu chuẩn
về bảo vệ môi trường Trong những năm gần đây, số lượng doanh nghiệp tăng lên rất nhanh, từ chỗ 200 - 300 doanh nghiệp, đến nay đã tăng lên hơn 2.000 doanh nghiệp Việc phát triển các cơ sở sản xuất nhanh chóng đã tạo sức ép lên môi trường Nhiều doanh nghiệp không thực hiện các biện pháp xử lý gây ô nhiễm môi trường Theo báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Thái Nguyên, tổng lượng nước thải của ngành luyện kim, cán thép, chế tạo thiết bị máy móc khoảng 16.000 m3/ngày.[8] Hoạt động sản xuất gang thép phát sinh nước thải có chứa nhiều chất ô nhiễm độc hại như dầu mỡ, phenol và xianua từ quá trình cốc hóa Tại KCN Sông Công (nằm trên thị xã Sông Công với các nhà máy sản xuất cơ khí, chế tạo máy động lực), mặc dù KCN này hoạt động từ năm 2001 nhưng mới chỉ lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường Nước thải chưa được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn chảy thẳng ra suối Văn Dương, khiến nước suối bị ô nhiễm kim loại và nhiều hợp chất hữu cơ Tại thời điểm nghiên cứu đề tài (tháng 6/2011) hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp đang trong giai đoạn xây dựng và chưa đi vào vận hành
1.4 Ảnh hưởng của việc nguồn nước bị ô nhiễm
Ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp nói chung và KCN nói riêng đã gây tác động xấu tới các hệ sinh thái tự nhiên Đặc biệt nước thải sản xuất không qua xử lý, xả thải trực tiếp vào môi trường gây ra những thiệt hại đáng
kể tới sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại các khu vực lân cận
Mặt khác, ô nhiễm môi trường này đã làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động tại chính KCN và cộng đồng dân cư sống
Trang 1812
gần đó Đáng báo động là tỷ lệ này có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây
và gây ra những tổn thất kinh tế không nhỏ
+ Tổn thất tới HST, năng suất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Sông suối là nguồn tiếp nhận và vận chuyển các chất ô nhiễm trong nước thải từ các KCN và các cơ sở sản xuất kinh doanh Nước thải chứa chất hữu cơ vượt quá giới hạn cho phép sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng, làm giảm lượng oxy trong nước, các loài thủy sinh bị thiếu oxy dẫn đến một số loài bị chết hàng loạt Sự xuất hiện các độc chất như dầu mỡ, kim loại nặng, các loại hóa chất trong nước sẽ tác động đến động thực vật thủy sinh và đi vào chuỗi thực ăn trong hệ thống sinh tồn của các loài sinh vật, cuối cùng sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Sự axit hoá: Sự axit hoá của nước bề mặt, chủ yếu là hồ nước và hồ chứa, là một trong những tác động môi trường của các chất ô nhiễm không khí như SO2 từ các nhà máy điện, công nghiệp nặng khác như nhà máy thép Vấn đề này đặc biệt nghiên trọng ở nước Mỹ và các nước châu Âu [20]
+ Gia tăng gánh nặng bệnh tật
- Tổn thất kinh tế do gia tăng gánh nặng bệnh tật:
Theo con số thống kê từ năm 1976 đến 1990 ở nước ta mới chỉ có 5.497 trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp, nhưng đến 2004 số người mắc bệnh đã tăng lên gấp 3 lần với tổng số 21.597 người Dự báo số người mới mắc bệnh nghề nghiệp đến năm 2010 ra trên 30 ngàn Tổng số tiền chi cho trợ cấp bệnh nghề nghiệp từ 2000-2004 là hơn 50 tỷ đồng [9]
Ô nhiễm nước mặt do hoạt động sản xuất công nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân sử dụng nguồn nước ngày Khoảng năm 1956, căn bệnh Minamatta xảy ra ở Nhật gây bệnh cho khoảng 14.000 dân vùng biển Yatsushiro và lưu vực sông Agano do methyl thủy ngân trong nước thải công nghiệp [21]
Mỗi năm, trên thế giới ước tính có đến 4 tỷ ca tiêu chảy dẫn đến cái chết của 2,2 triệu người, hầu hết là trẻ em dưới 5 tuổi, cộng thêm hàng triệu ca ốm đau bệnh tật liên quan đến thiếu nước dùng an toàn Sức khỏe con người bị tác động nghiêm
Trang 1913
trọng bởi những bệnh dịch do nước gây ra cũng như các hóa chất ô nhiễm xả vào trong nguồn nước
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thị xã Sông Công
1.5.1 Điều kiện tự nhiên
Hình 3 Vị trí địa lý thị xã Sông Công
THỊ XÃ SÔNG CÔNG
Trang 2115
1.5.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình Sông Công tương đối bằng phẳng, nằm trên vùng đồi thấp xen kẽ đồng bằng, dốc dần từ Bắc xuống Nam, Tây sang Đông Độ cao trung bình so với mặt nước biển dao động từ 16 đến 18m [12]
Thị xã Sông Công thuộc vùng trung du Bắc Bộ, được dòng sông Công chia thành hai khu vực là phía Đông và phía Tây:
- Khu vực phía Đông: Thuộc nhóm địa hình đồng bằng xen lẫn gò đồi nhỏ và thấp, có diện tích lớn hơn phần phía Tây Độ cao trung bình của khu vực này là 25 ÷ 30m, phân bố dọc theo thung lũng sông Bao gồm các đơn vị hành chính là xã Bá Xuyên, xã Tân Quang, phường Lương Châu, phường Mỏ Chè, phường Thắng Lợi, phường Cải Đan, phường Phố Cò
- Khu vực phía Tây: Thuộc nhóm địa hình gò đồi và núi thấp Nhóm cảnh quan này khá đặc trưng cho khu vực chân núi Tam Đảo, địa hình đồi dạng bát úp với độ cao 80 ÷ 100m Một số đồi cao, đỉnh hẹp, độ cao trung bình trên 150m Một
số núi thấp có độ cao trung bình trên 300m phân bố dọc ranh giới phía Tây của thị
xã, trên địa bàn hai xã Bình Sơn và Vinh Sơn Ngoài ra, khu vực này còn có đồng bằng thung lũng nhỏ tập trung chủ yếu ở gần các suối [17]
1.5.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn
Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng đến sự lan truyền và chuyển hóa các chất ô nhiễm trong không khí; đồng thời nó có liên quan đến quá trình bay hơi của các chất hữu cơ Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí là những yếu tố gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe người lao động và môi trường xung quanh Tại khu vực Sông Công nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là:
+ Nhiệt độ trung bình năm: 23,8 o
C
+ Nhiệt độ cao nhất trung bình của tháng nóng nhất: 29,1oC (tháng 7) + Nhiệt độ thấp nhất trung bình của tháng lạnh nhất: 16,1oC (tháng 1).[14]
Trang 2216
* Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí là một trong những yếu tố cần thiết khi đánh giá mức độ tác động tới môi trường không khí của khu vực Đây là tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát tán, lan truyền các chất gây ô nhiễm
Tại khu vực có:
- Độ ẩm tương đối trung bình tháng của không khí: 81,5%
- Độ ẩm tương đối trung bình tháng lớn nhất (tháng 3): 85,3%
- Độ ẩm tương đối trung bình tháng thấp nhất (tháng 11): 77,2% [14]
* Lượng mưa
Mưa có tác dụng làm sạch môi trường không khí và pha loãng chất thải lỏng, nó kéo theo các hạt bụi và hòa tan một số chất độc hại trong không khí rồi rơi xuống đất, có khả năng gây ô nhiễm đất và ô nhiễm nước
Lượng mưa trên toàn khu vực được phân bổ theo 2 mùa: mùa mưa kéo dài
từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tăng dần từ đầu mùa tới giữa mùa đạt tới cực đại vào tháng 7, tháng 8 (tháng nhiều bão nhất trong vùng), mùa khô (ít mưa) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1720,2 mm
- Số ngày mưa trong năm: 150 - 160 ngày
- Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất: 341,1mm (tháng 7)
- Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất: 21,3 mm (tháng 12)
- Cường độ mưa trung bình lớn nhất: 80 – 100 mm/h.[14]
* Tốc độ gió và hướng gió
Gió là yếu tố khí tượng cơ bản có ảnh hưởng đến sự lan truyền các chất
ô nhiễm trong khí quyển và làm xáo trộn các chất ô nhiễm trong nước Tốc độ gió càng cao thì chất ô nhiễm trong không khí càng lan tỏa xa nguồn ô nhiễm
và nồng độ chất ô nhiễm càng được pha loãng bởi không khí sạch Ngược lại khi tốc độ gió càng nhỏ hoặc không có gió thì chất ô nhiễm sẽ bao chùm xuống mặt đất tại chân các nguồn thải làm cho nồng độ chất gây ô nhiễm trong không khí xung quanh nguồn thải sẽ đạt giá trị lớn nhất
Trang 23- Số giờ nắng trong năm: 1.300 - 1.750 giờ/năm
- Số giờ nắng trong ngày: 4 - 5 giờ/ngày
- Bức xạ: Lượng bức xạ bình quân: 125,4 Kcal/cm2
* Thủy văn:
Thị xã Sông Công có dòng chảy bề mặt lớn nhất là dòng sông Công Sông Công có độ dài 95km, bắt nguồn từ núi Ba Lá (Định Hóa) là nguồn cung cấp nguồn nước sinh hoạt cũng như sản xuất cho khu công nghiệp và toàn thị xã
Bên cạnh đó, trên địa bàn thị xã còn có nhiều nhánh sông, suối là phụ lưu của sông Công như: suối Thu Quang phía Nam xã Vinh Sơn dài trên 4 km, suối Cầu Gáo dài 2,5 km, suối Văn Dương, suối La Đan, Tân Tiến, và hệ thống kênh dẫn từ
hồ Núi Cốc chảy qua địa bàn tạo nên mạng lưới sông ngòi phức tạp của thị xã Ngoài ra, thị xã còn có các hồ, đầm lớn như: hồ Ghềnh Chè (82 ha), hồ Núc Nác (4,5 ha), đầm Cổ Rắn (6,2 ha)
* Nước dưới đất:
- Mực nước ngầm thường xuất hiện ở độ sâu 4 - 5m
- Địa tầng địa chất thủy văn của khu công nghiệp Sông Công từ trên xuống gồm có phức hệ chứa nước lỗ hổng các trầm tích đệ tứ và nước trong các đới nứt nẻ của đá gốc
+ Nước trong các trầm tích đệ tứ gồm:
Trang 2418
Các trầm tích tầng trên cùng được tạo thành bởi sét pha lẫn sỏi sạn dày từ 25-30m, mực nước tĩnh dao động từ 5 - 14m Lưu lượng từ 0,1 - 2,61 l/sm, nguồn cung cấp là nước mưa và nước mặt
Lớp cách nước là lớp sét, sét pha và bùn sét, dày 5 - 15m, khả năng thấm nước kém, có thể coi là lớp cách nước giữa nước mặt, nước ngầm với nước trong tầng cuội sỏi nằm dưới
Tầng chứa nước cuội sỏi nằm trên đất đá Neogen, thành phần đất đá chứa nước gồm các hạt thô, cuội sỏi dày 10 - 15m Nguồn cung cấp cho tầng chứa nước này là nước mưa, nước mặt nơi tầng sỏi cuội lộ ra Nước có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định, có giá trị cấp nước cho khu vực
+ Nước trong đá gốc: Nằm dưới lớp phủ đệ tứ là các đá có tuổi Trias, có khả năng chứa nước kém, nước chỉ chứa trong các đới nứt nẻ do phá hủy kiến tạo, phong hóa Không có triển vọng để cung cấp nước quy mô công nghiệp [2]
1.5.2 Điều kiện kinh tế xã hội
1.5.2.1 Điều kiện kinh tế
Kinh tế của thị xã Sông Công liên tục phát triển với mức tăng trưởng khá cao Tốc độ tăng trường kinh tế bình quân 5 năm (2005-2010) đạt 19,19% trong đó công nghiệp và xây dựng cơ bản tăng 26,5%; thương mại dịch vụ tăng 17%; nông - lâm nghiệp tăng 3,5% [6] Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.[16]
a) Tình hình sản xuất nông nghiệp
Về trồng trọt: Do diễn biến phức tạp của thời tiết, sâu bệnh phát sinh đã ảnh
hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp tại các địa phương Uỷ ban nhân dân thị xã đã chỉ đạo ngành nông nghiệp phối hợp với các ngành liên quan và Uỷ ban nhân dân các xã, phường triển khai đồng bộ các giải pháp, phấn đấu gieo trồng hết diện tích, thực hiện chăm sóc và bảo vệ cây trồng Tổng sản lượng lương thực cây có hạt ước đạt 17.165 tấn, bằng 104 % kế hoạch tỉnh giao, bằng 100,9 % kế hoạch thị xã, tăng 2 %
so với năm 2008; sản lượng một số cây hoa màu đạt khá so với kế hoạch tỉnh giao [16]
Trang 2519
Về chăn nuôi: Cuối tháng 4 năm 2009 ngay sau khi phát hiện dịch cúm gia
cầm tái phát ở phường Cải Đan, Ủy ban nhân dân thị xã đã chỉ đạo các cơ quan chức
năng phối hợp, thực hiện nghiêm các biện pháp phòng chống, khoanh vùng và dập
dịch kịp thời tiêu huỷ 19.191 con gia cầm nhiễm dịch và 4.996 quả trứng Công tác
tiêm phòng, kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm soát giết mổ được các địa phương triển
khai thực hiện tốt; đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định
b) Sản xuất công nghiệp và thu hút đầu tư
Tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 2009 (theo giá thực tế)
ước đạt 2.651,9 tỷ đồng, tăng 19,29% so với năm 2008 Trong đó công nghiệp quốc
doanh trung ương 1.009,4 tỷ đồng, tăng 10,13% so với năm 2008; công nghiệp quốc
doanh địa phương 330 tỷ đồng, tăng 26,55% so với năm 2008; công nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài 112,6 tỷ đồng, tăng 5,86% so với năm 2008; công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp địa phương 1.199,9 tỷ đồng, tăng 27,72% so với năm 2008 [16]
Thu hút đầu tư trên địa bàn có nhiều chuyển biến tích cực Tổng số dự án đã thu hút
và vận động đầu tư trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp là 8 dự án, vốn đăng ký đầu
tư 473,6 tỷ đồng
b) Hoạt động thương mại - dịch vụ
Hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn tiếp tục phát triển
Tổng giá trị sản xuất ước đạt 700 tỷ đồng tăng 19,05% so với năm 2008 [16] Công
tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được duy trì góp phần ổn định thị trường, đảm
bảo lợi ích cho người tiêu dùng
1.5.2.2 Điều kiện xã hội
a) Tình hình dân số
Tổng dân số thị xã là 50.000 người, trong đó dân số nam là 25.795 người
(chiếm 51,59%); nữ là 24.205 người (chiếm 48,41%); dân số khu vực thành thị
26.600 người (chiếm 53,2%), khu vực nông thôn 23.400 người (chiếm 46,8%) [19]
Công tác dân số và kế hoạch hóa đã được các cấp, các ngành và các địa phương tập
trung quan tâm Chỉ đạo thực hiện tốt chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế
hoạch hoá gia đình tại các xã, phường Năm 2009 tỷ suất sinh thô ước thực hiện
Trang 2620
15,60/00, giảm 1,140
/00 so với kế hoạch (chỉ tiêu tỉnh giao giảm 0,20/00); số người sinh con thứ 3 là 17, giảm 7 người so với năm 2008 [19]
b) Giáo dục - đào tạo
Triển khai thực hiện tốt các cuộc vận động do Bộ và Sở Giáo dục - Đào tạo phát động Hoàn thành mục tiêu nhiệm vụ năm học 2008 – 2009, triển khai nhiệm
vụ năm học 2009 - 2010 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên các cấp học luôn được quan tâm Thực hiện Đề án kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên, năm 2009 xây dựng được 32 phòng học cao tầng và 35 gian nhà công vụ cho giáo viên Công nhận thêm 4 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó 100% trường Tiểu học đạt trường chuẩn quốc gia mức độ 1 Năm học 2008 - 2009 ngành giáo dục thị xã xếp thứ 3 trong toàn tỉnh [16]
c) Về y tế
Công tác kiểm soát dịch bệnh và thực hiện các chương trình y tế quốc gia
được thực hiện theo kế hoạch Các cơ sở y tế trên địa bàn tiếp tục đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cùng với đội ngũ thầy thuốc có trình độ đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Tính đến nay toàn thị
xã có 5/9 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn 14,9% giảm 1,6% so với năm 2008.[19]
d) Công tác lao động và thực hiện chế độ chính sách xã hội
Triển khai thực hiện đồng bộ các chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm và các chế độ chính sách xã hội Năm 2009 hỗ trợ hộ nghèo xoá được 15 nhà dột nát; xây mới 4 nhà tình nghĩa; tỷ lệ hộ nghèo còn 6,03%, giảm 3,48% so với cuối năm 2008; giải quyết việc làm cho 1.115 lao động, đạt 111,5% kế hoạch; đào tạo nghề cho 698 lao động, đạt 155% kế hoạch Tổ chức thực hiện tốt các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi, tặng quà, cứu trợ, chi trả trợ cấp kịp thời đến các đối tượng người có công và đối tượng thuộc diện chính sách xã hội theo quy định Thực hiện hỗ trợ 30 hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ, ngân sách thị xã hỗ trợ 242 triệu đồng.[6]
Trang 27Dân số trung bình (Người)
Mật độ dân
số (Người/Km 2
) Chia theo xã, phường 83,64 131 50.000 598
Qua bảng 6 ta thấy Sông Công là khu công nghiệp tập trung nhiều nhà máy
xí nghiệp thu hút nhiều lao động trong tỉnh và ngoài tỉnh vì vậy mà dân số khá cao, góp phần phát triển kinh tế xã hội của toàn thị xã
1.5.2.3 Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật
Trên địa bàn thị xã hệ thống giao thông nội thị xã đã được đầu tư cải tạo và
xây dựng theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong và ngoài thị
xã
- Đường bộ: Đoạn đường Quốc lộ 3 nối Hà Nội với Thái Nguyên chạy qua phía Đông của thị xã Sông Công có chiều dài 7km Hệ thống đường giao thông nội thị đạt tiêu chuẩn cấp một gồm: Đường Cách Mạng Tháng Mười nối từ nhà máy Diezel với Quốc lộ 3 chiều dài toàn tuyến là 6km lộ giới quy hoạch là 41m, đây là tuyến đường chính của khu công nghiệp, các lô nhà máy sẽ được quy hoạch bám sát trục đường này Các lô nhà máy còn lại được tổ chức bám theo các trục đường nhánh dạng xương cá, nhìn chung giao thông nội thị đã đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân Hàng năm thị xã đã phối hợp với ngành chủ quản tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống giao thông của thị xã ngày càng hoàn thiện và đồng bộ hơn như:
Trang 2822
đường Thống Nhất đoạn từ ngã tư Việt Đức đi trung đoàn 209, đường 262 và nhiều tuyến đường liên xã, phường thực hiện theo nguồn vốn đối ứng từ nguồn thu tiền cấp quyền sử dụng đất
- Đường sắt: Đường sắt Hà Nội - Quán Triều chạy qua phía Nam của thị xã Sông Công, tại ga Lương Sơn có ga hành khách
- Thuỷ lợi: Đảm bảo tưới tiêu phục vụ kịp thời sản xuất nông nghiệp, hàng năm thường xuyên triển khai nạo vét kênh mương nội đồng đạt 100% kế hoạch
- Hệ thống cấp nước: Công ty TNHH một thành viên kinh doanh nước sạch Sông Công được xây dựng từ năm 1978, công suất thiết kế 30.000m3/ ngày đêm Cung cấp nguồn nước sinh hoạt và sản xuất của toàn thị xã
- Hệ thống cấp điện: Nguồn điện cấp cho thị xã được lấy từ lưới điện quốc gia thông qua trạm hạ thế 110/36/6KVA [16]
1.5.2.4 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn thị xã Sông Công
Thị xã Sông Công thuộc tỉnh Thái Nguyên nằm trong vùng trung du miền núi phía Bắc, địa hình tương đối bằng phẳng xen kẽ nhiều quả đồi bát úp Phần lớn toàn
bộ diện tích của thị xã đã được đưa vào sử dụng phục vụ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, đất ở và vui chơi giải trí của người dân thị xã
Đất trên địa bàn thị xã Sông Công gồm các nhóm chính sau:
- Nhóm đất phù sa gồm: Đất phù sa không được bồi đắp hằng năm; đất phù sa ngòi suối; đất phù sa có tầng loang lổ; đất phù sa glay Nhóm đất phù sa có tầng đất mặt dày, độ phì tốt phù hợp với phát triển cây lúa, cây hàng năm và cây công nghiệp ngắn ngày song cần đầu tư thủy lợi, cải tạo đất
- Nhóm đất dốc tụ gồm: Đất dốc tụ trồng lúa nước không bạc màu; đất dốc tụ trồng lúa nước bạc màu; đất thung lũng biến đổi do không trồng lúa nước; đất thung lũng biến đổi do trồng lúa nước bị bạc màu Nhóm đất dốc tụ thích hợp với các loại cây màu, các cây hàng năm, cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả hoặc trồng cỏ chăn nuôi
- Nhóm đất đỏ vàng - nâu vàng (đại diện cho đất khu vực gò đồi) gồm: Đất nâu vàng - đỏ vàng trên phiến thạch sét tầng dày; đất nâu vàng - đỏ vàng trên phiến
Trang 2923
thạch sét tầng trung bình; đất nâu vàng - đỏ vàng trên nền phù sa cổ có tầng dày; đất nâu vàng - đỏ vàng trên nền phù sa cổ có tầng trung bình Nhóm đất này thích hợp trồng các cây lâm nghiệp như thông, bạch đàn, keo lá tràm; cây công nghiệp lâu năm; cây ăn quả như chè, nhãn, vải.[17]
Cơ cấu sử dụng đất của thị xã được thể hiện trong bảng 4
Bảng 4 Cơ cấu sử dụng đất của thị xã Sông Công năm 2009 [19]
Tổng diện tích đất theo địa giới hành chính
Chia ra
Đất Nông nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất nuôi trồng Thuỷ sản Đất ở
Đất chuyên dùng (*)
Đất chƣa
sử dụng TỔNG SỐ 8,364 4339.58 1762.99 122.54 355.35 1673.3 110.04
1- Xã Tân Quang 1,959 1184.05 249.05 24.13 69.38 427.34 5.05 2- Xã Bá Xuyên 954.82 534.45 191.58 8.86 23.86 193.84 2.23 3- Xã Bình Sơn 2,800 1218.59 912.89 56.99 115.14 430.17 66.22 4- Xã Vinh Sơn 827 328.84 359.53 3.81 13.98 100.17 20.67 5- Phường Lương Châu 230 148.42 2.79 3.15 12.76 58.15 4.73
7- Phường Thắng lợi 430 251.31 9.9 5.7 30.45 124.83 7.81 8- Phường Cải Đan 533 335.49 23.55 7.56 27.81 135.89 2.7 9- Phường Phố Cò 465 277.6 13.7 7.48 29.29 136.3 0.63
Trang 3024
1.5.2.5 Hiện trạng khu công nghiệp Sông Công
Theo Quyết định số 58/2007/QĐ-TTg ngày 04/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, thị xã sông Công có 02 Khu công nghiệp là Khu công nghiệp sông Công I (thuộc phường Mỏ Chè và xã Tân Quang) với diện tích là 220ha và Khu công nghiệp sông Công II (thuộc xã Tân Quang) với diện tích là 250ha
Khu công nghiệp sông Công I đã được thành lập theo Quyết định số 181/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, với tổng diện tích là 320ha, sau điều chỉnh là 220ha Diện tích giai đoạn I là 69,37ha, giai đoạn II là 99,21 ha và giai đoạn III là 85ha Hiện nay, mới có Khu công nghiệp sông Công I giai đoạn I bao gồm hai khu là Khu A và Khu B đi vào hoạt động Khu công nghiệp sông Công II đang tiến hành lập Quy hoạch chi tiết
Khu công nghiệp Sông Công I hiện đã thu hút được 68 dự án, trong đó 26 dự
án đang hoạt động, các dự án còn lại đang trong quá trình chờ giao đất giải phóng mặt bằng, trong đó có 26 dự án đang hoạt động
- Khu A là khu vực phía trong, phía Bắc là nhà máy Diezen Sông Công và đường Cách Mạng tháng 10, phía Tây giáp con đường qua công ty Phụ Tùng số 1, phía Nam giáp với đường Thắng Lợi và phía Đông là con đường rải cấp phối thuộc phường Mỏ Chè có diện tích 39,07 ha, địa hình tương đối bằng phẳng, dân cư đông đúc Bao gồm các ngành công nghiệp chế tạo cơ khí, luyện kim đen và luyện kim màu, sản xuất thép, chế tạo toa xe và phụ tùng, thiết bị điện và lắp ráp, chế tạo dụng
cụ y tế
- Khu B là khu vực phía ngoài nằm dọc hai bên đường Cách mạng Tháng 10 (từ Quốc lộ 3 đến kênh tưới nước thủy văn) Địa hình bằng phẳng xen kẽ nhiều quả đồi bát úp độ cao 6 - 10m và các thửa ruộng Cao độ nền trung bình dao động từ 15,0 - 17,0 m; không có nhiều núi cao Khu B có diện tích 30,29 ha bao gồm các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thổ sản, lương thực thực phẩm và các cây công nghiệp.[10]
Trang 3125
Khu công nghiệp Sông Công nằm trong chiến lược phát triển của vùng công nghiệp xung quanh thủ đô Hà Nội giữ một vai trò hết sức quan trọng là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Là vị trí trung chuyển giữa Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, với vị trí và điều kiện tự nhiên như vậy có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế xã hội
Bảng 5 Các doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp Sông Công
I Các doanh nghiệp thuộc khu B
1 HTX Công nghiệp & Vận tải Chiến
Công
Sản xuất kết cấu thép chủ yếu nước thải sinh hoạt
2 Công ty CP sản xuất phân bón Thái
Nguyên Sản xuất phân bón nguồn thải chủ yếu là khí thải
3 Nhà máy kẽm điện phân Nguồn thải chủ yếu là nước thải, khí thải
cả 2 loại trên đều có nồng độ axít vượt nhiều lần cho phép
4 Công ty TNHH Hương Đông Đúc phôi thép hệ thống nước thải làm
mát tuần hoàn
5 Công ty CP thép Thái Nguyên Đúc phôi thép hệ thống nước thải làm mát
tuần hoàn
6 Nhà máy gạch ốp lát Việt ý Sản xuất gạch nát nền
7 Cty CP pin quốc gia Sản xuất pin
8 Bưu điện Thái Nguyên Loại hình dịch vụ
15 Công ty xăng dầu Bắc Thái Loại hình dịch vụ
16 Công ty CP thép Toàn Thắng Đúc phôi thép hệ thống nước thải làm mát tuần
Trang 3226
ồn
19 Nhà máy luyện Feromangan Luyện feromangan
20 Công ty cổ phần giấy sông Công Sản xuất giấy, chưa có hệ thống xử lý
nước thải
21 Nhà máy luyện thép sông Công Đúc phôi thép hệ thống nước thải làm mát tuần
hoàn
Các doanh nghiệp thuộc khu A
1 Nhà máy cốp pha thép Thái Hưng Sản xuất cốp pha thép nguồn thải chủ yếu
3 Công ty TNHH Hiệp Hương
4 Công ty CP đầu tư & thương mại
Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải của khu công nghiệp sông Công hiện tại
1/ Tổng lượng chất thải phát sinh tại Khu công nghiệp sông Công I (nước thải, khí thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại)
- Nước thải: Tổng lượng nước thải của Khu công nghiệp sông Công I là 30.000m3/tháng Lượng nước thải trung bình là 1000 m3/ngày, lưu lượng xả lớn nhất là 1.200m3/ngày, thấp nhất là 800m3/ngày Toàn bộ nước thải đã được thu gom
và xử lý tại hệ thống xử lý tập trung của Khu công nghiệp
Trang 3327
- Chất thải rắn: Tổng lượng chất thải rắn của Khu công nghiệp sông Công khoảng 500 tấn/tháng, gồm các loại chính là xỉ than, xỉ lò luyện, gạch vỡ Hiện nay, một phần chất thải rắn được các doanh nghiệp tự xử lý bằng các hình thức tái sử dụng, bán, dùng làm giải cấp phối giao thông nội bộ, phần còn lại được lưu giữ trong khuôn viên của các doanh nghiệp
- Chất thải rắn sinh hoạt: Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của Khu công nghiệp sông Công khoảng 5 tấn/tháng Hiện Công ty phát triển hạ tầng đã thu gom theo Hợp đồng và vận chuyển đến bãi rác của huyện Phổ Yên để xử lý
- Khí thải: Các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp sông Công có phát sinh khí thải đã xây dựng hệ thống thu gom và xử lý khí thải trước khi thải ra ngoài môi trường Các công nghệ xử lý bụi và khí thải chủ yếu là: Hệ thống lọc bụi cyclon kết hợp lọc bụi túi vải; Hệ thống lọc bụi và hấp thụ khí thải bằng tháp nước
- Chất thải nguy hại: Chất thải nguy hại của các doanh nghiệp chủ yếu là giẻ dính dầu, dầu mỡ thải, bóng đèn hỏng, bã thải của Nhà máy kẽm điện phân… Lượng chất thải nguy hại này hiện đang được các doanh nghiêp tự thu gom và lưu giữ
2/ Thực trạng thu gom và xử lý chất thải tại Khu công nghiệp
- Về công trình xử lý nước thải: KCN Sông Công I giai đoạn I đã được đầu
tư tương đối đồng bộ về kết cấu hạ tầng BVMT, hệ thống thoát nước mưa, nước thải đã được xây dựng đến từng doanh nghiệp Hệ thống thoát nước mưa và nước thải tại Khu công nghiệp được thu gom qua hệ thống cống rãnh riêng trước khi thải
ra ngoài môi trường Cụ thể, đối với hệ thống thu gom nước thải:
- Khu A: Nước thải sẽ được thu theo tuyến cống riêng chảy về trạm xử lý nước thải 1 đặt ở góc Tây Nam của Khu công nghiệp Nước thải sau xử lý sẽ được xả ra kênh thoát nước chảy ra sông Công
- Khu B: Hệ thống xử lý nước thải tập trung đã được đầu tư và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 9 năm 2011 Công suất xử lý của hệ thống là 2000 m3/ngày đêm Hiện tại hệ thống vận hành đạt 50% công suất Nước thải sau xử lý sẽ được thải ra ngoài môi trường (suối Văn Dương) theo cửa xả số 1, còn nước mưa chảy tràn và thoát
Trang 3428
nước bề mặt sẽ được tập trung vào cống chung và thải qua cửa xả số 2 ra suối Văn Dương, sau đó đổ ra sông Cầu tại xã Đông Cao, huyện Phổ Yên
Hiện nay, toàn bộ các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp sông Công I (khu B)
đã thực hiện xả nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp, tuy nhiên chỉ có 03 doanh nghiệp thực hiện xả thải có hợp đồng xử lý, có thiết kế điểm đấu nối, có đồng hồ đo lưu lượng Các doanh nghiệp còn lại (23 doanh nghiệp) xả thải vào hệ thống xử lý còn thiếu đồng hồ đo lưu lượng và hợp đồng xử lý do đó không kiểm soát được lượng nước thải cũng như chất lượng nước thải của từng đơn vị trước khi vào xả vào hệ thống xử lý tập trung
Mặt khác, trạm xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp hiện tại chưa
xử lý được các kim loại nặng trong nước thải đạt QCVN 40:2011/BTNMT (cột B) khi thải ra môi trường Để xử lý được các chỉ tiêu kim loại trong nước thải đạt quy chuẩn cho phép, Ban quản lý các KCN đã có văn bản số 362/BQL-QH&MT ngày 16/7/2012 xin chủ trương của UBND tỉnh cho phép lập dự án đầu tư xây dựng modul
xử lý hóa lý [3]
1.6 Đặc điểm suối Văn Dương
Suối Văn Dương là suối nhỏ chảy qua địa phận xã Tân Quang có độ rộng trung bình từ 3-6m, lòng suối có độ dốc vừa phải chảy theo hướng Đông Nam và thấp hơn mặt bằng chung khoảng 1,5 - 2m và có nhiều đường xâm nhập chủ yếu là các đường nước hồi quy từ các ruộng trên khu vực Mực nước phụ thuộc theo mùa,
về mùa khô đạt từ 0,3 - 0,6m, mùa mưa đạt từ 1,0 - 1,5m Tại thời điểm khảo sát tốc
độ dòng chảy trung bình đạt 0,6 - 1,0m/s và độ sâu khoảng 0,4m đảm bảo thoát nước mặt vào mùa mưa Suối tiếp nhận các nguồn thải khu công nghiệp sông Công, cụm công nghiệp Bãi Bông, các hoạt động sinh hoạt của khu dân cư và các hoạt động sản xuất, dịch vụ khác của một số xã huyện Phổ Yên, Phú Bình
Suối Văn Dương là nguồn cung cấp nước quan trọng phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp trong vùng Nhu cầu tưới tiêu cho khoảng 1.121ha với lưu lượng nước khoảng 15 x 106
m3/năm khu vực xã Tân Quang và khu vực sản xuất nông nghiệp huyện Phú Bình, Phổ Yên nơi có suối chảy qua
Trang 3529
Một vài năm gần đây suối Văn Dương đã và đang chịu ảnh hưởng của các nguồn thải trực tiếp từ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nước thải công nghiệp không xử lý hoặc xử lý không đảm bảo xả ra môi trường gây ô nhiễm chất lượng nguồn nước tiếp nhận
Trang 36KCN Sông Công 1 (khu B)
KCN Sông Công 1 (khu B)
Suối Văn Dương
Cửa xả số 1
Cửa xả
số 2
Trang 3731
Một số hình ảnh suối Văn Dương
Hình 5 Trên suối Văn Dương trước điểm tiếp nhận nước thải KCN Sông Công
Hình 6 Trên suối Văn Dương sau điểm tiếp nhận nước thải KCN Sông Công
Trang 382.2 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của nước thải do hoạt động sản xuất khu công nghiệp đến chất lượng nước suối Văn Dương tại xã Tân Quang, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo
vệ và sử dụng hợp lý nhằm giảm thiểu tác động của sản xuất công nghiệp đến chất
lượng nước suối Văn Dương Đề tài thực hiện các nội dung cụ thể sau:
- Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên của suối Văn Dương
- Thời điểm nghiên cứu: tháng 6 năm 2011
Trạm xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp Sông Công đi vào hoạt động tháng 9/2011 Kết quả nghiên cứu của đề tài được thực hiện vào thời điểm trạm xử lý đang trong giai đoạn xây dựng chưa đi vào hoạt động Toàn bộ lượng nước thải sản xuất của các cơ sở sản xuất đổ thẳng ra suối Văn Dương, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước tiếp nhận Từ những nghiên cứu đó để đánh giá được mức độ ảnh hưởng của nước thải KCN Sông Công đến chất lượng nước suối Văn Dương và đề xuất biện pháp bảo vệ chất lượng nước nguồn tiếp nhận
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp số liệu, kế thừa các nghiên cứu đã công bố
Thu thập, kế thừa có chọn lọc một số tài liệu có liên quan tới vấn đề nghiên cứu, cụ thể là:
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Sông Công