1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh

93 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng năm môi trường biển phải tiếp nhận một lượng rất lớn chất thải từ hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong đất liền xả thải các chất ô nhiễm ra biển bao gồm cả các ngành khai thác

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

ĐẶNG THỊ VIỆT HƯƠNG

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI KHU VỰC SƠ CHẾ SỨA HUYỆN VÂN ĐỒN – QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Mã số: 60 85 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN : PSG.TS Trần Văn Thụy

Hà Nội – Năm 2012

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu chất lượng nước và ô nhiễm nước trên

thế giới và tại Việt Nam

3

1.2 Khái quát những nghiên cứu chất lượng nước và ô nhiễm nước

khu vực nuôi trồng, chế biến thủy hải sản ở dải ven biển vịnh

Bắc Bộ thuộc tỉnh Quảng Ninh

7

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Vân Đồn 9

1.4 Nguồn lợi sứa biển ở Việt Nam và khu vực nghiên cứu 15

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trang 4

3.1.2 Kỹ thuật khai thác sứa 27

3.3 Thực trạng công tác quản lý các xưởng sơ chế sứa 37

3.5 Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các

cơ sở sơ chế sứa

46

Trang 5

3.5.3.1 Giải pháp về tuyên truyền giáo dục 47

Trang 6

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT BOD: Biochemical Oxygen Demand- Nhu cầu ôxy sinh hoá

COD: Chemical Oxygen Demand- Nhu cầu ôxy hoá học

DO: Dissolved Oxygen- ôxy hoà tan

QCVN: Quy chuẩn Việt Nam

QCVN 10: Quy chuẩn Việt Nam 10: 2008/BTNMT Quy chuẩn

kỹ thuật quốc gia về nước biển ven bờ

QCVN11: Quy chuẩn Việt Nam 11: 2008/BTNMT Quy chuẩn

kỹ thuật quốc gia đối với nước thải chế biến thủy sản

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.3 Các phương pháp phân tích một số thông số hóa – lý của mẫu

nước

25 Bảng 3.1 Tổng hợp số lượng tàu thuyền tham gia khai thác sứa 27 Bảng 3.2 Tổng hợp cơ sở thu mua và sơ chế sứa toàn tỉnh từ 2007-2011 29 Bảng 3.3 Tổng hợp sản lượng chế biến sứa từ năm 2007-2011 30 Bảng 3.4 Tổng hợp giá trị xuất khẩu sứa từ năm 2007-2011 30 Bảng 3.5 Kết quả phân tích mẫu nước thải tại các cơ sở chế biến sứa 36

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Ngư trường khai thác sứa Minh Châu - Quan Lạn 17 Hình 1.2 Ngư trường khai thác sứa Thắng Lợi – Ngọc Vừng 18

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 3.4.1 Biểu diễn giá trị trung bình của độ mặn 40

Đồ thị 3.4.2 Biểu diễn giá trị trung bình của Hàm lượng TSS 41

Đồ thị 3.4.3 Biểu diễn giá trị trung bình của Hàm lượng BOD5 43

Đồ thị 3.4.4 Biểu diễn giá trị trung bình của Hàm lượng COD 44

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.5.3 Quy trình giảm thiểu nước thải chế biến sứa hàng ngày 55

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 02 Danh sách và quy mô các xưởng sơ chế sứa toàn tỉnh Q.Ninh 70 Phụ lục 03 Kết quả phân tích các chỉ tiêu hóa mẫu nước 73

Trang 9

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Văn Thụy – Bộ môn Sinh thái môi trường – Khoa môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để tôi thực hiện tốt luận văn này, Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới tập thể các thầy cô giáo trong Khoa Môi trường, Trường đại học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQGHN đã trang bị cho tôi những kiến thức khoa học quý báu trong suốt quá trình tôi theo học để tôi thêm vững tin trong quá trình thực hiện khóa luận và công tác chuyên môn sau này

Tôi xin cám ơn Sở Khoa học Công nghệ Quảng Ninh đã phê duyệt nhiệm vụ

“ Nghiên cứu đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ các cơ sở sơ chế sứa huyện Cô Tô và Vân Đồn” và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện thành công đề tài Tôi xin cám ơn tập thể Lãnh đạo và cán bộ Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Ninh đã cùng tôi thực hiện tốt đề tài Cám ơn các Sở Tài nguyên Môi trường Quảng Ninh, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, Trung tâm Khoa học

và sản xuất giống thủy sản, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh, các phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vân Đồn, Hải Hà, phòng Kinh tế tp Móng Cái, Hạ Long, phòng Tài nguyên Môi trường và nông nghiệp huyện Cô Tô đã phối hợp, giúp đỡ, cung cấp tài liệu và đóng góp ý kiến quý báu để hoàn thiện đề tài

Cuối cùng tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bè bạn và đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ tôi trong suôt quá trình học và thực hiện đề tài nghiên cứu này

Hà Nội, tháng 12 năm 2012 Học viên

Đặng Thị Việt Hương

Trang 10

MỞ ĐẦU

Quảng Ninh là một trong số các địa phương hội tụ nhiều yếu tố tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế thuỷ sản Có thể coi điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh như một Việt Nam thu nhỏ Với cấu trúc địa hình đa dạng, biển Quảng Ninh có lợi thế rất lớn để phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế quan trọng khác Ngành thuỷ sản những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của tỉnh Sự phát triển của nghề cá dựa trên 3 lĩnh vực chính đó là khai thác hải sản, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến thủy sản Chế biến thủy sản đã tạo ra việc làm và thu nhập cho nhiều lao động, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo và bảo vệ an ninh chủ quyền trên vùng biển của Tổ quốc, đặc biệt là những vùng hải đảo nơi người dân có rất ít cơ hội tiếp cận các nguồn sinh kế

Những năm gần đây khai thác và chế biến sứa đã phát triển và thu được nhiều lợi nhuận Sản phẩm sứa chế biến là nguồn thực phẩm đóng góp quan trọng đảm bảo an ninh thực phẩm của tỉnh phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ nội địa, du lịch

và xuất khẩu Sự phát triển của nghề chế biến sứa cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung của tỉnh, thu hút được nhiều nguồn đầu tư trong nước và ngoài nước ( Trung quốc)

Tuy nhiên bên cạnh những ý nghĩa kinh tế xã hội của nghề chế biến sứa, còn tồn tại những vấn đề môi trường phát sinh đã và đang gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và cảnh quan Hàng năm môi trường biển phải tiếp nhận một lượng rất lớn chất thải từ hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong đất liền xả thải các chất ô nhiễm ra biển bao gồm cả các ngành khai thác khoáng sản, du lịch, dịch vụ, vận tải biển, phát triển kinh tế thủy sản nói chung và nghề sơ chế sứa nói riêng đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên tình trạng ô nhiễm môi trường biển ở Quảng Ninh Việc khai thác và chế biến sứa thiếu khoa học tại các địa phương đang là những tác nhân khiến biển Quảng Ninh mất đi vẻ đẹp và môi trường trong xanh, hữu tình Ngư dân ở địa phương cho biết, mùa sứa năm 2008, riêng xưởng chế biến trên đảo mỗi ngày có hàng trăm tàu thuyền ra vào cung ứng sứa nguyên liệu Trong quá trình

Trang 11

sản xuất, xưởng chế biến sứa này đã thải ra biển toàn bộ lượng nước thải, và các phần dư thừa từ con sứa xuống biển Nghiêm trọng hơn, tại thời điểm đó chế biến, sứa chỉ được cắt lấy đầu Còn phần thân vứt xuống biển, khiến một phần vùng nước biển bị ô nhiễm chuyển sang màu, bốc mùi hôi rất khó chịu gây ảnh hưởng xấu chất lượng môi trường sống của các loài thủy sinh vật nói chung và nguồn lợi thủy sản nói riêng và đặc biệt là các loài thủy sản quý hiếm, loài có giá kinh tế cao như:

sá sùng, bào ngư, tu hài, trai ngọc, hải sâm Vấn đề ô nhiễm môi trường biển ở hai địa phương Cô Tô và Vân Đồn trở lên cần đáng lưu tâm hơn khi quần đảo Cô Tô

nằm trong quy hoạch khu bảo tồn biển của chính phủ theo Quyết định số

742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010, và khu vực biển Minh Châu – Quan Lạn đã được khoanh vùng

bảo tồn bãi sá sùng thuộc Chương trình bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản Quảng Ninh giai đoạn 2005- 2015 do Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ninh thực hiện

Xuất phát từ quan điểm, mục tiêu phát triển bền vững ngành thủy sản tôi

chọn đề tài luận văn “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô

nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện Vân Đồn – Quảng Ninh” hướng tới việc đánh giá những tồn tại, hạn chế và hiệu quả kinh tế xã hội của

nghề sơ chế sứa, hiện trạng chất lượng môi trường nước nhằm nắm được những thông tin cơ bản để làm tiền đề cho việc đưa ra những giải pháp trong quản lý, chính sách phù hợp với địa phương

Trang 12

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu chất lượng nước và ô nhiễm nước trên thế giới và tại Việt Nam

1.1.1 Trên thế giới: Đánh giá mức độ ô nhiễm nước được dựa trên các chỉ

tiêu chủ yếu về vật lý và hóa học và sinh học Trên cơ sở bản chất và hàm lượng của các chất gây chết, cũng như tính mẫn cảm với các chất gây ô nhiễm của các loài thủy sinh vật, các nhà sinh thái học và môi trường còn định ra ngưỡng hàm lượng tối thiểu cho phép và ngưỡng an toàn đối với các chất thải được phép đưa vào thủy vực

- Các chỉ tiêu vật lý: Nhiệt độ, độ trong, màu sắc, mùi vị của nước, các chất cặn

- Các chỉ tiêu hóa học: Độ pH, độ cứng, hàm lượng CO2, nhu cầu ô xi sinh học, nhu cầu ô xi hóa học, ô xi hòa tan, độ axit, độ kiềm, các nhóm muối chính ( nitơ, photpho, silic ), các kim loại nặng ( Fe, Cu, Pb, Zn, Hg, Cd,Co,V ), các dạng khí độc ( CH4,

H2S ) và dầu mỡ; thế oxi hóa khử

- Các chỉ tiêu sinh vật: Coliform, các vi khuẩn hiếu khí và kị khí, những sinh vật chỉ thị quan trọng: đại diện các nhóm tảo như Dinoflagellata, Cyanophyta, Chlorophyta, Bacillariophyta, protozoa, ấu trùng Chironomideae, Tubifex, Rota toria, Daphnia, Moina, Copepoda

Dựa vào các chỉ tiêu trên Phân loại mức độ ô nhiễm của thủy vực: Năm 1902

ở Châu Âu, Kolkwits và Marson khi đo mức độ nhiễm bẩn các chất hữu cơ nơi sông suối đã xác định các nhóm loài chỉ thị cho các điều kiện môi trường khác nhau, đưa

ra khái niệm “các chỉ thị sinh học của ô nhiễm” và đề xuất hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn dựa vào các loài được tìm thấy trong quần xã sinh vật nổi (plankton), sinh vật bám (periphyton), động vật không xương sống cỡ lớn (macroinvertebrates)

và cá Năm 1908 – 1909, hai tác giả này đã chia nhỏ thành 4 mức độ:

- Nghèo dinh dưỡng

- Không bẩn (Oligosaprobe)

- Nhiễm bẩn vừa mức α (α – mesosaprobe)

Trang 13

- Nhiễm bẩn vừa mức β (β – mesosaprobe) và rất bẩn (polysaprobe)

Zhadin, 1964 còn chia nước thành 3 loại: nước bẩn ( Saprobe) chủ yếu chứa chất hữu cơ, vi khuẩn; nước độc ( toxobe) chứa các kim loại nặng, chất phóng xạ, các hóa chất độc ( ĐT, phenop ) và nước vừa bẩn vừa độc là hỗn hợp của 2 loại nước trên Ông cũng chia thành 4 mức Oligo -, Meso-, Poly -, Hypersaprobe ( Toxo hay saprotoxobe) [10]

Slodecek, 1963 chia nước thành các loại sau: nước sạch ( Katarobe), nước nhiễm bẩn( limonosaprobe), nước bẩn gây ra do chất hữu cơ ( eusaprobe), nước bẩn gây ra không do chất hữu cơ ( transaprobe) Nhóm cuối cùng tách thành antisaprobe ( có chất độc), radiosaprobe ( bẩn phóng xạ) và cyptoxaprobe ( bẩn vật lý, nhiệt) [10]

Ngoài ra sử dụng các chỉ thị sinh học trong đánh giá chất lượng nước đã có những nghiên cứu sau Kolkwits và Marson như:

Kolkwitzs, 1950; Liebmann, 1951, 1962; Fjerdingstad, 1988, đã bổ sung và phát triển hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn [10]

Pantle và Buck, 1955, Zelinka và Marvan, 1961 đã ứng dụng hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn để xây dựng hệ số ô nhiễm [10]

Sladecek, 1973, đã đưa ra danh mục các nhóm thủy sinh vật chỉ thị ô nhiễm Chỉ số sinh học tiếp tục được phát triển bởi Courl, 1987 và Foissner, 1988 Các hệ thống quan trắc sinh học được các nước sử dụng như chuẩn quốc gia để quan trắc chất lượng nước[10]

Tổ chức nghiên cứu về quan trắc sinh học (Biological Monitoring Working) tại Anh năm 1976 đã được thành lập và đã đưa ra hệ thống điểm số BMWP/ASPT, (Party/Average Score Per Taxon) Năm 1977 xây dựng chương trình RIVPACS (River Invertebrate Prediction And Classification System) hệ thống phân loại và dự báo chất lượng môi trường bằng động vật không xương sống

ở sống với mức độ phân loại tới họ và chỉ số chất lượng môi trường EQI (Environmental Quality Index) [7]

Trang 14

Wooddiwiss năm 1964 đưa ra khái niệm khác “Chỉ số sinh học trent” có nội dung là dùng lưới tay thu mẫu Mẫu vật thu bằng tay và bằng chà đạp, phải lấy vật liệu chứa tất cả động vật không xương sống cỡ lớn [32]

Mohamet (1990) sử dụng cá làm chỉ thị sinh học cho ô nhiễm kim loại nặng

ở sông Nile [32]

Mustow (1997) đã sửa đổi thang tính điểm BMWP – Anh cho phù hợp với điều kiện miền Bắc Thái Lan gọi là BMWP – Thái [ 32]

Thang tính điểm BMWP – Anh được De Zwart và Trivedi, 1994

chuyển đổi cho phù hợp với điều kiện đất nước và nó được gọi là BMWP – Ấn

Theo Munir Ziya (2005) thì nhiều kim loại nặng có mặt một cách tự nhiên trong môi trường biển và là những tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước biển khi chúng ở hàm lượng cao [32]

1.1.2 Ở Việt Nam:

Từ những năm 1984, tác giả Nguyễn Văn Tuyên đã sử dụng chỉ số dinh dưỡng Nygaard (1949) để đánh giá chất lượng nước ở một số thủy vực nội địa Việt Nam [15] Năm 1988, tác giả Nguyễn Văn Tuyên đã sử dụng vi tảo và động vật đáy

để đánh giá chất lượng nước sông rạch thành phố Hồ Chí Minh [11]

Năm 1989 – 1990, tác giả Phạm Văn Miên dựa trên cấu trúc quần xã, loài ưu thế của các nhóm thủy sinh vật để phân vùng, phân loại và đánh giá chất lượng nước trong hệ thống sông rạch thành phố Hồ Chí Minh [11]

Ngoài việc phân tích cấu trúc quần xã, loài ưu thế, loài chỉ thị tác giả Phạm Văn Miên và cộng sự còn xác lập chỉ số ô nhiễm, chỉ số tương đồng để đánh giá chất lượng nước Phạm Văn Miên và cộng sự, 2003 trong chương trình “Nghiên cứu

đề xuất các chỉ tiêu sinh học để giám sát hệ sinh thái thủy sinh thuộc lưu vực sông

Mê Kông của Việt Nam” đã xác lập danh mục các loài chỉ thị sinh học cho các loại nước ở vùng Điện Biên, vùng thượng lưu sông Xê Băng Hiên, cao nguyên Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời xây dựng chỉ số ô nhiễm Zelinka

và Marvan và hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn hữu cơ 4 bậc cho các thủy vực [12]

Trang 15

Nguyễn Xuân Quýnh, xây dựng hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn các thủy vực Hà Nội dựa vào sự có mặt hay vắng mặt của một số loài hay nhóm loài chỉ thị thuộc nhóm động vật không xương sống [12]

Nguyễn Xuân Quýnh, 2001 dựa vào hệ thống tính điểm BMWP/ ASPT để xây dựng quy trình quan trắc và đánh giá chất lượng nước bằng động vật không xương sống cỡ lớn [12]

Đoàn Cảnh, Nguyễn Vũ Thanh, Tạ Huy Thịnh, Phạm Đình Trọng ,2004 đã

bổ sung thêm 13 họ mới vào hệ thống tính điểm BMWP – Việt Nam Năm 2001, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyễn Xuân Quýnh, Mai Đình Yên, Clive Pinder và Steve Tilling đã nghiên cứu điều chỉnh hệ thống BMWP trong điều kiện Việt Nam thành BMWP – Việt Nam [12]

Trần Trường Lưu, 1997 đã đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước sông Thị Vải dựa vào thành phần loài và mật độ của vi tảo và động vật đáy [12]

Ngoài việc đánh giá chất lượng môi trường nước bằng các chỉ thị sinh học hiện nay tại tất cả các nước trên thế giới và tại Việt Nam sử dụng việc phân tích các thông số hóa – lý so với các tiêu chuẩn, quy chuẩn để đánh giá chất lượng môi trường nước và mức độ ô nhiễm nước Ở nước ta Luật Bảo vệ môi trường năm

1993 và bổ sung sửa đổi vào năm 2005 cùng với các bộ luật khác liên quan đến tài nguyên nước như Luật thủy sản, Luật Đa dạng sinh học hiện nay đã ban hành và

áp dụng hiệu quả một số quy chuẩn và tiêu chuẩn ngành để đánh giá chất lượng môi trường nước như Trong lĩnh vực chất lượng nước có những tiêu chuẩn, quy chuẩn như sau:

+ Chất lượng nước, QCVN 03 ; nước mặt, QCVN 08; nước ngầm QCVN 09; nước biển ven bờ, QCVN 10; chất lượng nước mặt Bảo vệ đời sống thủy sinh, QCVN 38; nước dùng cho thủy lợi, QCVN 39

- Đối với nước thải có những Quy chuẩn quy định như sau:

+ Nước thải sinh hoạt, QCVN 14; nước thải y tế, QCVN 28; 01 QCVN cho tất cả các ngành công nghiệp, QCVN 24; 07 Quy chuẩn riêng cho một số ngành: chế biến cao su 07 riêng cho một số ngành: chế biến cao su thiên

Trang 16

nhiên, QCVN 01; chế biến thủy sản, QCVN 11; sản xuất giấy và bột giấy, QCVN 12; dệt may, QCVN 13; nước rỉ bãi rác, QCVN 25; kho và cửa hàng xăng dầu, QCVN 29; nước khai thác từ các công trình dầu khí, QCVN 35

1.2 Khái quát những nghiên cứu chất lượng nước và ô nhiễm nước

khu vực nuôi trồng, chế biến thủy hải sản ở dải ven biển vịnh Bắc Bộ thuộc tỉnh Quảng Ninh

Trước sức ép của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội lên môi trường ngày một gia tăng trong những năm gần đây, một số nghiên cứu liên quan đến môi trường dải ven biển Việt Nam đã được thực hiện nhằm giải quyết dung hòa mối quan hệ giữa phát triển KTXH và bảo vệ môi trường Với cách tiếp cận là công cụ mô hình, nhóm tác giả Trần Lưu Khanh, Nguyễn Đức Cự, Trương Văn Bốn, và nnk, 2005 đã kết hợp các công cụ toán học và số liệu điều tra khảo sát và thí nghiệm để đánh giá sức chịu tải, khả năng tự làm sạch của môi trường tại Vân Đồn – Quảng Ninh và

Cát Bà – Hải Phòng thuộc đề tài Nghiên cứu sức chịu tải, khả năng tự làm sạch môi

trường của một số thủy vực nuôi cá lồng bè, làm cơ sở phát triển hợp lý nghề nuôi hải sản ven bờ biển Quảng Ninh – Hải Phòng [31] Nhóm tác giả đã cho thấy được

khả năng tự làm sạch, tiếp nhận chất dinh dưỡng của khu vực nghiên cứu do nuôi trồng thủy sản qua việc đánh giá chất lượng môi trường và tính toán hệ số ô nhiễm

và hệ số lan truyền chất ô nhiễm, nhưng qua thống kê các nguồn phát thải từ các hoạt động của các ngành nghề tại khu vực nghiên cứu chưa đề cập đến lĩnh vực khai thác và chế biến thủy sản như: số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản, các cơ sở chế biến hải sản khô, chế biến tu hài, nước mắm, chế biến sứa

Huỳnh Tiến Dũng , 2006 nghiên cứu kết hợp các công cụ mô hình và điều tra khảo sát về chất lượng nước trong khu vực nghiên cứu [31], tuy nhiên tác giả mới chỉ quan tâm đến khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng, ô nhiễm của một số loài sinh vật ( thực vật phù du, rừng ngập mặn, cỏ biển, rong biển ) chưa quan tâm nhiều đến việc đề xuất các giải pháp trong quản lý môi trường tại các ban, ngành tại địa phương để phát triển bền vững đầm phá ven biển

Trang 17

Khu vực ven biển thuộc huyện Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh cùng với Vịnh Hạ Long, quần đảo Cát Bà hình thành một hệ tự nhiên giàu tiềm năng về du lịch sinh thái Với cảnh quan đặc sắc và những hệ sinh thái biển nhiệt đới với rừng ngập mặn, bãi triều, rạn san hô, cỏ biển Trong những năm gần đây, kinh tế Quảng Ninh đã phát triển nhanh chóng năm 2010 Quảng Ninh trở thành tỉnh đứng thứ 2 có mức thu ngân sách lớn nhất của cả nước, trong đó có sự đóng góp rất lớn từ Vân Đồn và Hạ Long Nơi đây cũng đã được xác định là vùng phát triển động lực của tỉnh với sự tập trung của các ngành kinh tế mũi nhọn như: công nghiệp khai thác và chế biến than, cảng và giao thông thủy, du lịch dịch vụ, nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy hải sản Tuy nhiên sự phát triển đó làm gia tăng quá trình bồi lắng, suy giảm đa dạng sinh học, phá vỡ cảnh quan bởi các công trình lấn biển, đổ thải đang

là những vấn đề nổi cộm ở khu vực này Chính vì vậy phát triển kinh tế xã hội như thế nào mà vẫn khai thác, phát huy lợi thế tự nhiên của vùng, bảo vệ môi trường là yêu cầu cơ bản trong chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh

Môi trường biển khu vực Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long đã được quan tâm nghiên cứu với nhiều đề tài, dự án, đặc biệt một số công trình nghiên cứu nổi bật như: Dự án Nghiên cứu quản lý môi trường vịnh Hạ Long của JICA, 1998, các công trình đánh giá tác động môi trường cho các dự án thuộc cảng Cái Lân và Cầu Bãi Cháy [36] Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của các dự án trên chủ yếu là khu vực Vịnh Hạ Long, Bãi Cháy và mở rộng tới Cửa Ông và phía Đông đảo Cát Bà, các thông số như chất rắn lơ lửng, trầm tích đáy, kim loại nặng được quan tâm đánh giá nhiều, dự án nghiên cứu tổng hợp các nguồn ô nhiễm sinh hoạt, công nghiệp khai thác than và khoáng sản, hoạt động giao thông cảng biển còn lĩnh vực khai thác và chế biến thủy sản chưa được quan tâm nghiên cứu sâu Một số công trình nghiên cứu khác chủ yếu tập trung nghiên cứu đánh giá hiện trạng chất lượng nước,

dự báo ô nhiễm và tính toán sức chịu tải dựa trên phân tích hiện trạng và các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

Trang 18

Đề tài Xây dựng mô hình lan truyền chất ô nhiễm cho vịnh Hạ Long – vịnh

Bái Tử Long do Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện từ năm 2005- 2006

sử dụng mô hình thủy động lực học, thiết lập thông số ban đầu; Xây dựng Mô hình lan truyền các chất ô nhiễm; Đánh giá hiện trạng môi trường nước; Đánh giá năng lực tải của môi trường và khả năng tự làm sạch của thủy vực; Nghiên cứu dự báo

;Đề xuất các giải pháp quản lý và kiểm soát chất lượng nước khu vực vịnh Hạ Long

– vịnh Bái Tử Long [16] và Đề tài Nghiên cứu đánh giá sức tải môi trường và đề

xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long – Bái Tử Long do Viện

tài nguyên và môi trường biển thực hiện từ năm 2008-2009 do TS Trần Đức Thạnh làm chủ nhiệm đề tài nội dung: Điều tra, khảo sát, thu thập, tổng hợp các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường khu vực; Đánh giá và dự báo tải lượng các nguồn gây ô nhiễm nước khu vực vịnh Hạ Long – Bái Tử Long; Khả năng tự làm sạch của khu vực vịnh Hạ Long – Bái Tử Long; Đánh giá sức tải của vịnh Hạ Long – Bái Tử Long; Các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long – Bái Tử Long [30] Với nguồn tài liệu phong phú, có hệ thống làm cơ sở để

kế thừa những kinh nghiệm và tài liệu tốt để hoàn thành các mục tiêu và nội dung

của đề tài “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi

trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện Vân Đồn – Quảng Ninh”

Đánh giá chất lượng môi trường nước tại các khu vực chế biến sứa và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước hiện nay là vấn đề mới chưa

có nghiên cứu, thông qua đề tài này ngoài việc đánh giá chất lượng nước, lần đầu tiên nghề chế biến sứa được điều tra khảo sát toàn diện, những thông tin định lượng

và số liệu tin cậy qua việc thu mẫu và phân tích mẫu nước biển ven bờ và mẫu nước thải từ các xưởng chế biến sứa Các kết quả khoa học của đề tài có giá trị trong quy hoạch, quản lý và định hướng phát triển kinh tế thủy sản tại địa phương gắn liền với việc bảo vệ, duy trì, phục hồi môi trường sinh thái và tài nguyên sinh vật biển hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

Trang 19

1.3 Điều kiện tự nhiên Kinh tế - xã hội huyện Vân Đồn

1.3.1 Điều kiện tự nhiên huyện Vân Đồn

Vân Đồn là một huyện đảo nằm ở vị trí tiền tiêu đông bắc Tổ Quốc, được đánh giá là vùng động lực có nhiều lợi thế về địa lý, tài nguyên thiên nhiên, đồng thời có vị trí hết sức quan trọng về quốc phòng an ninh Với trên 600 hòn đảo, có 12 đơn vị hành chính

Địa hình địa mạo đáy biển: Nằm giữa các đảo là hệ thống các lạch biển có địa hình đáy phức tạp, được hình thành bởi quá trình mài mòn xâm thực và tích tụ ngầm Khu vực có 2 hệ thống lạch định hướng: Tây Bắc – Đông Nam chia cắt các đảo chắn ngoài và đạt độ sâu 32m ở giữa hòn Sậu Đông và Đảo Sậu Nam 20 m ở giữa đảo Ba Mùn và Quan Lạn ( Cửa Đối) Ở các lạch này, hoạt động xâm thực mài mòn đáy mạnh mẽ, lộ ra các vật liệu thô và rất thô Hệ thống lạch theo hướng Đông Bắc Tây Nam tương đối rộng, sâu phổ biến 5-15m, nơi đây diễn ra quá trình hỗn hợp mài mòn tích tụ Cấu trúc hình thái bờ đảo không đồng nhất do khác nhau về thành phần vật chất cấu thành đảo và động lực biển hiện đại Bờ phía đông các đảo chắn ngoài cấu tạo từ các đá vụn lục nguyên, tương đối bằng phẳng và dốc, thường

Trang 20

xuyên chịu tác động của sóng ở tất cả các mùa, nơi phát triển các dạng địa hình bờ

kiểu vách và bãi tảng[34]

1.3.1.4 Khí hậu thủy văn

* Về Khí hậu: Đặc điểm khí hậu của huyện Vân Đồn chia làm 2 mùa rõ rệt:

Mùa mưa và mùa khô

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thường chịu ảnh hưởng của gió

mùa Đông Bắc, nhiệt độ thấp, lượng mưa ít

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ cao, nóng ẩm, mưa nhiều, thường

chịu ảnh hưởng của bão, lũ

Hàng năm có khoảng 20-25 đợt gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng tới khu vực từ tháng 9 đến tháng 4 Nhiệt độ giảm 4-50 C thậm chí 100C Tốc độ gió trung bình 5-

10m/s, cao nhất tới 15m/s [ 29]

* Về thủy văn:

Trong hệ thống sông Đông Bắc Việt nam, sông Tiên Yên, sông Mông Dương có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến chế độ thủy văn phần biển Vân Đồn qua cửa Mô và Cửa Ông Sông Tiên Yên có chiều dài 82 km bao gồm 7 phụ lưu trên lưu vực rộng 1070 km2 bắt nguồn từ độ cao 1175m thuộc địa phận Bình Liêu Chủ lưu rộng trung bình 100m và sâu 3m, lưu lượng thấp nhất đạt 28m3/h Các đảo thuộc Vân Đồn đều có quy mô nhỏ, trên đó không có dòng chảy mặt thường xuyên, chỉ có suối ngắn và dốc hình thành trong mùa mưa

Chế độ thủy triều và mực nước biển: Biển Vân Đồn là khu vực có chế độ thủy triều nhật triều điển hình với đặc trưng mỗi tháng có 2 kỳ nước cường và 2 kỳ nước kém Mỗi kỳ nước cường từ 11 đến 13 này, mức nước cao nhất có thể cao từ 3,5 đến 4m so với mực nước 0 m HĐ Mực nước biển tại khu vực vịnh Bái Tử Long

có biên độ dao động lớn nhất nước ta, Mực nước lớn nhất có thể đạt tới 4,8 m

Sóng: Ở vùng biển phía đông, độ cao sóng tương đối lớn, đạt trung bình 0,28m cả năm và trung bình riêng các tháng chưa tới 1m Do được che chắn bởi dãy đảo Sậu, ba mùn, Minh Châu – Quan Lạn khu vực ven biển Vân Đồn được bảo vệ

an toàn khi xảy ra những thiên tai bất thường như bão và sóng ở biển Đông

Trang 21

- Dòng chảy: Chịu ảnh hưởng của hải lưu ven bờ có hướng và tốc độ thay đổi theo mùa Về mùa Đông, dòng chảy hướng Tây- Nam với tốc độ trung bình trong khoảng 0,25-0,4 m/s Ngược lại về mùa hè, dòng chảy hướng Đông Bắc và tốc độ nhỏ hơn, trong khoảng 0,15-0,25 m/s Đặc biệt dòng chảy có tốc độ rất lớn ở các cửa biển như Cửa Đối, cửa Vành

1.3.2 Kinh tế xã hội [34]

1.3.2.1 Một số lĩnh vực sản xuất chủ yếu:

Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng hàng năm đạt trên 1,3 nghìn ha; giá

trị thu nhập bình quân đạt 18-25 triệu đồng /ha Giá trị sản xuất nông nghiệp 5 năm đạt 184,7 triệu đồng ( theo giá cố định năm 1994); tốc độ tăng bình quân 8,6%/năm

Sản lượng lương thực bình quân hàng năm 3.040 tấn

Chế biến thủy sản: có 1701 lao động tham gia vào lĩnh vực chế biến thủy sản bao gồm 135 hộ gia đình và 03 công ty chế biến thủy sản (trong đó 01 công ty chế biến sứa, 01 công ty chế biến nước mắm, 01 công ty chế biến thủy sản đông lạnh) Năm 2011 sản lượng chế biến thủy sản của cả huyện đạt 3185 tấn bao gồm các mặt hàng mực khô, cá khô, sá sùng, tôm khô, sứa và sản phẩm đông lạnh trong đó sứa đạt 3000 tấn chiếm 94,12% Tổng giá trị sản phẩm 152,5 tỷ đồng

Về chăn nuôi:

Trang 22

- Tổng đàn trâu 2.290 con, tổng đàn bò 1.215 con, Tổng đàn lợn 10.142 con,

tổng đàn gia cầm 56.124 con Chăn nuôi ổn định và phát triển; công tác chăm súc, phòng chống dịch bệnh được tăng cường, không có dịch bệnh lớn xuất hiện Tổng

đàn trâu, bò tăng bình quân đạt 10%/năm; tổng đàn gia cầm tăng 12,5%/năm

Về công nghiệp chế biến nông lâm sản:

Trên địa bàn huyện có 1 công ty chế biến gỗ, 1 xí nghiệp chế biến nước mắn; một số cơ sở nhỏ chế biến chè tại gia đình Ngoài ra còn có trên 10 cơ sở sản xuất nước đá lạnh phục vụ chế biến, bảo quản thủy hải sản Các cơ sở này đã thu hút hàng trăm lao động nông thôn tham gia

Về ngành nghề nông thôn:

Tình hình hoạt động ngành nghề nông thôn của huyện Vân Đồn trong những năm qua nhìn chung phát triển còn chậm, chưa đồng đều giữa các loại ngành nghề, chủ yếu là sữa chữa cơ khí; đóng mới và sữa chữa tàu thuyền; chế biến nông, lâm, hải sản, chế tác ngọc trai Ngành nghề nông thôn đã thu hút hàng trăm lao động nông nghiệp tham gia, làm thay đổi cơ cấu sản xuất, tăng thời gian sử dụng lao động

ở nông thôn

Về kinh tế hợp tác:

Nòng cốt là các hợp tác xã, tổ hợp tác xã đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, nhất là trong nông, lâm, ngư nghiệp Tăng thu nhập, tạo việc làm cho xã viên xóa đói giảm nghèo Mặc dù quy mô sản xuất còn nhỏ nhưng đã thu hút được một lượng lao động nông thôn tham gia

Trang 23

1.3.2.2 Kết cấu hạ tầng:

- Giao thông: Đã đưa vào sử dụng trên 20 km đường huyện, trên 140/298 km

đường xã, thôn, xóm đã được bhóa hóa (chiếm 47%) Hệ thống đường giao thông nông thôn, miền núi và hải đảo được quan tâm đầu tư nâng cấp, tạo ra một mạng lưới giao thông đồng bộ, thông suốt giữa các xã với trung tâm huyện Góp phần phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi và hải đảo, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân Số xã có đường ô tô đến trung tâm xã là 7 xã (chiếm 64%)

- Thuỷ Lợi: Đã đầu tư, đưa vào sử dụng cụm hồ khe Mai, khe Bòng, Voòng

Tre; Hoàn thành xây dựng và kiên cố hóa 27 km kênh mương tưới tiêu cấp I, II Đến nay đã chủ động tưới tiêu cho 841 ha (chiếm 63%)

- Hệ thống điện nông thôn: Đã được quan tâm đầu tư tạo điều kiện để điện

khí hóa nông thôn, phục vụ sản xuất và đời sống Đến nay có 100% số xã trong đất liền có điện lưới quốc gia (riêng thôn Đài Chuối xã Vạn Yên, thôn Đồng Cống xã Bình Dân và Bản Đài Van xã Đài Xuyên là chưa có điện lưới quốc gia); 5 xã đảo dùng điện diezen Đã hoàn thành bàn giao lưới điện nông thôn cho ngành điện quản

- Cơ sở vật chất giáo dục Trên địa bàn huyện hiên có 3 trường THPT, 1

trung tâm dạy nghề và giáo dục thường xuyên, 11 trường THCS, 11 trường tiểu học

và 11 trường mầm non Cơ sở vật chất trường học đã được đầu tư xây dựng đã tạo diện mạo mới cho vùng nông thôn của huyện đặc biệt là vùng núi và hải đảo

- Cơ sở vật chất Y tế: Xây dựng mới và đưa vào sử dụng Bệnh viện đa khoa

huyện với 40 gường bệnh, đầu tư nâng cấp, xây dựng hầu hết các trạm y tế xã Hiện

nay 11/11 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia

- Cơ sở vật chất văn hoá, thông tin: Nhà văn hóa thôn, bản đã và đang được

đầu tư xây dựng theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm Đến nay đã có 48/81 nhà văn hóa đang hoạt động (chiếm 59%) Hệ thống phát thanh, truyền hình, bưu chính viễn thông phát triển nhanh đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của người dân Số máy cố định đạt 12 máy/100 dân

Trang 24

1.4 Nguồn lợi sứa biển ở Việt Nam và khu vực nghiên cứu

1.4.1 Nguồn lợi sứa biển Việt Nam [13]

Trên các vùng biển Việt Nam hiện nay thường xuất hiện 03 loài sứa: Sứa

kinh tế là sứa trắng (Rhopilema hispidum); sứa đỏ (Rhopilema esculentum) và sứa

rô (Crambione mastigophora) tập trung chủ yếu vùng ven biển phía tây vịnh Bắc bộ

và Trung bộ Việt Nam Mật độ trung bình của sứa trắng ở vùng ven biển phía tây vịnh Bắc bộ là 2.218 con/km2 (38,1 tấn/km2

) và ở ven biển Trung bộ là 506 con/km2 (5,8 tấn/km2) Sứa trắng tập trung ở vùng nước nông ven bờ vịnh Bắc bộ, nơi có nhiều rạn đá, độ sâu < 20 m, độ muối < 31,0‰ và nhiệt độ nước biển tầng mặt < 26,00C Mật độ trung bình của sứa đỏ ở vùng biển Quảng Ninh – Thái Bình là

166 con/km2 (0,43 tấn/km2) Sứa đỏ tập trung ở vùng nước quanh đảo Cát Bà với mật độ từ 125-207 con/km2 Sứa rô chỉ phân bố ở vùng ven biển Trung bộ với mật

độ trung bình 203 con/km2

(1,1 tấn/km2), phân bố tập trung ở vùng ven biển từ Quảng Ngãi đến bắc Phú Yên và khu vực biển quanh vịnh Cam Ranh Trữ lượng sứa trắng ở vùng ven biển phía tây vịnh Bắc bộ là 1.222.092 tấn, vùng ven biển Trung bộ là 37.478 tấn; trữ lượng sứa rô ở vùng ven biển Trung bộ là 11.056 tấn; trữ lượng sứa dỏ ở vùng biển Quảng Ninh – Thái Bình là 4.879 tấn Năng suất đánh bắt trung bình của sứa trắng đạt 76,1 kg/h ở vùng ven biển phía tây vịnh Bắc bộ và 41,7 kg/h ở vùng ven biển Trung bộ Năng suất đánh bắt trung bình của sứa đỏ đạt 0,6 kg/h ở vùng biển Quảng Ninh – Thái Bình, sứa rô đạt 5,9 kg/h ở vùng ven biển Trung bộ

1.4.2 Nguồn lợi sứa biển Quảng Ninh [26]

Quảng Ninh là một trong những vùng biển có trữ lượng sứa lớn trong cả nước Theo các chuyên gia, Quảng Ninh còn là một trong những vùng biển hiếm hoi chứa đựng lượng sứa ít độc nhất ở Việt Nam hiện nay Thế nhưng hành trình đến với nghề sứa của người dân Quảng Ninh lại phải nhờ đến những người bạn láng giềng Trung Quốc

Trong những năm gần đây nghề khai thác, chế biến và xuất khẩu sứa tại Quảng Ninh khá phát triển, sứa chỉ xuất hiện theo mùa, rồi chết trong môi trường tự

Trang 25

nhiên Mùa sứa thường bắt đầu từ tháng 2 âm lịch và kết thúc vào tháng 4 hàng năm Nhưng năm đầu nghề khai thác sứa không được khuyến khích ở Quảng Ninh

vì sự ảnh hưởng đến môi trường, thậm chí có lúc còn bị cấm Nhưng năm 2005 khi

có sự tham gia của các chuyên gia chế biến đến từ Trung Quốc thì nghề khai thác và chế biến Sứa ở Quảng Ninh bắt đầu lên ngôi Sứa là món ăn giàu đạt bạch, sinh tố, iốt, canxi, sắt, phốt pho … Sản phẩm này có vị tươi giòn là cho tỳ vị dạ dày dễ tiêu hóa Do vậy đến năm 2007 sứa đã thực sự được coi là loài hải sản có giá trị và nghề khai thác sứa từ đây đã phát triển, góp phần tích cực trong việc xóa đói, giảm nghèo cho người dân các xã đảo nói riêng và ngư dân vùng biển tỉnh Quảng Ninh nói chung

1.4.3 Ngư trường khai thác sứa [26]

Tại Quảng Ninh có 5 ngư trường khai thác chính cụ thể như sau:

1.4.3.1 Ngư trường vịnh Bái Tử Long

- Vị trí: Phía Nam giáp với đảo Cống Đỏ, phía Tây giáp dãy đảo hòn Xếp, bờ phía Bắc là dãy đảo đá Quang Hanh đến bến Do

1.4.3.2 Ngư trường vịnh Vân Đồn

Trang 26

- Vị trí: Phía Bắc giáp đảo Trâu Đất, Trà Bản, phía Đông là đảo Quan Lạn, Thượng Mai, Hạ Mai, Phía Tây giáp đảo Phượng Hoàng, Nấc Đất

- Diện tích ngư trường khoảng 153 km2

- Độ sâu từ 2 - 13 m trung bình là 5 m

- Địa hình đáy không bằng phẳng, chia làm hai khu vực rõ rệt Khu vực phía Bắc hòn Nhung - Quan Lạn có chất đáy chủ yếu là cát, độ sâu 2-8 m, đáy bằng phẳng Khu vực Nam đảo Phượng Hoàng - Quan Lạn đến đảo Thượng Mai, Hạ Mai

có chất đáy phức tạp, đa số là bùn cát, sỏi nhỏ Độ sâu 5 -13m đáy có những lạch sâu và một số cồn rạn ở phía Tây, Tây Nam

- Chế độ thuỷ văn: Thuỷ triều theo chế độ nhật triều đều, biên độ triều lớn nhất 4,5 m, trung bình 3,5 m Gió ở ngư trường chủ yếu có hai loại; gió Đông- Bắc

từ tháng 11 - 3 năm sau, gió Đông Nam từ tháng 4-10 hàng năm ; tốc độ gió trung bình 4,2 m/s

- Khu vực khai thác sứa tập trung và nhộn nhịp nhất là khu vực phía đông và phía Tây đảo Quan Lạn, xung quang đảo Hạ Mai và thượng Mai nơi có nhiều cơ sở thu mua và chế biến sứa trên các đảo, do vậy số lượng tàu thuyền tập trung khai tương đối lớn Sản lượng khai thác trung bình trên tàu từ 160 – 180 đầu

Hình 1.1 : Ngư trường khai thác Sứa Minh Châu – Quan Lạn

Khu vực Minh Châu

Khu vực Quan Lạn

Trang 27

sứa/tàu/đêm thời gian khai thác từ đầu tháng 2 âm lịch đến nửa đầu tháng 4 âm lịch hàng năm

1.4.3.3 Ngư trường Đầu Bê - Năm Đầu

- Vị trí: phía Bắc giáp dãy đảo đá bên ngoài vịnh Hạ Long, Bái Tử Long từ đảo Đầu Bê đến hòn Soi Đèn, phía Đông là đảo Ngọc Vừng, Năm Đầu, Phượng Hoàng, Nất Đất, Hạ Mai, phía Tây giáp vùng biền vịnh Lan Hạ - Cát Bà- Hải Phòng, phía Nam là đảo Long Châu

Khu vực Ngọc vừng

Khu vực

Thắng lợi

Hình 1.2: Ngư trường khai thác sứa Thắng Lợi – Ngọc vừng

Trang 28

sứa/tàu/đêm thời gian khai thác từ đầu tháng 2 âm lịch đến nửa đầu tháng 4 âm lịch

hàng năm

1.4.3.4 Ngư trường Cô Tô

- Vị trí: phía Bắc giáp đảo Hạ Mai, Thượng Mai, Cảnh Cước, Cao Lô, phía Đông là đảo Cô Tô tính từ hòn Chòi Canh, Cá Chép, Cô Tô con, Cô Tô lớn., phía Tây giáp ngư trường Năm Đầu- Đầu Bê - Long Châu, phía Đông Nam là đường đẳng sâu 30 đi từ ngoài đảo Thanh Lân đến giữa vùng biển Long Châu - Bạch Long Vĩ

Cô Tô, từ Cô Tô Con đến Cao Lô)

- Chế độ thuỷ văn: Thuỷ triều theo chế độ nhật triều đều, biên độ triều lớn nhất 4,8 m, trung bình 3,8 m Gió ở ngư trường chủ yếu có hai loại; gió đông bắc từ tháng 11 - 3 năm sau, gió Đông Nam từ tháng 4-10 hàng năm ; tốc độ gió trung bình

Trang 29

lượng sứa ít độc nhất ở Việt Nam hiện nay Khu vực khai thác sứa tập trung xung quanh các đảo của quần đảo Cô Tô Đây cũng là ngư trường có số lượng tàu thuyền tập trung khai thác lớn của tỉnh và có cơ sở thu mua và chế biến sứa trên các đảo Sản lượng khai thác trung bình trên tàu từ 220 – 400 đầu sứa/tàu/đêm thời gian khai thác từ cuối tháng 1 âm lịch đến hết tháng 4 âm lịch hàng năm

1.4.3.5 Ngư trường Vĩnh Thực - Sậu - Má Cháu- Trần

- Vị trí: phía Tây Bắc là bờ bán đảo Trà Cổ, đảo Vĩnh Thực, Thoi Xanh, Sậu Đông, Sậu Nam Phía Nam là đảo Bảy Sao, Má Cháu, phía Đông Bắc là đường phân định biên giới trên biển Việt -Trung, phía Đông Nam là đường đẳng sâu 30 m

đi từ đường phân định biên giới đến ngoài đảo Thanh Lân Đảo Trần gần như nằm giữa ngư trường này

- Diện tích ngư trường khoảng 1855 km2

- Độ sâu từ 8 - 30 m trung bình là 18 m

- Địa hình đáy tương đối bằng phẳng dốc về phía Nam Chất đáy là cát, cát bùn, phía Đông Nam khu vực bên ngoài đảo Thanh Lân có một số cồn rạn còn lại đáy tương đối phẳng, ít chướng ngại vật

- Chế độ thuỷ văn: Thuỷ triều theo chế độ nhật triều đều, biên độ triều lớn nhất 5 m, trung bình 4 m Gió chủ yếu có hai hướng; gió Đông Bắc từ tháng 11 - 3 năm sau, gió Đông Nam từ tháng 4-10 hàng năm; tốc độ gió trung bình 5 m/s

- Khu vực khai thác sứa tập trung và nhộn nhịp nhất là khu vực đảo Vĩnh Thực, Thoi Xanh, khu vực Sậu ( Sậu Đông, Sậu Nam) Sản lượng khai thác trung bình trên tàu từ 160 – 180 đầu sứa/tàu/đêm thời gian khai thác từ đầu tháng 2 âm lịch đến nửa đầu tháng 4 âm lịch hàng năm

Trang 30

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

- Môi trường nước biển ven bờ với các tính chất thủy lý, hóa

- Các xưởng chế biến sứa trong phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu:

Đánh giá hiện trạng nghề chế biến sứa: Toàn tỉnh Quảng Ninh

Đánh giá chất lượng môi trường nước khu vực chế biến sứa tại Vân Đồn bao gồm các xã Minh Châu, Quan Lạn

Thời gian và tần suất thu mẫu nước biển ven bờ

- Tần suất lấy mẫu: 3 lần/ vụ ( trong 3 tháng thời vụ chế biến sứa lần 1 trước

khi mùa vụ chế biến sứa hoạt đông; lần 2 trong thời vụ chế biến sứa cao điểm; lần 3 sau khi kết thúc chế biến sứa 01 tháng )

- Số lượng mẫu cần lấy: 24 mẫu ( 4 khu vực thu mẫu x 3 mẫu/mặt cắt x 2

mặt cắt) x 3 lần = 72 mẫu

- Thời gian lấy mẫu: Trong một lần thu mẫu, mẫu nước được lấy vào thời

điểm triều lên và triều rút của thời kỳ nước cường

Khu vực thu mẫu nước biển ven bờ

Thu mẫu tại 02 xã thu mẫu ( xã Minh Châu, xã Quan Lạn)

Mỗi xã có 02 khu vực thu mẫu (01 tại vị trí không có xưởng chế biến sứa; và

01 gần các xưởng chế biến sứa); Bằng phương pháp tham chiếu tọa độ, 4 khu vực thu mẫu được cụ thể hóa với từng địa danh và vị trí tọa giới hạn tọa độ được nêu trong hình 2.1 và bảng 2.1

- Các thông số quan trắc: Nhiệt độ, Độ mặn, tổng chất rắn hoà tan (TSS), độ

pH, oxy hoà tan (DO), nhu cầu oxy hóa hóa học (COD), nhu cầu oxy hóa sinh hóa (BOD), tổng N, tổng P

Thu mẫu nước thải chế biến sứa

- Tần suất thu mẫu nước thải chế biến sứa: 03 tháng x 1tháng/ lần thu

Trang 31

- Số lượng mẫu nước thải: 3 tháng x 3 mẫu/ lần = 9 mẫu

- Vị trí thu mẫu nước thải: tại cửa xả của các xưởng chế biến sứa

- Các thông số quan trắc: Độ mặn, tổng chất rắn hoà tan (TSS), độ pH, oxy

hoà tan (DO), nhu cầu oxy hóa hóa học (COD), nhu cầu oxy hóa sinh hóa (BOD)

Bảng 2.1 Tọa độ các khu thu mẫu

có xưởng sứa

Trang 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:

Thu thập dữ liệu từ các cơ quan quản lý tại địa phương, phòng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên môi trường các huyện trong phạm vi nghiên cứu, các sách, giáo trình, các báo cáo đề tài chuyên đề đã công bố để có cách nhìn nhận khách quan, toàn diện hơn cho công tác đánh giá Do giới hạn về thời gian và phạm vi tìm hiểu, một phần nội dung của đề tài được thực hiện bằng cách thu thập số liệu trong các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến việc nghiên cứu và các kết quả phân tích chất lượng môi trường nước của đề tài khác đã được công bố rộng rãi

2.2.2 Phương pháp thống kê:

Ghi chép liệt kê thực trạng kết cấu nhà xưởng, trang thiết bị sử dụng, tình trạng công nhân lao động, tình trạng sử dụng các chất phụ gia, phụ phẩm trong quá trình sơ chế, quy trình công nghệ áp dụng, tải lượng chất thải, kết cấu và hiện trạng khu vệ sinh, hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn, lỏng, chất thải sinh hoạt

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn, điều tra

Phỏng vấn trực tiếp người sản xuất và các cán bộ quản lý tại các địa phương

có các xưởng sứa hoạt động theo mẫu phiếu điều tra

2.2.4 Phương pháp khảo sát thực địa

Thu mẫu nước để phân tích các chỉ số thủy lý, hóa Chai, can lấy mẫu được rửa kỹ bằng nước sạch, tráng lại bằng nước tại vị trí cần lấy mẫu, đặt chai và can dưới mặt nước ở độ sâu 20 cm, lấy đầy nước, đậy nắp và cố định ngay trong thùng

đá ở 4oC, bảo quản mẫu ở nhiệt độ này cho đến khi phân tích mẫu

Các mẫu được thu gần xưởng chế biến sứa và các mẫu đối chứng tại các vị trí không có xưởng chế biến sứa theo hai mặt cắt ( mặt cắt ngang theo đường triều tại các vị trí cách bờ 6m khoảng cách giữa mỗi điểm thu mẫu 15 m ; mặt cắt dọc ( 3 mẫu) vuông góc với mặt cắt ngang tại điểm gần nhất cách bờ 6 m và xa nhất cách

bờ 50 m Tại mỗi khu vực thu mẫu thu 03 mẫu theo mặt cắt dọc, 03 mẫu theo mặt cắt ngang

Trang 33

Các mẫu sau khi thu được bảo quản theo các điều kiện ứng với từng thông số theo bảng 2.2

Bảng 2.2: Phương pháp bảo quản mẫu nước trước phân tích

hiệu

Loại bình chứa

Điều kiện bảo quản

thời gian cho phép

C

5-7 ngày giữ lạnh

2-30C được 10-

15 ngày

4 Tổng Nitơ

Tổng Phot pho

Nts Pts

P hoặc G axit hoá đến

pH<2 bằng H2SO4, để trong tối

10-20 ngày

500ml giữ lạnh 2-30C được 20-

30 ngày

Ghi chú : P- Polyetylen ; G- thuỷ tinh

Các chỉ số thủy lý: nhiệt độ, pH, DO, được đo trực tiếp bằng máy HACH Sension ngoài hiện trường

2.2.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm:

Các chỉ số thủy hóa TSS, BOD, COD, N, P được đo và phân tích tại phòng thí nghiệm của Trung tâm Khoa học và sản xuất giống thủy sản Quảng Ninh Mỗi chỉ số được phân tích bởi một phương pháp ứng với một phương pháp phân tích

Trang 34

Bảng 2.3: Các phương pháp phân tích một số thông số hóa – lý của mẫu nước

Các mẫu nước thải cũng được tính toán theo giá trị trung bình, lấy giá trị trung bình so với các thông số hóa lý quy định trong Quy chuẩn 11 để đánh giá

Trang 35

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chế biến sứa làm thực phẩm đã có từ rất lâu đời trong các cư dân sống ven biển Việt Nam, phương pháp truyền thống lưu truyền trong dân gian là dùng dịch chát của các loài cây sú, vẹt để ngâm sứa Sứa được chế biến sản xuất theo quy trình

và quy mô lớn chỉ mới xuất hiện những năm gần đây do du nhập từ người Trung Quốc Một số tỉnh ven biển như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Bình, Nam Định từ năm 2007 đến nay rất nhiều cơ sở chế biến sơ chế sứa hình thành và phát triển nhanh, đã và đang mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội như: giải quyết công ăn việc làm; tăng thu nhập cho ngư dân địa phương, tăng nguồn thu thuế cho Nhà nước

3.1 Đánh giá hiện trạng nghề khai thác sứa

3.1.1 Tàu thuyền khai thác sứa

Hàng năm sứa xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 5 âm lịch hàng năm, do đó tạo điều kiện cho lực lượng tàu thuyền chuyển nghề khai thác nên tạo thu nhập tương đối cao, mùa sứa kéo dài gần 4 tháng đã phần nào giảm áp lực khai thác các đối tượng ven bờ đang mùa sinh sản, góp phần tái tạo và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản đặc biệt là những vùng cấm khai thác có thời hạn

Hiện nay số tàu thuyền tham gia khai thác sứa tập trung nhiều ở các huyện Vân Đồn và Cô Tô vì 2 địa phương này tập trung chủ yếu các xưởng thu mua và chế biến sứa, hơn nữa ở các địa phương này được thiên nhiên ưu đãi có nhiều xã đảo và cửa biển nơi mà mỗi khi gió Nam nổi lên là sứa tập trung lại các vùng cửa biển này tạo điều kiện cho ngư dân khai thác

Các huyện như Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, thị xã cẩm phả, thành phố Móng Cái và Hạ Long ngư dân cũng tham gia khai thác nguồn lợi sứa này Phương tiện khai thác Sứa thường là tàu vở gỗ, bè mảng có chiều dài từ 5 - 8 m công suất máy chính thường nhỏ thường là máy 6cv – 15 cv và thuyền nan có gắn máy Ngoài ra một số lượng tàu cá có công suất lớn hơn khai thác bằng nghề câu, nghề lưới rê,

Trang 36

nghề cào ngao, cào nghẹ kể cả tàu làm dịch vụ đến mùa sứa cũng tham gia hoạt

Trong tổng số hơn 4.000 tàu hoạt động khai thác sứa, số tàu có công suất dưới

20 cv chiếm 69,3 % tổng số phương tiện Số tàu từ 20 cv đến dưới 50 cv là 1.229 chiếc chiếm 29,9 % , ngoài ra nhóm tàu có công suất cao hơn 50 Cv chủ yếu làm tàu thu gom sứa ngoài khơi từ các tàu khai thác, số còn lại thường vận chuyển sứa xuất khẩu sang Trung Quốc bằng đường biển

3.1.2 Kỹ thuật khai thác sứa

Hiện nay khai thác sứa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh khá đa dạng, bằng nhiều hình thức và phương thức khác nhau với mục tiêu làm sao để khai thác được nhiều sứa nhất và chất lượng tốt nhất

Khai thác thủ công

Theo kinh nghiệm, những ngư dân dựa theo con nước để đi khai thác sứa, nước lên thì gió thổi từ phía Nam sang phía Bắc và ngược lại, nếu gió to thì sứa sẽ không nổi và nếu có thì rất ít Mỗi năm sứa chỉ xuất hiện khoảng 4 tháng, nhưng tập

Trang 37

trung nhiều 2 đến 3 tháng, đến mùa sứa các tàu thuyền lại tấp lập ra khơi với đồ nghề khai thác khá đơn giản, ngư cụ đánh bắt chủ yếu là là những cây vợt có miệng ngư cái sàng với khung sắt, khi phát hiện thấy sứa người điều khiển phương tiên tiến gần đối tượng sau đó dùng vợt chụp lên con sứa và rất nhanh miệng chiếc vợt như chiếc dao cắt đôi con sứa, phần nón của con sứa được thả ra và chỉ giữ lại phần thân ( phần có xúc tu)[26]

Khai thác bằng nghề lưới rê: Lưới rê có cấu tạo đơn gồm các tấm lưới hình chữ Nhật được lắp ráp vào giềng phao và giềng chì tạo thành các cheo lưới, các cheo lưới ghép lại với nhau tạo thành vàng lưới rê, để khai thác sứa bằng nghề lưới

rê người ta thiết kế độ thô chỉ lưới thường lớn để khi sứa đã vướng vào lưới không

bị dập nát [26]

Khai thác bằng nghề lưới kéo: Lưới kéo ngư dân Quảng Ninh còn gọi là lưới giã là một trong những ngư cụ quan trọng nhất của của nghề khai thác hải sản, nó có thể hoạt động đánh bắt ở mọi vùng nước, tầng nước, đối tượng đánh bắt đa dạng và thường đạt hiệu quả cao Với nguồn lợi sứa phong phú ngư dân Quảng Ninh, Thanh Hóa đã cải tiến lưới kéo tôm, lưới kéo cá sử dụng 2 tàu thành lưới kéo sứa Ưu điểm của loài lưới ngày là cho sản lượng sứa khá cao, tuy nhiên việc đầu tư cho loại hình khai thác này khá tốn kém, chi phí khá lớn nên hiệu quả không cao, hơn thế việc tập trung sứa ở phần đụt lưới sẽ làm cho con sứa bị dập nát, dẫn đến chất lượng sứa giảm đáng kể [26]

3.2 Chế biến sứa

3.2.1 Cơ sở sơ chế biến sứa

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từ năm 2007- 2011 có từ 80-124 cơ sở thu mua và chế biến xuất khẩu, tập trung tại 2 huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô Huyện Vân Đồn là huyện có các xưởng gia tăng mạnh nhất từ 26 xưởng năm 2007 đến năm 2009 tăng đến 70 xưởng, tuy nhiên do gần một nửa số xưởng trên không được cấp phép mặt bằng sử dụng đất của cơ quan chức năng tại địa phương Bên cạnh đó với sự kiểm soát quản lý và quan điểm chỉ đạo của huyện kiên quyết khi thấy sản xuất chế biến sứa có ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường biển và các vùng

Trang 38

nuôi thủy sản lân cận nên trong năm 2009, 2010 có 29 xưởng sản xuất tự phát không được phép của chính quyền địa phương năm 2011 còn 41 xưởng chế biến

Toàn tỉnh năm 2009 giảm 6 xưởng từ 124 cơ sở giảm xuống 118; năm 2011 giảm từ 118 xưởng còn 86 xưởng Các cơ sở chế biến tập trung nhiều ở 2 địa phương là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô là chính điều đó lý giải tại các cơ sở chế biến của 02 địa phương này nằm gần ngư trường khai thác, nên thuận lợi cho việc

thu mua hàng và các tàu khai thác giảm được chi phí sản xuất

Bảng 3.2: Tổng hợp cơ sở thu mua và chế biến sứa từ năm 2007-2011

3.2.2 Sản lượng chế biến sứa:

Sản lượng sứa thương phẩm từ năm 2007 đến năm 2010 đều tăng theo, tăng mạnh đạt sản lượng cao nhất vào năm 2009 và 2010, đến năm 2011 sản lượng giảm

do thời tiết nắng sớm, chi tiết tại bảng 3.1.2

Trang 39

Bảng 3.3 : Tổng hợp sản lượng chế biến sứa giai đoạn 2007 -2011

+ Thành phố Hạ Long và Móng Cái sản lượng giảm so với năm 2007, nguyên nhân là do các cơ sở thu mua và chế biến sứa trong vịnh Hạ Long ít, không được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép và cấp mặt bằng cho các chủ cơ sở vì

ảnh hưởng đến môi trường vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên thế giới

3.2.3 Giá trị xuất khẩu

Hiện nay việc xuất khẩu sứa vào thị trường Trung Quốc chủ yếu bằng đường biển tiểu ngạch và phải chịu chi phí rất lớn, số lượng hàng xuất khẩu chính ngạch chiếm tỉ lệ nhỏ trong cán cân xuất khẩu

Bảng 3.4: Tổng hợp giá trị xuất khẩu

Trang 40

Những lợi nhuận về kinh tế từ việc khai thác và chế biến sứa là rất lớn, sản lượng chế biến sứa toàn tỉnh năm 2010 đạt 15.000 tấn thành phẩm, giá trị ước đạt

339,5 tỷ đồng

3.2.4 Lao động chế biến sứa

Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Số lao động thủy sản trong giai đoạn 2001–2004 dao động trong khoảng 29.884 – 34.741 lao động; sang giai đoạn 2005 –2009 số lượng lao động khai thác và chế biến hải sản có xu hướng tăng lên và đặc biệt tăng mạnh trong năm 2008 và 2009 Năm 2009 tổng số lao động thủy sản từ 40.000- 45.000 người Một điều dễ nhận thấy là sự tăng trưởng lao động thủy sản có một bước đại nhảy vọt ở năm 2009 so với năm 2001: số lao động tăng 56,2% ( năm 2009 đạt 46.678 – 49.980 lao động Sự gia tăng này một phần là do trong những năm gần đây nghề khai thác và chế biến sứa phát triển mạnh nghề này có vốn đầu tư thấp, chủ yếu tập trung vào chi phí ban đầu ( xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất, chi phí sản xuất hàng năm không lớn, kỹ thuật đơn giản nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao

Theo thống kê năm 2009 số lao động trong khai thác sứa dao động trong khoảng 11.500 – 12.000 người chiếm 26,66- 28,75 % số lao động thủy sản; Số lao động chế biến sứa dao động từ 5480 – 6500 người chiếm 13,5-14,4% [27]

3.2.5 Cơ cấu về tiền lương và thu nhập

Đại đa số lao động trong nghề khai thác và chế biến sứa là người làm thuê nên tiền lương là thu nhập duy nhất của họ Lao động khai thác thuỷ sản có mức lương cao hơn so với lao động thuỷ sản khác đạt khoảng 2.000.000đ 

2.500.000đ/tháng, song đến mùa khai thác sứa thì được chủ tàu trả công cao hơn tuỳ thuộc vào lợi nhuận của tàu có thể có mức lương từ 5.000.000 đ – 7.000.000 đ/ tháng, lao động trong chế biến sứa thấp hơn đa số là phụ nữ tiền lương dao động từ 4-5 triệu đồng/ người/ tháng Nghề sứa cũng giống như những nghề hoạt động thủy sản khác không ổn định và bị phụ thuộc nhiều vào thời tiết, may rủi Thời gian làm việc trong một ngày của lao động khai thác và chế biến sứa từ 10  15 giờ/ngày, cao

Ngày đăng: 08/01/2015, 12:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Ngư trường khai thác Sứa Minh Châu – Quan Lạn - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Hình 1.1 Ngư trường khai thác Sứa Minh Châu – Quan Lạn (Trang 26)
Hình 1.2: Ngư trường khai thác sứa Thắng Lợi – Ngọc vừng - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Hình 1.2 Ngư trường khai thác sứa Thắng Lợi – Ngọc vừng (Trang 27)
Đồ thị 3.4.2:  Biểu diễn giá trị trung bình của hàm lượng TSS ( mg/l) - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
th ị 3.4.2: Biểu diễn giá trị trung bình của hàm lượng TSS ( mg/l) (Trang 50)
Bảng 3.4.3: Giá trị trung bình của hàm lượng COD ( mg/l) - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Bảng 3.4.3 Giá trị trung bình của hàm lượng COD ( mg/l) (Trang 53)
Sơ đồ 3.5.1:  Phân cấp quản lý các xưởng chế biến sứa - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Sơ đồ 3.5.1 Phân cấp quản lý các xưởng chế biến sứa (Trang 59)
Sơ đồ 3.5.3: Quy trình giảm thiểu nước thải chế biến sứa hàng ngày - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Sơ đồ 3.5.3 Quy trình giảm thiểu nước thải chế biến sứa hàng ngày (Trang 64)
Bảng 4.4.1: Hàm lượng ô xi hòa tan tại các điểm thu mẫu theo các đợt thu - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Bảng 4.4.1 Hàm lượng ô xi hòa tan tại các điểm thu mẫu theo các đợt thu (Trang 82)
Bảng 4.4.2: Giá trị đo độ mặn tại các điểm thu mẫu theo các lần thu - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Bảng 4.4.2 Giá trị đo độ mặn tại các điểm thu mẫu theo các lần thu (Trang 83)
Bảng 4.4.4:  Hàm lượng TSS tại các điểm thu mẫu theo các lần thu mẫu - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Bảng 4.4.4 Hàm lượng TSS tại các điểm thu mẫu theo các lần thu mẫu (Trang 85)
Bảng 4.4.5:  Hàm lượng BOD 5   tại các điểm thu mẫu theo các lần thu - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Bảng 4.4.5 Hàm lượng BOD 5 tại các điểm thu mẫu theo các lần thu (Trang 86)
Bảng 4.4.6:  Hàm lượng COD tại các điểm thu mẫu theo các lần thu - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Bảng 4.4.6 Hàm lượng COD tại các điểm thu mẫu theo các lần thu (Trang 87)
Bảng 4.4.7:  Hàm lượng NO 2 -  tại các điểm thu mẫu theo các lần thu - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Bảng 4.4.7 Hàm lượng NO 2 - tại các điểm thu mẫu theo các lần thu (Trang 88)
Bảng 4.4.8:  Hàm lượng NO 3 -  tại các điểm thu mẫu theo các lần thu - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Bảng 4.4.8 Hàm lượng NO 3 - tại các điểm thu mẫu theo các lần thu (Trang 89)
Bảng 4.4.9:  Hàm lượng tổng N tại các điểm thu mẫu theo các lần thu mẫu - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Bảng 4.4.9 Hàm lượng tổng N tại các điểm thu mẫu theo các lần thu mẫu (Trang 90)
Bảng 4.4.10:  Hàm lượng tổng P tại các điểm thu mẫu theo các lần thu mẫu - đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện vân đồn tỉnh quảng ninh
Bảng 4.4.10 Hàm lượng tổng P tại các điểm thu mẫu theo các lần thu mẫu (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm