Đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của Luật thuế bảo vệ môi trường trong phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam ..... Số liệu tổng quan về các nguồn nhiên liệu hóa thạch của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
LA THỊ CẨM VÂN
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO ẢNH HƯỞNG CỦA LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỚI
SỰ PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin được gửi tới cô giáo - TS Nguyễn Thị Hoàng Liên lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất Cô là người đã trực tiếp giao đề tài và tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Môi trường đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Và tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị cơ quan, các bác, các cô và các bạn đã giúp đỡ tôi nghiên cứu hoàn thành tốt bản luận văn
Cuối cùng tôi xin được cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, đã luôn động viên, cổ vũ để tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Hà Nội, tháng 04 năm 2012
Học viên
La Thị Cẩm Vân
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Các vấn đề liên quan đến khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa thạch 3
1.1.1 Sự cạn kiệt của các nguồn nhiên liệu hóa thạch 3
1.1.2 Các vấn đề môi trường do sử dụng nhiên liệu hóa thạch 5
1.2 Kinh nghiệm quốc tế về các khoản thu nhằm bảo vệ môi trường 7
1.3 Xu hướng sử dụng năng lượng tái tạo để thay thế nhiên liệu hóa thạch 9
1.4 Giới thiệu về Luật thuế bảo vệ môi trường 23
1.4.1 Mục tiêu, yêu cầu xây dựng Luật thuế bảo vệ môi trường 23
1.4.2 Bố cục của Luật thuế bảo vệ môi trường 24
1.4.3 Nội dung chính của Luật thuế bảo vệ môi trường 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu 29
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 29
2.3.3 Phương pháp chuyên gia 29
2.3.4 Phương pháp điều tra xã hội học 30
2.3.5 Phương pháp RIA (đánh giá tác động pháp luật) 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Hiện trạng sử dụng nhiên liệu hóa thạch ở Việt Nam 33
3.1.1 Than 33
3.1.2 Dầu khí 34
3.2 Các vấn đề môi trường do khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa thạch ở Việt Nam 35
Trang 43.2.1 Các vấn đề môi trường do khai thác và sử dụng than 35
3.2.2 Các vấn đề môi trường do khai thác và sử dụng xăng, dầu 37
3.3 Đánh giá, dự báo tác động của Luật thuế bảo vệ môi trường tới việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch ở Việt Nam 38
3.3.1 Tác động về kinh tế 39
3.3.2 Tác động về môi trường 43
3.3.3 Tác động về xã hội 46
3.4 Đánh giá, dự báo ảnh hưởng của Luật thuế bảo vệ môi trường tới việc phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam 49
3.5 Đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của Luật thuế bảo vệ môi trường trong phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Trữ lượng năng lượng hóa thạch trên thế giới năm 2010 4
Bảng 1.2: Mức thu thuế nhằm bảo vệ môi trường ở một số quốc gia trên thế giới 8
Bảng 1.3 Tiềm năng năng lượng tái tạo thế giới 10
Bảng 1.4: Các số liệu về công suất pin mặt trời đã lắp đặt 12
Bảng 1.5: Số liệu về bức xạ mặt trời trung bình tại một số địa phương 16
Bảng 1.6: Biểu khung thuế bảo vệ môi trường 25
Bảng 3.1: Trữ lượng năng lượng không tái tạo ở Việt Nam năm 2010 33
Bảng 3.2: Trữ lượng dầu khí các bể trầm tích ở Việt Nam 34
Bảng 3.3: Số thu thuế môi trường dự kiến 40
Bảng 3.4: Chi phí tăng thêm khi đánh thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu đầu vào 41
Bảng 3.5: Số liệu về bức xạ mặt trời ở Việt Nam 51
Bảng 3.6: Tiềm năng lý thuyết khí sinh học ở Việt Nam 53
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Mức tiêu thụ năng lượng trên thế giới 3 Hình 1.2: Lượng thải CO2 theo các dạng nguồn 9 Hình 1.3: Báo cáo của REN21 về tình hình tái tạo năng lượng toàn cầu
cuối năm 2006 11 Hình 1.4: Quá trình chuyển hóa năng lượng sinh học 21 Hình 3.1: Nhu cầu xăng dầu của Việt Nam những năm qua và dự báo
cho đến năm 2025 37 Hình 3.2: Tổng hợp ý kiến về mức thuế đối với than, xăng, dầu 43 Hình 3.3: Tổng hợp ý kiến về mức độ ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu
hóa thạch 45 Hình 3.4: So sánh tác động tới môi trường giữa năng lượng tái tạo và
năng lượng hóa thạch 45 Hình 3.5: Tổng hợp ý kiến về tác động của Luật thuế bảo vệ môi trường
tới người sản xuất, tiêu dùng 46 Hình 3.6: Sản xuất điện năng năm 2007 50 Hình 3.7 Trữ lượng dầu tương đương trong một năm từ các phụ phẩm
nông nghiệp 54 Hình 3.8: Các phương án sử dụng năng lượng 57 Hình 3.9: Mức độ ảnh hưởng của năng lượng tái tạo tới môi trường 60
Trang 7MỞ ĐẦU
Thế giới vào những năm đầu của thế kỷ thứ 21 đang đứng trước nhiều vấn đề cần phải đối mặt Trong đó, vấn đề được xem là nóng bỏng nhất và thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà khoa học cũng như chính phủ các quốc gia hiện nay là sự khủng hoảng về năng lượng
Cơ quan Thông tin Năng lượng [24] đã dự báo rằng nhu cầu tiêu thụ tất
cả các nguồn năng lượng đang có xu hướng tăng nhanh Giá của các năng lượng hóa thạch vẫn rẻ hơn so với các nguồn năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo Đây chính là nguyên nhân khiến cho các nguồn năng lượng hóa thạch trên thế giới như dầu mỏ, than đá, khí thiên nhiên vẫn được coi là nguồn nhiên liệu chủ yếu để nhằm thỏa mãn những đòi hỏi về năng lượng và chính điều đó sẽ dẫn đến sự cạn kiệt nguồn năng lượng hóa thạch trong một thời gian không xa
Việt Nam là một nước đang phát triển, nhu cầu năng lượng ngày càng lớn, đối mặt với việc nguồn nguyên liệu hóa thạch, những nguồn năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt, chính phủ và các ngành chức năng đã đưa ra nhiều biện pháp như tìm các nguồn năng lượng mới, tiết kiệm năng lượng Đặc biệt là việc ban hành các quy định, các văn bản pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý việc khai thác và sử dụng các nguồn nguyên liệu hóa thạch một cách bền vững
Luật thuế bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010, có hiệu lực từ ngày
01 tháng 01 năm 2012, trong đó quy định thuế suất với các dạng nhiên liệu như xăng, dầu, than Khi Luật thuế bảo vệ môi trường được thực thi sẽ gây
ra những ảnh hưởng về mặt kinh tế, môi trường và xã hội Vì vậy việc đánh giá và dự báo những ảnh hưởng của Luật này là hết sức cần thiết Đây chính
là lí do mà đề tài “Đánh giá và dự báo ảnh hưởng của Luật thuế bảo vệ môi
Trang 8trường tới sự phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam” được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp và cơ chế nhằm nâng cao hiệu quả của Luật thuế bảo vệ môi trường đến phát triển các ngành năng lượng mới nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các vấn đề liên quan đến khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa thạch
1.1.1 Sự cạn kiệt của các nguồn nhiên liệu hóa thạch
Nhu cầu năng lượng vẫn tăng lên đều đặn trong hai thập kỉ qua, nguồn nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm 90% tổng nhu cầu về năng lượng cho đến năm
2010 và nhu cầu năng lượng trên thế giới cũng không đồng đều nhau Đó là 3 nhận định chung nhất về tình hình năng lượng trên thế giới hiện nay Điều này được thể hiện rõ trong hình sau:
Hình 1.1: Mức tiêu thụ năng lượng trên thế giới
Than
Thủy điện Năng lượng hạt nhân
Trang 10cũng có tỷ lệ khác nhau, ví dụ như Trung Quốc và Mỹ là hai quốc gia tiêu thụ năng lượng nhiều nhất, ở Trung Quốc, dạng nguyên liệu chủ yếu là than, còn
ở Mỹ các dạng nguyên liệu tương đối cân bằng, chủ yếu là dầu, khí và than Nguồn năng lượng hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt, cụ thể: Sản lượng dầu giảm mạnh, năm 2009 giảm 2 triệu thùng, đây là mức giảm lớn nhất kể từ năm 1982 Các nước OPEC giảm sản lượng khoảng 5 triệu thùng trong đó các nước Ả Rập có trữ lượng giảm lớn nhất Đối với khí đốt, năm 2009 sản lượng khí đốt giảm 2,1%, trong đó sản lượng giảm mạnh nhất ở Nga và Turkmenistan
Đối với than, nhu cầu than cho sản xuất điện ngày càng tăng dự kiến tăng từ 41% - 44% vào năm 2030 Từ năm 2000, lượng than tiêu dùng tăng 4,9%/năm so với các dạng năng lượng khác Năm quốc gia tiêu dùng than nhiều nhất là Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật, Nga [10]
Với những số liệu trên, rõ ràng là nguồn nguyên liệu dầu và khí đốt ngày càng giảm mà nhu cầu về năng lượng của con người ngày càng tăng Số liệu tổng quan về các nguồn nhiên liệu hóa thạch của thế giới theo Hội đồng năng lượng toàn cầu [24] được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Trữ lượng năng lượng hóa thạch trên thế giới năm 2010
(Mt)
Khí tự nhiên (Gm 3 )
Than đá (Mt)
Như vậy trong vài chục năm tới với mức sử dụng năng lượng như hiện nay, nguồn nguyên liệu hóa thạch sẽ cạn kiệt Điều này sẽ dẫn đến những biến động lớn về kinh tế và chính trị do sự tranh giành giữa các nước về nguồn
Trang 11năng lượng Rõ ràng là năng lượng tái tạo đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ổn định lại sự khủng hoảng năng lượng trên toàn thế giới
1.1.2 Các vấn đề môi trường do sử dụng nhiên liệu hóa thạch
Đối với khai thác và sử dụng than: việc khai thác và sử dụng than đá có
tác động lớn tới môi trường Trong thăm dò, điều tra, khảo sát có thể gây tác động lớn tới tài nguyên đất, tài nguyên rừng, các khu vực sông suối tại vùng thăm dò, khảo sát Có hai dạng mỏ than cơ bản là vỉa than lộ thiên trên bề mặt
và các mỏ than nằm sâu dưới lòng đất Khai thác các vỉa than trên mặt thường
ít tốn kém, an toàn cho thợ mỏ và có thể khai thác triệt để hơn so với khai thác dưới hầm mỏ Tuy nhiên khai thác trên bề mặt gây ra nhiều vấn đề môi trường như làm mất lớp thực vật và lớp đất mặt, gia tăng xói mòn đất, mất nơi
cư trú của nhiều loài sinh vật, đồng thời phương pháp này tạo ra lượng đất thải lớn, nước thoát ra từ những mỏ khai thác này chứa axit và các khoáng độc, gây ô nhiễm nước, ô nhiễm đất
Khai thác than dưới các hầm mỏ sâu dưới lòng đất gây nguy hiểm cho con người với độ rủi ro cao, không khí dưới hầm lò bị ô nhiễm do bụi, khí than, để chống lò phải tiêu hao một lượng gỗ nhất định và có thể xảy ra các tai nạn hầm lò như sụt, lún hầm, nổ khí than Sau khi khai thác, quặng than cần được sàng, rửa để loại bỏ đất đá, các loại quặng khác Khi nước tiếp xúc với các kim loại nặng có trong đất đá thải hoặc vật liệu đã khai thác, có thể gây ra
ô nhiễm nước mặt và nước ngầm Ngoài ra, ở nhiều nơi hoạt động khai thác gần khu dân cư đô thị khiến cho người dân chịu ô nhiễm bụi nặng nề
Việc đốt than gây ra ô nhiễm không khí do sự phát thải SO2, CO2, NOx,… Tính trên một đơn vị nhiệt lượng phát ra thì đốt than thải ra nhiều chất ô nhiễm hơn các nhiên liệu hoá thạch khác (dầu, khí) Than, nhất là than bitum, chứa lưu huỳnh, ni-tơ Khi đốt, chúng thải vào khí quyển các lưu huỳnh oxit, nitơ oxit,… Các oxit này tác dụng với hơi nước trong khí quyển thành mưa
Trang 12rơi xuống Chính vì vậy, việc đốt than đã gián tiếp góp phần vào quá trình biến đổi khí hậu làm suy thoái môi trường toàn cầu mà nổi bật là hiện tượng hiệu ứng nhà kính và mưa axít
Sau quá trình đốt than để lại một lượng phế thải rất lớn Phế thải này gồm tro mịn bay lên không và xỉ cục đóng lại ở đáy lò Trong xỉ than có thể
có những chất độc hại sẽ thấm dần vào nước ngầm Theo tính toán “một nhà máy nhiệt điện chạy than công suất 1.000 MW hàng năm thải ra môi trường 5 triệu tấn CO2,18.000 tấn NOx, 11.000 - 680.000 tấn phế thải rắn” [9] Trong thành phần chất thải rắn, bụi, nước thải thường chứa kim loại nặng và chất phóng xạ độc hại
Dầu và khí thiên nhiên
Dầu và khí thiên nhiên có ở trong đất liền và ở ngoài biển khơi Dầu và khí đốt đang và sẽ là nguồn năng lượng quan trọng trong vài thập kỷ tới Hiện nay, khai thác dầu và khí đốt đang tạo ra các vấn đề môi trường như sau:
- Khai thác trên thềm lục địa gây sụt lún đất, có vùng bị sụt tới 9m như LosAngeles (Mỹ) [9] “Ô nhiễm có thể do dầu, thoát từ các túi chứa dầu tự nhiên Hiện nay, ước lượng hàng năm có 600.000 tấn dầu mỏ thoát vào nước biển theo dạng này, chiếm 50% tổng số dầu ô nhiễm trong các đại dương, 20% do dầu tràn khỏi giếng khai thác, vỡ ống dẫn dầu Khai thác dầu trên biển hiện là nguyên nhân đóng góp khoảng 50% vào việc gây ô nhiễm biển” [9]
- Chế biến dầu gây ô nhiễm dầu và kim loại nặng, kể cả kim loại phóng
xạ cho môi trường đất và nước khu vực
- Quá trình đốt dầu khí tạo ra các chất khí thải tương tự như đốt than Dầu đốt không sinh ra SOx,nhưng lại sinh ra NOx,chủ yếu từ xăng đốt trong các xe ôtô
NOx và SOx do đốt dầu chỉ bằng 1/10 do đốt than, bụi ít hơn nhiều và không có xỉ than Đốt khí tự nhiên ít gây ô nhiễm hơn dầu và than, chỉ sinh ra CO2, một ít CO,
NOx và hơi nước, đây là dạng nhiên liệu hoá thạch sạch nhất
Trang 13- Trong quá trình khai thác, vận chuyển dầu có thể gây ra các sự cố như tràn dầu do đắm tàu, rò rỉ giếng khoan,… Ô nhiễm dầu gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường Những hợp phần nặng của dầu lắng xuống đáy hoặc bị sóng đánh dạt vào cửa sông sẽ tác động lâu dài lên hệ sinh thái Dầu dạt vào bãi biển làm ngưng các hoạt động đánh bắt hải sản, du lịch Đất bị ô nhiễm dầu có thể trở thành đất chết Dầu xâm nhập vào làm thay đổi kết cấu, đặc tính cơ lý học của đất như giảm khả năng tự làm sạch của đất, giảm khả năng kết dính của các hạt keo đất
1.2 Kinh nghiệm quốc tế về các khoản thu nhằm bảo vệ môi trường
Kinh nghiệm thế giới cho thấy đóng góp chính của lĩnh vực tài nguyên
và môi trường cho ngân sách là thuế đất đai, các loại thuế, phí môi trường, thuế khai thác, sử dụng tài nguyên và một số hình thức thu khác
Thuế, phí liên quan đến môi trường được áp dụng trư ớc tiên tại các nước Bắc Âu trong chiến lược „xanh hóa hệ thống thuế‟, sau đó trở nên phổ biến trên toàn thế giới, đóng góp khá lớn vào nguồn thu ngân sách quốc gia Doanh thu từ nhóm thuế phí môi trường trung bình chiếm khoảng 5% tổng GDP (dao động từ 3% tới 13%) tại nhiều quốc gia Nếu chia theo đầu người thì một người dân phải đóng các loại thuế/phí môi trường dao động từ 100 USD tới
1700 USD tùy từng quốc gia (trung bình là 500 USD/1 người/1 năm) Xu hướng chung cho thấy, phần đóng góp của nhóm thuế, phí này trong tổng thu ngân sách cũng gia tăng trong những năm cuối thập kỷ 90 và đầu những năm
Trang 14Một số loại thuế, phí ô nhiễm môi trường phổ biến bao gồm: phí gây ô nhiễm không khí, thuế carbon, thuế lưu huỳnh, phí gây suy thoái tầng ôzôn, phí nước thải, thuế bãi rác, thuế xăng dầu, thuế sử dụng khí gas, thuế môi trường khi tiêu dùng điện, thuế môi trường khi sản xuất điện, thuế môi trường
do dùng bếp và năng lượng sinh học, thuế đăng ký phương tiện ô tô, xe máy, máy bay (xem phần phụ lục) Bảng 1.2 dưới đây cho thấy mức thu thuế nhằm mục đích bảo vệ môi trường ở một số quốc gia trên thế giới
Bảng 1.2: Mức thu thuế nhằm bảo vệ môi trường ở một số quốc gia
trên thế giới [3]
Quốc
Căn cứ tính thuế
1 Euro/Mwh 0,3 Euro/Gj, 0,3 Euro/Gj
Áp dụng thuế tuyệt đối:
Euro/đơn vị sản phẩm
Thuế nhiên liệu:
25 NDT/tấn 37,6 NDT/tấn
Thuế suất x số lượng
Trang 151.3 Xu hướng sử dụng năng lượng tái tạo để thay thế nhiên liệu hóa thạch
Trong tình hình nguồn cung cấp nhiên liệu hoá thạch ngày càng hạn chế, giá dầu mỏ tăng cao, vấn đề an toàn năng lượng đã trở nên cấp bách đối với tất cả các nước trên thế giới Nguồn năng lượng hóa thạch không những dần cạn kiệt mà sử dụng chúng còn gây ô nhiễm môi trường, góp phần gia tăng khí nhà kính gây nên hiện tượng ấm lên toàn cầu Hình 1.2 dưới đây cho thấy lượng khí CO2 sinh ra do sử dụng năng lượng
Hình 1.2: Lượng thải CO 2 theo các dạng nguồn
[Nguồn: Viện năng lượng chính sách Tài nguyên và Môi trường]
Do nhu cầu về năng lượng tăng cao, nguồn năng lượng hóa thạch vừa gây ô nhiễm môi trường vừa cạn kiệt, sử dụng năng lượng tái tạo là xu hướng ngày càng tăng trên toàn thế giới Năng lượng tái tạo với tiềm năng rất lớn đã
và đang được khai thác trên thế giới Bảng 1.3 dưới đây cho thấy tiềm năng và khả năng khai thác năng lượng tái tạo[10]
Trang 16Bảng 1.3 Tiềm năng năng lượng tái tạo thế giới
Nguồn Tiềm năng kỹ thuật
(1exa joule = 1018 joule)
Như vậy có thể thấy tiềm năng năng lượng tái tạo là vô cùng lớn tuy nhiên khả năng khai thác nguồn năng lượng tái tạo này là chưa cao Để giảm
sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch chúng ta cần phải sử dụng nguồn năng lượng tái tạo sẵn có nhiều hơn nữa
Hình 1.3 dưới đây cho thấy tình hình sử dụng năng lượng tái tạo trên thế giới đến cuối năm 2006 Có thể thấy rằng nguồn năng lượng tái tạo đã được con người quan tâm và sử dụng tuy nhiên sự đóng góp của năng lượng tái tạo trong cán cân năng lượng còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng của nó
Trang 17Hình 1.3: Báo cáo của REN21 về tình hình tái tạo năng lượng toàn cầu
cuối năm 2006
[Nguồn: www.ren21.net/pdf/RE2007_Global_Status_Report.pdf]
Kinh nghiệm của thế giới cho thấy từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế
kỷ XX, sau cuộc khủng hoảng về dầu lửa trên qui mô toàn cầu, nhiều quốc gia
đã khẩn trương tìm đến những nguồn năng lượng tự nhiên dồi dào và có sẵn như: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sinh khối… Hiện nay nhiều nước trên thế giới như Đức, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc đang đẩy mạnh khai thác nguồn tài nguyên này Nguyên nhân chính là năng lượng truyền thống (than, dầu, khí, ) sắp cạn kiệt, nguồn cung cấp biến động về giá cả, chịu ảnh hưởng của chính trị và việc sử dụng chúng làm tăng khí thải gây hiệu ứng nhà kính làm tăng nhiệt độ toàn cầu Ngày 23/01/2008, Ủy ban châu Âu đã thông qua gói dự luật bảo vệ môi trường của
EU với 2 mục tiêu chính là đến năm 2020 tăng tỷ lệ sử dụng các nguồn năng lượng tái sinh như nước, gió, mặt trời, khí sinh học từ mức 8,5% hiện nay lên 20%, trong khi giảm 20% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính [20]
Sử dụng năng lượng tái tạo trên thế giới (GW)
Thủy điện lớn Nhiệt sinh khối Năng lượng mặt trời cho sưởi ấm
Tuabin gió Thủy điện nhỏ Năng lượng sinh khối Sản xuất ethanol Địa nhiệt sưởi ấm Năng lượng địa nhiệt Sản xuất biodiesel Điện mặt trời- đã nối lưới Điện mặt trời- chưa nối lưới
Nhiệt điện dùng năng lượng mặt trời Năng lượng đại dương
Trang 18Ngày nay để hạn chế khí thải từ giao thông vận tải, việc sử dụng nhiên liệu sinh học như ethanol, diesel cho xe hơi đang được nhiều nước nghiên cứu, thử nghiệm và xây dựng kế hoạch sử dụng rộng rãi Năm 2004, Canada
đã xây dựng nhà máy thử nghiệm sản xuất ethanol từ lignocellulose đầu tiên với mục tiêu sản xuất 100 triệu lít ethanol/năm Ở Đức, từ năm 2004, các trạm xăng đã thực hiện tiêu chuẩn 2003/30/EC, theo đó phải tăng mức pha trộn diesel sinh học từ mức 2% lên 5%; còn ở Áo sử dụng phổ biến loại nhiên liệu pha trộn 5% diesel sinh học Ở Thụy Điển, năm 2005 cũng đã đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất ethanol từ mùn cưa tại Ornskoldsvik Ngay như ở Na
Uy vốn là một nước xuất khẩu dầu mỏ cũng có tới 50% năng lượng được
cung cấp từ nguồn nhiên liệu sinh học[20]
Về xu hướng sử dụng năng lượng mặt trời, theo Renewables 2007,
Global Status Report [23] công suất lắp đặt pin mặt trời trên toàn thế giới đến
năm 2007 là 10300MW p , trong đó Đức hiện đang dẫn đầu với 3862MW p Bảng 1.4 trình bày các số liệu về công suất pin mặt trời đã được lắp đặt ở một
số nước
Bảng 1.4: Các số liệu về công suất pin mặt trời đã lắp đặt [23]
Trang 19từ mặt trời để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con người Các nguồn năng lượng tái tạo khác như năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sóng
và thủy triều… cũng đã và đang được khai thác và sử dụng ở khắp nơi trên thế giới Ví dụ như: năm 2009 công suất lắp đặt năng lượng gió đã tăng lên 158.000 MW, cũng trong năm 2009 Trung Quốc đã tăng gấp đôi công suất lắp đặt trong 5 năm qua, đứng vị trí thứ 3 sau Mỹ và Đức[10]
Có thể nói, năng lượng tái tạo đang ngày càng phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng của con người và góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường do khai thác và sử dụng các dạng nhiên liệu hóa thạch
Ở Việt Nam nhu cầu về năng lượng ngày càng tăng Năm 2000, cường
độ năng lượng là 412kgOE/1.000 USD, GDP theo đầu người 401 USD, tiêu thụ năng lượng theo đầu người là 154kgTOE/năm và tiêu thụ điện năng theo đầu người là 288kWh/năm Tuy nhiên, đến năm 2005, cường độ năng lượng
đã tăng lên 500kgOE/1.000 USD; GDP đầu người là 645 USD; tiêu thụ năng lượng đầu theo người là 250kgOE/năm và tiêu thụ điện năng theo đầu người
là 540kWh/năm [2]
Tổng công suất lắp đặt các nhà máy điện đến năm 2010 khoảng trên 20.000MW, tăng gấp 3,2 lần so với 10 năm trước, sản lượng điện sản xuất ước đạt khoảng 100 tỷ kWh, gấp trên 3,7 lần năm 2000 và 1,88 lần so với năm 2005
Trang 20Đến cuối năm 2009 hệ thống điện lưới đã có trên 3400km đường dây và
11 trạm 500kV Lưới điện 110kV và lưới trung, hạ thế đã bao phủ 98% các huyện, 97% các xã Tính chung cả nước có 96% số hộ được cấp điện từ lưới quốc gia
Theo các chuyên gia, giá thành trung bình cho sản xuất, truyền tải và phân phối điện sẽ tăng lên khoảng trên 8,5 US cent/kWh vào năm 2020, trong
đó riêng giá sản xuất điện khoảng 6 US cent/kWh
Theo dự thảo quy hoạch điện 7, dự báo nhu cầu điện toàn quốc sẽ tăng bình quân từ 14% đến 16% trong giai đoạn 2011-2015, tăng lên khoảng trên 11,5%/năm giai đoạn 2016-2020 Nhu cầu điện sản xuất dự kiến năm 2015 là
194 – 211 tỷ kWh; năm 2020 là 329 – 362 tỷ kWh và năm 2030 là 695 – 834
tỷ kWh
Tổng công suất nguồn điện năm 2015 sẽ khoảng 42.500MW, gấp hơn 2 lần năm 2010 với tỷ trọng 33,6% thuỷ điện, 35,1% nhiệt điện than, 24,9% nhiệt điện dầu và khí, khoảng gần 4% nguồn năng lượng tái tạo Đến năm
2020 tổng công suất nguồn điện sẽ khoảng 65.500MW với tỷ trọng thuỷ điện 26,6% (~17.400MW), nhiệt điện than tăng lên 44,7% (~29.200MW), nhiệt điện dầu-khí giảm xuống 19,6% (~12.800MW), nguồn năng lượng tái tạo chiếm 4,8% (~3.100MW), nhập khẩu chiếm 2,8% (~1.800 MW) và sẽ có tổ máy đầu tiên – 1000MW của nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận Năm 2030 tổng công suất nguồn điện lên tới 137.600MW, trong đó thuỷ điện chỉ còn chiếm 15,3%, nhiệt điện than tăng lên chiếm 56,1%, nhiệt điện dầu – khí 12,7%, công suất các nhà máy điện hạt nhân lên tới 10.700MW với tỷ trọng 7,8%, còn điện nhập khẩu chiếm khoảng 4,6%[10]
Với nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, vấn đề cạn kiệt nguồn năng lượng đang là vấn đề lớn ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó việc sử dụng năng lượng hóa thạch như dầu mỏ và than đá đã và đang để lại những vấn đề
Trang 21hết sức nghiêm trọng mà cả thế giới hiện nay đang cố gắng giải quyết Chính trong hoàn cảnh này, năng lượng tái tạo càng tỏ ra đáp ứng được nhu cầu năng lượng của con người và khắc phục những khuyết điểm của năng lượng hóa thạch
Theo đánh giá của Viện Năng lượng, số dự án năng lượng tái tạo ở nước
ta hiện còn khiêm tốn, tỷ trọng điện tái tạo trong tổng sản lượng điện sản xuất
là không đáng kể, từ 3,13% năm 2002 giảm xuống còn 2,35% năm 2004 [2]
Để khuyến khích đầu tư phát triển năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương đã tiến hành đề án xây dựng “Chiến lược, quy hoạch tổng thể các nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam giai đoạn đến năm 2015, có xét đến 2025”
Theo tính toán, bình quân tiêu thụ năng lượng đến năm 2003 mới khoảng
205 đến 210 kgOE/người, bằng 20% bình quân chung của thế giới Nếu mỗi năm chi từ 1 đến 2% trong tổng vốn đầu tư cho lĩnh vực năng lượng (năm
2005 khoảng 60 ngàn tỷ đồng) để phát triển điện gió, điện mặt trời và nhiên liệu sinh học thì trong vòng 20 đến 30 năm tới nguồn điện “xanh” sẽ chiếm từ
10 đến 15% điện năng; nhiên liệu sinh học sẽ thay thế được 10 đến 15% xăng, dầu [2]
Thực tế, trong khoảng 10 năm trở lại đây, các nhà khoa học và nhà đầu
tư cả trong và ngoài nước đã bắt đầu quan tâm đến phát triển các nguồn năng lượng tái tạo Một loạt các dự án phát triển các nguồn năng lượng tái tạo đã được lên kế hoạch và bước đầu triển khai, tuy nhiên thành công mới chỉ được nhìn nhận
ở các nguồn như biogas, thuỷ điện nhỏ và điện mặt trời, phong điện
Ở Việt Nam các nguồn năng lượng tái tạo đang nghiên cứu và sử dụng bao gồm: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, thủy điện nhỏ, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sinh học
Năng lượng mặt trời
Trang 22Việt Nam là một trong số các quốc gia có tiềm năng khá đáng kể về năng lượng mặt trời Các số liệu khảo sát cho thấy, các địa phương ở phía bắc bình quân có khoảng từ 1800 đến 2100 giờ nắng trong một năm, còn các tỉnh ở phía nam (từ Đà Nẵng trở vào) bình quân có khoảng từ 2000 đến 2600 giờ nắng trong một năm [10] Số liệu về bức xạ mặt trời trung bình nhận được
trên 1m 2 bề mặt nằm ngang trong một ngày (kWh/m 2 /ngày) tại một số địa
phương trong cả nước được trình bày trong bảng 1.5 Các số liệu trong các cột ghi số từ 1 đến 12 tương ứng với các tháng trong năm, riêng số liệu ở cột cuối
cùng là giá trị trung bình (kWh/m 2 /ngày) tính cho cả năm
Từ bảng 1.5, ta thấy càng đi về phía bắc thì lượng bức xạ bình quân nhận được trong mỗi ngày càng thay đổi nhiều theo các tháng trong năm Ngược lại, càng đi về phía nam thì lượng bức xạ bình quân nhận được trong mỗi ngày càng ít thay đổi và giá trị trung bình trong cả năm cũng tương đối cao hơn Điều đó giúp lý giải vì sao việc ứng dụng năng lượng mặt trời ở các tỉnh phía nam có thuận lợi hơn so với các tỉnh phía bắc
Bảng 1.5: Số liệu về bức xạ mặt trời trung bình tại một số địa phương
Trang 23Hà Nội 2,24 2,40 2,53 3,46 5,23 5,31 5,59 5,10 4,79 4,18 3,45 2,97 3,93
Đà Nẵng 3,07 3,27 4,55 5,09 5,27 5,81 5,77 5,42 4,91 3,52 2,89 3,07 4,43 Bình Định 3,16 4,06 4,99 5,93 5,93 5,76 5,55 5,80 5,35 4,07 3,02 2,80 4,70 Gia Lai 4,28 5,15 5,51 5,66 5,51 4,96 4,71 4,57 4,48 4,45 3,84 3,80 4,79 Kon Tum 4,10 4,98 5,53 5,74 5,32 4,59 4,26 4,45 4,1 4,55 3,85 3,67 4,61 Đắc Lắc 4,07 4,82 5,06 5,23 4,73 4,45 4,24 4,21 3,97 3,91 3,61 3,54 4,32 Quảng Ngãi 2,86 3,78 4,68 5,68 5,87 5,83 5,74 5,75 5,33 3,99 2,88 2,71 4,60 Nha Trang 4,66 5,29 5,69 5,91 5,90 5,66 5,66 5,51 4,92 4,42 4,04 4,15 5,15
Tp Hồ Chí
Minh
4,65 5,19 5,43 5,45 4,79 4,76 4,34 4,78 4,42 4,40 4,31 4,28 4,73 Sóc Trăng 4,81 5,35 5,54 5,55 4,49 4,28 4,53 4,50 4,35 4,22 4,44 4,44 4,71
Mặc dù được đánh giá là có tiềm năng rất đáng kể về năng lượng mặt trời, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, tỉ trọng của năng lượng mặt trời trong cán cân năng lượng chung của toàn đất nước vẫn còn rất bé
Tuy vậy, có thể thấy rõ năng lượng mặt trời đã được nghiên cứu và đưa vào sử dụng từ rất lâu ở Việt Nam Bên cạnh các phương thức khai thác truyền thống, đơn giản, mang tính dân gian như phơi lúa và sấy khô các loại thủy hải sản, các hoạt động nghiên cứu và sử dụng năng lượng mặt trời ở Việt Nam cho đến hiện nay thường tập trung vào các lĩnh vực như cung cấp nước nóng dùng trong sinh hoạt và phát điện ở qui mô nhỏ Các hoạt động khác như sấy, nấu ăn, chưng cất nước, làm lạnh… có được chú ý đến nhưng vẫn còn ở qui mô lẻ tẻ, chưa đáng kể
Năng lượng gió
Theo kết quả khảo sát của chương trình đánh giá về năng lượng cho Châu
Á của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất với tổng tiềm năng điện gió ước đạt 513.360MW, lớn gấp 200 lần công suất của nhà
Trang 24máy thuỷ điện Sơn La và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện Việt
Nam năm 2020 [7]
Trang 25 Thủy điện nhỏ
Việt Nam nằm ở trung tâm vùng Đông Nam Á, có nguồn ẩm tương đối phong phú trên phần lớn lãnh thổ Hậu quả của sự tác động tổng hợp giữa điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm mưa nhiều (trên 1950 mm/năm) và cấu trúc địa chất, địa hình (diện tích đồi núi chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ), cho nên dòng chảy sông ngòi Việt Nam được hình thành rất thuận lợi là nguyên nhân khách quan cơ bản nhất, tạo nên một mạng lưới sông suối dày đặc trên lãnh thổ nước
ta Mật độ sông suối có sự dao động khá lớn giữa các vùng, tương đối phù hợp với sự phân hóa không gian của điều kiện khí hậu và cấu trúc địa chất, địa hình Lượng mưa thay đổi giữa các năm không lớn, khoảng 2 lần, nhưng giữa các tháng và mùa trong năm lại khá lớn Vào mùa mưa lũ (chiếm từ 4-5 tháng) lượng dòng chảy chiếm đến 70-80% tổng lượng dòng chảy năm, vì vậy lượng dòng chảy các tháng mùa khô còn lại chỉ chiếm khoảng 20-30% Lãnh thổ nước ta hẹp và dài, có dãy Trường Sơn hầu như chạy dọc suốt đất nước và những dãy núi cao như Hoàng Liên Sơn, Tây Côn Lĩnh, tạo nên độ dốc khá lớn cho các sông suối, nhất là các đoạn đầu nguồn Đây chính là thế năng quan trọng có thể tận dụng để xây dựng các nhà máy thủy điện, trong đó có thể xây dựng được nhiều trạm thuỷ điện nhỏ với các cột nước khác nhau Nhờ
có mạng lưới sông suối phát triển và phân bố tương đối đều khắp trên lãnh thổ nên rất thuận lợi về mặt kinh tế, đó là có thể dùng nước tại chỗ vào mục đích cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất, hoạt động giao thông và phát điện Với đặc điểm địa hình và nguồn nước như vậy, tiềm năng thuỷ điện Việt Nam (đã quy hoạch) trên 11 hệ thống sông lớn có tổng công suất đạt 15.300 MW và điện lượng trung bình hàng năm là 64.347 triệu kWh, trong đó đã xây dựng và đưa vào vận hành 3.393 MW với điện lượng trung bình năm đạt 18.400 triệu kWh
và hàng loạt nhà máy thuỷ điện đang được xây dựng với tổng công suất là 2.066 MW [4]
Trang 26 Năng lượng địa nhiệt
Năng lượng địa nhiệt là năng lượng phát ra từ sức nóng bên trong của Trái đất có nguồn gốc từ các lò magma, các núi lửa, các nguồn phóng xạ và các hoạt động nhiệt dịch,
Có hai dạng tồn tại nguồn năng lượng địa nhiệt:
- Năng lượng địa nhiệt tự nhiên: Hồ địa nhiệt (geothermal pool) tạo ra
nước nóng và hơi nước để khai thác Năng lượng này là từ các lò magma đang hoạt động hoặc sau khi đã kết tinh thành các thể đá magma song vẫn còn giữ được hơi nóng tiềm tàng trong lòng đất Nhiệt lượng đó làm hâm nóng hoặc nấu sôi các nguồn nước ngầm và nước xuất lộ trên bề mặt trái đất tạo thành những dòng suối nước nóng như suối Bang (Quảng Bình) nóng tới 1050C
- Năng lượng địa nhiệt nhân tạo: Người ta tận dụng nguồn nhiệt của các
đá magma ở dưới sâu có sức nóng rất lớn song các đá nằm trên lại khô nước
do không thấm Quy trình khai thác nguồn nhiệt tiềm tàng này như sau: Trước hết phải thiết kế các lỗ khoan sâu tới các đá magma có nguồn nhiệt cao, sau
đó bơm nước vào lỗ khoan với áp lực rất cao Quá trình đó đã tạo ra đới nứt
nẻ của các đá nằm trên và biến đá không thấm nước thành đá có khả năng thấm nước Tiếp đến là dẫn nước qua lỗ khoan để đưa vào đới nứt nẻ mới thành tạo Từ chỗ nước có nhiệt bình thường trên bề mặt đã được nung nóng
và biến thành một “hồ địa nhiệt” Cuối cùng lại thiết kế tiếp các lỗ khoan khai thác đưa nước nóng lên bề mặt dẫn về các nhà máy phát điện Nguồn nước nóng này được sử dụng theo một quy trình khép kín Nghĩa là hệ thống nước nóng sau khi đã sử dụng năng lượng lại được bơm vào lòng đất để được đun nóng trở lại và tham gia vào một quy trình vận hành liên tục thành một vòng quay khép kín Phương pháp này hiện nay vẫn còn đang ở bước thử nghiệm
để hoàn thiện quy trình và khắc phục những hạn chế có thể gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh tế như: sự hòa tan các nguyên tố tạo khoáng có thể bị
Trang 27kết tủa trở lại trong các hệ thống thiết bị làm giảm hiệu suất sử dụng, tiếng ồn của nhà máy và khả năng phục hồi rất khó của các hồ địa nhiệt
Ở Việt Nam tiềm năng địa nhiệt rất lớn, tuy nhiên mới chỉ dừng lại các đối tượng nước khoáng - nước nóng và từng bước đưa nguồn nước này vào sử dụng trong các lĩnh vực chữa bệnh, du lịch và nước khoáng uống Hy vọng trong tương lai sẽ khai thác địa nhiệt theo phương pháp công nghệ tiên tiến phục vụ điện năng
Năng lượng sinh học
Năng lượng sinh học có nguồn gốc từ năng lượng Mặt trời do các loại thực vật tích lũy và chuyển hóa thành dạng hóa năng Đây được xem là dạng năng lượng tái tạo và thân thiện với môi trường (Hình 1.4)
Hình 1.4: Quá trình chuyển hóa năng lượng sinh học
Năng lượng sinh học là loại năng lượng có nguồn gốc từ các sinh vật, bao gồm năng lượng sinh khối (biomass energy), nhiên liệu sinh học (biofuel)
và khí sinh học (biogas) Năng lượng sinh học có thể được tạo ra từ nhiều loại sản phẩm nông nghiệp khác nhau như thân, cành, vỏ, quả cây, các sản phẩm
Năng lượng mặt trời
Thu hoạch
Xử lý Xellulose Chuyển hóa
Trang 28dư thừa khi chế biến nông, lâm sản, gỗ củi, rác thải, phân gia súc và bã phế thải hữu cơ công nghiệp,
Nhiên liệu sinh khối là vật liệu hữu cơ dự trữ năng lượng ánh sáng mặt trời dưới dạng năng lượng hoá học Khi được đốt cháy, năng lượng hoá học này được giải phóng dưới dạng nhiệt
Ở dạng lỏng, năng lượng sinh học có 2 dạng đang được sử dụng khá phổ biến là ethanol hay còn gọi là cồn nhiên liệu và diesel sinh học Diesel sinh học được sản xuất bằng cách kết hợp cồn (thường là methanol) với dầu thực vật, mỡ động vật hoặc các loại dầu mỡ nấu ăn được tái chế Về phương diện hóa học diesel sinh học là methyl este của axit béo
Khí sinh học (biogas) được sinh ra trong quá trình lên men những vật chất có nguồn gốc hữu cơ như phân chuồng, bùn cống rãnh hoặc các loại rác hữu cơ khác trong điều kiện yếm khí Sản phẩm chủ yếu là các khí như metan, butan, khí cacbonic và một số loại khí thải khác Biogas thường có hàm lượng khí metan từ 50-60%, có nhiệt lượng cao và dễ sử dụng Khối lượng riêng của khí sinh học thường thay đổi phụ thuộc vào thành phần khí tạo thành, thường vào khoảng 0,9 - 0,94 kg/m3 Khí metan không màu, không mùi nhẹ hơn không khí Khối lượng riêng của khí metan ở điều kiện 20oC và 1 atm là 0,716 kg/m3 [13]
Năng lượng sinh học là loại năng lượng sạch, thân thiện với môi trường vì
nó dựa trên việc giải phóng năng lượng được tích luỹ trong sinh vật, do đó giảm lượng phát thải khí nhà kính Không giống như thủy điện, năng lượng mặt trời, hay năng lượng gió, năng lượng sinh học có thể kiểm soát dễ dàng và có thể tích trữ được Sinh khối có sẵn ở mọi nơi, vì vậy năng lượng sinh học có tiềm năng phát triển mạnh mẽ không biên giới, không phân biệt quốc gia có trình độ phát triển khác nhau
Trang 29Sử dụng nhiên liệu sinh học có nhiều lợi ích hơn so với nhiên liệu hóa thạch vì chúng là năng lượng tái tạo, không gây ô nhiễm môi trường, có hàm lượng metan, sunphua và hydrat các bon thấp, có khả năng chủ động trong việc sản xuất và tiêu thụ Do vậy nhiều nước trên thế giới đã tập trung vào nghiên cứu công nghệ sản xuất ethanol nhằm thay thế một phần xăng dầu khắc phục dần sự phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu luôn bất ổn Việt Nam là một nước nông nghiệp có tiềm năng sản xuất nhiên liệu sinh học rất lớn, đặc biệt là từ các phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, thân cây ngô, bã mía, Trước đây các sản phẩm rơm rạ sau khi gặt được phơi khô, được tận dụng dùng cho đun nấu, tro sau khi đun sẽ được đem bón ruộng Tuy nhiên hiện tại, rơm rạ không còn là nguồn nhiên liệu quan trọng nữa, người nông dân thường đốt bỏ sau khi phơi khô Đây là một sự lãng phí lớn về tài nguyên và gây ra ô nhiễm môi trường
1.4 Giới thiệu về Luật thuế bảo vệ môi trường
1.4.1 Mục tiêu, yêu cầu xây dựng Luật thuế bảo vệ môi trường
Việc ban hành Luật thuế bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo các mục tiêu, yêu cầu sau:
1 Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, khuyến khích phát triển kinh tế đi liền giảm ô nhiễm môi trường, phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay và những năm tới
2 Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của tổ chức, cá nhân trong sản xuất và tiêu dùng nhằm giảm phát thải ô nhiễm tại nguồn
3 Tăng cường quản lý nhà nước, thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải cách, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp với các qui định của Hiến pháp, tính thống nhất và đồng bộ với các văn bản pháp luật có liên quan khác; thực hiện cam kết của Chính phủ với cộng đồng quốc tế
Trang 304 Các quy định trong Luật không quá phức tạp, phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ quản lý
5 Động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu để giải quyết vấn đề môi trường, đồng thời phải đảm bảo tính cạnh tranh của nền
kinh tế, của các sản phẩm chủ yếu của Việt Nam
1.4.2 Bố cục của Luật thuế bảo vệ môi trường
Luật thuế bảo vệ môi trường gồm 4 Chương, 14 Điều, cụ thể:
Chương 1: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 5) Chương này
xác định phạm vi điều chỉnh, đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện chịu thuế, người nộp thuế bảo vệ môi trường
Chương 2: Căn cứ tính thuế (từ Điều 6 đến Điều 8) Chương này quy
định các căn cứ tính thuế, xác định thuế, biểu khung thuế bảo vệ môi trường
Chương 3: Kê khai, tính, nộp và hoàn thuế bảo vệ môi trường (từ Điều 9
đến Điều 11)
Chương 4: Điều khoản thi hành (từ Điều 12 đến Điều 14)
1.4.3 Nội dung chính của Luật thuế bảo vệ môi trường
Một số khái niệm chính
- Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường
- Mức thuế tuyệt đối là mức thuế được quy định bằng số tiền tính trên một đơn vị hàng hóa chịu thuế
- Người nộp thuế bảo vệ môi trường là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này
- Người nộp thuế bảo vệ môi trường trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:
Trang 31a) Trường hợp ủy thác nhập khẩu hàng hóa thì người nhận ủy thác nhập khẩu là người nộp thuế;
b) Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ, lẻ mà không xuất trình được chứng từ chứng minh hàng hóa đã được nộp thuế bảo vệ môi trường thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế
Căn cứ và phương pháp tính thuế:
- Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế và
mức thuế tuyệt đối
- Số lượng hàng hóa tính thuế được quy định như sau:
a) Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là
số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho;
b) Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu
- Mức thuế tuyệt đối để tính thuế được quy định tại Điều 8 của Luật này
- Số thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng số lượng đơn vị hàng hóa chịu thuế nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa Mức thuế tuyệt đối được quy định theo Biểu khung thuế dưới đây:
Bảng 1.6: Biểu khung thuế bảo vệ môi trường [17]
Số thứ
Đơn vị tính
Mức thuế
(đồng/1 đơn vị hàng hóa)
Trang 32a) Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ;
b) Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế được xác định theo mức độ gây tác động xấu đến môi trường của hàng hóa
Thời điểm tính thuế
1 Đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, thời điểm tính thuế là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa
Trang 332 Đối với hàng hóa sản xuất đưa vào tiêu dùng nội bộ, thời điểm tính thuế là thời điểm đưa hàng hóa vào sử dụng
3 Đối với hàng hóa nhập khẩu, thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký
tờ khai hải quan
4 Đối với xăng, dầu sản xuất hoặc nhập khẩu để bán, thời điểm tính thuế
là thời điểm đầu mối kinh doanh xăng, dầu bán ra
Khai thuế, tính thuế, nộp thuế
1 Việc khai thuế, tính thuế, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho được thực hiện theo tháng và theo quy định của pháp luật về quản lý thuế
2 Việc khai thuế, tính thuế, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu được thực hiện cùng thời điểm với khai thuế và nộp thuế nhập khẩu
3 Thuế bảo vệ môi trường chỉ nộp một lần đối với hàng hóa sản xuất hoặc nhập khẩu
3 Hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh doanh hàng tạm nhập, tái xuất;
4 Hàng hóa nhập khẩu do người nhập khẩu tái xuất khẩu ra nước ngoài;
Trang 345 Hàng hóa tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm theo quy định của pháp luật khi tái xuất khẩu ra nước ngoài
Hiệu lực thi hành:
1 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012
2 Các quy định về thu phí xăng, dầu tại Pháp lệnh về phí và lệ phí số 38/2001/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực thi hành từ ngày Luật này có hiệu lực
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành:
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luật thuế bảo vệ môi trường Việt Nam
- Các dạng năng lượng tái tạo ở Việt Nam
2.2 Nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tác động của Luật thuế bảo vệ môi trường đến các dạng năng lượng, từ đó dự báo ảnh hưởng của Luật tới năng lượng tái tạo, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của Luật thuế bảo vệ môi trường
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
Các tài liệu, số liệu, nguồn thông tin được sử dụng trong luận văn được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như sách báo, tạp chí, internet… các số liệu rõ ràng và đã được công bố
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Các số liệu, thông tin sau khi thu thập sẽ được phân tích, đánh giá và tổng hợp phục vụ mục đích nghiên cứu của luận văn
2.3.3 Phương pháp chuyên gia
Bản chất của phương pháp chuyên gia là lấy ý kiến đánh giá của các chuyên gia để làm kết quả dự báo Phương pháp này sẽ chính xác hơn nếu sử dụng nhiều chuyên gia và tổng hợp các ý kiến chuyên gia theo phương pháp toán học Đây là phương pháp tương đối dễ thực hiện Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là kết quả dự báo phụ thuộc rất nhiều vào trình độ và ý kiến chủ quan của chuyên gia được hỏi Việc tuyển chọn và đánh giá khả
Trang 36năng của các chuyên gia cũng khá khó khăn Tuy nhiên phương pháp này giúp bổ sung những thông tin còn thiếu hoặc không thu thập được từ các phương pháp khác
2.3.4 Phương pháp điều tra xã hội học
Điều tra xã hội học là phương pháp thu thập thông tin về các hiện tượng, quá trình kinh tế xã hội trong thời gian và địa điểm cụ thể nhằm phân tích và đưa ra những kiến nghị đúng dắn với công tác quản lý Nhìn chung phương pháp điều tra xã hội học có ưu điểm thuận lợi trong việc thu thập các thông tin định tính như: quan điểm, thái độ, động cơ Điều tra xã hội học áp dụng các nguyên tắc cơ bản của điều tra thống kê nói chung
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (xem phụ lục) Để đảm bảo tính đại diện và khách quan, tác giả đã tiến hành điều tra ở nhiều tỉnh thành khác nhau (Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Nội, Bắc Giang, Lạng Sơn,
Hà Nam…), nhiều nhóm điều tra khác nhau bao gồm các doanh nghiệp, công chức nhà nước, người dân thành thị, nông thôn, sinh viên Đề tài đã tiến hành điều tra 130 phiếu phỏng vấn tới nhóm đối tượng trên, trong đó các doanh nghiệp chiếm 30%
2.3.5 Phương pháp RIA (đánh giá tác động pháp luật)
Đây là phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn
Khái niệm đánh giá tác động pháp luật
Đánh giá tác động pháp luật (RIA- Regulatory Impact Assesment) là một tập hợp các bước logic hỗ trợ cho việc chuẩn bị các đề xuất chính sách Phương pháp này bao gồm việc nghiên cứu sâu các hoạt động đi kèm với quá trình xây dựng chính sách và chính thức hóa các kết quả nghiên cứu bằng một
bản báo cáo độc lập
Trang 37Tuy nhiên, RIA là công cụ trợ giúp cho việc xây dựng chính sách chứ không phải là công cụ thay thế nó RIA tập hợp và trình bày các chứng cứ để xác định các lựa chọn chính sách khả dĩ và các ưu, nhược điểm của chúng RIA cần được thực hiện song song với việc nêu sáng kiến lập pháp, lập quy
và được lồng ghép vào quy trình xác lập chính sách của các bộ, ngành… hoặc chủ thể khác khi đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định
Tầm quan trọng của RIA
Tiến hành RIA bao gồm việc trả lời một số câu hỏi chủ yếu sau: Đâu là bản chất, mức độ và sự phát triển của vấn đề? Đâu là các mục tiêu mà quốc gia theo đuổi? Đâu là các tác động về môi trường, xã hội và kinh tế của các lựa chọn chính sách? Đâu là ưu và nhược điểm của các lựa chọn chính sách chính? Việc giám sát và đánh giá về sau được tổ chức như thế nào?
Đằng sau những bước đánh giá tác động là một mục đích đa chiều RIA đảm bảo việc phối hợp sớm trong nội bộ cơ quan chủ trì soạn thảo RIA thể hiện tính công khai, cởi mở của cơ quan chủ trì soạn thảo sẵn sàng lắng nghe
ý kiến của nhiều đối tượng liên quan từ bên ngoài và thể hiện cam kết của mình đối với vấn đề minh bạch hóa Ngoài ra, bằng việc đưa ra bản phân tích toàn diện và kỹ lưỡng về các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp có thể có lên môi trường, kinh tế và xã hội, việc đánh giá tác động giúp nâng cao chất lượng của các đề xuất chính sách thông qua việc kiềm chế sự can thiệp của chính quyền ở mức đơn giản có thể Việc đánh giá tác động giải thích lý do tại sao hành động lập pháp đó là cần thiết và việc thực hiện theo đề xuất là một lựa chọn phù hợp
Quy trình đánh giá tác động pháp luật
Quy trình RIA có thể được thực hiện thông qua 10 bước, giải quyết 3 nội dung
Trang 38Quy trình RIA thường gồm bốn yếu tố: Xác định mục tiêu và phạm vi của RIA, tham vấn công chúng gắn với RIA, giám sát chất lượng thông qua thẩm định độc lập và các cơ chế khác, các phương pháp thu thập dữ liệu Dưới đây là sơ đồ quy trình đánh giá tác động luật
8: Thu thập thêm chứng
cứ, số liệu
7: Lựa chọn phương pháp, mức độ đánh giá
Phân tích, tham vấn và hoàn thiện các kiến nghị
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng sử dụng nhiên liệu hóa thạch ở Việt Nam
Số liệu tổng quan về các nguồn năng lượng sơ cấp ở Việt Nam theo hội đồng năng lượng toàn cầu năm 2010 được thể hiện ở bảng 3.1 sau:
Bảng 3.1: Trữ lượng năng lượng không tái tạo ở Việt Nam [24] Năng lượng Dầu thô (Mt) Khí tự nhiên (Gm 3 )
Than đá (Mt)
Đa số các nước trên thế giới sản xuất than cho nhu cầu trong nước, chủ yếu để sản xuất điện Tại Việt Nam phần lớn than được xuất khẩu còn lại dùng làm chất đốt gia dụng và sử dụng trong nhà máy nhiệt điện Than xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Nhật Bản và Trung Quốc, có mức tăng đột biến
từ 5,9 triệu tấn năm 2002 lên 20 triệu tấn năm 2008 Tuy nhiên do nhu cầu trong nước cao nên dự kiến trong vài năm tới có thể phải nhập khẩu tới hàng chục triệu tấn Việt Nam dự kiến từng bước cắt giảm xuất khẩu than để đáp ứng nhu cầu trong nước ngày càng cao
Trang 403.1.2 Dầu khí
Việt Nam đã có những bước thăm dò nguồn dầu khí ở cả hai miền Nam, Bắc từ năm 1975, do hoàn cảnh chiến tranh nên chưa thực hiện được việc khai thác Sau khi đất nước thống nhất, hoạt động dầu khí được đầu tư phát triển, đến năm 1986 Việt Nam đã có dòng dầu đầu tiên Đến nay các nhà địa chất Việt Nam và quốc tế đã xác định thềm lục địa Việt Nam có các bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trữ lượng dầu khí các bể trầm tích được thống kê trong bảng 3.2 dưới đây
Bảng 3.2: Trữ lượng dầu khí các bể trầm tích ở Việt Nam [12]
Trữ lượng dầu và khí (Triệu m 3 dầu qui
mỏ của Việt Nam là 600 triệu thùng khác xa với số liệu của Petrovietnam là
524 triệu m3 tương đương 3,296 tỉ thùng, và số liệu của VITRA (dự án đánh giá tổng thể tiềm năng dầu khí Việt Nam do Na Uy tài trợ) là 699 triệu m3tương đương 4,039 tỉ thùng Căn cứ trên các số liệu này, thời gian còn lại để