Nhìn chung, với thực trạng công nghệ khai thác, chế biến quặng còn thô sơ, lạc hậu, thiếu quy hoạch định hướng, hiện tượng khai thác vàng trái phép đã từng diễn ra phổ biến trên các điểm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Nguyễn Thị Phương Thảo
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN GIẢI PHÁP KHAI THÁC
MỎ VÀNG SA KHOÁNG NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN NHẰM GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG ĐẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Nguyễn Thị Phương Thảo
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN GIẢI PHÁP KHAI THÁC
MỎ VÀNG SA KHOÁNG NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN NHẰM GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG ĐẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 608502
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Xuân Cự
Hà Nội – 2012
Trang 3ii
MỤC LỤC trang
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.1 Nguồn gốc, quá trình thành tạo và phân bố quặng vàng sa khoáng 3
1.1.2 Trữ lượng vàng sa khoáng trên Thế giới và ở Việt Nam 7
1.2.1 Các phương pháp khai thác vàng sa khoáng trên Thế giới 10
1.2.2 Các phương pháp khai thác vàng sa khoáng tại Việt Nam 10
1.3 TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀNG SA KHOÁNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC
KẠN 14 1.3.1 Đặc điểm và trữ lượng các mỏ vàng sa khoáng ở Bắc Kạn 14
1.3.2 Tình hình khai thác vàng sa khoáng và các tác động đến môi trường 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.2.1 Phương pháp tiếp thu kế thừa các nguồn tài liệu đã có 22
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 23
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn 23
2.2.4 Phương pháp phân tích mẫu 24
2.2.5 Phương pháp phân tích tổng hợp, tính toán lựa chọn công nghệ 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN 27
3.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 27
3.1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội 28
3.2.2 Đặc điểm cấu tạo và phân bố các thân quặng vàng sa khoáng 33
3.2.3 Phân bố và trữ lượng các mỏ vàng sa khoáng ở Na Rì 35
Trang 4iii
3.2.4 Tình hình khai thác vàng và các tác động đến môi trường 38
3.2.5 Tác động của khai thác vàng sa khoáng ở Na Rì đến môi trường đất 52
3.3.2 Phương pháp khai thác bằng cơ giới sử dụng máy xúc kết hợp ô tô 59
3.3.3 Phương pháp khai thác bằng cơ giới sử dụng máy xúc nhiều gầu 61
3.3.4 Phương pháp khai thác bằng sức nước sử dụng tàu cuốc 63
3.3.5 Phương pháp khai thác bằng sức nước sử dụng tàu hút bùn 64
3.4 LỰA CHỌN VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC VÀNG SA KHOÁNG
NHẰM GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG ĐẤT 66
3.4.1 Lựa chọn phương pháp khai thác vàng sa khoáng ở Na Rì 66
3.4.2 Đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động đến môi trường trong khai thác
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 81
Trang 5iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường
Trang 6v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Trữ lượng vàng theo từng loại hình mỏ trên Thế giới 7Bảng 1.2 Tổng hợp sản lượng vàng sa khoáng của từng vùng trên Thế giới 8Bảng 1.3 Sản lượng khai thác vàng của các nước trên Thế giới (tấn) 8
Bảng 1.5 Hiện trạng ô nhiễm nước sông Ngân Sơn 16Bảng 2.1 Chỉ tiêu và phương pháp phân tích chất lượng nước 26Bảng 3.1 Kết quả phân tích mẫu nước thuộc khu vực nghiên cứu 28Bảng 3.2 Tổng hợp trữ lượng vàng Lương Thượng- Na Rì - Bắc Kạn 36Bảng 3.3 Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải khai thác vàng sa khoáng
Bảng 3.4 Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải khai thác vàng mùa mưa
Bảng 3.5 Tải lượng vật chất đổ ra sông Na Rì do nước thải mỏ trong 1 năm 45Bảng 3.6.Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt tại các khu khai
Bảng 3.7.Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt tại các khu khai
Bảng 3.8 Tải lượng vật chất đổ ra sông Na Rì do nước thải sinh hoạt trong 1 năm 47Bảng 3.9.Kết quả phân tích nước sông Na Rì vào mùa khô năm 2012 48Bảng 3.10.Kết quả phân tích nước sông Na Rì vào mùa mưa năm 2012 48Bảng 3.11 Kết quả phân tích mẫu đất tại khu vực khai thác vàng sa khoáng ở Na
Trang 7vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý, giao thông huyện Na Rì 30
Hình 3.2 Bản đồ vị trí mỏ vàng Lương Thượng và Tân An huyện Na Rì, tỉnh
Bắc Kạn 37Hình 3.3 Hàm lượng trung bình của TSS trong nước thải mỏ vàng sa khoáng 41Hình 3.4 Hàm lượng trung bình của dầu - mỡ khoáng trong nước thải mỏ (mg/l) 41Hình 3.5 Hàm lượng trung bình của COD trong nước thải mỏ (mg/l) 42Hình 3.6 Hàm lượng trung bình của BOD5 trong nước thải mỏ (mg/l) 42Hình 3.7 Hàm lượng trung bình của Nts trong nước thải mỏ (mg/l) 43Hình 3.8 Hàm lượng trung bình của Pts trong nước thải mỏ (mg/l) 43Hình 3.9 Hàm lượng trung bình của xyanua trong nước thải mỏ (mg/l) 44Hình 3.10 Hàm lượng trung bình của thủy ngân trong nước thải mỏ (mg/l) 44
Hình 3.12 Sơ đồ công nghệ tuyển luyện thu hồi vàng từ quặng vàng sa khoáng 58Hình 3.13 Sơ đồ công nghệ khai thác bằng cơ giới 60Hình 3.14 Sơ đồ công nghệ khai thác bằng sức nước sử dụng tàu hút bùn 65
Hình 3.17 Tăng chiều dài lắng bằng các đường dẫn dòng kiểu hình nêm 70Hình 3.18 Sơ đồ tường chắn đặt song song với hướng dòng chảy 71Hình 3.19 Sơ đồ tường lọc 72
Trang 81
MỞ ĐẦU
Vàng là kim loại quý hiếm, từ lâu đã được con người biết đến, khai thác và chế biến phục vụ nhu cầu dân dụng và công nghiệp Nhu cầu về sử dụng vàng trong các ngành công nghiệp cũng như trong đời sống hàng ngày (trang sức, tích trữ, ) những năm gần đây liên tục tăng Do nhu cầu tăng kết hợp với nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm đã đưa vàng trở thành kim loại ngày càng có giá trị và thúc đẩy ngành công nghiệp khai thác vàng phát triển ở trong nước cũng như trên toàn thế giới
Khu vực phía Bắc Việt Nam vốn có tiềm năng lớn về khoáng sản, đa dạng với các quy mô khác nhau, đây cũng là vùng có trữ lượng vàng lớn trong nước Trong nhiều năm trước đây, đa phần các mỏ vàng được nhân dân khai thác tự do bằng công nghệ đãi vét thủ công, tập chung chủ yếu vào các điểm sa khoáng có hàm lượng cao
Việc khai thác tự do bằng công nghệ lạc hậu, thiếu sự quản lý trong nhiều năm qua đã làm biến đổi đặc điểm địa chất, địa mạo, điều kiện khai thác mỏ khó khăn, gây
ô nhiễm môi trường và thất thoát tài nguyên Mặt khác, do vàng là kim loại quý nên tại các điểm khai thác vàng luôn có hiện tượng tranh chấp tài nguyên, khai thác trái phép
là điểm nóng về an ninh, trật tự xã hội ở các địa phương
Thực hiện chủ trương của Nhà nước về quản lý, khai thác tài nguyên, các điểm nóng về khai thác vàng trái phép trước đây đã được giải toả, quy hoạch, thăm dò, đánh giá lại trữ lượng Trước tình hình giá vàng trong nước và thế giới liên tục tăng cao (hiện nay dao động khoảng 44 - 47 triệu đồng/lượng), sự phát triển về công nghệ và vấn đề quản lý các mỏ vàng sa khoáng ở nước ta hiện nay đang là vấn đề nóng cần có các giải pháp khắc phục Tính tới thời điểm này tỉnh Bắc Kạn có 17 mỏ và điểm quặng chứa vàng trong đó có 6 điểm quặng vàng gốc và 8 điểm vàng sa khoáng Tại huyện
Na Rì, ước tính có khoảng 5,694 tấn vàng, chủ yếu là vàng sa khoáng ở Tân An xã Lương Thượng (Theo số liệu công bố trên Cổng thông tin của Sở Công thương Bắc Kạn) [25]
Thời gian qua hoạt động khai thác vàng sa khoáng ở Na Rì đã và đang góp phần nâng cao đời sống của một số thành phần người dân trong xã hội, nhưng việc
Trang 92
khai thác vàng ở đây cũng gây tác động xấu đến môi trường, ít nhiều làm thay đổi môi trường sinh thái xung quanh và đặc biệt gây rất nhiều tác động tiêu cực tới môi trường đất Để hoạt động khai thác vàng thực sự đạt hiệu quả cao về cả ba mặt kinh tế, xã hội
và môi trường cần có kế hoạch phát triển, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên vàng
một cách hợp lý Đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn giải pháp khai thác mỏ vàng sa khoáng Na Rì, tỉnh Bắc Kạn nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường đất” nhằm
góp phần tìm các giải pháp khai thác hợp lý các mỏ vàng sa khoáng ở nước ta nói chung
Trang 103
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SỰ THÀNH TẠO VÀ PHÂN BỐ QUẶNG VÀNG SA KHOÁNG
1.1.1 Nguồn gốc, quá trình thành tạo và phân bố quặng vàng sa khoáng
Vàng là kim loại bền vững nên nó có thể được giải phóng khi đá bao quanh bị phá hủy Vàng không tự liên kết với nhau mà được vận chuyển bởi nước và tích tụ lại ở những vị trí nào đó được gọi là vàng sa khoáng [14] Mỏ vàng sa khoáng là loại mỏ có nguồn gốc ngoại sinh, được thành tạo do bóc mòn, phá huỷ quặng vàng gốc, vận chuyển
và tích tụ lại thành khoáng sàng
Vàng sa khoáng ở nước ta phân bố ở rất nhiều nơi Đến nay đã phát hiện nghiên cứu, thăm dò và đánh giá trữ lượng khoảng 150 điểm mỏ sa khoáng vàng Đã xác lập được các loại sa khoáng vàng: eluvi, deluvi, proluvi, hỗn hợp, karst và aluvi (Trần Văn Trị và nnk, 1996) [16]
1.1.1.1 Sa khoáng eluvi:
Những tích tụ chứa vàng này nằm ở các mạch hoặc đới mạch thạch anh nhiệt dịch bị phong hóa mà thành Vàng được giải phóng và làm giàu ngay tại vùng lộ đá gốc Kiểu sa khoáng vàng eluvi, deluvi thường phân bố ngay trên đỉnh hoặc sườn núi
và có quan hệ mật thiết, nằm kề sát hoặc gần các thân quặng vàng gốc Sa khoáng eluvi được tích tụ lại nhờ khả năng ít bị phong hóa của vàng Độ lớn của phần tử vàng,
độ tinh khiết và vị trí lắng đọng có mối liên quan mật thiết với nguồn quặng gốc
Hàm lượng vàng không ổn định và thường thấp nhưng trữ lượng có thể rất lớn Sa khoáng eluvi là nơi có khả năng chứa vàng và trọng lượng khối vàng có khi lên tới hàng chục kg Theo R.W Boyle, một số sa khoáng eluvi ngoài vàng còn có chứa bạc tự sinh, chì, thủy ngân, kim cương và các hợp chất của platin [14]
Ở Mỹ, người ta đã khai thác vàng sa khoáng eluvi ở các bang Oregon, Nevada, Montana và nhất là ở California Tại đây đã khai thác được khối vàng Carson Hill nặng 88kg và Magalia nặng 24kg Các sa khoáng vàng eluvi khác cũng đã được khai thác ở Mehico, Haiti và Brasil Ở châu Âu, người La Mã đã khai thác sa khoáng eluvi
ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp và Rumani
Trang 114
Sa khoáng vàng eluvi cũng đã được khai thác khá nhiều ở Australia; chủ yếu ở bang Victoria Đặc biệt ở vùng Bendigo – Ballarat đã khai thác được khối vàng Welcome Strager nặng 79kg, khối vàng Welcome 69kg, Blanch Barkley 55kg, Canadia 41kg, Dunolly 43kg và Sarah Sands 23kg Các sa khoáng khác tồn tại ở bang New South Wales; tại khu sa khoáng vàng Hargraves khai thác được khối vàng Big Nugget Hill nặng 48kg [14]
Ở nước ta không có các mỏ vàng sa khoáng eluvi lớn, chỉ có các mỏ vàng nhỏ
và điểm quặng phân tán ở một số nơi như các điểm mỏ Cẩm Tâm (Cẩm Thủy – Thanh Hóa), Vĩnh Phúc, Bắc Kạn [16]
1.1.1.2 Sa khoáng deluvi:
Sau khi được giải phóng từ đá gốc, khi vàng được di chuyển và tích tụ ở sườn đồi sẽ tạo thành sa khoáng vàng deluvi Trong sa khoáng vàng deluvi, hàm lượng vàng thay đổi không đều, các hạt có kích thước lớn, có hạt rất lớn, ít bị mài tròn Ở nước ta, loại hình này gặp nhiều ở vùng quặng mỏ vàng, đặc biệt là ở Bắc Kạn
1.1.1.3 Sa khoáng proluvi:
Các dòng lũ vận chuyển các hạt vàng đến lắng đọng ở các nón phóng vật Ở các nhánh suối thượng nguồn, các hạt vàng thường có kích thước lớn nằm ở phần lót đáy của trầm tích proluvi Hàm lượng vàng không đồng đều, thân quặng không ổn định, quy mô các mỏ thường nhỏ gặp nhiều ở các tỉnh phía bắc nước ta
Trang 125
1.1.1.5 Sa khoáng aluvi:
Là loại hình mỏ sa khoáng vàng khá phổ biến và có triển vọng nhất Sa khoáng aluvi được thành tạo do tác dụng tương hỗ giữa các nhân tố như nguồn vàng nguyên sinh, quá trình phong hóa vàng được giải phóng ra ở dạng vụn, hoặc quá trình oxy hóa tạo điều kiện thuận lợi cho việc hòa tan thành dung dịch, các vị trí trũng tạo thành các
”bãy” tích tụ vàng Chúng thường được gặp trong các trầm tích ở những bậc thềm có
độ cao khác nhau và trong các thung lũng của các sông, suối nhỏ và các đồng bằng ngập úng Vàng được dòng chảy thường xuyên vận chuyển đi và tích đọng trong các trầm tích aluvi cùng với cuội, sạn, cát và sét bở rời Chúng thường tạo thành những thấu kính hoặc những thân sa khoáng tương đối ổn định về hàm lượng và chiều dày Cũng thuộc kiểu hình này, trong các thung lũng kiến tạo hoặc đồng bằng trước núi còn gặp kiểu mỏ sa khoáng vàng tồn tại ở dạng chôn vùi Đó là sa khoáng vàng sau khi được hình thành bị các lớp đất đá khác phủ lên Trên thế giới thường gặp loại hình mỏ này ở Úc, Liên Xô cũ, Mỹ, trong đó đã từng tìm thấy vàng tự sinh nặng từ vài gram đến 95,5kg (Ninbery D.S 1881) [14]
Đối với một số sa khoáng vàng aluvi nằm dọc theo các đới vận động kiến tạo không ổn định có thể được làm giàu bởi sự tái trầm tích nhiều lần, đôi khi tạo ra tích tụ vàng có trữ lượng lớn Sa khoáng vàng lớn ở California được thành tạo theo cách này Sỏi và cát bắt nguồn từ sự phá hủy đất đá tuổi Mesozoi của vùng Mother Lode và đá vây quanh ở phía đông đã được lắng đọng trên một bán bình nguyên bị phong hóa mạnh Tiếp sau đó, vật liệu vụn thô chứa vàng đã được giữ lại và tái phân bố ngẫu nhiên do các giai đoạn hoạt động núi lửa liên tiếp (R.W Henley và J Adans, 1979) [14]
Do vận động nâng của dãy núi Sierra Nevada vào Miocen thượng – Pleocen, các vận động của mảng lục địa Bắc Mỹ làm biến đổi sâu sắc các sa khoáng California Mạng lưới sông, suối mới được hình thành, các dòng nước nhanh chóng phân cắt đá núi lửa làm lộ lớp sỏi chứa vàng Lớp sỏi chứa vàng tiếp tục được tham gia vào vận động tạo núi mới và một giai đoạn trầm tích mới bắt đầu
Các băng hà Pleistocen và các vận chuyển của băng hà tác động đến lớp cuội chứa vàng, làm chúng bị phân bố lại hoặc bị lắng đọng hoặc di chuyển về phía tây để hình thành các tích tụ aluvi rất giàu ở Great Valley Sau thời kỳ băng hà, một vận
Trang 13- Sa khoáng Otago và West Land (New Zealand)
- Sa khoáng Colombie Britanique, Klondyke (Canada)
- Sa khoáng Alaska (Mỹ)
- Các sa khoáng ở Nam Mỹ: Colombia, Bolivia, Peru, Chile
Ngoài ra, ở một số nước trên Thế giới còn gặp kiểu sa khoáng vàng phân bố xa các mỏ quặng gốc, chúng được tích tụ chủ yếu ở ven biển hoặc ở các vùng hồ, đầm lầy, sa khoáng vàng cồn cát hoặc kiểu vàng sa khoáng ở các vùng băng hà Sa khoáng bãi bồi được thành tạo do tác động của sóng và dòng chảy ven bờ, dọc theo các hồ hoặc ở bờ biển và đại dương Trên thực tế, các kiểu sa khoáng vàng này thường ít có giá trị công nghiệp Điển hình cho loại hình này là mỏ Nome ở bán đảo Seward bang Alaska, dọc bờ biển California, Oregon (Mỹ), Colombie Britanique (Canada), Chile và New Zealand [14]
Hàm lượng vàng trong các sa khoáng nói chung không lớn, thay đổi từ
0,1-1g/m3, ở một vài sa khoáng hàm lượng có thể đạt tới 1,5g/m3; chiều dày tầng đất đá chứa vàng 0,5-3m, lớp phủ thay đổi từ 1-2 đến trên dưới 10m
Những mỏ vàng sa khoáng điển hình ở Việt Nam là Nà Phòn (Hòa Bình), Mu
Lu (Sơn La), Cẩm Tâm (Thanh Hóa), Suối Nhâu, Khắc Kiệm, Làng Vài (Bắc Kạn), Trại Cau (Thái Nguyên) Theo đặc điểm phân bố, các mỏ vàng sa khoáng ở nước ta
có thể chia thành các vùng quặng: Đông Bắc, Tây Bắc, Thanh Hoá - Nghệ An, Hà Tĩnh - Bắc Quảng Bình, Nam Quảng Bình - Thừa Thiên Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên [16]
1.1.1.6 Sa khoáng hỗn hợp:
Trong tự nhiên rất ít gặp loại hình sa khoáng vàng có một nguồn gốc độc lập mà chúng thường có nguồn gốc đa dạng (proluvi-aluvi, eluvi- deluvi ) nên chúng ta thường gặp sa khoáng vàng có nguồn gốc hỗn hợp như sa khoáng vàng proluvi-aluvi,
sa khoáng vàng eluvi- deluvi
Trang 147
1.1.2 Trữ lượng vàng sa khoáng trên Thế giới và ở Việt Nam
1.1.2.1 Trữ lượng vàng sa khoáng trên thế giới
Các mỏ sa khoáng chiếm 67,50% trữ lượng vàng điều tra được trên Thế giới,
riêng sa khoáng cổ mỏ Witwatersrand chiếm khoảng 58% Đứng thứ 2 là mỏ Tarkwa
có trữ lượng 250 tấn chiếm 0,3% Sa khoáng trẻ aluvi và eluvi chiếm gần 10% tại các
vùng California, Alasska, Canada, Autralia, New Zeland, Nga (Bảng 1.1) Các khu
vực có sản lượng vàng khai thác lớn trên thế giới tập trung ở East Rand, Central Rand,
West Rand, Welcom Virgina (Bảng 1.2) Sản lượng khai thác vàng tại các nước trên
Thế giới thời gian gần đây (Bảng 1.3)
Bảng1.1 Trữ lượng vàng theo từng loại hình mỏ trên Thế giới
TT Loại hình
Trữ lượng (tấn)
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ (%)
1 Sa khoáng
cổ
-Tầng cuội kết có khoáng hóa sulfura chứa vàng (mỏ Witwatersrand)
1.1.2.2 Trữ lượng vàng sa khoáng ở Việt Nam
Theo quy mô mỏ, đến nay ở Việt Nam chỉ có mỏ vàng sa khoáng Lương
Thượng (Bắc Kạn) thuộc loại quy mô lớn Các mỏ có quy mô trung bình gồm loại hình
sa khoáng Bồ Cu, Trại Cau (Thái Nguyên), số còn lại có quy mô nhỏ và các điểm
quặng Dự báo tiềm năng vàng sa khoáng ở nước ta trên cơ sở phân tích tần suất gặp
quặng và quy mô triển vọng với tần suât 15-17% trên tổng số mỏ, điểm quặng, 7-9%
trên tổng số tài nguyên vàng dự báo, hơn 100 điểm quặng và mỏ dự báo khoảng 62
tấn vàng (Bảng 1.4)
Trang 169
Mỏ vàng sa khoáng Lương Thượng thuộc địa phận xã Lương Thượng, huyện
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, đã được Liên đoàn địa chất Đông Bắc đánh giá năm 1992 Tổng tài nguyên vàng trong mỏ đã tính được 1824kg Au, trong đó có 1424kg cấp C2 Hàm lượng vàng trung bình là 0,52 g/m3
Bảng 1.4 Trữ lượng vàng sa khoáng ở Việt Nam
TT Tên mỏ
Hàm lượng trung bình (g/m 3 )
Trữ lượng quặng (nghìn
m 3 )
Trữ lượng vàng cấp
(Báo cáo đánh giá tài nguyên khoáng sản Việt Nam, 1996).[16]
Mỏ vàng sa khoáng Tân An nằm trong thung lũng Tân An, thuộc địa phận xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, đã được Liên đoàn Địa chất Đông Bắc
Trang 1710
đánh giá năm 1992 Tổng tài nguyên vàng trong mỏ đã tính được 3250kg vàng, trong
đó có 1150kg cấp C2 Hàm lượng thu hồi vàng trung bình là 0,81 g/m3
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC VÀNG SA KHOÁNG
1.2.1 Các phương pháp khai thác vàng sa khoáng trên Thế giới
Có nhiều phương pháp khai thác vàng sa khoáng khác nhau trên thế giới phụ thuộc vào đặc điểm phân bố của vàng và cấu trúc địa chất của đá vây quanh
Phương pháp khai thác lộ thiên, hầm lò và kết hợp giữa khai thác lộ thiên - hầm
lò là các phương pháp khá phổ biến để khai thác vàng trên Thế giới Riêng đối với khai thác vàng sa khoáng, hầu hết chỉ sử dụng phương pháp khai thác lộ thiên, sau đó đưa về cơ sở tuyển quặng, phân kim để lấy vàng tinh Một số nơi khai thác, đãi tuyển quặng ngay tại mỏ, chiết ly vàng bằng hoá chất
Quặng sa khoáng dạng sườn tích ở địa hình gò, đồi có thể khai thác và chuyển về xưởng tuyển tập trung hoặc hệ thống tuyển cơ động Quặng sa khoáng lòng sông, lòng
hồ, bãi bồi có thể sử dụng các loại hình công nghệ khai thác bằng sức nước kết hợp với
hệ thống tuyển trên phao hoặc cụm thiết bị di động kèm hệ thống tuyển trọng lực
1.2.2 Các phương pháp khai thác vàng sa khoáng tại Việt Nam
Các mỏ vàng sa khoáng tại Việt Nam nói chung và tại khu vực phía Bắc Việt Nam nói riêng được phát hiện và khai thác từ rất sớm Từ đầu thế kỷ 19 người Trung Quốc và người Pháp đã khai thác vàng sa khoáng ở khu vực sông Ngân Sơn, Na Rì, …
Nhìn chung các xí nghiệp khai thác vàng cả trung ương và địa phương đều có quy mô nhỏ, chủ yếu là khai thác thủ công kết hợp với cơ giới Sản lượng khai thác hàng năm của mỗi xí nghiệp từ vài kg đến 10-20 kg Tổng sản lượng vàng khai luyện được ở các xí nghiệp quốc doanh hàng năm chỉ đạt 60-100kg Hiện nay, sản phẩm vàng sa khoáng có hàm lượng từ 70% trở lên mới đảm bảo dùng để phân kim ở giai đoạn sau [23]
Ở nước ta hiện nay, công nghệ khai thác vàng còn lạc hậu, năng suất thấp, hiệu quả tuyển luyện chưa cao Công nghệ tuyển còn sơ sài, chủ yếu tiến hành bằng phương
Trang 1811
pháp trọng lực tiến hành theo quy trình: Máng đãi- bàn đãi- đãi tinh- thu hồi bằng thuỷ ngân hoặc nung luyện nên hiệu quả thu hồi còn thấp Tỷ lệ thu hồi vàng tại các mỏ vàng sa khoáng chỉ đạt 45-50%, còn tại các mỏ vàng gốc chỉ đạt 30-40% Nhìn chung tổn thất khoáng sản còn rất lớn
Cùng với các xí nghiệp khai thác quốc doanh, các doanh nghiệp và nhân dân ở nhiều nơi cũng đào đãi cả vàng gốc và vàng sa khoáng Nhiều nới có lúc tập trung tới hàng nghìn người như Tà Năng (Lâm Đồng), Minh Lương (Lào Cai), Lương Thượng (Bắc Kạn), với sản lượng hàng năm dự tính khoảng 1 tấn vàng
Dưới đây là tình hình khai thác, chế biến của một số xí nghiệp khai thác vàng sa khoáng tiêu biểu ở khu vực phía Bắc Việt Nam
+ Công ty kim loại màu Thái Nguyên: Có 2 cơ sở khai thác và tuyển quặng
mỏ, công ty đã thực hiện hoàn nguyên để trả lại đất canh tác cho địa phương
* Mỏ vàng Lạng San- Na Rì tại thung lũng Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
được thành lập 01/1989 trên cơ sở quyết định số 35/MĐC/KTM ngày 10/11/1988 của Cục QLTNKS-NN cho phép thử nghiệm phương thức vừa thăm dò vừa khai thác vàng
sa khoáng
Mỏ được khai thác lộ thiên bằng công nghệ cơ giới gồm: máy xúc, nhà tuyển Quá trình khai thác thử nghiệm đạt hiệu quả thấp Sản xuất đến tháng 7/1994 đã thu hồi được 7,6kg vàng, Công ty đã lập phương án hoàn thổ và thống nhất với địa phương trên nguyên tắc địa phương thực hiện hoàn thổ, chi phí hoàn thổ do công ty thanh toán Tuy nhiên, do hiện tượng khai thác trái phép vẫn tiếp diễn nên phương án hoàn thổ vẫn chưa thực hiện được
Trang 1912
+ Xí nghiệp liên doanh thăm dò, khai thác vàng Việt Nga: Đây là xí nghiệp
liên doanh giữa Công ty kim loại màu Thái Nguyên và Liên hiệp địa chất nước ngoài thuộc Bộ địa chất nước Cộng hoà liên bang Nga được thành lập tháng 4/1992 Xí nghiệp có tổng vốn đầu tư là 1.604.000 USD (phía Việt Nam góp 40%) Đầu năm
1994 xí nghiệp bắt đầu đi vào khai thác trên diện tích được cấp phép là 225 ha tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Tổng trữ lượng vàng là 1 tấn, hàm lượng vàng trung bình trong cát quặng là 1g/m3
Mỏ được khai thác lộ thiên bằng cơ giới, đất quặng được máy gạt ủi về hố khai thác, tại đây dùng súng bắn nước áp lực cao (4-5atm) đánh tơi và thải loại đá trên sàng tĩnh, phần dưới sàng dùng bơm cát bơm lên máng đãi dài có chớp để tuyển thổi Tinh quặng của máng đãi được định kỳ tháo dỡ và tuyển tinh trên bàn đãi ngắn, vàng thô được xử lý tiếp để thu hồi vàng Sản lượng năm đầu tiên đạt 36,546 kg vàng 99,9%, năm tiếp theo (1995) đạt 16,813 kg Do thua lỗ nên ngày 5/7/1996, Bộ Kế hoạch và đầu tư đã ra quyết định thu hồi giấy phép khai thác
+ Công ty khoáng sản Bắc Kạn (nay là Công ty Cổ phần khoáng sản Bắc Kạn): Được UBND tỉnh Bắc Kạn cho phép và gia hạn khai thác vàng sa khoáng 2 đợt
tổng cộng là 5 năm tại mỏ vàng Tân An, Lạng San - Na Rì- Bắc Kạn
Mỏ có trữ lượng cấp C2 (3.250kg vàng), hàm lượng vàng trung bình trong cát quặng là 0,81 g/m3, chiều dày trung bình thân quặng là 6,9m và chiều dày trung bình lớp đất phủ là 4,5m
Công ty được Bộ Kế hoạch và đầu tư cấp giấy phép khai thác số 2339/GP ngày
10 tháng 7 năm 2003 trên cơ sở Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 11/HĐHT ký ngày 18 tháng 01 năm 2003 giữa Công ty khoáng sản Bắc Kạn và Công ty TNHH kẽm Kim Bình- Vân Nam- Trung Quốc Tổng số vốn đầu tư tại mỏ là 10 tỷ đồng (phía Việt Nam góp 11%, phía Trung Quốc góp 89%) Sau khi được cấp phép mỏ vàng Tân An đã đi vào hoạt động đúng kế hoạch
Mỏ dùng phương pháp khai thác bằng tàu liên hợp đào, xúc, tuyển với công nghệ do phía đối tác Trung Quốc cung cấp Sau một năm, phương pháp khai thác bằng tàu liên hợp tỏ ra không thích hợp, công ty đã xin thay đổi công nghệ khai thác lộ thiên
Trang 20Hiện nay công nghệ khai thác chế biến của mỏ này là máy xúc- ô tô- sàng phân cấp và tuyển bằng máng chớp, máng trải thảm do vậy thực thu vàng không cao (khoảng 50%), vàng mịn bị thất thoát Quá trình khai thác thực tế cho thấy sản lượng khai thác thấp hơn nhiều so với dự kiến trên cơ sở trữ lượng dự báo của mỏ do khai thác tiến hành khi chưa được thăm dò bổ sung
Ngoài ra một số địa phương như Tuyên Quang, Hà Giang, Lai Châu,… đã tổ chức khai thác tận thu ở các khu vực có vàng sa khoáng dọc sông Lô, sông Gâm, sông Mã,… Năm 2005-2006 riêng Lai Châu đã khai thác chế biến vàng sa khoáng với tổng sản lượng >100kg/năm
Nhìn chung, với thực trạng công nghệ khai thác, chế biến quặng còn thô sơ, lạc hậu, thiếu quy hoạch định hướng, hiện tượng khai thác vàng trái phép đã từng diễn ra phổ biến trên các điểm mỏ vàng nên hiện nay trật tự phân bố tự nhiên vàng sa khoáng các tỉnh phía Bắc Việt Nam đã bị xáo trộn, gây khó khăn, phức tạp nhất định cho công tác thăm dò, khai thác, khoáng sản giai đoạn sau
Dự báo còn lại khoảng 60-70% trữ lượng vàng tại các điểm mỏ vàng sa khoáng
đã bị khai thác Ngoài phần cát quặng, đất quặng được biết đến cũng không loại trừ nhiều khả năng vàng nằm lẫn trong các hang, hốc đá gốc
Với hiện trạng khai thác như hiện nay, điều kiện quản lý và khai thác tài nguyên tại các điểm mỏ vàng sa khoáng là rất khó khăn Ngoài việc phải khai thác tài nguyên cần phải đánh giá lại trữ lượng, xác định các giải pháp công nghệ hợp lý để khai thác tài nguyên có hiệu quả cao nhất, góp phần bảo vệ môi trường vùng mỏ
Trang 2114
1.3 TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀNG SA KHOÁNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN
1.3.1 Đặc điểm và trữ lượng các mỏ vàng sa khoáng ở Bắc Kạn
Dựa trên quy phạm thăm dò của các mỏ sa khoáng vàng, thiếc, và phương pháp tính trữ lượng vàng- thiếc trong sa khoáng, (Magadan 1979, 1982) [12, 13]; đồng thời dựa vào đặc điểm thân quặng quy mô mỏ, địa hình của sa khoáng vàng, các mỏ vàng ở khu vực Na Rì được xếp vào nhóm I và III và xếp các khối trữ lượng tính theo kết quả tìm kiếm bằng các công trình cấp 2 Ngoài ra còn trữ lượng nằm ngoài diện tích trữ lượng cấp C2 và các điểm quặng vàng sa khoáng khác trong khu vực không tính trữ lượng có khả năng khai thác vàng tự do
Dựa trên kết quả đo vẽ địa chất - địa mạo và các công trình tìm kiếm đã xác định được 7 thân quặng vàng có trữ lượng khá Tổng trữ lượng vàng khu vực mỏ vàng tại thung lũng Lương Thượng là 1.424 kg Tổng số lượng vàng tinh khiết 1.324 kg, hàm lượng trung bình toàn mỏ là 0,52 g/m3, chiều dày trung bình của cát quặng toàn mỏ là 3,7m, chiều dày trung bình của lớp phủ toàn mỏ là 4,5m hệ số đất bóc (hệ số phủ) là 1,2m3/m3; trữ lượng cấp C2 là 1.424 kg
Ngoài trữ lượng cấp C2 như đã tính và thống kê ở bảng trên, những phần còn lại của thung lũng chưa có công trình khống chế, đủ cơ sở để tính trữ lượng cấp P
Phần còn lại phía Tây Bắc thung lũng có quy mô như sau:
+ Chiều dài 800m Chiều dày quặng dự kiến 3,7m
+ Chiều rộng 200m Hàm lượng Au 0,52 g/m3
+ Trữ lượng cấp P = 308 kg
Khoảng mặt bằng mỏ của thung lũng chuyển tiếp giữa Lương Thượng và Tân
An phần thuộc Lương Thượng có quy mô:
+ Chiều dài 400m Chiều dày quặng 3,7m
+ Chiều rộng 120m Hàm lượng Au 0,52 g/m3
+ Trữ lượng vàng cấp P = 92 kg
Những phần còn lại khác thuộc Lương Thượng do kích thước nhỏ nên không tính trữ lượng hoặc trữ lượng cấp P ở Lương Thượng cấp P = 400kg
Trang 2215
Kết quả đã tính được của phương án này là ở cấp C2 = 1.486 kg; hàm lượng trung bình là 0,26 g/m3 chiều dày trung bình là 12,8m Như vậy tổng trữ lượng vàng sa khoáng cấp C2 + P = 1.886 kg [18]
Kết quả thăm dò, tìm kiếm trữ lượng vàng tại 6/8 huyện, thị xã của tỉnh Bắc Kạn gồm huyện Ngân Sơn, Ba Bể, Na Rì, Chợ Mới, Pác Nặm, Bạch Thông, các cơ quan chức năng đã xác định được 17 mỏ và điểm quặng có vàng gốc, vàng sa khoáng với trữ lượng trung bình khoảng 30 tấn
Huyện Na Rì có 3 điểm vàng sa khoáng tập trung dọc theo dòng sông ngầm dưới dãy núi đá vôi, phun chảy từ khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ ra sông Bắc Giang thuộc địa phận các xã Kim Hỷ, Lương Thượng, Tân An, Lương Thành có trữ lượng khoảng 5,694 tấn… [23]
Theo các tài liệu thu thập được ở 7 điểm vàng lớn tập trung tại huyện Ngân Sơn, trong đó mỏ vàng gốc Pác Lạng xã Thượng Quang vẫn được đánh giá nhiều vàng nhất, với trữ lượng khoảng 22,260 tấn
1.3.2 Tình hình khai thác vàng sa khoáng và các tác động đến môi trường
Cho đến nay, tình trạng khai thác vàng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, thiên nhiên vẫn diễn ra thường xuyên ở tỉnh Bắc Kạn Do hiện tượng khai thác vàng trái phép ồ ạt của nhân dân địa phương nên hiện nay môi trường các vùng mỏ vàng sa khoáng trong khu vực nghiên cứu đang bị ô nhiễm nặng nề
Rác thải sinh hoạt của công nhân khai thác vàng, dầu mỡ, chất thải của máy móc, nước thải của quá trình khai thác, tuyển luyện, là những nguồn gây ô nhiễm chính, ảnh hưởng đến mỹ quan và đời sống của nhân dân trong vùng Sông Ngân Sơn, nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất của người dân địa phương đang bị ô nhiễm nặng do ảnh hưởng của khai thác vàng (Bảng 1.5)
Các điểm khai thác vàng sa khoáng trái phép đã từng là những điểm nóng về an ninh, trật tự xã hội, có trình độ dân trí thấp, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp và trồng rừng Theo phản ánh của người dân tại xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn (Bắc Kạn) tình trạng khai thác vàng trái phép lại diễn ra khá ngang nhiên, với phương
Trang 23Hiện nay việc khai thác vàng ở Bắc Kạn diễn ra rất lộn xộn, không có quy hoạch và quản lý chặt chẽ Tại thôn Pác Nạn, các đội khai thác hoạt động ngang nhiên giữa ban ngày, với hình thức đào hang, làm lò, cùng với nhiều loại máy móc và các trang thiết bị cần thiết phục vụ khai thác, lọc, tuyển vàng Việc khai thác vàng trái phép diễn ra ngày cáng phổ biến, cũng có đoàn đến kiểm tra nhưng vì làm thủ công nên chỉ nhắc nhở, cũng có trường hợp bị lập biên bản và xử lý vi phạm hành chính Việc khai thác vàng trong khu vực thôn đã được báo cáo lên xã, tổ đội của xã cũng đã vào kiểm tra lập biên bản và nhắc nhở, nhưng do quy mô nhỏ nên chính quyền xã đã không xử lý triệt để Việc khai thác vàng trái phép ngoài việc làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân trong thôn khi tiếng ồn của máy nổ chạy cả ngày đêm còn làm mất diện tích đất nông nghiệp và ô nhiễm các con sông, suối
Bảng 1.5 Hiện trạng ô nhiễm nước sông Ngân Sơn
Nhóm Loại chỉ
tiêu
Giá trị hàm lượng (mg/l)
QCVN 08:2008/BTNMT Cột A2 (mg/l)
Trung bình Max Min
Trang 2417
Nhóm Loại chỉ tiêu
Giá trị hàm lượng (mg/l)
QCVN 08:2008/BTNMT Cột A2 (mg/l)
Trung bình Max Min
* Giá trị hàm lượng tối đa cho phép theo Tiêu chuẩn của Bộ y tế
** Giá trị hàm lượng tối đa cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN: 2003
Theo Báo cáo số 96/BC-UBND, ngày 19/11/2012 của Ủy ban nhân dân xã Bằng Vân gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ngân Sơn, xã đã kiểm tra và giải tỏa tại 3 điểm là Nà Phai (thôn Pác Nạn); Vi Ba (thôn Khuổi Ngọa); Mèo Đăm (thôn Khinh Héo), lập biên bản 10 nhóm khai thác khoáng sản trái phép, với hình thức khai thác thủ công, đào hang [23]
Tại các xã Thuần Mang (Ngân Sơn), Lương Thượng, Lương Thành, Lạng San, Kim Hỷ (Na Rì) đâu cũng thấy cảnh máy nổ, máy xúc, giàn tuyển với sự hỗ trợ của người dân ra sức khai thác vàng trái phép, dẫn đến tàn phá môi trường tự nhiên góp phần vào việc gây thất thoát một nguồn tài nguyên lớn của quốc gia (Hình 1.1)
Trang 25Dọc theo quốc lộ 279 về phía trung tâm huyện Na Rì, trên đường đi qua các xã Lạng San, Lương Thượng chứng kiến rất nhiều điểm khai thác vàng trái phép ven đường Nhìn từ trên cao xuống, nước trên nhiều đoạn dòng chảy sông đỏ quạch (hình 1.2), có tới 6 máy xúc cùng hệ thống sàng tuyển vàng đang hoạt động hết công suất trên đoạn sông dài khoảng 100m
Trang 2619
Hình 1.2 Dòng sông bị ô nhiễm do khai thác vàng sa khoáng
Qua tìm hiểu thì được biết, đây là mỏ Nà Diệc, đơn vị đang khai thác là Cty TNHH Hải Điệp, được cấp phép khai thác cát và tận thu vàng sa khoáng Nhưng tại hiện trường khai thác cát không có cát mà chỉ có đất đá dưới lòng sông được máy xúc đưa lên giàn tuyển Theo người dân sống xung quanh thì đây là điểm khai thác vàng chứ không phải khai thác cát và chủ yếu hoạt động vào ban đêm (Hình 1.3)
Hình 1.3 Được cấp phép khai thác cát và tận thu vàng sa khoáng, nhưng Cty TNHH
Hải Điệp lại khai thác vàng là chủ yếu Nguồn [23]
Trang 2720
Sự thiếu trách nhiệm trong quản lý của cơ quan chức năng địa phương đã khiến rất nhiều diện tích đất nông nghiệp, đất rừng trở nên hoang tàn không canh tác được, điển hình là tại mỏ Tốc Lù, thôn Kim Vân, xã Kim Hỷ (Na Rì), trước đây do Cty cổ phần Tấn Thành khai thác, nhưng sau đó Công ty giải thể, chính quyền các cấp của tỉnh Bắc Kạn cũng không biết thông tin về công ty này Công tác hoàn thổ tại mỏ Tốc
Lù vẫn chưa được hoàn thiện [23]
Người dân thiếu đất sản xuất nên không ít người trong số đó đã vào các điểm khai thác vàng trái phép ngay cả trong Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷthuộc huyện
Na Rì có diện tích hàng chục hécta Đây là nơi lưu trữ và bảo tồn của nguồn gen quý giá của các loài động thực vật quý hiếm Cũng vì vậy mà nhiều diện tích rừng ở đây bị phá hủy, mặt đất bị đào xới trở nên nham nhở, dòng suối Tốc Lù ô nhiễm nặng , (Hình 1.4)
Ngoài khu vực rừng Kim Hỷ có tình trạng khai thác vàng trái phép gây ảnh hưởng đến rừng thì ở rất nhiều nơi khác trên địa bàn huyện Na Rì đều xảy ra tình trạng chung như vậy, dọc theo các khe suối, ven sông có các máy bơm với sự hỗ trợ của đầu máy nổ công suất lớn bơm nước lên đồi cách vài cây số, ở đó có đội ngũ khai thác vàng đang tàn phá thiên nhiên, môi trường Tại mỏ Nà Làng, quan sát kỹ mỏ này được khai thác theo quy trình khép kín đã phần nào hạn chế vấn đề ô nhiễm môi trường Tuy nhiên mức độ ô nhiễm tiếng ồn vượt nhiều lần quy chuẩn cho phép Nhiều người dân sinh sống gần mỏ phản ảnh rằng họ không ngủ được bởi tiếng ồn của máy móc hoạt động suốt ngày đêm để khai thác vàng
Hình 1.4 Ngay phía sau bảng cấm này là một đại công trường khai thác vàng trái
phép trong Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ Nguồn [23]
Trang 2821
Tại thôn Chợ Cũ, xã Lạng San, huyện Na Rì, công trình hồ sinh thái đã được Công ty An Thịnh xây dựng sau khi khai thác vàng nhưng không có tác dụng điều hòa môi trường vì nước ở hồ cũng đã bị ô nhiễm nghiêm trọng
Na Rì là một trong huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Kạn, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp kết hợp chăn nuôi và một số ngành nghề tiểu thủ công Hoạt động khai thác, đào đãi vàng tự nhiên đã đem lại lợi ích kinh tế lớn, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế, tạo được công ăn việc làm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người dân địa phương Xét về mặt KT-XH, hoạt động khai thác vàng sa khoáng đã kích thích hoạt động sản xuất và dịch vụ ở địa phương, cung cấp cho thị trường khối lượng vàng tương đối lớn và tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương
Bên cạnh đó còn tồn tại rất nhiều bất cập của việc khai thác vàng sa khoáng tác động đến môi trường như diện tích đất canh tác bị thu hẹp, địa hình biến đổi, suy giảm nguồn nước, ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng lớn đến tình hình sức khỏe công nhân khai thác cũng như người dân xung quanh khu vực mỏ
Trang 2922
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện tại địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Các mẫu thu thập bao gồm nước thải mỏ, nước thải sinh hoạt và mẫu đất thuộc phạm vi ảnh hưởng của các mỏ vàng sa khoáng, nước mặt sông Na Rì thuộc địa phận huyện Na Rì
Tổng số lượng mẫu nghiên cứu là 20 mẫu trong đó có 6 mẫu nước thải mỏ, 4 mẫu nước thải sinh hoạt, 4 mẫu đất, 6 mẫu nước mặt được lấy theo 02 mùa là mùa mưa và mùa khô Kết quả trong bảng nghiên cứu thể hiện kết quả trung bình của mẫu nghiên cứu
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp tiếp thu kế thừa các nguồn tài liệu đã có
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích và xử lý tất cả thông tin, tài liệu, dữ liệu có liên quan trên phạm vi nghiên cứu mỏ vàng sa khoáng Na Rì – Bắc Kạn được tiến hành từ bước lập đề cương cũng như trong suốt quá trình thực hiện Các nguồn tài liệu thu thập
từ các ngành: Địa chất, địa chất thuỷ văn, môi trường … và các ban ngành khác liên quan Cụ thể các tài liệu về kỹ thuật như: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội, số liệu quan trắc MT và báo cáo ĐTM của Công ty Cổ phần Tư vấn Khảo sát
Thiết kế và Xây dựng Mỏ địa chất, Báo cáo tìm kiếm đánh giá sa khoáng vàng Lương
Thượng, Na Rì, Bắc Kạn của Liên đoàn Địa chất Đông Bắc, thông tin chuyên đề KHKT Địa chất: Các mỏ vàng trên thế giới phân loại hình mỏ theo định lượng,
Bên cạnh đó, việc khai thác và tìm hiểu các văn bản pháp luật có liên quan như Luật BVMT Việt Nam có hiệu lực từ 01/7/2006 Nghị định 80/NĐ – CP của chính phủ ngày 9/8/2006 hướng dẫn thi hành Luật BVMT, các QCMT, TCMT về các thành phần
MT đang hiện hành
Tài liệu, số liệu thu thập từ nhiều nguồn và trong những thời điểm khác nhau nên chúng tôi đã phân tích, đánh giá những thông tin phù hợp với điều kiện môi trường khai thác vàng sa khoáng, điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu Ngoài việc đánh giá, phân tích chúng tôi có bổ sung các số liệu thông qua việc tính toán, so sánh
Trang 3023
lý thuyết với thực tế từ đó đưa ra kế hoạch bổ sung nghiên cứu và triển khai các nội dung nghiên cứu theo yêu cầu của đề tài luận văn
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Đây là phương pháp được áp dụng nghiên cứu chủ yếu để thực hiện đề tài và được triển khai trên hầu hết địa bàn đã và đang khai thác của khu vực mỏ vàng sa khoáng Na Rì – Bắc Kạn Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa bao gồm các nội dung khảo sát điều tra nguyên nhân, mức độ ô nhiễm môi trường đất, nước và lấy mẫu phân tích các chất ô nhiễm trong phạm vi khu vực nghiên cứu Thông qua việc điều tra, khảo sát, chụp ảnh tiến hành xác định diện tích khai thác, hiện trạng khai thác, tác động MT, đánh giá sơ bộ chất lượng MTĐ, MTN đồng thời tìm hiểu công tác quản lý, tình hình phát triển KT-XH vùng nghiên cứu (Phụ lục1: Hình 1-4)
+ Môi trường nước: Khảo sát tổng thể đặc điểm nước mặt, nước ngầm và khả năng vận chuyển, lan toả khi nguồn nước bị ô nhiễm; xác định, đo đạc các thông số về tính chất vật lý của nước, màu sắc, độ đục; đánh giá sơ bộ mức độ ô nhiễm và xác định nguồn nước thải gây ô nhiễm; đánh giá khả năng ảnh hưởng của nguồn nước bị ô nhiễm đến môi trường sống
+ Môi trường đất: Khảo sát sơ lược về thành phần, đặc điểm phân bố, khả năng trồng trọt của đất trồng liên quan khu vực mỏ vàng sa khoáng; điều tra làm rõ các nguồn thải từ khai thác, tuyển luyện vàng sa khoáng tác động đến môi trường đất xung quanh; khoanh định và đánh giá sơ bộ mức độ ô nhiễm đất
Lấy mẫu giám định chất thải, bảo quản và phân tích mẫu môi trường đảm bảo tính chính xác, khách quan, khoa học và phù hợp với tình hình thực tế Xác định và lấy tổng số 20 mẫu nhằm giám định chất lượng đất, nước thải sản xuất, nước mặt tại tất
cả các điểm xả ra ngoài phạm vi quản lý của các cơ sở khai thác và tuyển luyện quặng vàng sa khoáng dọc theo dòng sông Na Rì thuộc địa phận 3 xã: Kim Hỷ, Lương Thượng, Lạng San – huyện Na Rì – tỉnh Bắc Kạn
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Đối tượng phỏng vấn là các cán bộ phụ trách công tác bảo vệ môi trường tại các ban ngành địa phương, các công ty hiện đang khai thác vàng sa khoáng trong khu vực nghiên cứu, cán bộ y tế, công nhân đang làm việc tại các khai trường, lao động khai thác vàng thủ công, người dân vùng sở tại nhằm mục đích thu được những thông tin đáng tin cậy và nhanh nhất về các vấn đề ảnh hưởng của việc khai thác vàng sa khoáng
Trang 3124
đến MT, diện tích canh tác nông nghiệp, diện tích rừng, đến người lao động trực tiếp sản xuất tại mỏ và cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh khu vực khai thác Tác động đến các mặt khác trong đời sống KT-XH của địa phương
Công tác thu thập thông tin gồm các nội dung khoảng cách nhà ở của người được phỏng vấn đến khu vực khai thác và tuyển luyện vàng sa khoáng; quy mô và đối tượng của mỏ; công nghệ khai thác và tuyển luyện; hóa chất và các chất độc hại sử dụng trong quá trình khai thác và tuyển luyện vàng sa khoáng; mức độ, phạm vi ô nhiễm môi trường do khai thác và tuyển luyện vàng sa khoáng gây ra; tham vấn ý kiến của người dân về môi trường bị ô nhiễm và sự ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người tại các khu dân cư
Phương pháp này đã được tiến hành song song với phương pháp đánh giá nhanh
MT trong thời gian điều tra tại hiện trường khu vực nghiên cứu Phương pháp đánh giá nhanh có mục tiêu, nhiệm vụ làm rõ hiện trạng khai thác, hiện trạng môi trường tại tất
cả các mỏ khai thác và tuyển luyện vàng sa khoáng được cấp phép, không được cấp phép và đã ngừng hoạt động thuộc 3 xã Kim Kỷ, Lương Thượng, Lạng San huyện Na
Rì tỉnh Bắc Kạn Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường, xác định nguyên nhân gây ô nhiễm Tiến hành khảo sát, điều tra đánh giá diện tích lan tỏa và mức độ ô nhiễm môi trường nước, đất ra ngoài phạm vi khu vực mỏ trên cơ sở đó thiết kế phương án lấy các loại mẫu để đánh giá định lượng mức độ ô nhiễm
2.2.4 Phương pháp phân tích mẫu
Công tác phân tích được sử dụng trong việc quan trắc các mẫu nước mặt, nước thải, đất thải trong quá trìnhkhai thác, tuyển luyện vàng Điều này được thực hiện tuân thủ chặt chẽ đảm bảo đúng các tiêu chuẩn về lấy mẫu nước, mẫu đất đá cho từng loại Phương pháp phân tích dựa theo phương pháp chuẩn trong lĩnh vực chuyên ngành Các kết quả phân tích được so sánh với TCVN và QCVN trên cơ sở đó đánh giá được hiện trạng MT khu vực mỏ vàng sa khoáng Na Rì – Bắc Kạn
Các thông số ô nhiễm nước được phân tích gồm: pH, DO, BOD 5 , COD, Chất rắn lơ lửng (SS), Hg, CN - , Dầu mỡ, Coliform, tổng Nitơ, tổng Phốtpho, nhóm hợp chất Nitơ
Các thông số ô nhiễm đất được phân tích là: Thành phần cơ giới của đất, cChất
hữu cơ, tổng Nitơ, tổng Phốtpho, tổng Kali, As, Hg, Pb, Cd, Cr (VI), Cr (III), Cu, Zn,
Ni, Mn, Fe, Sb, Sn, CN - , F, I Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích được thể hiện ở bảng 2.1
Trang 32Mẫu đất lấy tại trung tâm khu vực ô nhiễm, gần các bãi thải, sau đó lấy theo chiều phát tán của nguồn gây ô nhiễm, khoảng cách mẫu đầu tiên so với nguồn gây ô nhiễm khoảng 25m; các mẫu tiếp theo khoảng cách thưa dần từ 50 đến 100m Ngoài
ra, trong khu vực khai thác bố trí lấy một số mẫu gần khu mỏ nhưng không bị ảnh hưởng của môi trường ô nhiễm, nhằm mục đích xác định chất lượng và đối sánh hàm lượng các thông số môi trường giữa đất không ô nhiễm và đất bị ô nhiễm, để xác định chủ thể gây ô nhiễm môi trường đất Mẫu đất chủ yếu lấy trong tầng thổ nhưỡng, đất
trồng trọt của nhân dân
Mẫu đất được lấy ở ở độ sâu 0-20 cm theo cách lấy mẫu hỗn hợp Mẫu trầm
tích trên sông Na Rì, được thu bằng gàu cạp và các dụng cụ chuyên dùng khác Mỗi vị trí lấy mẫu đất được lấy từ 3-5 mẫu xung quanh tâm tọa độ vị trí lấy mẫu sau đó trộn đều các mẫu với nhau, chia trung bình và lấy mẫu trung bình cho từng vị trí Mẫu sau khi thu được chứa trong các chai thủy tinh màu nâu được kí hiệu theo qui định và đem
về phòng thí nghiệm Mẫu được phơi ở nhiệt độ phòng đến khi khô, sau đó được nghiền và qua rây có mắt lưới 0,5mm
Mẫu nước được lấy tại các mỏ khai thác, tuyển luyện vàng sa khoáng gây ô nhiễm môi trường nước theo nguyên tắc lấy từ vị trí phát thải ô nhiễm sau đó mở rộng
ra xung quanh Mẫu nước thải được lấy trực tiếp từ cửa xả nước thải ra sông Na Rì Mẫu nước sông được lấy ở độ sâu khoảng 20cm
Đối với mẫu nước mặt còn lấy thêm các mẫu ngoài phạm vi không ô nhiễm để đối sánh
- Thời gian lấy mẫu vào mùa khô và mùa mưa năm 2012 Mùa khô vào tháng 04
và mùa mưa vào tháng 8 năm 2012
Trang 333 BOD5 Phương pháp pha loãng theo TCVN 6001-1995
4 TSS Phương pháp khối lượng sau khi lọc, sấy ở nhiệt độ 105oC
đến khối lượng không đổi theo TCVN 4560-1988
7 Kim loại nặng Phương pháp cực phổ và PP quang phổ hấp thụ nguyên tử
8 Các anion Phương pháp so màu
9 Coliformts Theo TCVN 6187-1: 1996; TCVN 6187-2:1996
2.2.5 Phương pháp phân tích tổng hợp, tính toán lựa chọn công nghệ
Từ việc khảo sát điều tra tình hình khai thác, hiện trạng MT cũng như những tác động tiêu cực của hoạt động khai thác vàng sa khoáng Trên cơ sở nghiên cứu những giải pháp công nghệ khai thác hiện nay của khu vực Na Rì – Bắc Kạn, đã phân tích, đề xuất những giải pháp công nghệ hợp lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm tới môi trường đất, nâng cao hiệu quả kinh tế của việc khai thác vàng sa khoáng
Trang 3427
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
3.1.1 Vị trí địa lý
Na Rì là huyện miền núi nằm ở phía Đông của tỉnh Bắc Kạn, có diện tích 864,5
km2, là khu vực tập trung nhiều vàng sa khoáng nhất khu vực phía Bắc Huyện Na Rì
có vị trí địa lý như sau:
Phía Bắc giáp: Cao Bằng
Phía Tây giáp: Thị xã Bắc Kạn, huyện Bạch Thông, Chợ Mới (Bắc Kạn)
Phía Nam giáp: Thái Nguyên
Phía Đông giáp: Bắc Giang, Lạng Sơn
Na Rì là huyện giàu tiềm năng về vàng sa khoáng của tỉnh Bắc Kạn nói riêng và khu vực phía Bắc nói chung Vàng sa khoáng trong huyện tập trung phân bố chủ yếu dọc sông Ngân Sơn, sông Na Rì trong đó có mỏ vàng Lương Thượng và Tân An
3.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Tỉnh Bắc Kạn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa trung bình 50-90mm/tháng, cao nhất là 380mm/tháng, nhiệt độ trung bình từ 26-270C, ngày nóng nhất tới 400C Mùa khô từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau, mùa này thời tiết khô hanh nhiệt
độ trung bình từ 15-180C, thấp nhất là 00C, đôi khi có băng giá Từ giữa tháng 1 đến tháng 3 trong vùng thường có mây mù và mưa phùn kéo dài, đi lại rất vất vả
Huyện Na Rì nói chung và khu vực mỏ vàng sa khoáng Na Rì nói riêng có sông Ngân Sơn chảy qua Sông Ngân Sơn bắt nguồn từ Trung Hòa - Vân Tùng (Ngân Sơn) chảy qua Lương Tùng về Lương Hạ (Yên Lạc) rồi chảy sang tỉnh Bắc Giang Từ ranh giới tỉnh Bắc Giang được gọi là sông Bắc Giang Nhánh sông rẽ từ Lương Thành về Hữu Thác được gọi là sông Na Rì Lưu lượng lớn nhất của sông vào tháng 7, Qmax =
169400 l/s, mùa khô dòng chảy thu nhỏ, lưu lượng ổn định Qmin= 19,2 l/s Hệ số biến đổi
Trang 3528
giữa hai mùa K1= 3,35 Nhìn chung lưu lượng sông thay đổi luôn phụ thuộc chủ yếu
vào lượng mưa
Bao quanh khu mỏ Na Rì- Lương Thượng là các ngọn núi Các nhánh suối đều
bắt nguồn từ các ngọn núi phía Bắc và đổ nước vào thung lũng Các con suối đều ngắn, độ
dốc lớn, lưu lượng các con suối thay đổi theo mùa, mùa mưa lưu lượng lớn nhất Qmax =
12,2-108,8 l/s, mùa khô lưu lượng nhỏ nhất Qmin = 10,2-0,6 l/s Hệ số biến đổi giữa hai
mùa rất lớn K2 = 20-10
Chất lượng nước sông, đoạn chảy qua thung lũng hầu như bị ô nhiễm do người
dân đào đãi vàng ngay trên sông một cách bừa bãi Kết quả phân tích thành phần hoá
học của nước cho thấy độ pH 6,5, tổng khoáng chất khoáng hòa tan 0,07-0,15 g/l
Nhiệt độ nước thay đổi từ 19-200C Nước thuộc loại bicatbonat canxi, nguồn cung cấp
chủ yếu là nước mưa
Phức hệ chứa nước ngầm trong trầm tích Đệ tứ (Q) không phân chia, phân bổ
trên toàn bộ khu vực điều tra, thăm dò Có chiều dày lớn nhất là 25m, chỗ mỏng nhất
là 2m, phía đáy là nền đá vôi lởm chởm, mực nước tĩnh có chiều sâu từ 1,80-8,60m;
lưu lượng của các mạch nước thường từ 1-40 l/s Kết quả phân tích một số chỉ tiêu chất
lượng nước thuộc khu vực nghiên cứu (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Kết quả phân tích mẫu nước thuộc khu vực nghiên cứu
TT Tầng chứa nước pH Tổng khoáng
Trang 3629
Huyện Na Rì là huyện miền núi, kinh tế trong vùng chủ yếu là nông nghiệp, kết hợp chăn nuôi và một số ngành nghề tiểu thủ công Công nghiệp trong vùng hầu như chưa phát triển Trong những năm gần đây nhờ hoạt động khai thác, đào đãi vàng tự nhiên, nhiều doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh, tình hình xã hội cũng trở nên phức tạp như những vùng đào vàng khác tại Việt Nam
Dân cư tại đây thưa thướt chủ yếu là dân tộc Tày với 2 dòng họ chính là Nông
và Hoàng; ngoài ra, còn có các dân tộc Kinh và Dao Các xã trong huyện đều có trường học, bệnh xá Huyện có đường quốc lộ 279 từ ngã 3 Lãng Ngầm- Hương Lê (quốc lộ 3) qua Hương Lê - Thuần Mang - đèo Khâu Pi đến Lương Thượng về Hương Thành, Lam Sơn qua chân núi Pia Ngâm sang tỉnh Bắc Giang Tuyến đường này đã được trải nhựa có chất lượng tốt, thuận tiện cho vận tải bộ về Bắc Kạn - Hà Nội hoặc
đi Cao Bằng, Bắc Giang Theo tuyến đường này tính từ điểm mỏ vàng Lương Thượng
ra quốc lộ 3 đi từ Hà Nội đến thị xã Bắc Kạn dài khoảng 80km Hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá tương đối thuận lợi Hiện nay, nhờ phát triển công nghiệp khai thác
đã góp phần cải thiện đời sống văn hoá kinh tế - xã hội cho nhân dân xung quanh khu vực mỏ (Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý, giao thông huyện Na Rì)
3.2 ĐẶC ĐIỂM KHU MỎ VÀNG SA KHOÁNG NA RÌ
3.2.1 Đặc điểm địa chất khoáng sàng
Cấu trúc địa chất khu vực nghiên cứu là các trầm tích bở rời gồm cát, sét, sỏi, sạn, đá tảng Phân bố dọc 2 bờ sông Ngân Sơn được tạm chia thành 4 đơn vị địa mạo khác nhau, đặc biệt trong đó có vàng sa khoáng tập trung tạo thành những thân quặng
có trữ lượng khác nhau
Sau đây là phần mô tả chi tiết các đơn vị địa tầng từ trẻ đến già như sau:
- Bãi bồi thấp (aQ2Nb)
Diện phân bố của trầm tích này, không ổn định theo thời gian và theo nước sông Trên bản đồ phân bố thành dải dọc theo sông Ngân Sơn - Bắc Giang, với chiều rộng từ 20-100m, dày 0,2-0,6m thành phần chính là cát, cuội sỏi, tảng, sét, cát Trong bãi bồi có chứa vàng vẩy nhỏ liti với hàm lượng không đáng kể
Trang 3730
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý, giao thông huyện Na Rì [24]
Trang 3831
- Bãi bồi cao (aQ2a)
Phân bố ở phía bờ phải thành giải liên tục dọc thung lũng còn ở bờ trái chúng phân bổ không liên tục thành giải hẹp, chiều rộng trung bình 200-1.100m Trầm tích bãi bồi cao gồm hai tập:
Tập trên (aQ2a 2): Thành phần thạch học là sét pha cát trong đó chủ yếu sét, sét màu xám, đều có chứa mùn hữu cơ có bề dày từ 2,40-8,80m Trong tập này có chứa vàng sa khoáng ở dạng vảy nhỏ với hàm lượng rất thấp Nhiều nơi gần như không có vàng
Tập dưới (aQ2a 1): Trầm tích bở rời chứa vàng thành phần gồm cát, cuội, sỏi, tảng chiếm 70-80%, sét 5-15%, đá tảng 5-15%, thành phần cuội, sỏi sạn tảng chủ yếu
là thạch anh Độ mài tròn và lựa chọn tốt, các thành phần cuội sỏi khác là diabaz, cát kết, đá, phiến ít Ngoài ra trong trầm tích bở rời, có chỗ gặp những thấu kính đất sét mỏng, phần đáy giáp đá vôi có nhiều tảng lăn, ở một số nơi có sét lót đáy chiều dày 20-28m Ở Lương Thượng, trong tập này là nơi có tích tụ vàng sa khoáng, trong trầm tích bở rời của tập dưới, các thân quặng đạt giá trị công nghiệp Thân quặng phân bố kéo dài không liên tục với bề dày từ 2,3m đến hơn 20m Có nơi được lót bởi lớp sét dày từ 1-2m Vàng thường tập trung ở độ sâu 8-15m kích thước hạt vàng từ 0,3-0,5mm rất ít gặp hạt có kích thước 2-3mm Vàng có dạng vảy nhỏ li ti hầu như phân bố đồng đều nhưng chiếm tỷ lệ không đáng kể Vàng có hàm lượng cao ở những nơi thân quặng ở phần dưới có đá tảng đường kính 0,2-0,3m, hoặc những nơi trầm tích bở rời
có chứa nhiều oxit sắt màu nâu hoặc màu xám xanh
Vàng có hàm lượng trung bình 93-94%, vàng ở trong thềm sót trên núi đá vôi (thềm 3) như ở Nà Mìn, Bãi Mây và những vùng tương tự, có vùng cao hơn, trung bình
là 96%, vàng trong vùng này dân thường nói vàng sông có tuổi thấp hơn vàng núi Đây
là điểm khác biệt so với vàng sa khoáng ở các nơi khác
Trang 3932
Thành phần gồm cát, cuội, sỏi, sạn thạch anh chiếm 60-80% tảng có kích thước trên 20 cm, chiếm khoảng 10%, còn lại là sắt, ít hòn sạn sỏi là cát kết thềm dài từ 0,3-3,50m, vàng ở thềm này có hàm lượng thay đổi từ rất ít đến vài g/m3 và phần lớn cũng
bị dân đào bới khai thác nham nhở không còn ý nghĩa công nghiệp (ở Lương Thượng vắng mặt thềm bậc II, thềm này có mặt ở phía đông nam thung lũng Tân An)
- Thềm bậc III: Là thềm sót với diện phân bố ở bản Nà Mìn, Bãi Mây; nằm trên
độ cao 400-450m của sườn núi đá vôi tương đối ít dốc Có chiều rộng từ 20-50m, dài 100-250m Thành phần gồm cát, cuội, sỏi, sạn, thạch anh chiếm tới 60-70% ngoài ra còn ít cuội là cát kết, cuội tròn cạnh, đá tảng có kích thước 20cm chiếm 10% tạp chất, sét chiếm khoảng 10-15%
Trong thềm này có chứa vàng sa khoáng kích thước hạt vàng trung bình 1mm Ngoài ra có vẩy nhỏ li ti và có cả vảy lớn, hàm lượng vàng trung bình từ 0,01g-1 hoặc 2g/m3 Khi được tái lắng đọng có thể đạt tới hàng chục g/m3, hiện tượng thềm này do bị phá huỷ từ các trầm tích bở rời của thềm và vàng được đưa xuống thấp hơn chui vào các hang hốc và khe nứt đá vôi Ngoài ra còn lẫn trong đất mặt ở sườn núi hay ở những địa hình thấp hơn
0,5-Nhìn chung thềm bậc III còn sót lại không nhiều nhưng có đặc điểm chung làm hàm lượng vàng cao có nhiều nơi địa hình rất cao, loại này được người Trung Quốc và người Pháp đã khai thác bằng phương pháp thủ công Loại bậc thềm này không thuận lợi cho việc khai thác công nghiệp do đặc điểm qui mô nhỏ, ở vị trí địa hình cao khó khai thác Trước đây và hiện nay có nhiều người khai thác tự do, tình hình an ninh phức tạp nên Nhà nước không tiến hành những công việc thăm dò chi tiết ở các vùng này
Căn cứ vào tài liệu địa chất khu vực cho thấy trong vùng nghiên cứu có 2 hệ thống đứt gãy Hệ thống đứt gãy chạy ngang thung lũng từ Van Khít sông Ngân Sơn - Bắc Giang có phương đông bắc - tây nam Hệ thống này trùng hoặc gần trùng với các suối ngầm từ vùng núi đá vôi chảy về mùa khô có thể chui xuống một vài cửa hút của suối ngầm này ở sau bản Van Khít
Hệ thống đứt gãy gần trùng sông Ngân Sơn - Bắc Giang có phương đông bắc - tây nam Liên quan đến hệ thống này có đá diabaz, chúng được gặp trong lỗ khoan ở
Trang 4033
độ sâu từ 22,2-24,8m Ngoài vàng còn có pirit, thủy ngân, manhetit, granit, zircon, vàng có hàm lượng không cao bằng vàng ở thềm sót trên núi (94-96%) [17]
Từ các tài liệu này có thể suy đoán dưới đáy các khu vực mỏ vàng sa khoáng
Na Rì không loại trừ khả năng tồn tại vàng gốc
3.2.2 Đặc điểm cấu tạo và phân bố các thân quặng vàng sa khoáng
Phần trên đã nêu những đặc điểm chủ yếu của vàng sa khoáng trong các đơn vị địa mạo, cho thấy thân quặng có giá trị công nghiệp đều nằm ở bãi bồi cao trong thung lũng
có thành phần thạch học tương đối giống nhau Việc khoanh nối các thân quặng chủ yếu dựa vào chỉ tiêu hàm lượng biên, chiều dày lớp kẹp, chiều dày tối thiểu của thân quặng đồng thời kết hợp với vị trí không gian của chúng
- Thân quặng 1:
Phân bố thành dải, nằm cách chân núi đá vôi ở tây nam từ 300-350m Vật chất sét chiếm 50% (thân quặng này có nhiều đặc điểm giống thân quặng 7) Thân quặng dài trên 800m, rộng 80m, dày 2,5m nằm treo cách nền đáy từ 2,3-5m, hàm lượng vàng trung bình 0,19 g/m3 Trữ lượng xấp xỉ 25 kg vàng Ở những địa hình tương tự trong địa hình ở bản Van Khít có nhiều nơi chiếm diện tích khá lớn đã bị người Trung Quốc và dân địa phương khai thác cạn kiệt để lại nhiều hầm hố khai thác chi chít
- Thân quặng 2:
Nằm sát bờ phải sông Ngân Sơn được khoanh tách riêng với thân quặng 5 ở dưới
nó dựa vào chỉ tiêu tính trữ lượng Thân quặng nằm cách mặt đất khoảng 2m Chiều dài xấp xỉ 1500m, chiều rộng từ 100m đến 250m Hàm lượng vàng 0,29-0,8 g/m3 Trữ lượng C2 = 179 kg Thành phần thạch học gồm: Cát, cuội, sỏi, sạn chiếm 70-80% sắt chiếm khoảng 10-15%, tảng thạch anh tròn cạnh 10-15% Thân quặng này đã bị dân dùng tời khai thác phần trên mặt
- Thân quặng 3:
Nằm ở dưới thân quặng 2, cách thân quặng 2 theo chiều thẳng đứng từ 0,8m, đến 10,5m đây là thân quặng lớn nhất Chiều dài xấp xỉ 1500m, chiều rộng từ 200m đến 350m Hàm lượng từ 0,48 g/m3 đến 1,99 g/m3 trữ lượng tính được bằng C2 = 1.014,4kg Thành phần thạch học tương tự thân quặng 2 ở trên