Mục tiêu đề tài Nghiên cứu, tìm hiểu đặc tính sinh học, sinh thái và đánh giá tác động lên môi trường thủy sinh vật của loài tôm hùm nước ngọt đang được nuôi thử nghiệm tại một số tỉnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
PHẠM THỊ PHƯƠNG MAI
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÔM HÙM NƯỚC NGỌT
(PROCAMBIUS CLARKII) NHẬP NỘI VÀO VIỆT NAM LÊN ĐA
DẠNG THỦY SINH VẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - Năm 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
PHẠM THỊ PHƯƠNG MAI
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÔM HÙM NƯỚC NGỌT
(PROCAMBIUS CLARKII) NHẬP NỘI VÀO VIỆT NAM LÊN ĐA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Mai Đình Yên
đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo bộ môn Quản lý Môi trường, khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 tại Bắc Ninh, Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2012
Học viên
Phạm Thị Phương Mai
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Phạm Thị Phương Mai, học viên cao học Môi trường K15, chuyên ngành Quản lý môi trường, khoá 2007 - 2009 Tôi xin cam đoan luận
văn thạc sĩ ‘‘Đánh giá tác động của loài tôm hùm nước ngọt (Procambius
clarkii) nhập nội vào Việt Nam lên đa dạng thủy sinh vật” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi, số liệu nghiên cứu thu được từ thực nghiệm và trung thực
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin sử dụng trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
và được phép sử dụng
Học viên
Phạm Thị Phương Mai
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC BẢNG xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.Tình hình phát triển tôm hùm nước ngọt trên thế giới và vấn đề môi trường liên quan 3
1.1.1 Phân bố của tôm hùm nước ngọt 3
1.1.2 Sản lượng và giá trị thương mại 3
1.1.3.Tình hình nuôi tôm hùm nước ngọt ở một số nước trên thế giới 4
1.1.4 Tác động của các loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại nói chung và THNN nói riêng đến môi trường sống các loài TSV bản địa 9
1.2 Tình hình nuôi và phát triển tôm hùm nước ngọt ở Việt Nam 12
1.3 Thực trạng công tác quản lý các loài thủy sinh ngoại lai trong đó có tôm hùm nước ngọt 13
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu 16
Trang 62.2.1 Xác định các đặc tính sinh trưởng, sinh sản 16
2.2.2.Nghiên cứu ngưỡng nhiệt độ và ngưỡng oxy của tôm hùm nước ngọt 16
2.2.3 Kỹ thuật nuôi tôm kết hợp với trồng lúa và một số đối tượng thủy sản khác để xác định mức độ ảnh hưởng 16
2.2.4.Nghiên cứu các bệnh của tôm hùm nước ngọt 20
2.2.5 Phương pháp phỏng vấn người dân 21
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đặc điểm hình thái và môi trường sống của loài tôm hùm nước ngọt 22 3.1.1.Đặc điểm hình thái 22
3.1.2 Môi trường sống của tôm hùm nước ngọt 23
3.1.3 Nguy cơ ô nhiễm môi trường nuôi do đặc tính ăn của tôm hùm nước ngọt 25
3.1.4 Sinh trưởng và lột xác 26
3.1.5 Đặc điểm sinh học, sinh sản 26
3.1.7 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sinh trưởng và phát triển của tôm hùm nước ngọt 29
3.1.8 Các bệnh có thể lây truyền ra môi trường nước và ảnh hưởng đến sức khỏe con người từ việc nuôi tôm hùm nước ngọt 30
3.1.9 Khả năng sinh trưởng và phát tán ra môi trường của tôm hùm nước ngọt 33
Trang 73.2 Nuôi tôm hùm nước ngọt ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước nuôi trồng thủy sản 34
3.2.1 Ô nhiễm do tích lũy chất hữu cơ 37 3.2.2 Suy thoái do nhu cầu sử dụng oxy trong nước ao nuôi 38 3.3 Đánh giá ảnh hưởng của Tôm hùm nước ngọt (P.clarkii) lên đa dạng
môi trường thủy sinh vật và hiệu quả kinh tế - xã hội của việc nuôi tôm hùm nước ngọt ở Việt Nam 39
3.3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với lúa 39 3.3.2 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với cá bột 41 3.3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với tôm càng xanh (Macrobrochium rosenbergi) 42
3.3.4 Ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với cá hương và tôm đất 43
3.4 Kết quả khảo nghiệm tại hiện trường và phỏng vấn người dân về kỹ thuật và hiệu quả nuôi tôm hùm nước ngọt 45
3.4.1 Kết quả khảo nghiệm tại hiện trường 45 3.4.2 Kết quả phỏng vấn người dân 54
3.5 Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường đối các loài thủy sinh vật ngoại lai nói chung và loài tôm hùm nước ngọt nói riêng 56 Chương 4 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58 4.1 Kết luận: 58
Trang 84.2 Kiến nghị: 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC 62
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
4 Procambarus clarkii P.clarkii
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của tôm đối với lúa 17
Hình 2.2 Sơ đồ tóm tắt các công đoạn nghiên cứu vi khuẩn 20
Hình 2.3 Sơ đồ tóm tắt các công đoạn nghiên cứu nấm 21
Hình 3.1 Tôm hùm nước ngọt 22
Hình 3.2A Hang của tôm hùm nước ngọt tại ao nuôi ở Vũ Di, Vĩnh Phúc 24
Hình 3.2B Hang của tôm hùm nước ngọt tại ao nuôi ở Bạch Trữ, Mê Linh 24 Hình 3.3 Cách đào hang của tôm hùm nước ngọt 25
Hình 3.4 A Hình ảnh tôm hùm nước ngọt giống cái 27
Hình 3.4 B Hình ảnh tôm hùm nước ngọt giống đực 27
Hình 3.5 Tôm ôm trứng 28
Hình 3.6 A Bể nuôi ghép tôm hùm nước ngọt với cá hương và tôm đất 43
Hình 3.6 B Bể nuôi ghép tôm hùm nước ngọt với cá hương và tôm đất 43
Hình 3.7 Ao nuôi THNN tại trại Bạch Trữ 46
Hình 3.8 Ao nuôi tôm hùm nước ngọt tại Phượng Xô, Vĩnh Phúc 47
Hình 3.9 Ao nuôi THNN tại Vũ Di, Vĩnh Phúc 48
Hình 3.10 Bẫy thu hoạch tôm hùm nước ngọt 51
Hình 3.11 Đầm nuôi THNN Bạch Thủy, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ 52
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả theo dõi ngưỡng nhiệt độ 29
Bảng 3.2 Kết quả theo dõi ngưỡng ôxy 30
Bảng 3.3 Kết quả tìm hiểu các bệnh của tôm hùm nước ngọt 31
Bảng 3.4 Kết quả phân tích mẫu môi trường nước ao nuôi tôm 35
Bảng 3.5 Kết quả phân tích động vật phù du 36
Bảng 3.6 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tôm đối với lúa ở quy mô nhỏ 39 Bảng 3.7 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tôm đối với lúa ở quy mô đại trà 40
Bảng 3.8 Kết quả nuôi tôm kết hợp với cá bột cá chép 41
Bảng 3.9 Kết quả nuôi tôm hùm nước ngọt với tôm càng xanh 42
Bảng 3.10 Kết quả nuôi tôm hùm nước ngọt với cá hương và tôm đất 44
Trang 12MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, do sự biến động của thị trường tiêu thụ thủy sản của các nước trên thế giới, sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động lớn đến sức mua của người dân Chính vì vậy Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có chủ trương tìm kiếm đối tượng thủy sinh có giá trị kinh tế cao để nuôi thương phẩm phục vụ xuất khẩu và thị trường nội địa Trong đó hướng tìm kiếm thuỷ sinh vật ngoại lai có giá trị kinh tế đã được các doanh nghiệp, các cơ quan có chức năng chuyển giao công nghệ đề xuất đưa vào tại Việt Nam Việc đẩy mạnh xuất khẩu, nhập khẩu các giống cây, con đã tạo cho khu hệ động vật, thực vật được bổ sung phong phú, nhiều loài đã trở thành đối tượng nuôi, trồng kinh tế, tăng thu nhập và góp phần tăng trưởng kinh tế cho đất nước Riêng lĩnh vực thuỷ sản đã có nhiều giống được coi là có giá trị kinh tế như: cá Trắm cỏ, cá Mè trắng Trung quốc, cá Mè hoa, cá Rôhu, Mrigan, Rô phi vằn, Trê phi, Chép Hungari, Chép Indonesia.… nhiều đối tượng thuỷ sinh nhập nội được nuôi làm cảnh, làm thức ăn cho tôm cá [1, 2] Hình thức nhập khẩu các loài ngoại lai dưới nhiều dạng: nhập khẩu chính ngạch, qua con đường tiểu ngạch, quà biếu, nhập để nghiên cứu khoa học nên khó kiểm soát, đặc biệt là nhập khẩu tự do qua tiểu ngạch sẽ không qua kiểm dịch, một số loài không rõ nguồn gốc, một số loài chưa được xem xét kỹ lưỡng về đặc tính sinh vật học nhưng vẫn được cho phép nhập công nghệ nuôi…nên xảy ra tình trạng một số sinh vật lạ xâm lấn thoát ra ngoài
tự nhiên phát triển, gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường sinh thái, thiệt hại về kinh tế
Trong số các loài thủy sinh ngoại lai nhập nội phổ biến hiện nay là loài
tôm hùm nước ngọt Tôm hùm nước ngọt (P.clarkii) có nguồn gốc ở Bắc Mỹ,
đến nay được phân bố rộng rãi trên 20 quốc gia và khu vực thuộc 5 châu lục THNN là đối tượng nuôi của các nước như: Mỹ, Úc, Anh, Thụy Điển, Phần
Trang 13Lan, Na Uy, Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc… và một số quốc gia khác [4]
Tuy nhiên, hiện nay việc quản lý các loài ngoại lai nhập nội nói chung và loài tôm hùm nước ngọt nói riêng vẫn còn nhiều bất cập do vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau giữa các cơ quan quản lý, các nhà khoa học
về đánh giá tác động của chúng lên đa dạng sinh học ở nước và nguồn lợi
thuỷ sản Chính vì vậy chúng tôi tiền hành đề tài “Đánh giá tác động của
loài tôm hùm nước ngọt (P.clarkii) nhập nội vào Việt Nam lên đa dạng thủy sinh vật”
Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu, tìm hiểu đặc tính sinh học, sinh thái và đánh giá tác động lên môi trường thủy sinh vật của loài tôm hùm nước ngọt đang được nuôi thử nghiệm tại một số tỉnh miền Bắc, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý thích hợp
Trang 14CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Tình hình phát triển tôm hùm nước ngọt trên thế giới và vấn đề môi trường liên quan
1.1.1 Phân bố của tôm hùm nước ngọt
Tôm hùm nước ngọt phân bố tự nhiên ở Bắc Mỹ, hiện đã di nhập và phát triển mở rộng đến các châu lục như Châu Âu, Châu Phi và Châu Á Là một loài giáp xác có khả năng phát triển được trong các đầm hồ tự nhiên có nhiều thực vật thủy sinh và mùn bã hữu cơ, có giá trị kinh tế và hiện đang được phát triển nuôi ở một số nước trên thế giới [4]
1.1.2 Sản lượng và giá trị thương mại
Năm 2000, tổng sản lượng THNN thương mại khoảng trên 110.000 tấn Trong đó Mỹ chiếm 55%, Trung Quốc khoảng 35%, các nước châu Âu chiếm 18% và châu Úc là 2% [4, 8, 15] Trên thế giới THNN đã trở thành một mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu có giá trị cao, giá dao động từ một vài đô la đến hơn mười đô la Mỹ/ kilôgam
Australia năm 2001-2002 sản lượng THNN là 58 tấn, năm 2003 đạt
100 tấn Năng suất tôm nuôi ở ruộng và ao đạt từ 1-3 tấn/ha/năm Tuy nhiên với nuôi bán thâm canh, và thâm canh năng suất có thể đạt 4 tấn/ha/năm thậm chí đạt 8 tấn/ha/năm [6]
Năm 1994 tại Trung và Nam Âu, giá trị sản phẩm từ tôm hùm nước ngọt
là 21 triệu USD, năm 2001 là 55 triệu USD Miền nam Châu Âu, Tây Ban Nha sản lượng tôm hùm nước ngọt khoảng từ 2.000 đến 3.000 tấn/năm [7]
Năm 2005 bang Lousiana của Mỹ đã có khoảng 1.100 hộ nông dân
nuôi THNN (P.clarkii) với diện tích trên 43.000 ha Tôm có thể thu hoạch sau
3-5 tháng nuôi từ khi thả giống với kích cỡ 2 - 4 cm/con Kích cỡ tôm thương phẩm ≥ 20 gam/con Năng suất tôm nuôi ở các ao mở, ruộng tối đa là 3.000
Trang 15kg/ha, trung bình khoảng 1.000 - 2.000 kg/ha Sản lượng tôm hùm nước ngọt của Mỹ năm 2005 đạt khoảng120.000 tấn [7,12]
Sản lượng THNN của Trung Quốc vào cuối những năm 1990 ước tính khoảng 80 -100.000 tấn/năm Từ năm 2003 trở lại đây, sản lượng hàng năm ước tính khoảng 350.000 tấn/năm Tôm hùm nước ngọt không chỉ được nuôi trong ao mà còn được nuôi kết hợp với trồng lúa THNN được bán với giá bán buôn là 0,75 đô la/kg và giá bán lẻ khoảng 0,83- 2,5 đô la/kg [4]
Trung Quốc là nước xuất khẩu THNN lớn nhất thế giới Thị trường xuất khẩu chính là Mỹ Năm 1997, Trung Quốc đã xuất khẩu 4.600 tấn tôm nõn tương đương 36.000 - 40.000 tấn tôm nguyên con Năm 1999 xuất khẩu 70.000 tấn Mỹ đã đánh thuế nhập khẩu tôm này từ 92 - 201% trung bình là 123%, tuy nhiên việc xuất khẩu tôm từ Trung Quốc vào Mỹ ngày một tăng
Từ năm 2003 Trung Quốc bắt đầu xuất khẩu sang thị trường Châu Âu chủ yếu
là Bắc Âu [4, 6, 8, 19, 21] Sản lượng THNN Trung Quốc xuất khẩu chủ yếu
là tôm thu từ đầm hồ tự nhiên Sản lượng tôm hùm nước ngọt nuôi của Trung Quốc chỉ chiếm 15 - 20% [4]
Về chất lượng sản phẩm, theo các tài liệu nghiên cứu đã công bố, về tỷ
lệ thịt của tôm hùm nước ngọt chiếm 20 - 30% thể trọng, trong đó phần thịt ở thân đuôi chiếm 15 - 18% Trong thịt tôm hùm nước ngọt tính theo khối lượng tươi, hàm lượng protein chiếm 17,62%, lipid chiếm 0,29%, các axit amin chiếm 77,2% protein cơ thể Do thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng, là một loại thực phẩm sạch, giàu protein và ít lipid nên tôm hùm nước ngọt được coi
là một món ăn sang trọng quý hiếm của người dân Trung Quốc và được ưa thích trên thị trường quốc tế [4]
1.1.3.Tình hình nuôi tôm hùm nước ngọt ở một số nước trên thế giới
Theo W Ray McClain và Robert P.Romaire [21] có rất nhiều loài tôm hùm nước ngọt phân bố tự nhiên trên các châu lục (trừ Châu Phi và Châu Nam
Trang 16cực) Có khoảng 10 loài được khai thác thương mại, trong đó có 6 loài là:
Cherax quardicarinatus, C tenuimanus, C destructor, P.zonangulus, Austropotamobius pallipep, P rocambarus Loài P.clarkii được đánh giá là
có hiệu quả kinh tế, đã di nhập và phát triển mở rộng ra tới 20 quốc gia trên
thế giới Tôm hùm nước ngọt nhanh chóng được phát triển ở các nước trên thế giới do nuôi đối tượng này không đòi hỏi kỹ thuật cao, sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và có giá trị thương mại cao Theo Brett F.Edgerton [8], một số nước tiến hành nuôi loài tôm này với các hình thức như nuôi quảng canh ở những vùng nước tự nhiên có nhiều thực vật thủy sinh, nuôi bán thâm canh, nuôi thâm canh hoặc chỉ nhập khẩu để chế biến, tiêu thụ trong đó nổi bật hai cường quốc là Hoa Kỳ và Trung Quốc đã phát triển nuôi loài tôm hùm nước
ngọt P.clarkii có quy mô lớn và có các phương thức nuôi trên những diện tích rộng lớn
1.1.3.1 Phát triển tôm hùm nước ngọt tại Louisiana (Hoa Kỳ)
Tôm hùm nước ngọt (P.clarkii) sống trong vùng giàu dinh dưỡng ven
sông Mississippi Louisiana là địa danh có nghề khai thác tôm Hùm nước ngọt, tuy nhiên việc khai thác tôm từ tự nhiên không ổn định nên việc nuôi tôm được hình thành sớm, xuất hiện từ thế kỷ 18 Diện tích đất dùng cho nuôi tôm hùm nước ngọt đạt tới đỉnh cao vào năm 1987 là 52.000 ha Do đặc điểm sinh học của loài dễ thích nghi với các điều kiện môi trường, có khả năng sinh sản tự nhiên tạo quần đàn nhanh và có thị trường khá rộng nên nhanh chóng được người nuôi chú trọng phát triển Việc nuôi tôm hùm nước ngọt dựa vào phương pháp quảng canh, sử dụng ao đất, quần đàn con tự sinh sản Loài tôm này sử dụng chuỗi thức ăn dựa vào thực vật là chính và là một loài ăn tạp nên
dễ nuôi và dễ phát triển Khoảng hơn 50 năm trở lại đây, sản lượng loài tôm hùm nước ngọt của Mỹ đạt khoảng 50.000 tấn vào năm 1990 và đạt 120.000 tấn vào năm 2005 [8]
Trang 171.1.3.2.Phát triển tôm hùm nước ngọt tại Trung Quốc
Tôm hùm nước ngọt P.clarkii được du nhập từ Nhật Bản vào Trung
Quốc từ những năm 30 của thế kỷ 20 Đến nay loài tôm này đã phát triển rộng rãi ở trên 26 tỉnh và khu vực của Trung Quốc Nghề nuôi tôm hùm nước ngọt
đã được chính quyền và các nhà khoa học của Trung Quốc quan tâm phát triển do yêu cầu tiêu dùng và xuất khẩu sản phẩm và hiệu quả kinh tế của loài tôm này vượt xa các loài cá truyền thống Trung Quốc có ưu thế về diện tích rộng lớn trong đó có những khu vực đầm hồ rộng hàng chục đến hàng trăm ha
có nhiều thực vật thủy sinh rất thích hợp cho sự phát triển nuôi quảng canh
loài tôm hùm nước ngọt Sau hàng chục năm phát triển đã hình thành đàn tôm
tự nhiên có sản lượng khai thác đáng kể trong các sông hồ, đầm, trong đó vùng hạ lưu sông Trường Giang là vùng có sản lượng lớn nhất [3]
Ở Trung Quốc tôm hùm nước ngọt đã, đang được nuôi rất phổ biến ở một số tỉnh như Hồ Bắc, Hồ Nam, An Huy, Sơn Đông, Triết Giang, Vân Nam, Đài Loan (trên 20 tỉnh, thành phố và đặc khu) [4] Trong một vài năm gần đây thị trấn Tích Ngọc Khẩu, thuộc thành phố Xuân Giang tỉnh Hồ Bắc là một trong những điểm điển hình về nuôi tôm hùm nước ngọt Tôm hùm nước ngọt không chỉ được nuôi trong ao mà còn được nuôi ở ruộng trũng Năm
2001, loài tôm này được nuôi thử nghiệm tại 1.000 mẫu ruộng trũng (01 mẫu Trung Quốc bằng 667 m2), năm 2002 là 2.000 mẫu, năm 2003 là 5.000 mẫu, năm 2004 là 6.000 mẫu và đến 2005 là 15.000 mẫu (tương đương 1.000 ha) Ruộng nuôi Tôm hùm nước ngọt thường có mương chạy xung quanh Diện tích mương chiếm khoảng 5 - 10% Tôm có thể được nuôi luân canh với trồng lúa (một vụ trồng lúa, một vụ nuôi tôm) hoặc nuôi kết hợp với lúa [4] Sau đây xin được dẫn ra một một số mô hình nuôi tôm hùm nước ngọt:
*Nuôi tôm luân canh với trồng lúa (một vụ trồng lúa một vụ nuôi tôm)
Tôm được nuôi luân canh với lúa có một số phương thức thả giống sau:
Trang 18- Mô hình thả tôm bố mẹ: Hàng năm vào tháng 7, tháng 8, trước khi thu hoạch lúa 1 - 2 tháng, tôm bố mẹ được thả vào mương với mật độ 5.000 - 8.400 con/ha (125 - 200 kg/ha) Tỷ lệ tôm cái/đực là 3♀/1♂ Các công việc chăm sóc lúa tiến hành bình thường Mực nước ruộng cần giữ
từ 15 - 20 cm Sau khi thu hoạch lúa xong cho nước vào, bón phân hữu
cơ đã ủ mục Khi thấy có tôm con xuất hiện thì đặt lờ đáy (bẫy) bắt tôm
bố mẹ
- Mô hình thả tôm ôm trứng: Hàng năm vào tháng 9, sau khi gặt lúa xong, lấy nước, bón phân hữu cơ được ủ mục và thả tôm mẹ đã ôm trứng vào ruộng Mật độ thả 4.000 - 6.000 con/ha (125 - 150 kg/ha) Khi phát hiện thấy
có tôm con đặt lờ đáy để bắt tôm mẹ đi
- Mô hình thả tôm giống: Tháng 9 hàng năm sau khi gặt lúa xong, dùng cọc tre tạo một số hang sâu độ 20 cm trong ruộng, sau đó cho nước vào ruộng Tiếp đó bón phân gia súc đã ủ mục vào ruộng với lượng 13.000 kg/ha Sau đó thả tôm con vào ruộng với mật độ 100.000 - 150.000 tôm con/ha (tôm con vừa tách khỏi tôm mẹ) Nếu thức ăn tự nhiên ở ruộng kém thì có thể cho tôm con ăn thêm các thức ăn khác như thịt cá xay, phế phẩm lò mổ, v.v cũng có thể sử dụng động vật phù du cho tôm ăn Từ cỡ ấu trùng vừa tách khỏi tôm
mẹ, nuôi trong ao chăm sóc tốt khoảng 2 - 3 tháng có thể đạt kích cỡ tôm thương phẩm trung bình 3 con/100 gam [4, 14, 21]
* Nuôi tôm kết hợp với trồng lúa
Trong vụ cấy lúa, thực hiện thả tôm vào ruộng lúa để nuôi cùng thời
vụ gọi là nuôi hỗn hợp tôm - lúa Phương thức này tôm sinh sống chủ yếu dựa vào các loại thức ăn tự nhiên sẵn có trong ruộng Tuy nhiên cần bổ sung thêm cám gạo hoặc bột ngô Hình thức canh tác này không ảnh hưởng tới năng suất
lúa và thu thêm được khoảng 500 - 700 kg tôm/ha [4, 13]
* Nuôi tôm trong ao
Trang 19Cỏ thủy sinh được trồng thành nhiều đám trong ao nuôi tôm hùm nước ngọt với diện tích khoảng 5% diện tích ao Mực nước trong ao thường được duy trì ở mức 60 – 80 cm Trà được thả rải rác trong ao để làm chỗ trú cho tôm Tôm được thả nuôi có thể là tôm bố mẹ hoặc tôm giống vừa rời khỏi mẹ
- Thả giống bằng tôm bố mẹ: Tôm bố, mẹ có khối lượng từ 25 - 30 gam/ con được sử dụng để sản sinh ra quần đàn tôm con trong ao nuôi Mật
độ từ 13.000 - 20.000 con/ha
Tỷ lệ đực/cái trong quần đàn là 1♂/ 3♀
Thời gian thả tôm: Tôm bố mẹ được thả tháng 6 - 7
Sử dụng lờ đáy để thu tôm bố mẹ khi thấy có tôm con trong ao
- Thả giống bằng tôm giống với kích cỡ 2 - 4 cm: Tôm giống với kích
cỡ 2 - 4 cm được thả nuôi với mật độ từ 200.000 - 300.000 con/ha
Thời gian thả giống từ tháng 3 - 4 hoặc tháng 7 - 8
- Thức ăn và chăm sóc:
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, thực vật chưa phân huỷ không phải là thức ăn chính của tôm hoặc cung cấp một lượng dinh dưỡng rất hạn chế Các chất hữu cơ từ thực vật đã phân huỷ (mùn bã hữu cơ) và một số loại hạt được tôm dùng làm thức ăn Tuy nhiên nguồn thức ăn tối ưu cho tôm là các động vật không xương sống Như vậy, chức năng chính của rong cỏ trong ao nuôi tôm hùm nước ngọt không cung cấp thức ăn trực tiếp, mà nó cung cấp năng lượng nuôi dưỡng chuỗi thức ăn trong đó tôm là ở đỉnh của chuỗi [4, 15, 21]
Có thể sử dụng phân hữu cơ hoại mục làm thức ăn chính cho tôm Cách thức sử dụng như sau: Phân hữu hữu cơ hoại mục được bón với lượng 1.000
kg/ha/15 ngày/lần Rong, cỏ 1.000 kg/ha/15 ngày/lần Bột ngô hoặc cám gạo
được sử dụng làm thức ăn bổ sung cho tôm Khẩu phần ăn bằng 3% khối lượng quần đàn Sản lượng tôm nuôi theo hình thức này dao động từ dưới 225
- 1.120 kg/ha [4, 21]
Trang 20Cũng có thể sử dụng thức ăn viên để nuôi tôm Tuy nhiên trong khi chuẩn bị ao nuôi nên sử dụng phân hữu cơ hoại mục bón một lần với lượng 5.000 kg/ ha sau khi tẩy dọn ao Thức ăn chính được sử dụng cho tôm ăn là thức ăn viên Khẩu phần ăn hàng ngày chiếm 3% khối lượng quần đàn Sản lượng tôm có thể thu được dao động từ 3000 - 5000 kg/ha [4, 21] Nuôi tôm hùm nước ngọt ở Mỹ thường đạt năng suất trung bình 1 - 2 tấn/ha/năm trong
hệ thống nuôi có quản lý Tại Úc, tôm hùm nước ngọt được nuôi với hình thức bán thâm canh, điều kiện chăm sóc tốt và sản lượng trung bình đạt 4 tấn/ha/năm [15]
1.1.4 Tác động của các loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại nói chung và THNN nói riêng đến môi trường sống các loài TSV bản địa
1.1.4.1 Phá hoại môi trường sống của các loài thủy sinh vật bản địa
Loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại làm thay đổi thảm thực vật thủy sinh, làm giảm chất lượng nước của các loài như: cá trắm cỏ và cá chép Cá trắm cỏ đã dọn sạch thảm thực vật thủy sinh mà vai trò của thảm thực vật thủy sinh đối với thủy sinh vật bản địa là vô cùng quan trọng Cá chép tìm kiếm thức ăn ở đáy bằng cách đào bới các rễ cây thủy sinh, làm cho xáo trộn liên tục lớp bùn đáy, tăng độ đục của nước, hạn chế phát triển vi tảo, và kéo theo là chất lượng nước suy giảm [17]
1.1.4.2 Phá hoại lưới dinh dưỡng
Tác động này được thể hiện theo 3 trường hợp:
- Loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại làm vật mồi cho loài bản địa
- Loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại làm vật ăn thịt cho loài bản địa
- Loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại cạnh tranh với loài bản địa
Ví dụ minh họa cho tác động này:
Trang 21- Loài cá hoàng đế (Cichla ocellaris) nhập vào Panama đã tự nhiên hóa,
nó đã ăn các loài cá cỡ nhỏ bản địa và đã tiêu diệt tất cả là 7 loài ở hồ Gatum
Vì các loài cá cỡ nhỏ bản địa ăn bọ gậy muỗi gây sốt rét nay không còn nữa nên bệnh sốt rét đã trở lại nước này
- Loài cá hỏa khẩu (Cichlasoma managnense) nhập nội vào Elsavador
đã cạnh tranh và làm tiêu diệt loài cá ăn thịt bản địa
- Các loài cá rô phi nhập vào Mỹ đã chiếm hết các nơi kiếm ăn của các loài cá bản địa [10,17]
1.1.4.3 Phá hoại môi trường sống
Loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại đã tự nhiên hóa sẽ cạnh tranh không gian sống của các loài bản địa làm thu hẹp vùng phân bố của loài bản địa Loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại có đặc tính là ưa thích nhưng nơi mà loài bản địa kiếm ăn, làm tổ, ẩn náu
Ví dụ minh họa cho loài tác động này là trường hợp của loài cá mặt trời, cá vược Mỹ miệng rộng, cá chép, cá rô phi…[22]
1.1.4.4 Loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại có nguy cơ mang mầm bệnh và ký sinh trùng mới khi nhập nội
Các ký sinh trùng, các mầm bệnh mới thường được nhập cùng loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại là các vật chủ Sau đây là các ví dụ minh họa cho loài tác động này:
- Nhập loài cá chình phương đông vào Châu Âu đã mang theo ký sinh trùng Anguillicola
- Loài cá hồi dáng (Rainbow trout) đưa từ Tây Bắc Mỹ vào Châu Âu và Nam Mỹ đã đưa theo bệnh phù cho các loài cá địa phương
- Ở Việt Nam thường xuất hiện bệnh Taura lây từ loài tôm he chân trắng sang loài tôm sú [17]
Trang 221.1.4.5 Tạp giao với các loài bản địa
So với các động vật như chim và thú, động vật thủy sinh như các loài
cá thì khả năng tạp giao loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại và loài bản địa là rất lớn Như vậy là vốn di truyền bản địa đã bị suy thoái [10]
Ví dụ minh họa cho loại tác động này là sự tạp giao của các loài cá rô phi ở các nước châu Phi - nay tìm loài thuần chủng là rất khó Ở ta có thể dẫn chứng là cá mè trắng Việt Nam đã bị tạp giao với cá mè trắng Trung Quốc nhập nội
1.1.4.6 Tác động xấu đến các loài TSV nuôi truyền thống
Một khi các loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại nhập nội đã có tác động xấu lên ĐDSH ở nước bản địa, tất yếu sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên các loài TSV nuôi truyền thống Các loài như: cá chép trắng đồng bằng sông Hồng, ca chép vảy to Tây Bắc, cá diếc Ba Bể, cá mè trắng Việt Nam, cá trôi Việt Nam,… là các đối tượng nuôi trồng lâu đời của người dân Việt Nam nay đã bị quên lãng [17]
1.1.4.7 Tác động đến kinh tế, xã hội
Các loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại khi nhập nội với mục đích phát triển kinh tế xã hội, lúc đầu có năng suất cao, phục vụ xuất khẩu nhưng sau một thời gian nuôi đã bộc lộ tác động xấu đến môi trường, đa dạng sinh học Lúc này muốn khắc phục hậu quả, loại trừ chúng cũng rất khó khăn Nhận thức được đầy đủ các vấn đề của loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại xâm hại gây nên, các nước đã phát triển đã cấm nhập các loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại Trung Quốc là một nước đã nhập một lượng lớn các loài thủy sinh ngoại lai có nguy cơ xâm hại thủy sinh vật thì nay đang phải xem xét lại, không nhập nữa Lợi nhuận trước mắt thì ít mà thiệt hại về lâu dài thì quá lớn [16, 20, 22] Đây là bài học cho các nước đang phát triển, cần nhập nhiều giống loài mới phục vụ cho phát triển kinh tế
Trang 231.2 Tình hình nuôi và phát triển tôm hùm nước ngọt ở Việt Nam
Việt Nam có một số điều kiện về tự nhiên tương tự với một số vùng ở Trung Quốc đang phát phát triển tốt loài THNN Như vậy việc di giống thuần hóa để phát triển được loài tôm này tại Việt Nam là có cơ sở Năm 1997 và
1998 đã có một số các nhà khoa học và các nhà quản lý của Việt Nam đi khảo sát tình hình phát triển loài tôm hùm nước ngọt của Trung Quốc và định hướng phát triển nuôi tại Việt Nam Trên cơ sở này, việc nhập công nghệ sản
xuất giống và nghiên cứu kỹ thuật nuôi tôm hùm nước ngọt P.clarkii thương
phẩm đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép thực hiện tại Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 và tại 4 tỉnh miền Bắc bao gồm Phú Thọ, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Thời gian triển khai thực hiện từ năm
2008 [3]
Năm 2006, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I nhập tôm hùm nước
ngọt (P.clarkii Giard,1852) nuôi thử nghiệm Với thời gian nuôi không dài,
quy mô nhỏ, thời tiết lạnh kéo dài của mùa đông năm 2007, nhưng kết quả cho thấy: Tôm có thể sinh trưởng và tái tạo quần đàn ngay trong mùa đông tại miền Bắc Việt Nam [3] Để phát triển loài tôm này tại Việt Nam, tháng 8/2007 Bộ Thủy sản nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt giao cho Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I thực hiện dự án: Nhập công nghệ sản xuất giống tôm và nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt nhằm phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, có tiềm năng rất lớn để phát triển loài tôm này trên những vùng đất trũng hoặc khu vực đất nông nghiệp cấy một vụ lúa năng suất thấp Tuy nhiên để quản lý tốt loài này cần có những nghiên cứu về đặc tính sinh học, đánh giá ảnh hưởng đến các loài thủy sản và lúa của đối tượng này để có những đề xuất về khả năng phát triển tôm hùm nước ngọt tại Việt Nam Những nghiên cứu này là cơ sở thiết thực phục vụ phát triển bền vững nói
Trang 24chung và cho công tác quản lý nguồn lợi thủy sản và môi trường nói riêng và đây cũng là lý do để xác định mục tiêu của Luận văn này
1.3 Thực trạng công tác quản lý các loài thủy sinh ngoại lai trong
đó có tôm hùm nước ngọt
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những cố gắng đáng ghi nhận về quản lý các loài thủy sinh ngoại lai Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức bộ máy quản lý thủy sinh vật ngoại lai nhập nội tại các cửa khẩu đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện từ trung ương đến địa phương
Hiện đã có một số các văn bản liên quan lĩnh vực này được ban hành có thể kể đến:
- Luật thủy sản (2003);
- Luật bảo vệ môi trường (2005);
- Luật hải quan (2005);
- Luật đa dạng sinh học (2008);
- Pháp lệnh giống vật nuôi (2004);
- Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật (2001);
- Pháp lệnh thú y (2004);
- Quyết định 103/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản;
- Quyết định 112/2004 QĐ - TTg ngày 23/6/2004 phê duyệt Chương trình phát triển giống thủy sản đến năm 2010;
- Quyết định số 131/2004/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đến năm 2010;
- Quyết định số 10/2006/QĐ - TTg ngày 11/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm
2010 và định hướng 2020;
Trang 25- Quyết định 224/2000/QĐ - TTg ngày 8/12/1999 phê duyệt Chương trình phát triển Nuôi trồng thủy sản 1999 - 2010;
- Nghị định số 27/2005/NĐ-CP ngày 8/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thủy sản;
- Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh thú y;
- Quyết định số 845/TTg ngày 22/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ V/v phê duyệt Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam;
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 359/TTg ngày 29/5/1996 về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã;
- Nghị định số 82/2006/NĐ - CP ngày 10/8/2006 quy định về Quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm;
- Thông tư 222/TS - NC ngày 26/1/2000 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thực hiện Quyết định 224/1999/QĐ-TTg ngày 8/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ;
- Thông tư số 03/2006/TT - BTS ngày 12/4/2006 của Bộ trưởng Bộ thủy sản hướng dẫn thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
- Thông tư số 53/2009/TT - BNN ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông quy định quản lý các loài thủy sinh vật ngoại lai xâm hại
- Thông tư 22/2011/TT-BTNMT ngày 1/7/2011 của Bộ Tài nguyên Môi trường quy định tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại và ban hành danh mục các loài ngoại lai xâm hại
Trang 26Hệ thống văn bản pháp luật đã phát huy được nhiều tác dụng tích cực trong việc kiểm soát và quản lý thủy sinh vật ngoại lai tại Việt Nam Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại:
- Các văn bản pháp luật tuy được xây dựng khá nhiều nhưng chưa chú trọng đến bảo vệ môi trường, cụ thể là: các hệ sinh thái tự nhiên, bảo vệ nguồn gen, đa dạng sinh học, phát triển bền vững;
- Nhận thức và hiểu biết của người dân về thủy sinh vật ngoại lai chưa thật đầy đủ Các công trình nghiên cứu khoa học, đội ngũ cán bộ chuyên ngành về các loài thủy sinh vật ngoại lai còn ít, thiếu đồng bộ và thiếu chiều sâu
- Việc giáo dục, truyền thông tới các cấp chính quyền, người dân chưa được thực hiện sâu rộng và toàn diện
- Các chế độ, chính sách khuyến khích các hoạt động có hiệu quả trong việc ngăn ngừa, quản lý thủy sinh vật ngoại lai chưa được xây dựng Các chế tài xử phạt chưa được quy định rõ ràng
Việc phân công, phân cấp, quy định trách nhiệm giữa các cơ quan quản
lý, các ngành, các cấp trong việc kiểm soát và quản lý thủy sinh vật ngoại lai còn thiếu và chồng chéo
Trong quá trình hội nhập quốc tế, hệ thống tổ chức ngăn ngừa, kiểm soát và quản lý thủy sinh vật ngoại lai còn nhiều bất cập, cần được nhanh chóng khắc phục [1,2]
Trang 27CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là loài tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii, Girard, 1852) được nhập từ Trung Quốc về Việt Nam
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Xác định các đặc tính sinh trưởng, sinh sản
Nghiên cứu hình thái xác định chiều dài (cm): Chiều dài thân của tôm
từ mút chùy đến hết đuôi tôm được đo bằng thước có độ chính xác 0,05 cm
Mùa vụ sinh sản được tính khi có tôm cái ôm trứng và kết thúc khi không có tôm cái ôm trứng
2.2.2.Nghiên cứu ngưỡng nhiệt độ và ngưỡng oxy của tôm hùm nước ngọt
Que nâng nhiệt được sử dụng cho việc thăm dò ngưỡng nhiệt độ cao đối với loài tôm này Nhiệt độ dưới ngưỡng 30C được tăng 10
C và duy trì trong 8 giờ Ôxy được cung cấp bằng máy thổi khí 24/24 giờ Ngưỡng nhiệt độ là nhiệt độ làm tôm hôn mê và chết 50% số cá thể được thí nghiệm
2.2.3 Kỹ thuật nuôi tôm kết hợp với trồng lúa và một số đối tượng thủy sản khác để xác định mức độ ảnh hưởng
2.2.3.1.Kỹ thuật nuôi tôm kết hợp với trồng lúa
Thí nghiệm với quy mô nhỏ
Thí nghiệm được bố trí trong ao với diện tích 744 m2 tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, theo hình 2.1 (xem hình 2.1) Thời gian thực hiện 3 tháng từ ngày 15/7 - 25/10/2008
Trang 28Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của tôm đối với lúa
Lô 1:
Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Mật độ tôm:15 con/m2
Lô 2:
Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Mật độ tôm:15 con/m2
Lô 4:
Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Không thả tôm
Lô 3:
Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Mật độ tôm:15 con/m2
Lúa được cấy với mật độ 35 - 40 khóm/m2
Mật độ tôm thả nuôi 15 con/m2 Kích cỡ trung bình 10,2gam/con
Thức ăn viên có hàm lượng đạm tổng số 25% được sử dụng cho tôm
ăn Ngày cho ăn một lần vào lúc 17 giờ Khẩu phần ăn hàng ngày bằng 2 - 3%
khối lượng quần đàn
Thí nghiệm với quy mô đại trà
Thí nghiệm được thực hiện tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh Ao có diện tích 1.500m2 được ngăn lưới thành 3 lô Lúa được cấy với mật độ 35-40 khóm/m2 Mật độ tôm thả nuôi 20 con/m2 1 ao riêng 500 m2 chỉ cấy lúa không thả tôm Cám gạo hoặc bột ngô được sử dụng làm thức ăn bổ sung Ngày cho ăn một lần vào lúc 17 giờ Khẩu phần ăn hàng ngày bằng 1-3 %
khối lượng quần đàn
Các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Ninh Bình tôm được nuôi quảng canh trong ruộng lúa với mật độ từ 0,02 - 2,50 con/m2 Cám gạo hoặc bột ngô được sử dụng làm thức ăn bổ sung Ngày cho ăn một lần vào lúc 17
giờ Khẩu phần ăn hàng ngày bằng 1 - 3 % khối lượng quần đàn
Trang 292.2.3.2 Kỹ thuật nuôi tôm hùm nước ngọt với cá bột
Thí nghiệm ương nuôi cá bột cá chép cùng với tôm được tiến hành trong các bể xi măng 25 m2 tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, từ ngày 4/3 đến ngày 24/4 năm 2009
03 bể nuôi tôm với cá bột Mật độ tôm thả nuôi 17 con/m2 Khối lượng: 15,3 gam/con Mật độ cá thả 150 con/m2 01 bể đối chứng (chỉ nuôi cá bột) Mật độ cá thả nuôi 150 con/m2
Đỗ tương luộc được sử dụng cho tôm ăn Ngày cho ăn một lần vào 17h Khẩu phần ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn
Đỗ tương rang chín nghiền thành bột mịn sử dụng làm thức ăn cho cá chép bột Ngày cho ăn hai lần vào 8 h và 14 h Khẩu phần thức ăn hàng ngày
cụ thể như sau:
7 ngày đầu: 0,2 - 0,3 kg/1vạn cá bột
7 ngày sau: 0, 4 - 0,5 kg/1vạn cá bột
7 ngày tiếp theo: 0,6 - 0,7 kg/1vạn cá bột
10 ngày tiếp sau: 0,8 - 1,0 kg/1vạn cá bột
10 ngày kế tiếp: 1,2 - 1,4 kg/1vạn cá bột
10 ngày cuối: 1,5 - 1,7 kg/1 vạn cá bột
Máy thổi khí hoạt động 24/24 giờ/ngày Một tuần bổ sung nước một lần
2.2.3.3 Kỹ thuật nuôi tôm hùm nước ngọt với tôm càng xanh
Trang 30Thí nghiệm được thực hiện trong bể xi măng, mỗi bể có diện tích 25 m2tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, thời gian 3 tháng từ 5/8 đến 5/11/2008
03 bể nuôi tôm hùm nước ngọt với tôm càng xanh
Mật độ: Tôm càng xanh 15 con/m2 Kích cỡ 3,5 gam/con
Tôm hùm nước ngọt 15 con/m2 Kích cỡ 11,5 gam/con
01 bể đối chứng (chỉ nuôi tôm càng xanh) Mật độ: 30 con/m2
Thức ăn viên Proconco - KP 90.C3 được sử dụng cho tôm ăn Ngày cho
ăn một lần vào lúc 17 giờ Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 2-3% khối lượng quần đàn
2.2.3.4 Kỹ thuật nuôi tôm hùm nước ngọt với cá hương và tôm đất
Thí nghiệm được thực hiện trong bể xi măng, mỗi bể có diện tích 5 m2tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh
Thí nghiệm được thực hiện trong thời gian một tuần
03 bể nuôi ghép tôm hùm nước ngọt, cá hương và tôm đất (tôm càng
Việt Nam - Macrobrachium nipponense)
01 bể chỉ nuôi cá hương và tôm đất
Tôm hùm nước ngọt cỡ 15 - 18 g/con Mật độ thả nuôi 40 con/m2,
Cá rô phi cỡ 1,2 - 1,5 cm hoặc cá chép hương cỡ 2 - 3 cm được thả nuôi với mật độ 7 - 10 con/m2
Tôm đất được thả nuôi với mật độ 10 con/m2
Trang 31
2.2.4.Nghiên cứu các bệnh của tôm hùm nước ngọt
Hình 2.2 Sơ đồ tóm tắt các công đoạn nghiên cứu vi khuẩn
Xác định tác nhân gây bệnh là vi khuẩn
Sử dụng phương pháp nghiên cứu vi khuẩn trên động vật thuỷ sản của Dogiel [11] để xác định tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Phương pháp này được tóm tắt tại hình 2.2 (xem hình 2.2)
Xác định tác nhân gây bệnh là nấm
Sử dụng phương pháp nghiên cứu nấm của Willoughby L.G [18] để xác định tác nhân gây bệnh là nấm Phương pháp này được tóm tắt tại hình 2.3 (xem hình 2.3)
Xác định tác nhân gây bệnh là ký sinh trùng
Sử dụng phương pháp của Bychowkaja [9] để xác định ký sinh trùng gây bệnh cho tôm
Trang 32Hình 2.3 Sơ đồ tóm tắt các công đoạn nghiên cứu nấm
Thu mẫu bệnh phẩm
Kiểm tra bằng kính hiển vi
Cấy vào môi trường GY agar (có Streptomicine và Penicilline)
Sau 48 - 72 giờ Cấy chuyển sang môi trường APW
Sau 12 - 48 giờ Quan sát sự hình thành bào tử
Cấy một bào tử
Cấy chuyển sang môi trường GY agar
Cấy chuyển sang môi trường APW
Cho hạt gai dầu Phân loại đến loài
2.2.5 Phương pháp phỏng vấn người dân
Đối tượng được phỏng vấn là: Người nuôi trực tiếp; cán bộ trực tiếp theo dõi; người dân sinh sống xung quanh khu vực nuôi
Trang 33CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm hình thái và môi trường sống của loài tôm hùm nước ngọt
3.1.1.Đặc điểm hình thái
Phân tích hình thái cho thấy tôm hùm nước ngọt là một loài tôm nước
ngọt cỡ vừa và nhỏ thuộc Ngành Arthropoda, Lớp Crustacea, Bộ Decapoda,
Bộ phụ Astacidae, Họ ambaridae, Giống Procambarus, Loài Procambarus clarkii Tôm hùm nước ngọt có màu đỏ sậm, dài khoảng 120mm Càng tôm
kẹp chặt dài và mảnh, với đầu to sáng và chóp đỏ (Hình 3.1)
Hình 3.1 Tôm hùm nước ngọt
Quan sát chi tiết cho thấy: cơ thể chia hai phần đầu ngực và bụng gồm 20 đốt tạo thành, toàn thân có 19 đốt, mỗi đốt có đôi chi, trừ đốt đuôi không có chi Phần giáp đầu - ngực liền một khối gồm phần đầu có 5 đốt phần ngực có 8 đốt Phần đầu ngực hình ống tròn, phía trước vuốt thành
Trang 34góc hình tam giác, mặt trên lõm, hai bên gồ lên, đầu vuốt thành chùy nhọn Giữa giáp đầu ngực có rãnh hình cung, hai bên có hạt thô sần Phần ngực
có 8 đốt, phía sau gồm các chi phụ của đốt đuôi và đôi chân bụng thứ 6 tạo thành lá quạt đuôi dài bằng nhau Chân ngực có 5 đôi, đôi thứ nhất biến thành càng, chân thô thoài hóa ở con đực, trước hai đôi chân bụng biến thành gai vôi giao phối
3.1.2 Môi trường sống của tôm hùm nước ngọt
Tôm hùm nước ngọt thường xuất hiện khá nhiều ở các vực nước có thức ăn phong phú như mương, nước tĩnh, ao và các hồ nước nông Tôm cư trú ở những nơi hang đất có nhiều rễ cây và cỏ nước hoặc hốc đá Ban ngày tôm thường ẩn nấp ở đáy thủy vực nơi có ánh sáng yếu, trong cỏ cây hoặc ở trong hang, ban đêm ra kiếm mồi ăn Trong môi trường thiếu thức ăn và nơi nước đục, ban ngày tôm cũng đi tìm mồi Khi môi trường nước bị ô nhiễm , thiếu ôxy, thức ăn và thay đổi về các yếu tố vật lý, hóa học đến giới hạn bất bình thường tôm bơi lên mặt nước nằm nghiêng để thở Đặc biệt là khi mưa
to, tôm thường lên khỏi mặt nước hoặc bò đi kiếm nơi ở mới [4]
Tôm có khả năng bò leo trên cạn và đào hang khá khỏe Nơi không có đá sỏi, cỏ nước, tôm thường đào hang ven bờ Độ sâu, nông của hang, hướng sóng
vỗ và mực nước, chất đất ven bờ có quan hệ đến chu kỳ sống của tôm Ở thủy vực có biên độ nước lên xuống lớn, vào thời kỳ đẻ trứng của tôm, chúng đào hang khá sâu (Hình 3.2A, Hình 3.2B) Ở nơi có mức nước ổn định và trong mùa đông, chúng đào hang nông hơn Thời kỳ sinh trưởng nói chung, tôm không đào hang Tôm có thể đào hang sâu nhất tới 100 cm, đường kính đạt 9,2
cm Tôm có thể trú ngụ ở những hang nhân tạo, hang có sẵn và các vật khác Thời kỳ sinh sản, tôm thường đào hang để chuẩn bị cho quá trình đẻ và ấp trứng (Hình 3.3) Do vậy, tôm hùm nước ngọt phát triển có thể ảnh hưởng tới chất lượng các công trình thủy lợi như: kênh, mương, đê điều Bên cạnh đó,
Trang 35tôm hùm nước ngọt trong điều kiện môi trường nuôi dễ phát tán ra các thủy vực tự nhiên, ảnh hưởng đến môi trường sinh sống của sinh vật bản địa qua cạnh tranh nơi ở, nguồn thức ăn, đặc biệt là khả năng lai tạp với loài bản địa Hình 3.2A Hang của tôm hùm nước ngọt tại ao nuôi ở Vũ Di, Vĩnh Phúc
Hình 3.2B Hang của tôm hùm nước ngọt tại ao nuôi ở Bạch Trữ, Mê Linh
Trang 36Hình 3.3 Cách đào hang của tôm hùm nước ngọt
(Nguồn Theo Jay V.Huner 1991)
3.1.3 Nguy cơ ô nhiễm môi trường nuôi do đặc tính ăn của tôm hùm nước ngọt
Tôm hùm nước ngọt là động vật ăn tạp, chuyên ăn mùn bã hữu
cơ, các loại rau, cỏ sống trên cạn, thực vật thủy sinh trong nước, tảo, động vật phù du, côn trùng thủy sinh, động vật sống đáy loại nhỏ và xác động vật Ngoài ra, tôm thích ăn thức ăn hỗn hợp nhân tạo Tại ao nuôi thử nghiệm, qua theo dõi cho thấy trong điều kiện nhiệt độ 20-
250C, tôm ăn 1 đêm có thể đạt 3,2% khối lượng cơ thể; tỷ lệ thức ăn: lá rong trúc (2,6%); thủy sinh (1,1%); bánh đậu (1,2%); thức ăn tổng hợp (2,8%); thịt cá (4,9%); giun đất (14,8%) Do vậy, tôm hùm có nguy cơ cạnh tranh nguồn thức ăn cao với các loài thủy sinh vật cùng nơi sống
và ảnh hưởng đến điều kiện môi trường nước tại ao nuôi Tôm hùm
Trang 37nước ngọt tiêu thụ lượng thức ăn lớn, đây là nguy cơ gây ô nhiễm hữu
cơ nguồn nước nuôi
3.1.4 Sinh trưởng và lột xác
Tôm hùm nước ngọt lột xác nhiều lần để hoàn thành sự sinh trưởng Ấu trùng mới rời cơ thể mẹ vào trung tuần tháng 9 có chiều dài trung bình 1cm, khôi lượng trung bình 0,04g, ương đến cuối tháng 11, chiều dài trung bình đạt 5,19 cm, cân nặng trung bình 4,5g Con lớn nhất có chiều dài 7,4 cm, cân nặng 12,24g Nuôi trong ao đến tháng 5 năm sau, chiều dài trung bình đạt 10,2cm, khối lượng trung bình đạt 34,51g Trong điều kiện môi trường nuôi thuận lợi, từ ấu trùng mới rời khỏi mẹ sau 2 - 3 tháng sinh trưởng, tôm đạt kích thước thương phẩm khoảng 18g/cá thể Quá trình lột xác của tôm phụ thuộc vào nhiệt độ nước, dinh dưỡng và có liên quan mật thiết với nhau Trong giai đoạn ấu trùng cứ sau 4 - 6 ngày tôm lột xác 1 lần Khi ấu trùng rời
mẹ sống tự do trong nước thì chu kỳ lột xác của chúng là 5 - 8 ngày lột xác một lần Khoảng cách giữa 2 kỳ lột xác của hậu ấu trùng tôm là 8 - 20 ngày Trong môi trường có nhiệt độ nước cao, thức ăn đầy đủ, phát dục sớm, khoảng thời gian 2 lần lột xác ngắn Khi trưởng thành mỗi năm tôm lột xác 1 -
2 lần với kích thước từ 8 - 11cm, sau mỗi lần lột xác, chiều dài tăng 1,3cm Tôm thường lột xác vào ban đêm nhưng trong điều kiện nuôi nhân tạo tôm có thể lột xác cả vào ban ngày Chu kỳ lột xác của tôm chia thành 5 giai đoạn: giữa 2 kỳ, tiền kỳ, giữa kỳ, kỳ vỏ mềm và kỳ vỏ cứng
3.1.5 Đặc điểm sinh học, sinh sản
Cơ quan sinh sản của tôm đực và tôm cái khác nhau Tôm đực gồm 1 đôi túi tinh, 1 đôi ống dẫn tinh Vị trí của đôi gai giao cấu nằm ở gốc chân ngực thứ 5 Cơ quan sinh sản của tôm cái gồm 1 đôi buồng trứng, 1 đôi ống dẫn trứng, ống dẫn trứng thông với lỗ sinh sản ở gốc đôi chân ngực thứ 3[3] (Hình 3.4A, Hình 3.4B)
Trang 38Hình 3.4 A Hình ảnh tôm hùm nước ngọt giống cái
Hình 3.4 B Hình ảnh tôm hùm nước ngọt giống đực
Trang 393.1.6 Tuổi thành thục sinh dục và mùa vụ sinh sản
Theo dõi tại các trại nuôi thực nghiệm cho thấy: Tôm thành thục khoảng 1 năm tuổi Tôm con tách khỏi tôm mẹ từ tháng 9 năm trước nuôi đến tháng 7, tháng 8 năm sau có thể thành thục và đẻ trứng Khi đó kích cỡ tôm dao động từ 6 đến 12,5 cm, trung bình 9,86 cm đến 10,5 cm và khối lượng khoảng 18g/cá thể (xem hình 3.5) Tôm hùm nước ngọt thành thục, giao vỹ và
đẻ từ đầu mùa thu Nhưng mùa đẻ rộ của tôm tập trung vào cuối thu đầu mùa đông
Hình 3.5 Tôm ôm trứng
Trang 403.1.7 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sinh trưởng và phát triển của tôm hùm nước ngọt
3.1.7.1 Kết quả nghiên cứu về ngưỡng nhiệt độ
Bảng 3.1 Kết quả theo dõi ngưỡng nhiệt độ
Thời gian giữ nhiệt (giờ)
Thời gian nâng nhiệt
(giờ)
Tỷ lệ
chết (%)
Thời gian nâng nhiệt (giờ)
Số liệu tại bảng 3.1 cho thấy: Ngưỡng nhiệt độ cao của tôm giống cỡ
từ 2 - 4 cm là 37,50C và ngưỡng nhiệt độ cao của tôm hậu bị có kích cỡ từ
7-10 cm là 370C Kết quả về ngưỡng nhiệt độ của tôm hùm nước ngọt tại thí nghiệm này tương tự công bố về biên độ nhiệt của loài này từ 0 - 370C Tuy nhiên nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của chúng là 18 -
310C [2]
3.1.7.2 Kết quả nghiên cứu về ngưỡng ô xy
Kết quả thăm dò ngưỡng ôxy của tôm (bảng 3.2) cho ta thấy: Ngưỡng ôxy của tôm giống cỡ 2 - 4 cm và tôm cỡ 7 - 10 cm đều là 0,5 mg/ lít