Nam Định là một trong số các tỉnh được triển khai dự án Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vùng Đồng bằng Sông Hồng theo chương trình hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG 4
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ 5
MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1-TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1 Sự cần thiết của nước sạch đối với các vùng nông thôn Việt Nam hiện nay 9
1.2 Tình hình cấp nước sạch ở Việt Nam hiện nay 14
1.3 Tình hình cấp nước sinh hoạt tỉnh Nam Định 17
1.4 Những khó khăn và thách thức trong vấn đề cấp nước sạch ở nông thôn 18
1.4.1 Khó khăn về kinh tế – tài chính 18
1.4.2 Khó khăn về xã hội và tập quán 19
1.4.3 Khó khăn về thiên tai 21
1.4.4 Khó khăn về công tác quản lý, vận hành 22
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định 26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.1.1 Vị trí địa lý 26
3.1.1.2 Địa hình địa mạo 26
3.1.1.3 Khí hậu 27
3.1.1.4 Đặc điểm thủy văn nguồn nước mặt 28
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
3.1.2.1 Dân số 31
3.1.2.2 Kinh tế - xã hội 31
3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt tỉnh Nam Định 35
3.2.1 Hiện trạng sử dụng nước giếng khoan 36
3.2.1.1 Khai thác, sử dụng quy mô hộ gia đình 36
3.2.1.2 Khai thác, sử dụng quy mô lớn 37
3.2.1.3 Hiện trạng chất lượng nước giếng khoan 37
Trang 43.2.2 Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt từ công trình cấp nước tập trung 40
3.2.3 Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt tự khai thác của các hộ gia đình tỉnh Nam Định 41
3.3 Mô hình cấp nước sạch liên xã ở tỉnh Nam Định 53
3.3.1 Sự lựa chọn mô hình cấp nước sạch liên xã 53
3.3.1.1 Một số mô hình cấp nước ở các vùng nông thôn hiện nay 53
3.3.1.2 Sự lựa chon mô hình và công nghệ cấp nước sạch liên xã tỉnh Nam Định 56
3.3.1.3 Một số công trình cấp nước của mô hình cấp nước sạch liên xã 57
3.4 Đánh giá biến động chất lượng nước cấp sinh hoạt và đề xuất biện pháp sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững tài nguyên nước 62
3.4.1 Đánh giá tình hình sử dụng nước của các lĩnh vực và hiện trạng nguồn nước tỉnh Nam Định 62
3.4.2 Đánh giá hiệu quả của mô hình cấp nước liên xã tỉnh Nam Định 74
3.4.2.1 Đánh giá chất lượng nước cấp tới các hộ gia đình 74
3.4.2.2 Đánh giá tính bền vững và hiệu quả về kinh tế của mô hình 79
3.4.2.3 Đánh giá thuận lợi, khó khăn của mô hình 81
3.4.2.4 Đánh giá hiệu quả cấp nước sạch đến phát triển kinh tế - xã hội 85
3.4.3 Đề xuất các biện pháp sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững tài nguyên nước tỉnh Nam Định 88
3.4.3.1 Biện pháp quy hoạch 88
3.4.3.2 Biện pháp chính sách, quản lý 89
3.4.3.3 Biện pháp truyền thông cộng đồng 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
Kết luận 92
Kiến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AUSIAD Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia
BTNMT Bộ Tài nguyên & Môi trường
CHILFUND Tổ chức phát triển quốc tế độc lập và phi tôn giáo của
Australia CTCNTT Công trình cấp nước tập trung
DANIDA Tổ chức hỗ trợ phát triển quốc tế Đan Mạch
JICA Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
NS & VSMT Nước sạch và vệ sinh môi trường
VSMTNT Vệ sinh môi trường nông thôn
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Dự kiến khối lượng công trình nước sạch cần xây dựng giai đoạn 2011-2015
15
Bảng 2: Tỷ lệ các xã có công trình cấp nước sinh hoạt tập trung 16
Bảng 3: Bảng thống kê công trình cấp nước và số hộ được tiếp cận nước sạch từ công trình cấp nước tập trung tỉnh Nam Định 40
Bảng 4: Các nhà máy nước đang xây dựng của Công ty CP nước sạch và VSNT Nam Định 58
Bảng 5: Dự kiến quy hoạch cấp nước chủ yếu đến năm 2020 67
Bảng 6: Nhu cầu nước phục vụ dân sinh – công nghiệp theo các giai đoạn 67
Bảng 7: Chất lượng nước sông Đào 69
Bảng 8: Chất lượng nước sông Láng 70
Bảng 9: Chất lượng nước sông Ninh Cơ 71
Bảng 10: Chất lượng nước sông Hồng 72
Trang 7DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1: Bản đồ khu vực nghiên cứu tỉnh Nam Định 26
Hình 2: Quy trình xử lý nước của các nhà máy 59
Hình 3: Bản đồ quy hoạch cấp nước đến năm 2020 tỉnh Nam Định 68
Biểu đồ 1: Giá trị độ đục trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khơi, giếng đào 42
Biểu đồ 2: Giá trị độ cứng trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khơi, giếng đào 42
Biểu đồ 3: Chỉ số Pecmanganat trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khơi 43
Biểu đồ 4: Giá trị Clorua trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khơi, giếng đào 43
Biểu đồ 5: Giá trị tổng Fe trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khơi, giếng đào 44
Biểu đồ 6: Chỉ số Coliform trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khơi, giếng đào 44
Biểu đồ 7: Chỉ số Ecoli trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khơi, giếng đào 45
Biểu đồ 8: Giá trị độ đục trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khoan 45
Biểu đồ 9: Giá trị độ cứng trong nước sinh hoạt từ nguồn giéng khoan 46
Biểu đồ 10: Chỉ số Pecmanganat trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khoan 46
Biểu đồ 11: Giá trị Clorua trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khoan 47
Biểu đồ 12: Giá trị tổng Fe trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khoan 47
Biểu đồ 13: Chỉ số Coliform trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khoan 48
Biểu đồ 14: Chỉ số Ecoli trong nước sinh hoạt từ nguồn giếng khoan 48
Biểu đồ 15: Giá trị độ đục trong nước sinh hoạt từ nguồn nước mưa 49
Biểu đồ 16: Giá trị độ cứng trong nước sinh hoạt từ nguồn nước mưa 49
Biểu đồ 17: Chỉ số Pecnmanganat trong nước sinh hoạt từ nguồn nước mưa 50
Biểu đồ 18: Giá trị Clorua trong nước sinh hoạt từ nguồn nước mưa 50
Biểu đồ 19: Hàm lượng sắt tổng trong nước sinh hoạt từ nguồn nước mưa 51
Biểu đồ 20: Chỉ số Coliform trong nước sinh hoạt từ nguồn nước mưa 51
Biểu đồ 21: Chỉ số Coliform trong nước sinh hoạt từ nguồn nước mưa .51
Biểu đồ 22: Giá trị độ màu trong nước cấp sinh hoạt tỉnh Nam Định 75
Biểu đồ 23: Độ pH trong nước cấp sinh hoạt tỉnh Nam Định 75
Biểu đồ 24: Giá trị Clo dư trong nước cấp sinh hoạt tỉnh Nam Định 76
Biểu đồ 25: Giá trị độ đục trong nước cấp sinh hoạt tỉnh Nam Định 76
Trang 8Biểu đồ 26: Giá trị cứng trong nước cấp sinh hoạt tỉnh Nam Định 77
Biểu đồ 27: Giá trị tổng NH4+ trong nước cấp sinh hoạt tỉnh Nam Định 77
Biểu đồ 28: Dao động độ Fe trong nước cấp sinh hoạt tỉnh Nam Định 78
Biểu đồ 29: Giá trị Florua trong nước cấp sinh hoạt tỉnh Nam Định 78
Biểu đồ 30: Chỉ số Coliform trong nước cấp sinh hoạt tỉnh Nam Định 79
Biểu đồ 21 Số dân sử dụng nước sạch qua các năm vùng nông thôn tỉnh Nam Định ……… ……… ….80
Trang 9Ở Việt Nam, khu vực nông thôn chiếm 70% dân số cả nước và nông nghiệp luôn
là bộ phận quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân Trong khi đó, phần đông người dân khu vực nông thôn chưa được cải thiện đời sống, nước sạch vẫn còn là vấn đề nan giải ở khu vực nông thôn đồng bằng và miền núi
Vấn đề cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đã được Chính phủ quan tâm và mong muốn cải thiện tốt hơn thông qua Chiến lược Quốc gia về Cấp nước và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã qua giai đoạn 2000-2010, đang tiếp tục triển khai giai đoạn 2 từ 2011-2020, chương trình đã đem lại những thành tựu đáng kể, tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây
Nam Định là một trong số các tỉnh được triển khai dự án Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vùng Đồng bằng Sông Hồng theo chương trình hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới World Bank (WB) Trong nhiều năm qua, nhiều hộ dân ở xa trung tâm thành phố hay các huyện xa trên địa bàn Tỉnh đã có nước sạch để dùng, nhiều hộ bước đầu đã được tiếp cận với nước sạch Một mô hình được triển khai khá hiệu quả là mô hình cấp nước liên xã, là mô hình thí điểm về xã hội hóa lĩnh vực cấp nước sạch nông thôn của Ngân hàng Thế giới (WB) đã thu được những thành quả đáng
kể
Việc khảo sát, nghiên cứu và đánh giá chất lượng cấp nước theo mô hình liên xã là rất cần thiết để từ đó rút ra được những mặt tích cực cũng như những hạn chế còn tồn tại của mô hình này Đồng thời đánh giá sự biến động về chất lượng nước trong vùng, tính bền vững của mô hình, qua đó đưa ra những giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước và các biện pháp bảo vệ môi trường Chính vì vậy tôi đã chọn mô hình
Trang 10cấp nước sạch liên xã của tỉnh Nam Định cho luận văn tốt nghiệp của mình với đề tài:
“Đánh giá biến động chất lượng nước cấp sinh hoạt theo mô hình liên xã ở tỉnh Nam Định”
Đề tài được thực hiện với các mục tiêu:
- Đánh giá được tình hình cấp nước sạch, chất lượng nước cấp tới người sử dụng theo mô hình liên xã của tỉnh Nam Định dựa trên các kết quả khảo sát, nghiên cứu thực tế
và các tiêu chí hiện hành
- Dự báo được sự biến động về chất lượng nước, từ đó đánh giá được khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và tính bền vững của tình hình cấp nước
- Đề xuất một số giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên nước cho phát triển bền vững
Trang 11CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sự cần thiết của nước sạch đối với các vùng nông thôn Việt Nam hiện nay
Theo số liệu của Tổng Cục thống kê , hiện nay dân số Việt Nam vào khoảng trên
87 triệu người, trong đó xấp xỉ 60 triệu người dân sinh sống ở khu vực nông thôn , chiếm khoảng 70% dân số cả nước [19] Do điều kiện phát triển còn thấp , cùng với thói quen sinh hoạt truyền thống cho nên hiện nay đa phần dân cư nông thôn vẫn thường sử dụng các nguồn nướ c như: nước giếng, ao hồ nhỏ , nước mưa, nước sông, rạch… để sử dụng hàng ngày và chứa nước trong các dụng cụ thô sơ như bể , chum vại… Các nguồn nước này hầu như được sử dụng trực tiếp hoặc chỉ qua lắng lọc thô sơ bằng cát sỏi, đánh phèn Người dân thậm chí không xác định được rõ về chất lượng của các nguồn nước mà mình sử dụng Hơn nữa một vấn đề có thể coi là bức xúc hiện nay đó là tình trạng ô nhiễm môi trường sống, ô nhiễm của các sông ngòi , ao hồ, kênh rạch đã và đang khiến cho nguồn nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt của người dân nông thôn trở nên ô nhiễm trầm trọng Việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh là nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu kh iến cho nhiều loại dịch bệnh liên quan đến nguồn nước phát triển và ngày càng lan rộng , đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe và đời sống của dân cư nông thôn
Kết quả khảo sát gần đây nhất của các cơ quan chức năng cho biế t mức độ ô nhiễm cao đối với nguồn nước ở một số tỉnh như Hà Nam (64,03%), Hà Nội (61,63%), Hải Dương (51,99%), Đồng Tháp (37,26%)…thậm chí có những mẫu nuớc hàm lượng Asen vượt quá 100 lần so với tiêu chuẩn cho phép Kết quả này cho thấy , những người dân nông thôn đang thực sự phải đối mặt với nguồn nước tử thần
Theo WHO thì 80% bệnh tật liên quan đến sử dụng nước không vệ sinh.Những bệnh thường gặp do thiếu nước hoặc do sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh gây ra là bệnh đường ruột, bệnh giun đũa, bệnh đau mắt và bệnh ngoài da Những thiệt hại về con người và tiền của do các bệnh này gây ra thật nghiêm trọng và ngày càng gia tăng Theo
số liệu thống kê trên thế giới, thì cứ 2 tỷ người chịu rủi ro vì bệnh sốt rét, thì sẽ có 100 triệu người có thể bị ảnh hưởng bất cứ lúc nào và hàng năm số người tử vong vì căn bệnh này là 2 triệu người Ngoài ra có khoảng 2 tỷ trường hợp khác bị mắc bệnh tiêu chảy và
Trang 12số tử vong hàng năm là 2,2 triệu người, mầm mống bệnh tiêu chảy khá đa dạng, song chủ yếu vẫn là vi trùng Ecoli trong nước nhiễm bẩn Các bệnh lây nhiễm đường ruột do giun làm khổ sở 10% dân số ở các nước đang phát triển Có tới 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột, khoảng 200 triệu người khác bị ảnh hưởng do bệnh sán máng là nguyên nhân gây bệnh giun trong máu Với những con số khổng lồ về số người nhiễm bệnh và chết do nguồn nước và điều kiện vệ sinh không đảm bảo gây ra là thật sự quá lớn
Theo WHO thì 80% bệnh tật có liên quan đến sử dụng nước không vệ sinh Có hơn 300 mầm bệnh lây truyền qua nước Có 2 nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe liên quan đến nước đó là do các vi sinh vật có khả năng truyền bệnh sang người và do các
chất hóa học , chất phóng xạ gây ra Đối với Việt Nam trong những năm gần đây , tình
trạng mắc một số bệnh liên quan đến nước không những không giảm mà còn có xu
hướng gia tăng nhanh Thống kê của Bộ Y tế cho thấy với 26 bệnh truyền nhiễm trong hệ thống báo cáo thì có tới trên 10 mầm bệnh liên quan đến nước, vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường
Vi sinh vật lây truyền qua nước gây nên hầu hết các bệnh ở đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh như tả , lỵ, thương hàn, tiêu chảy…; vi rút gây bệnh như bại li ệt, viêm gan…; ký sinh trùng gây bệnh như lỵ Amip , giun, sán…Các tác nhân này có thể xâm nhập vào cơ thể con người trực tiếp qua đường nước uống hoặc nước dùng chế biến thực phẩm Những bệnh này có thể gây thành dịch lớn làm cho số người mắc bệnh và tỉ lệ tử vong là rất cao
Khi nguồn nước nhiễm các hóa chất từ sản xuất , sinh hoạt của con người , nước thaỉ từ các khu công nghiệp thường gây ra các bệnh mãn tính , bệnh ung thư , ảnh hưởng đến sinh sản và di truyền Cụ thể là:
- Thời gian vừa qua , báo chí đã nói rất nhiều đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước một cách nghiêm trọng ở các vùng nông thôn Việt Nam , đặc biệt là những khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và làng nghề Nếu ai đã một lần đến làng ung thư tại Thạch Sơn - Lâm Thao - Phú Thọ thì đều có thể thấy sự kinh hoàng mà những người dân nơi đây phải gánh chịu từ những nguồn nước chết , thải ra từ c ác khu công nghiệp quanh đó Nguồn nước xung quanh khu vực này đã bị nhiễm độc nghiêm trọng
Trang 13ngay cả nguồn nước ngầm , những cây thực phẩm vẫn mọc lên xanh mướt , nhưng đó là màu xanh của chết chóc
- Sau Thạch Sơn , hàng loạt n hững làng ung thư ở Hà Tây , Hà Nam , Nghệ An , Quảng Nam và mới đây nhất là Thủy Nguyên (Hải Phòng)…Theo khảo sát của bệnh viện
K trong 5 năm gần đây, trung bình ở nước ta mỗi năm có khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới phát hỉệ n, có khoảng 70.000 người bị chết vì căn bệnh này Bệnh ung thư giờ đây đã trở thành một hiện tượng không còn hiếm hoi ở nông thôn Việt Nam và tất cả đều liên quan trực tiếp đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và tác nhân trực tiếp chính là do nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn
Hiện nay , rất đông dân cư nông thôn đều sử dụng nguồn nước đã qua xử lý thô như lọc qua bể lọc hoặc nước mưa để phục vụ cho sinh hoạt và đời sống Tuy nhiên việc xử lý thô sơ của người dân chỉ có thể tránh được các kim loại nặng trong nước như sắt , Mangan, chứ không thể lọc hết được những chất độc như Asen , thậm chí là không khử được hoặc chưa khử hết vi khuẩn trong nước vì vậy n hững nguồn nước này không thể đảm bảo an toàn vệ sinh và đặc biệt là không thể tránh khỏi được những loại bệnh tật nguy hiểm cho con người
Ngoài ra hàng năm nước ta vẫn phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn nước tại các tỉnh miền núi và miền trung , các sự cố lũ lụt tại Duyên hải miền trung , Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Không những thế nguồn nước bị nhiễm phèn , nhiễm mặn cũng là những nguyên nhân gây ra những ảnh hưởng rất lớn cho sức khỏe và đời sống dân cư các vùng nông thôn
Như vậy từ những kết quả như đã phân tích nêu trên đã chứng minh cho chúng ta thấy nguồn nước và các vấn đề liên quan đến nguồn nước của dân cư nông thôn hiện nay đã thực sự trở thành một vấn đề bức xúc Sức khỏe cho người dân , văn minh - tiến bộ xã hội cho nông thôn Việt Nam sẽ có và được nâng cao nếu như chúng ta giải quyết và đáp ứng được nhu cầu thiết yếu trước nhất đó là vấn đề nước s ạch cho đời sống sinh hoạt hang ngày Và có thể nói rằng đối với nông thôn Việt Nam hiện nay thì nước sạch là một nhu cầu tất yếu khách quan
Trang 141.2 Tình hình cấp nước sạch của Việt Nam hiện nay
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của con người và đang trở thành đòi hỏi bức bách trong việc chăm lo bảo vệ sức khỏe, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua cải thiện các dịch vụ cấp nước sạch và vệ sinh Mục tiêu của chương trình là nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng về bảo vệ môi trường, vệ sinh cộng đồng và vệ sinh cá nhân; Giảm tác động xấu do điều kiện cấp nước và vệ sinh kém gây ra đối với sức khoẻ của dân cư nông thôn; Giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi
trường nông thôn
Chiến lược Quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 [5]
Khu vực nông thôn Việt Nam chiếm 70% dân số cả nước và nông nghiệp luôn là
bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong 10 năm tới, nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước Chính phủ đã dành sự quan tâm, ưu tiên cho việc phát triển cấp nước sạch thành một trong 19 chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng nhất Nhiều dự án xây dựng công trình cấp nuớc sạch được thực hiện dưới sự quản lý của Nhà nước cùng với các nhà tài trợ quốc tế về tài chính, kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm như UNICEF, World Bank, ADB, DANIDA, Ausiad, Hà Lan, Jica, Dfif,… và nhiều tổ chức phi chính phủ như Đông Tây hội ngộ, Childfun, Oxfam,…Số lượng các công trình do nhân dân tự xây dựng còn lớn hơn nhiều, nhưng vẫn chưa đáp
ứng đầy đủ nhu cầu cấp nước sạch và vệ sinh của toàn dân
Chiến lược Quốc gia về NS và VSMTNT đảm bảo nguyên tắc là phát triển bền vững gắn liền với Chiến lược toàn diện về tăng trưởng xóa đói giảm nghèo của Chính phủ nhằm đạt được sự tăng trường bền vững và công bằng, cải thiện môi trường xã hội và điều kiện sống của dân cư nông thôn, nhất là người nghèo, vùng nghèo Người sử dụng phải chi trả toàn bộ chi phí xây dựng, vận hành, duy tu, bảo dưỡng các công trình cấp nước sạch Tuy nhiên, Nhà nước sẽ tạo điều kiện để các hộ gia đình, các tổ chức có nhu cầu được vay vốn xây dựng hoặc nâng cấp công trình, đồng thời ưu tiên trợ cấp một phần
Trang 15cho các vùng nghèo, hộ nghèo, hộ rất nghèo, các gia đình chính sách khó khăn về đời sống kinh tế và các trường hợp đặc biệt khác cần được quan tâm Ngoài ra, nhà nước cũng sẽ dành một phần ngân sách để trợ cấp phát triển các hệ thống cấp nước tập trung, đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ, xây dựng mô hình thí điểm
Mục tiêu cụ thể của Chiến lược Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020 đặt ra là:
Mục tiêu đến năm 2010:
- 85% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh với số lượng 60lít/người/ngày
- 70% gia đình có hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân
- 70% số hộ nông dân chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh
- Tất cả các nhà trẻ, trường học, trạm xá, chợ, trụ sở UBND xã và các công trình công cộng khác ở nông thôn có đủ nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm
Mục tiêu đến năm 2020:
- Tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60lít/người/ngày, hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, giữ vệ sinh môi trường làng xã
Tuy đã đạt được những kết quả quan trọng trên đây nhưng thực tế việc cấp Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn ở nước ta vẫn còn gặp khá nhiều khó khăn và thách thức Đó là:
- Chất lượng nước (kể cả chất lượng xây dựng các công trình cấp nước) nhìn chung còn thấp, chưa đạt các yêu cầu đặt ra Đến nay vẫn còn 38% dân số nông thôn chưa tiếp cận được với nước sinh hoạt hợp vệ sinh Trong số 62% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh thì chỉ có khoảng 30% được tiếp cận với nguồn nước đạt Tiêu chuẩn hiện hành (TC 09) Nhiều vùng đang diễn ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước do xâm nhập mặn, chất thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi, làng nghề, hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp,…ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng đời
Trang 16sống và sức khỏe của người dân Bên cạnh đó, ở nhiều khu vực đồng bằng đã phát hiện ra hàm lượng Asen có trong nước ngầm khá cao so với tiêu chuẩn cho phép, đang là một trong những thách thức lớn đối với công nghệ xử lý và nguồn lực đầu tư
- Việc cấp nước sạch chưa đồng đều ở các vùng, trong 7 vùng kinh tế sinh thái, thì
4 vùng có số dân nông thôn được cấp nước sinh hoạt với tỷ lệ trên 60%,3 vùng còn lại chưa đến 50% Nhiều vùng ở miền núi, ven biển và vùng khó khăn về nguồn nước thì người dân chỉ được sử dụng bình quân dưới 20lít/người/ngày, nhiều nơi tình trạng khan hiếm nước diễn ra từ 5 đến 6 tháng trong năm như Trung Bộ, Tây Nguyên,…
- Tính bền vững của các thành quả đã đạt được về cấp nước chưa cao Số lượng và chất lượng nước cung cấp ở nhiều nơi hiện đang bị giảm sút, việc giám sát và kiểm tra chất lượng nước chưa đúng quy định đặc biệt là đối với các công trình cấp nước tập trung còn yếu, hầu hết không đủ kinh phí đảm bảo quản lý vận hành, duy tu bảo dưỡng và sửa chữa dấn đến công trình bị xuống cấp, thậm chí ngừng hoạt động Một số công trình do
tư nhân hoặc hợp tác xã nước sạch đầu tư xây dựng và quản lý khai thác, tuy có khá hơn nhưng hiệu quả chưa cao
- Thị trường NS & VSMT nông thôn chưa hình thành rõ ràng, các chính sách khuyến khích đầu tư và cơ chế tín dụng hiện có chưa thu hút được sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp tư nhân
- Các công trình cấp nước sạch trong các trường học, trạm y tế và các cơ sở công cộng khác ở nông thôn mặc dù đã được quan tâm nhưng kết quả còn quá khiêm tốn so với nhu cầu thực tế Nhiều trường học còn thiếu các công trình cấp nước và vệ sinh hoặc có nhưng không đảm bảo chất lượng, không đáp ứng được nhu cầu
Hiện nay, Chiến lược Quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh môi trường đang ở giai đoạn 2011 – 2015 Mục tiêu đến hết năm 2015 là:
- 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 45%
sử dụng nước sạch đạt QCVN 02-BYT với số lượng ít nhất là 60lít/người/ngày
- 65% số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh;
- 45% số hộ nông dân chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh;
Trang 17- Hầu hết các trường học mầm non và phổ thông, trạm y tế xã ở nông thôn đủ nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh
Bảng 1:Khối lượng công trình nước sạch dự kiến xây dựng giai đoạn 2011-2015
Số lượng công trình cấp nước tập trung (tự chảy, bơm dẫn, hồ
chứa)
Số lượng công trình Cấp nước nhỏ lẻ
Tổng số
Xây mới Nâng cấp
Hiện trạng cấp nước sạch ở Việt Nam hiện nay
Theo tài liệu Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 3 (2011 – 2015), tính đến năm 2010, tổng số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là 48.752.457 người, tăng 8.630.000 người so với cuối năm 2005,
tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh tăng từ 62% lên 80%, thấp hơn kế hoạch 5%, trung b́ình tăng 3,6%/năm Trong đó, tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đạt QCVN 02/2009:BYT trở lên là 40%, thấp hơn kế hoạch 10%
Trong 7 vùng kinh tế - sinh thái, vùng Đông Nam bộ có tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 90%, cao hơn trung bình cả nước 10% Thấp nhất là
vùng Tây Nguyên 72% và Bắc Trung bộ 73%, thấp hơn trung bình 8% (theo Bộ Y tế,
Trang 18
Bảng 2: Tỷ lệ các xã có công trình cấp nước sinh hoạt tập trung [18]
Số xã có công trình cấp nước tập trung Tỷ lệ %
là 10,02% Vùng Tây Nguyên có tỷ lệ tăng thấp nhất chỉ 3,23%
Một số tiến bộ khoa học - công nghệ cấp nước phù hợp với điều kiện địa hình, khí hậu, thuỷ văn của địa phương đã được áp dụng Trong cấp nước nhỏ lẻ đã cải tiến và áp dụng công nghệ, kỹ thuật xử lý nước như giàn mưa và bể lọc cát để xử lý sắt và ô nhiễm Asen từ các giếng khoan sử dụng nước ngầm tầng nông Nhiều thiết bị đồng bộ bằng nhiều loại vật liệu phù hợp để xử lý nước được giới thiệu và áp dụng trên cả nước Một
số công trình cấp nước tập trung đã áp dụng công nghệ lọc tự động không van, xử lý hoá học (xử lý sắt, mangan, asen, xử lý độ cứng ), hệ thống bơm biến tần, hệ thống tin học trong quản lý vận hành Công nghệ hồ treo được cải tiến có quy mô và chất lượng khá hơn góp phần giải quyết khan hiếm nguồn nước ở vùng cao núi đá trong mùa khô Khi xảy ra thiên tai, lũ lụt các địa phương đã sử dụng cloramin B và Aqua tab, túi PUR để
xử lý nước phục vụ ăn uống
Trang 19Một số mô hình và cơ chế quản lý vận hành, bảo dưỡng công trình cấp nước tập trung và vệ sinh công cộng phù hợp, bước đầu có hiệu quả đã xuất hiện ở nhiều địa phương như mô hình sự nghiệp có thu (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh), mô hình doanh nghiệp công tư phối hợp dựa vào kết quả đầu ra, mô hình
tư nhân đấu thầu quản lý hệ thống cấp nước
Tuy nhiên, còn nhiều mô hình, cơ chế quản lý khai thác các công trình cấp nước tập trung ở nhiều nơi chưa hiệu quả và thiếu bền vững Phương thức hoạt động cơ bản vẫn mang tính phục vụ, chưa chuyển được sang phương thức dịch vụ, thị trường hàng hóa Việc lựa chọn mô hình quản lý ở nhiều nơi chưa phù hợp, còn tồn tại nhiều mô hình quản lý thiếu tính chuyên nghiệp, như mô hình UBND xã, cộng đồng, tổ hợp tác quản lý Năng lực cán bộ, công nhân quản lý vận hành còn yếu Nhiều địa phương chưa ban hành quy chế quản lý vận hành, bảo dưỡng công trình cấp nước tập trung
1.3 Tình hình cấp nước sinh hoạt tỉnh Nam Định [15]
Nam Định là một trong bốn tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng được chọn triển khai thí điểm Dự án cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn từ giai đoạn I Chương trình đã đạt được những hiệu quả đáng kể, góp phần nâng cao tỷ lệ số dân được sử dụng nước sạch và nước sinh hoạt hợp vệ sinh trong toàn tỉnh
Dự án cấp nước sạch của tỉnh Nam Định được triển khai thực hiện từ tháng 7-2006 theo Hiệp định tín dụng được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới Theo đó, tỉnh Nam Định triển khai Dự án nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NS
và VSMTNT) tại 29 xã thuộc 6 huyện
Theo thống kê, tính đến hết năm 2010, toàn tỉnh có 84,1% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh, tương đương 1.423.821 người, tỷ lệ dân số được dùng nước sạch theo quy chuẩn quốc gia là 51,55% tương đương 826.720 người Các công trình phúc lợi có công trình cấp nước đều đạt tỷ lệ cao như trường học đạt 94,4%, trụ sở UBND xã đạt 95%, trạm y tế đạt 97%
Toàn tỉnh hiện có 49 công trình cấp nước nông thôn quy mô vừa và nhỏ Trong đó Công ty Cổ phần Nước sạch và vệ sinh Nông thôn tỉnh quản lý 9 nhà máy nước đang vận hành cấp nước liên xã cho nhân dân thuộc các xã của 6 huyện (Xuân Trường, Nam Trực,
Trang 20Nghĩa Hưng, Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc) Công ty TNHH MTV cấp nước thành phố Nam Định quản lý 3 công trình Còn lại là các công trình quy mô nhỏ thuộc quản lý của huyện,
1.4.Những khó khăn và thách thức trong vấn đề cấp nước sạch ở nông thôn
1.4.1 Khó khăn về kinh tế – tài chính
Mức sống của cư dân nông thôn nói chung còn rất thấp ; tỷ lệ các hộ đói nghèo còn khá cao (tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi gấp từ 1,7- 2 lần tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước, thu nhập bình quân củ a nhóm hộ nghèo ở nông thôn chỉ đạt mức 70% mức chuẩn nghèo mới ) Do đó đời sống dân cư chỉ đủ ăn mà không còn tiền để chi tiêu cho các nhu cầu khác , việc chi trả dịch vụ sử dụng nước sạch còn là vấn đề khó khăn đối với rất nhiều hộ gia đình ở các vùng nông thôn, đặc biệt là miền núi, vùng thường xuyên bị thiên tai, hạn hán
Đầu tư cho lĩnh vực cấp nước sạch còn hạn chế : Tính trung bình trong 10 năm cải cách kinh tế cả nhà nước và quốc tế mới đầu tư được khoảng 0,13 USD cho một người dân trong một năm, trong 10 năm mới đầu tư 1,3 USD cho một người So với nhu cầu chi phí để xây dựng các công trình cấp nước sạch thì mức đầu tư của Chính phủ và các nhà tài trợ còn ít , chưa có khả năn g đáp ứng đủ nhu cầu ( Năm 2003 đã có 1.440 tỷ đồng để thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường , vốn ngân sách là 236 tỷ, các tổ chức quốc tế hỗ trợ 387 tỷ, ngân sách địa phương và nhân dân huy động là 817 tỷ cho việc xây dựng các công trình nước sạch)
Tỷ lệ số hộ ở nông thôn có công trình cấp nước còn thấp , đến hết năm 2011 cả nước mới đạt là 46,48% Các công trình nước sạch trong các trường học , trạm y tế và các
Trang 21cơ sở công cộ ng khác ở nông thôn còn hạn chế Nhiều trường học còn thiếu các công trình cấp nước hoặc có nhưng không đáp ứng được nhu cầu
1.4.2 Khó khăn về xã hội và tập quán
Hiểu biết về vệ sinh và sức khỏe của người dân nông thô n còn thấp Số đông ít quan tâm đến đến vệ sinh , coi đó chỉ là vấn đề cá nhân liên quan đến tiện nghi là chính chứ không phải là một vấn đề công cộng có liên quan đến sức khỏe của cộng đồng và sự trong sạch của môi trường
Những thói quen sinh hoạt ở nông thôn mang tính chất truyền thống , thực hành vệ sinh kém nên các bệnh tật phổ biến vẫn thường xuyên xảy ra ở khu vực nông thôn , có khi xảy ra những dịch lớn như tả , thương hàn, sốt xuất huyết khiến cho người dân nông thôn đã nghèo nay lại khó khăn hơn do ốm đau và bệnh tật Ở vùng đồng bằng sông Hồng và ven biển Bắc Trung Bộ người dân nông thôn có tập quán sử dụng phân người chưa được xử lý tốt làm phân bón Ở phía Nam, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long , phân người được thải trực tiếp xuống ao làm thức ăn cho cá
Sự phối hợp giữa các Bộ , Ngành trong việc tổ chức , thực hiện cấp nước sạch chưa tốt Quản lý nguồn nước và cấp nước nông thôn thuộc trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn , Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm cấp nước đô thị bao gồm cả các thi trấn, vệ sinh lại là trách nhiệm của Bộ Y tế
Nhà nước chưa có chính sách huy động sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế để cùng với người sử dụng xây dựng công trình cấp nước sạch mà chủ yếu vẫn áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính Pháp luật còn thiếu các quy định và hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt lĩnh vực cung cấp nước sạch
1.4.3 Khó khăn về thiên tai
Có nhiều vùng gặp khó khăn về nguồn nước như các vùng bị nhiễm mặn (năm
2000 ước tính có hơn 13 triệu người sống ở các vùng này ), các vùng núi cao và các vùng đá vôi cón đặc trưng là nguồn nước ngầm ở rất sâu và không có hoặc rất hiếm nước mặt
Thời gian gần đây khí hậu thời tiết có những biến động thất thường , lũ lụt và hạn hán xảy ra ở nhiều địa phương làm cho tình hình nguồn nước càng khó khăn hơn Một số nơi nguồn nước cạn kiệt đang trở thành vấn đề nghiêm trọng cho sản xuất và sinh hoạt
Trang 22Nhiều vùng ở miền núi ven biển và khó khăn về nguồn nước , người dân chỉ được sử dụng bình quân dưới 20 lít nước/ người/ ngày Nhiều nơi tình trạng khan hiếm nước diễn
ra từ 5- 6 tháng trong năm như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên,…
Trong khi khu vực miền núi Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên và miền Trung thường phải đối mặt với việc thiếu nước gay gắt thì Đồng bằng sông Cửu Long nơi chiếm 12% diện tích cả nước (3,9 triệu ha) với dân số bằng 21% dân số cả nước lại phải đối mặt với các sự cố do lũ lụt gây ra Lũ lụt không những gây trở ngại cho việc tổ chức sản xuất
mà còn gây các ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân, đặc biệt là công tác vệ sinh môi trường, thu dọn rác thải, xác gia súc, gia cầm chết, mùi xú uế, rác thải tràn ngập sau những ngày ngập lũ Theo thống kê, hơn 70% số hộ sống ở vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên phải dùng nguồn nước không đảm bảo vệ sinh Số người bị ngộ độc theo đường nước gia tăng theo các năm tại vùng ngập lũ Những tháng nóng là những tháng trọng điểm sốt xuất huyết tại khu vực
Theo kịch bản phát thải cao, vào cuối thế kỷ 21, nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có khoảng 39% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển Miền Trung và trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập Như vậy, gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long; trên 9% dân số vùng Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh; gần 9% dân số các tỉnh ven biển Miền Trung và khoảng 7% dân số thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp Như vậy, biến đổi khí hậu nước biển dâng gây ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất, sinh sống của người dân, trong đó việc quy hoạch, khai thác sử dụng nước cho sinh hoạt sẽ là bài toán đầy khó khăn, thách thức
1.4.4 Khó khăn về công tác quản lý, vận hành
Cơ chế quản lý, nhất là cơ chế tài chính chưa phù hợp, nên chưa đảm bảo hoạt động bền vững của công trình Công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát chất lượng nước chưa được quan tâm đầy đủ
Trách nhiệm của người dân trong quản lý, sử dụng, bảo vệ và giám sát công trình cấp nước chưa cao Nhiều nơi đã có công trình cấp nước tập trung với chất lượng tốt,
Trang 23nhưng tỷ lệ đấu nối còn thấp, để tiết kiệm chi phí nhiều hộ chỉ dùng nước máy để ăn uống, còn sinh hoạt vẫn dùng nước chưa đảm bảo vệ sinh
Nhiều công trình cấp nước nông thôn xây dựng xong nhưng không hoạt động được, hoặc hoạt động kém hiệu quả, gây lãng phí và tác động tiêu cực đến cuộc sống của người dân, đến quan điểm và thái độ của cộng đồng với dịch vụ cấp nước và vệ sinh
Hầu hết ở các tỉnh đều chưa có các trung tâm chuyển giao công nghệ và sản xuất cung ứng các vật tư thiết bị phục vụ cho nhu cầu cấp nước sạch
Trên đây là những nét cơ bản về thực trạng của việc cấp nước sạch ở nông thôn hiện nay, có thể thấy được rằng trong những năm vừa qua vấn đề cung cấp nước sạch cho người dân nông thôn đã có nhiều cải thiện , đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên
so với nhu cầu hiện nay thì vấn đề này cũng còn rất nhiều những khó khăn , thách thức cần phải giải quyết
Trang 24CHƯƠNG 2- ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu và nội dung đề tài đã đặt ra, đối tượng nghiên cứu của
để tài được lựa chọn là mô hình cấp nước sạch liên xã và các công trình cấp nước của 9 nhà máy nước đã đi vào hoạt động của Công ty Cổ phần Nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định; các sông chính trên địa bàn tỉnh Nam Định cung cấp nước cho các công trình cấp nước tập trung, bao gồm: Sông Đào, sông Đáy, sông Hồng, sông Ninh Cơ, sông Láng
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm tài nguyên nước của vùng nghiên cứu, những khó khăn, thuận lợi của các điều kiện kinh tế xã hội tới cấp nước sinh hoạt tập trung
- Khảo sát, nghiên cứu tổng quan về tình hình cấp nước sạch của Việt Nam nói chung và của tỉnh Nam Định trong những năm gần đây với mô hình cấp nước sạch liên
xã và hiện trạng của việc cấp nước tại thời điểm nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả của mô hình cấp nước sạch liên xã về các mặt kinh tế, xã hội Dựa trên những số liệu về chất lượng, số lượng đánh giá hiệu quả của chương trình trên
cơ sở lồng ghép với các tiêu chí của chươg trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn, cùng các tiêu chí khác về chất lượng nước của các Bộ, Ngành liên quan
- Dự báo, đánh giá biến động chất lượng nước, khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của nguồn nước, tính bền vững về tình hình cấp nước
- Đề xuất các các biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên nước và các công trình cấp nước sạch ở tỉnh Nam Định
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Thu thập các số liệu và tài liệu thứ cấp: thu thập từ các cơ quan quản lý chuyên môn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài Nguyên
và Môi Trường tỉnh Nam Định, Trung tâm nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định, Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định, trường Đại học
Trang 25Khoa học tự nhiên ), tiến hành điều tra bổ sung thực địa để điều chỉnh cho phù hợp
- Thu thập số liệu sơ cấp: thông qua việc tiến hành phỏng vấn nhanh các hộ gia đình
sử dụng nước ở một số cụm công trình cấp nước
2.3.2 Phương pháp điều tra thực địa
Tiến hành khảo sát tại vùng nghiên cứu về:
- Hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
- Hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh
- Hiện trạng nguồn nước cấp cho các công trình xử lý
- Khảo sát quy trình xử lý nước tại các nhà máy
Trong khi khảo sát thực địa, quan sát nhận định sơ bộ về chất lượng nguồn nước cấp, quy trình xử lý nước đã áp dụng, chất lượng nước sau khi xử lý và chất lượng nước cấp tại các hộ sử dụng, đánh giá hiệu quả của mô hình cấp nước liên xã về mặt kinh tế, xã hội, môi trường và tính chấp nhận của người dân
2.3.2 Phương pháp kế thừa
Thừa kế chọn lọc các tài liệu đã có
Kế thừa kết quả phân tích, giám sát chất lượng nước của Trung tâm Nước sạch và
vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định Bao gồm: kết quả phân tích chất lượng nước nguồn trên các sông chính; kết quả phân tích chất lượng nước cấp tại các trạm cấp nước cũng như các hộ gia đình; Kết quả điều tra, quan trắc chất lượng nước sinh hoạt do người dân
Trang 26CHƯƠNG 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định [3],[6],[20]
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Nam Định là một tỉnh đồng bằng ven biển ở cực Nam châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình, cách thủ đô Hà Nội 90km về phía Nam, gần khu vực tam giác tăng trưởng kinh tế: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 165.253
ha chiếm 13% diện tích của đồng bằng Bắc Bộ Tỉnh được kế thừa vị trí địa lý thuận lợi của tỉnh Nam Hà cũ, trải rộng từ 19052’ đến 20030’ vĩ độ Bắc và 105055’ đến 106035’ kinh độ Đông với ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam và Thái Bình
- Phí Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình
- Phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình
- Phía Đông Nam và Nam giáp biển Đông
3.1.1.2 Địa hình địa mạo
Địa hình Nam Định tương đối bằng phẳng Đặc điểm chung địa hình trong toàn tỉnh có hướng từ Đông-Bắc qua Tây-Nam, thấp dần xuống phía Nam địa hình chủ yếu do quá trình bồi tụ của phù sa sông Hồng tiến ra biển và có thể chia làm hai vùng:
Vùng đồng bằng thấp trũng gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường và thành phố Nam Định Đây là vùng có nhiều ưu thế thâm canh phát triển nông nghiệp, công nghiệp
Vùng đồng bằng ven biển gồm các huyện Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng, có
bờ biển dài 72km, đất đai phì nhiêu, có tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển
Trang 27Hình 1: Bản đồ khu vực nghiên cứu – tỉnh Nam Định 3.1.1.3 Khí hậu
Cũng như các tỉnh trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Định mang khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23-24 oC Tháng lạnh nhất là các tháng 12 và tháng 1, với nhiệt độ trung bình từ 16-17 oC Tháng 6 và tháng 7 nóng nhất với nhiệt dộ trung bình thường trên 29 o
C Độ ẩm trung bình năm vào khoảng 79-80%, các tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 2,3,4 với độ ẩm trung bình từ 84-86%
Đặc trưng mưa: Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 cung cấp gần 80%
tổng lượng mưa hàng năm Mưa lớn thường xảy ra vào tháng 7, 8 và 9 Mùa khô bắt đầu vào tháng 11 và kết thúc vào tháng 4, bao gồm gần 20% tổng lượng mưa hàng năm Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm ở Nam Định khoảng 1.750mm Mùa hè lượng mưa dồi dào, tập trung vào các tháng 6, 7, 8 chiếm 70% lượng mưa cả năm Mùa đông tiêu biểu là
Trang 28mưa nhỏ, mưa phùn thịnh hành vào nửa cuối mùa đông tháng 2, 3 Lượng mưa năm lớn nhất đã đo được tại trạm Nam Định là 3005,3mm (năm 1994), nhỏ nhất đạt 975,7 mm (1988)
3.1.1.4.Đặc điểm thủy văn nguồn nước mặt
a Đặc điểm sông ngòi
Trong tỉnh có khoảng 530,1 km sông ngòi, trong đó có 16 sông ngòi dài trên 10km với tổng chiều dài là 430,4 km riêng bốn sông lớn (Hồng, Đáy, Nam Định, Ninh Cơ) dài
251 km Mật độ đạt 0,33 km/km2
- Sông Hồng
Chảy qua ranh giới phía Đông tỉnh, đây là con sông có hàm lượng phù sa lớn, là nguồn nước tưới cho lưu vực đồng thời cũng là con sông nhận nước tưới tiêu Chiều rộng trung bình của song khoảng 500 – 600m Mùa lũ trên sông Hồng bắt đầu từ tháng
6 đến hết tháng 10, lũ chính vụ trên sông Hồng thường từ 15 tháng 7 đến 15 tháng 8, đôi khi có năm muộn đến cuối tháng 8
- Sông Đáy
Chảy ở giữa ranh giới phía Tây của tỉnh Sông Đáy trước đây là một phần lưu của sông Hồng, mùa lũ trên sông kéo dài từ thág 7 – 10 và các trận lũ thường xuất hiện vào tháng 7,8 nhưng đến năm 1937 sau khi xây dựng đập Đáy nước lũ sông Hồng chỉ vào sông Đáy khi có phân lũ qua cụm công trình Đập Đáy, còn vào mùa khô thì hoàn toàn không có dòng chảy từ sông Hồng vào sông Đáy, sông Đáy trở thành sông nội địa
- Sông Đào Nam Định
Là một con sông lớn của tỉnh Sông Đào bắt nguồn từ sông Hồng ở phía Bắc phà Tân Đệ (Thái Bình) chảy ngang qua Thành phố Nam Định, gặp sông Đáy ở Thanh Khê Sông có chiều dài 45 – 50 km, chiều rộng trung bình 500 – 600m Đây là con sông quan trọng đưa nguồn nước ngọt dồi dào của sông Hồng bổ sung cho hạ du lưu vực sông Đáy
cả mùa khô và mùa lũ
- Sông Ninh Cơ
Sông Ninh Cơ là phân lưu cuối cùng ở bờ hữu sông Hồng nhận nước sông Hồng ở Mom Rô và đổ ra biển tại cửa Lạch Giang Sông Ninh Cơ liên hệ với sông Đáy qua kênh
Trang 29Quần Liêu, kênh này chuyển nước từ sông Đáy sang sông Ninh Cơ quanh năm, sông Hồng chịu ảnh hưởng của thủy triều mạnh Cũng giống như sông Đào, sông có dòng chảy quanh co, uốn lượn, chiều rộng trung bình 400 – 500m, chiều dài 53,525km Sông chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều, về mùa lũ sông chịu ảnh hưởng của lũ sông Hồng, thoát
lũ hỗ trợ cho sông Hồng từ 1.000 – 1.200m3/s, khả năng thoát lũ lớn nhất tới 3.600 m3
/s,
là tuyến giao thông thủy quan trọng trong vùng với lưu lượng hàng hóa từ 160.000 tấn đến 200.000 tấn ngày đêm Sông có độ dốc < 2.10-5, nước sông có hàm lượng phù sa lớn (về mùa lũ từ 1.3 – 3.6 kg/m3
), hiện tại tốc độ bồi lắng nhanh, đặc biệt từ cửa Mom Rô đến bối Tân Bồi xã Hải Ninh, Hải Hậu
- Sông Sò
Là sông nội đồng bị bồi lấp từ khi xây dựng cống Ngô Đồng và đập Nhất Đỗi Hiện nay sông này từ đập Nhất Đỗi ra biển chỉ còn lại là một lạch biển, làm giảm khả năng tiêu úng
b Thủy triều và xâm nhập mặn
Trang 30hơn Ở đây cần xem xét tóm tắt về đặc trưng mực nước vùng có ảnh hưởng triều và mặn tác dụng đến dòng chảy mùa kiệt ở châu thổ sông Hồng, đặc biệt là các cửa sông chính
Vùng nghiên cứu bị ảnh hưởng thủy triều Vịnh Bắc Bộ, chế độ nhật triều, một ngày có một đỉnh và một chân triều, thời gian triều lên khoảng 11 giờ và triều xuống khoảng 13 giờ Thuỷ triều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 -1,7m, lớn nhất là 3,31 m và nhỏ nhất là 0,11m Thông qua hệ thống sông ngòi, kênh mương, chế độ nhật triều đã giúp cho quá trình thau chua rửa mặn trên đồng ruộng Tuy nhiên cũng còn một số diện tích bị nhiễm mặn Dòng chảy của sông Hồng và sông Đáy kết hợp với chế độ nhật triều đã bồi tụ vùng cửa 2 sông tạo thành hai bãi bồi lớn là Cồn Lu - Cồng Ngạn ở huyện Giao Thuỷ và vùng đông Cửa Đáy ở huyện Nghĩa Hưng
- Độ lớn thủy triều là chênh lệch mực nước đỉnh triều và chân triều, cứ khoảng 15 ngày có 1 chu kỳ nước cường và 1 chu kỳ nước ròng (độ lớn thủy triều bé)
- Ảnh hưởng của thủy triều mạnh nhất vào các tháng mùa kiệt, giảm đi trong các tháng lũ lớn
- Sóng đỉnh triều truyền sâu vào nội địa 150 km về mùa cạn và 50- 100 km về mùa lũ
- Xâm nhập mặn
Qua số liệu thực đo, sự diễn biến của độ mặn trong các sông biến đổi theo mùa, nhỏ về mùa lũ, lớn về mùa cạn, tuỳ theo lượng nước ngọt từ thượng lưu đổ về và độ lớn của sông triều, của lưới sông hay mưa gió bão ở địa phương
Độ mặn thay đổi mạnh từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 5 năm sau, tăng từ đầu mùa đến giữa mùa rồi lại giảm dần tới cuối mùa (tháng 5) Tuy nhiên độ mặn trung bình tháng lớn nhất mùa cạn thường xảy ra vào tháng 3 Do lưu lượng nước đến nhỏ, mặt khác nước còn được lấy cho tưới, dân sinh, và công nghiệp nên lưu lượng còn lại nhỏ, mực nước sông thấp so với nước triều biển cùng thời điểm
Do vậy chiều sâu xâm nhập mặn trung bình với độ mặn 1‰ và 4‰ dài nhất là trên các phân lưu của sông Thái Bình, rồi đến sông Ninh Cơ, sông Hồng và sông Đáy Ở sông Ninh Cơ thì khoảng trên dưới 10 km
Trang 31Độ mặn 1‰ xâm nhập sâu 6 ÷ 27 km trên sông Thái Bình, 11 km trên sông Ninh Cơ,
10 km trên sông Hồng, 8 km trên sông Trà Lý, 5 km trên sông Đáy
Độ mặn 4‰ chỉ xâm nhập sâu trên sông Thái Bình 2 ÷ 12 km, trên sông Ninh Cơ
10 km, trên sông Hồng 2 km, trên sông Trà Lý 3 km, trên sông Đáy là 1km
Ở Nam Định về mùa cạn, lượng nước trong sông nhỏ, thủy triều xâm nhập vào khá sâu và mạnh, đưa mặn vào rất sâu, sông có độ mặn 1‰ xâm nhập vào sâu cách cửa biển 30 ÷ 50 km, gây trở ngại cho việc lấy nước dùng cho các ngành kinh tế quốc dân, nhất là cho nông nghiệp
- Diễn biến độ mặn theo thời gian: Trong năm độ mặn thay đổi theo mùa rõ rệt:
mùa lũ độ mặn nước sông không đáng kể (nhỏ hơn 0,02‰), mùa cạn khi nước thượng nguồn về nhỏ, độ mặn nước sông tăng lên, độ mặn lớn nhất hàng năm thường xuất hiện vào các tháng 12r, 1, 2, 3 Trong từng tháng độ mặn nước sông lớn vào những ngày triều cường và nhỏ vào những ngày triều kém
- Biến đổi độ mặn theo dọc sông: Nước mặn xâm nhập vào sông theo dòng triều,
càng vào sâu độ mặn càng giảm Về mùa cạn mặn xâm nhập sâu hơn Sau năm 1987 có
Hồ Hoà Bình ở thượng nguồn, lưu lượng ở hạ lưu sông Hồng được tăng thêm 300 m3
/s, vì vậy việc đẩy mặn thể hiện rõ, giới hạn xâm nhập mặn với nồng độ 2‰ trên các sông đều xuống dưới vị trí trước đây khoảng vài km
- Ranh giới độ mặn: Mức độ xâm nhập mặn phụ thuộc đáng kể vào cường độ
hoạt động của thủy triều và khoảng cách kể từ mặt cắt phía biển Nhờ có lưu lượng mùa cạn khá lớn ở sông Đáy và các cửa sông Hồng, Ninh Cơ đạt hàng trăm m3/s nên mặn không thể xâm nhập sâu vào đất liền như ở bên sông Thái Bình
Ranh giới xâm nhập mặn trên các sông: (độ mặn 2‰)
+ Trên sông Đáy mặn thường lên đến cống Văn Giáo, có năm lên tới Bình Hải cách biển 17 km
+ Trên sông Ninh Cơ lên tới Liễu Đề, nhiều năm lên trên Liễu Đề 10 km
+ Trên sông Hồng lên tới trên Ngô Đồng
Như vậy, điều kiện tự nhiên tỉnh Nam Định ảnh hưởng rất lớn đến việc khai thác
sử dụng tài nguyên nước, đặc biệt cho mục đích cấp nước sinh hoạt ở các vùng nông
Trang 32thôn của tỉnh Nguồn nước mặt dồi dào, là vùng có lượng mưa trung bình lớn so với cả nước, hàng năm bổ sung một lượng lớn nguồn nước ngọt cho vùng, đảm bảo việc cấp nước cho các công trình cấp nước tập trung của tỉnh
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số
Nam Định có 10 huyện/thành phố với 229 xã, phường, thị trấn Dân số đến hết tháng 6 năm 2012 của Nam Định là 1.903.076 người tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, chiếm 82,16%, trong đó số phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng là 347.665 người chiếm tỷ
lệ 18,26 % Tôn giáo chủ yếu: Thiên chúa giáo 23% dân số Tổng số trẻ sinh ra đến hết tháng 8 năm 2012 là 19.637 cháu tăng so với cùng kỳ 17,65%, trong đó số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 2.982 cháu tăng so với cùng kỳ 25,3%
3.1.2.2 Kinh tế - xã hội
a Kinh tế
Năm 2010 ước GDP tỉnh đạt 10.920 tỷ đồng Năm 2009, Cơ cấu kinh tế là: lâm-thuỷ sản: 30%, Công nghiệp-xây dựng: 32%, Dịch vụ: 38%
Nông-Các khu công nghiệp trong tỉnh Nam Định:
- Khu Công nghiệp Hòa Xá: thuộc thành phố Nam Định Tổng diện tích: 326.8 ha Tổng mức đầu tư dự kiến: 347 tỷ đồng, Mục tiêu xúc tiến thu hút đầu tư lấp đầy với 86
dự án
- Khu Công nghiệp Mỹ Trung: thuộc huyện Mỹ Lộc và phường Lộc Hạ, ở phía thành phố Nam Định, giáp Quốc lộ 10, khu đất quy hoạch có diện tích 150 ha, có thể phát triển lên 190 ha Tổng mức đầu tư khoảng 300 - 350 tỷ đồng
- Khu Công nghiệp Thành An: Thuộc địa bàn thành phố Nam Định và xã Tân Thành - Vụ Bản, nằm giáp trục đường Quốc lộ 10, gần Đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình và tuyến đường nối từ Quốc lộ 10 sang đường 21 dẫn đến cảng Hải Thịnh và các huyện phía Nam của tỉnh Khu công nghiệp Thành An có thể mở rộng với quy mô khoảng 150 ha đã quy hoạch chi tiết Tổng mức đầu tư khoảng 350-400 tỷ đồng
- Khu Công nghiệp Bảo Minh: Thuộc địa bàn huyện Vụ Bản Phía Bắc và phía Đông giáp xã Kim Thái, phía Tây giáp xã Liên Bảo, phía Nam giáp đường Quốc lộ 10, cách thành phố Nam Định 10 km, cách Thị trấn Gôi - Vụ Bản 5 km Khu Công nghiệp
Trang 33Bảo Minh nằm ven trục đường quốc lộ 10 cạnh đường sắt Bắc Nam và Đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình nên giao thông từ Khu Công nghiệp đến các nơi khác như Hà Nội, cảng Hải Phòng có nhiều thuận lợi Diện tích 200 ha đang quy hoạch chi tiết Tổng mức đầu tư khoảng 300- 400 tỷ đồng
- Khu Công nghiệp Hồng Tiến: Thuộc địa bàn 2 xã Yên Hồng và Yên Tiến, huyện
ý Yên, cách Thành phố Nam Định khoảng 25 km, cách thành phố Ninh Bình khoảng
6 km, nằm gần cảng Ninh Phúc, cạnh tuyến đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, và có tuyến đường sắt Bắc Nam KCN Hồng Tiến có thể mở rộng với quy mô khoảng 250ha Khu công nghiệp đã được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đăng ký đầu tư kinh doanh hạ tầng
- Khu Kinh tế Ninh Cơ: Do Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ VINASHIN đề xuất,
vị trí tại cửa sông Ninh Cơ, diện tích khoảng 500 ha, bao gồm: Cảng biển; công nghiệp đóng tàu; công nghiệp cơ khí, chế biến; dịch vụ vận tải; dịch vụ du lịch và các loại hình sảng xuất kinh doanh dịch vụ đa dạng 2 bên cửa sông Ninh Cơ thuộc huyện Hải Hậu và Nghĩa Hưng
- Các cụm công nghiệp khác: Đã xây dựng 17 cụm công nghiệp huyện và thành phố với tổng diện tích 270 ha, thu hút được 352 doanh nghiệp và các hộ vào đầu tư sản xuất với tổng vốn đầu tư đăng ký 1.075 tỷ đồng và thu hút được hơn 9.000 lao động
b Cơ sở hạ tầng
Hệ thống đường bộ: Mạng lưới giao thông vận tải của tỉnh khá thuận tiện cho việc giao lưu với các tỉnh trong nước và quốc tế Đường sắt xuyên Việt đi qua địa bàn tỉnh dài 42km với 5 nhà ga Trục quốc lộ 21 đi qua Hà Nội đang được đầu tư nâng cấp và đưa vào
sử dụng cùng hệ thống đường tỉnh, liên huyện, liên xã, liên thôn xóm, trong đó có 80% số đường được nâng cấp rải nhựa hoặc đổ bê tông, tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hóa và đi lại, đó là cơ hội rất lớn cho các nhà đầu tư
Đường thủy: Nam Định có 4 sông lớn với chiều dài 251km, cùng với hệ thống sông nội đồng dài 279km tạo thành một mạng lưới giao thông thủy phân bố đều, thuận tiện cho đi lại, vận chuyển hàng hóa, cung cấp nước cho tưới tiêu các loại cây trồng phục
vụ phát triển kinh tế xã hội
Trang 34Cảng – bến bãi: Có cảng sông Đào tại thành phố Nam Định và cảng thương mại Hải Thịnh vói công suất xếp dỡ hàng hóa 3 vạn tấn/năm
Điện: Lưới điện Quốc gia cơ bản phủ kín toàn tỉnh, bảo đảm cung cấp đủ điện năng phục vụ sản xuất, sinh hoạt và vẫn đang tiếp tục huy động mọi nguồn vốn để cải tạo
và phát triển mạng lưới điện đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội như quy hoạch lưới điện của tỉnh đã được phê duyệt
Mạng lưới bưu chính viễn thông: Chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao đáp ứng nhu cầu thông tin của mọi đối tượng Đến năm 2010 mật độ máy điện thoại đạt hơn 10 máy/100 dân (năm 2006 đạt 8 máy/100 dân), bán kính phục vụ của các bưu cục là 2,3 - 2,4 km
Hệ thống cấp thoát nước, công trình đô thị và nhà ở: Từng bước đảm bảo nhu cầu nước đủ tiêu chuẩn chất lượng phục vụ cho sinh hoạt va sản xuất công nghiệp, thành phố Nam Định và các thị trấn, huyện Năm 2006 đã xây dựng nâng cấp hệ thống đường ống nước đảm bảo cung cấp nước cho khu vực đạt bình quân 120 lít/người/ngày đêm Hoàn thiện dự án thoát nước và hệ thống đèn đường chiếu sáng ở thành phố Nam Định, các thị trấn và khu dân cư tập trung Xây dựng các công trình phúc lợi công cộng Quy hoạch lại các khu dân cư và các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ dân sinh
Giáo dục: Tỉnh Nam Định có truyền thống hiếu học, luôn là một trong số ít tỉnh dẫn đầu toàn quốc về giáo dục – đào tạo với những bước phát triển liên tục cả về quy mô
và chất lượng
Toàn tỉnh có 14 trường cao đẳng, THCN và dạy nghề, trong đó mỗi năm có từ
4000 – 5000 công nhân kỹ thuật tốt nghiệp ra trường Trên địa bàn tỉnh đã có 3 trường Đại học: Đại học điều dưỡng, Đại học sư phạm kỹ thuật và Đại học dân lập Lương Thế Vinh Một số trường cao đẳng sẽ được nâng lên Đại học trong thời gian tới Hệ thống các
cơ sở dạy nghề rộng khắp toàn tỉnh, đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề, tăng cường phổ cập, bồi dưỡng, tập huấn nhằm nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo của tỉnh lên 45 – 50% năm 2010 Nhờ đó, tỉnh Nam Định có nguồn lao động dồi dào, có trình độ nghiệp
vụ, tay nghề khá, có tác phong công nghiệp và năng động, sáng tạo
Trang 35Y tế: Tình Nam Định có mạng lưới y tế được tổ chức có hệ thống rộng khắp làm nhiệm vụ vảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân hoàn chỉnh từ thôn, xóm, xã, phường đến các cấp huyện, tỉnh Trong đó có 18 bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa khu vực và
229 trạm y tế xã, phường với tổng số 3.615 giường bệnh và 4.699 cán bộ y tế
Như vậy, tổng quan lại thì Nam Định là một tỉnh đồng bằng có cơ sở hạ tầng đang được phát triển, với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và cảng biển thuận tiện đã tạo ra những khả năng thuận lợi để phát triển, đồng thời lại ở vị trí trung tâm Nam đồng bằng sông Hồng, có lợi thế về môi trường sinh thái để phát triển du lịch, sản phẩm nông – lâm - ngư nghiệp đa dạng, nguồn lợi thủy hải sản lớn, nguồn lao động dồi dào, hạ tầng kinh tế - xã hội, điện- đường –trường –trạm, viễn thông, tài chính mở rộng
Với những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, thì đó cũng làm tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt
là tài nguyên nước Kinh tế phát triển nhanh tạo sức ép đối với lĩnh vực môi trường, đòi hỏi UBND tỉnh, các cơ quan ban ngành, các đơn vị có chức năng thẩm quyền phải hoạch định chính sách phát triển đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, cân đối sử dụng tài nguyên cho tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là tài nguyên nước, trong đó ưu tiên vấn đề cấp nước sinh hoạt ở các vùng nông thôn
3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt tỉnh Nam Định
Nam Định là một tỉnh có tổng diện tích toàn bộ là đồng bằng, dân cư sinh sống tập trung, tình hình khai thác và sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt chủ yếu vẫn từ nguồn nước dưới đất, khai thác nước chủ yếu từ các công trình giếng khoan Ngoài ra hình thức khai thác nước dưới đất bằng giếng đào chỉ ở một vài nơi và hầu như không còn phổ biến trên địa bàn tỉnh Mặc dù tình hình cấp nước sạch đã có nhiều cải thiện so với trước đây song hiện nay hầu hết người dân nông thôn vẫn phải tự lo nguồn nước sinh hoạt cho mình trong khi không xác định và không biết được thực chất chất lượng nguồn nước mà bản thân mình đang sử dụng là như thế nào
Hiện tại trên địa bàn tỉnh Nam Định hình thức khai thác nước bằng các giếng khoan kiểu UNICEFF khá phổ biến, chủ yếu là các giếng khoan nhỏ lẻ được khai thác theo các hộ gia đình Bên cạnh việc sử dụng nguồn nước khai thác từ giếng khoan, các hộ
Trang 36dân thường kết hợp sử dụng nước mưa Nam Định là tỉnh có lượng mưa trung bình lớn,
và kéo dài trong nhiều tháng, do vậy đây cũng là nguồn nước ngọt dồi dào, người dân thu chứa nước mưa vào các bể, lu để sử dụng dần trong năm
Từ năm 2007, sau khi tỉnh triển khai chương trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường theo Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn, một phần dân số của tỉnh, đặc biệt là người dân ở các vùng thiếu nước, nước ngầm chất lượng kém đã được tiếp cận nguồn nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung theo Quy chuẩn nước ăn uống của Bộ y tế, hạn chế được các dịch bệnh lây lan qua đường nước, tăng cường sức khỏe cho người dân
3.2.1 Hiện trạng sử dụng nước giếng khoan
3.2.2.1.Khai thác, sử dụng quy mô hộ gia đình
Theo số liệu thống kê của UNICEF hầu hết các giếng khoan đều được khai thác nước trong các trầm tích Đệ Tứ với chiều sâu thay đổi từ 15 - 100 m, có khi sâu hơn, trung bình trên phạm vi toàn tỉnh là 77,2m Chiều sâu khai thác trung bình của các lỗ khoan biến đổi theo từng khu vực khác nhau, cụ thể như : huyện Giao Thuỷ 58,9m; huyện Hải Hậu 106,8m; huyện Mỹ Lộc 26,2m; huyện Nam Trực 13,7m; huyện Nghĩa Hưng 93,5m; huyện Trực Ninh 89,6m; huyện Vụ Bản 33,6m; huyện Xuân Trường 92,7m; huyện Ý Yên 34,3m và thành phố Nam Định 18,9m Thông thường, các giếng khoan kiểu này được khai thác nước dưới đất từ tầng chứa nước có tuổi Holocen và Pleistocen
Hầu hết kết cấu của các giếng khoan khai thác kiểu UNICEF đều bằng ống nhựa PVC, có đường kính từ 48 - F60mm (ống F48 chiếm đa số) Ống lọc được lắp đặt trong giếng thường có chiều dài trung bình từ 3 đến 4m Các giếng đều được lắp đặt máy bơm tay hoặc bơm mô tơ điện Công suất máy bơm thường là 370W hoặc 750W tuỳ theo nhu cầu sử dụng của từng gia đình
Theo số liệu thi công các giếng khoan UNICEF của Trung tâm nước sạch và Vệ sinh Môi trường nông thôn tỉnh Nam Định cho thấy, từ năm 1992 đến năm 1998 đã có gần 2300 giếng khoan tại 10 huyện thị và thành phố trong tỉnh Trong đó, huyện Hải Hậu có số lượng giếng khoan nhiều nhất (497 giếng); huyện Trực Ninh (466 giếng); huyện
Trang 37Nghĩa Hưng (399 giếng) và huyện Giao Thuỷ có số lượng giếng khoan ít nhất (có 56 giếng)
Tốc độ thi công giếng tăng dần theo thời gian từ năm 1992 thi công được (353 giếng), cho tới năm 1995 là (671 giếng) tại tất các các huyện thị trong tỉnh Cho đến năm
1996 tốc độ thi công giếng giảm xuống và đến năm 1998 chỉ còn 17 giếng khoan, thi công tại 2 huyện trong tỉnh là huyện Ý Yên và Vụ Bản
3.2.1.2 Khai thác, sử dụng quy mô lớn
Giếng công nghiệp ở đây được hiểu là các giếng khoan có đường kính lớn hơn 60mm, chiều sâu vài chục mét trở nên, dùng máy bơm công suất lớn để khai thác nước với lưu lượng từ 20 m3/ngày trở lên
Hiện tại, qua thu thập các số liệu chưa đầy đủ, trên địa bàn tỉnh Nam Định có 62 giếng khoan công nghiệp (con số này trong thực tế sẽ cao hơn nhiều) Hầu hết các giếng khoan này khai thác ở độ sâu trung bình từ 70 đến 150m trong tầng chứa nước Pleistocen
hạ trung (QII-IIIhn) Lưu lượng khai thác của các giếng khoan kiểu công nghiệp đạt từ 400 – 500 m3/ngày
Các giếng thường được kết cấu bằng ống thép có đường kính từ 168 đến 350mm tuỳ theo nhu cầu khai thác sử dụng cụ thể của từng đơn vị Theo thống kê tổng lưu lượng khai thác nước dưới đất từ loại hình khai thác lẻ này là gần 30.000 m3/ngày
Hầu hết các giếng khoan khai thác lẻ do các cơ sở, đơn vị sản xuất trên địa bàn tỉnh tự khai thác để phục vụ cho mục đính ăn uống và sinh hoạt của đơn vị mình
3.2.1.3.Hiện trạng chất lượng nước giếng khoan
- Chất lượng nước dưới đất tầng chứa nước Pleistocen (qp)
Theo các số liệu khoan tìm kiếm và thăm dò đã được thực hiện trên địa bàn tỉnh Nam Định cho thấy nước dưới đất trong tầng này nhìn chung có thành phần khá phức tạp
Độ tổng khoáng hoá của nước biến đổi theo từng khu vực và tầng chứa nước khác nhau
Vùng nước nhạt, độ tổng khoáng hoá M 1g/l nằm khu vực phía Nam, Tây Nam, thuộc huyện Nghĩa Hưng và một phần huyện Trực Ninh, thành phần của nước có tên gọi chủ yếu là Bicacbonat Clorua Natri, độ pH = 7 - 8 Ngoài ra các khu vực khác nước đều có thành phần là nước lợ và mặn Vùng nước lợ độ tổng khoáng hoá M > 1g/l - 3g/l phân
Trang 38bố ở vùng phía Bắc, Đông Bắc vùng Thành phần hoá học nước của hai vùng trên có tên nước chủ yếu là Clorua Natri Magiê, độ pH = 7 - 8
Theo số liệu khảo sát thăm dò cho thấy chất lượng nước của các giếng khoan công nghiệp, công trình khai thác cấp nước kiểu tập trung có thành phần các nguyên tố hoá học cũng khá đa dạng và phức tạp Đặc biệt qua kết quả phân tích các chỉ tiêu nguyên tố hoá học cho thấy hàm lượng Clo trong nước ở một số giếng vượt khá cao so với tiêu chuẩn cho phép, trung bình lên tới 1947 mg/l, có những công trình cao nhất lên đến 15332 mg/l như tại lỗ khoan LK31 khu vực xã Tân Thịnh huyện Nam Trực Ngoài ra, hàm lượng tổng khoáng hoá dao động khá cao theo các khu vực, trung bình đạt 3637 mg/l và có những giếng tổng khoáng hoá lên đến 27000 mg/l như tại LK31 khu vực xã Tân Thịnh huyện Nam Trực và 21891 mg/l tại lỗ khoan Q110 khu vực xã Hải Tây huyện Hải Hậu Tuy nhiên, trong khu vực tỉnh Nam Đinh hàm lượng sắt trong nước dưới đất dao động ở mức độ thấp, theo số liệu phân tích từ các lỗ khoan thăm dò cho thấy hàm lượng sắt dao động từ 0 - 8 mg/l, cá biệt có những chỗ hàm lượng sắt cao hơn
Các nguyên tố vi lượng và nhiễm bẩn hầu hết đều có giá trị nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép
- Chất lượng nước tầng chứa nước Holocen (qh)
Chất lượng nước tầng này được đánh giá sơ bộ chủ yếu theo các tài liệu khoan giếng UNICEF và một phần của các tài liệu tìm kiếm thăm dò đã thực hiện trong những giai đoạn trước đây trên địa bàn tỉnh Chất lượng nước của tầng được chúng tôi đánh giá chủ yếu qua hàm lượng Clo, độ tổng khoáng hoá và hàm lượng sắt được phân tích
Sự thay đổi về thành phần hoá học nước cũng như tổng khoáng hoá của nước cũng có quy luật theo diện khá rõ ràng Vùng nước lợ nằm ở phía Bắc, Tây Bắc, có diện phân
bố lớn, vùng nước mặn thường nằm ở phía Đông, Đông Nam, nói đúng hơn là ven theo các vùng ven bờ biển (LK31, LK55b, LK46) Tổng khoáng hoá đạt từ 16 - 30g/l
Hiện tại, theo thống kê của UNICEF chất lượng nước dưới đất trong tầng có độ
pH biến đổi từ 6 - 8 Hàm lượng Clorua biến đổi từ 10 đến 2200mg/l và hàm lượng sắt biến đổi từ 0 đến 98 mg/l, cụ thể tại từng khu vực như sau:
Huyện Giao Thuỷ: Hàm lượng Clorua biến đổi từ 30mg/l (xã Giao Thịnh) đến
Trang 39500mg/l (TT Ngô Đồng); hàm lượng sắt biến đổi từ 0mg/l và cao nhất 10mg/l (xã Giao Tiến); độ pH biến đổi từ 6 - 8;
Huyện Hải Hậu: Hàm lượng Clorua biến đổi từ 10mg/l ( xã Hải Lộc) đến 150mg/l (xã Hải Tân); hàm lượng sắt biến đổi từ 0mg/l và cao nhất là 2mg/l (xã Hải Tây và Hải Phong); độ pH biến đổi từ 6 – 8;
Huyện Mỹ Lộc: Hàm lượng Clorua biến đổi từ 110mg/l (xã Mỹ Phước) đến 900mg/l (xã Mỹ Trung); hàm lượng sắt biến đổi từ 0mg/l và cao nhất là 11mg/l (xã Mỹ Phúc); độ pH biến đổi từ 6 - 8;
Huyện Nam Trực: Hàm lượng Clorua biến đổi từ 90mg/l (xã Nghĩa An) đến 500mg/l (xã Hồng Quang); hàm lượng sắt biến đổi từ 1mg/l và cao nhất 40mg/l (xã Hồng Quang); độ pH biến đổi từ 6 - 8;
Huyện Nghĩa Hưng: Hàm lượng Clorua biến đổi từ 60mg/l (xã Nghĩa Hải) đến 320mg/l (xã Nghĩa Hiệp); hàm lượng sắt biến đổi từ 0mg/l và cao nhất là 4mg/l (xã Nghĩa Hải); độ pH biến đổi từ 6 - 8;
Thành phố Nam Định: Hàm lượng Clorua biến đổi từ 60mg/l (xã Lộc Vượng) đến 600mg/l (xã Lộc Hoà); hàm lượng sắt biến đổi từ 2mg/l và cao nhất là 33mg/l (xã Lộc Vượng); độ pH biến đổi từ 7 - 8;
Huyện Trực Ninh: Hàm lượng Clorua biến đổi từ 60mg/l (xã Cát Thành) đến 800mg/l (xã Phương Định); hàm lượng sắt biến đổi từ 0mg/l và cao nhất là 30mg/l (TT
Cổ Lễ); độ pH biến đổi từ 7 - 8;
Huyện Vụ Bản: Hàm lượng Clorua biến đổi từ 60mg/l (xã Vĩnh Hào) đến 2200mg/l (xã Minh Tân); hàm lượng sắt biến đổi từ 0mg/l và cao nhất là 98mg/l (xã Kim Thái); độ pH biến đổi từ 6 - 8;
Huyện Xuân Trường: Hàm lượng Clorua biến đổi từ 30mg/l (xã Xuân Ninh) đến 600mg/l (xã Xuân Ngọc); hàm lượng sắt biến đổi từ 0mg/l và cao nhất là 10mg/l (xã Xuân Trung); độ pH biến đổi từ 6 - 8;
Huyện Ý Yên: Hàm lượng Clorua biến đổi từ 60mg/l (xã Yên Kim) đến 800mg/l (xã Yên Minh); hàm lượng sắt biến đổi từ 1mg/l và cao nhất là 30mg/l (xã Yên Minh); độ
pH biến đổi từ 6 - 8;
Trang 40Nhìn chung, nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Nam Định có trữ lượng tương đối giàu, tiềm năng khai thác lớn Nước ngầm ở hầu hết các vùng trong tỉnh đều có hàm lượng sắt cao, vùng có hàm lượng sắt cao nhất là Vụ Bản lên tới 98mg/l gấp 326 lần TCCP của Bộ Y tế (0.3mg/l); sau đó là các huyện Nam Trực (40mg/l), Ý Yên và Trực Ninh (30mg/l) Hàm lượng Clorua trong nước ngầm huyện Vụ Bản cũng cao nhất, có nơi trong huyện hàm lượng Clorua lên tới 2200 mg/l gấp 8.8 lần TCCP (250mg/l), các huyện khác hàm lượng Clorua đều cao hơn Kết quả quan trắc chất lượng nước qua hai thông số điển hình trên cho thấy chất lượng nước ngầm trong tỉnh không đạt tiêu chuẩn sử dụng cho ăn uống, vì vậy cần phải được xử lý trước khi sử dụng cho sinh hoạt, đặc biệt là ăn uống để đảm bảo sức khỏe, giảm nguy cơ nhiễm các loại bệnh tật
3.2.2 Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt từ công trình cấp nước tập trung
Tính đến hết năm 2010, toàn tỉnh đã có trên 85% số dân được sử dụng nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó có sự đóng góp to lớn và hiệu quả của mô hình cấp nước sạch liên xã do Công ty Cổ phần Nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định triển khai Hiện tại, đã có 9 nhà máy nước đã đi vào vận hành và 6 nhà máy đang trong giai đoạn xây dựng, dự kiến hoàn thành và đi vào hoạt động vào cuối năm 2013
Bảng 3 Bảng thống kê công trình cấp nước và số hộ được tiếp cận nước sạch từ công
trình cấp nước tập trung tỉnh Nam Định