HST đảo biển có nhiều lợi thế cho phát triển du lịch, nghỉ dưỡng, song cũng có những thách thức, diện tích đảo có hạn, nguồn nước ngọt không phong phú, môi trường dễ bị tổn thương, HST k
Trang 1-
Lê Thị Hoa
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
SINH THÁI TẠI ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2012
Trang 2-
Lê Thị Hoa
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
SINH THÁI TẠI ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Mã số : 608502
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS Lê Đức Tố
Hà Nội – 2012
Trang 3Luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành Sinh thái môi trường “Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” đã được hoàn thành vào tháng 12/2012 Để hoàn thành được luận văn, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Đức Tố, giáo viên hướng dẫn trực tiếp, người đã tận tình chỉ bảo cho việc định hướng cũng như hoàn thiện luận văn và đồng thời tạo mọi điều kiện để tôi được tiếp cận với những phương pháp nghiên cứu, tài liệu mới nhất phục vụ cho luận văn đạt được kết quả tốt nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Môi trường nói chung và các thầy cô trong bộ môn Sinh thái Môi trường nói riêng, đặc biệt là PGS.TS Trần Văn Thụy đã kịp thời giải đáp và tháo gỡ những khó khăn cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đặc biệt là các bạn lớp K18 Cao học Khoa học Môi trường đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn để tôi hoàn thành tốt mọi công việc
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Lê Thị Hoa
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH VẼ v
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Kinh tế sinh thái 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Mục tiêu 5
1.1.3 Cách tiếp cận 5
1.1.4 Những lưu ý trong phát triển đảo biển 6
1.1.5 Ý nghĩa và vai trò của kinh tế sinh thái đối với đảo biển 6
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 7
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 10
1.3 Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu 20
2.2.1 Tiếp cận hệ thống 20
2.2.2 Tiếp cận phát triển bền vững 21
2.2.3 Tiếp cận tổng hợp và liên ngành 22
2.2.4 Tiếp cận sinh thái học 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc tài liệu 22
2.3.2 Phương pháp khảo sát thực tế 23
Trang 52.3.3 Phương pháp chuyên gia 23
2.3.4 Phương pháp phân tích hệ thống 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên 25
3.1.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo 25
3.1.2 Đặc điểm thổ nhưỡng 26
3.1.3 Địa chất 27
3.1.4 Điều kiện khí tượng thủy văn 28
3.1.5 Điều kiện hải văn 32
3.1.6 Điều kiện về tài nguyên thiên nhiên 36
3.1.7 Nguồn lợi sinh vật vùng biển Lý Sơn 43
3.1.8 Đặc điểm hệ sinh thái đảo Lý Sơn 44
3.2 Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội 48
3.2.1 Dân số, lao động và phân bố dân cư 48
3.2.2 Văn hóa, giáo dục, y tế 51
3.2.3 Kinh tế 53
3.3 Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên đảo Lý Sơn 62
3.3.1 Khai thác nước ngầm và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp 62
3.3.2 Hiện trạng khai thác và sử dụng đất 64
3.2.3 Khai thác cát san hô 73
3.2.4 Khai thác và đánh bắt thủy sản bằng phương pháp hủy diệt 74
3.4 Hiện trạng môi trường đảo Lý Sơn 76
3.4.1 Hiện trạng môi trường nước 76
3.4.2 Hiện trạng chất thải rắn 82
3.4.3 Hiện trạng môi trường đất 84
Trang 63.5 Hiện trạng các hệ sinh thái đặc trưng 86
3.5.1 Hiện trạng HST san hô 86
3.5.2 Hiện trạng HST thảm cỏ biển 86
3.6 Thuận lợi và thách thức 87
3.6.1 Thuận lợi 87
3.6.2 Thách thức 89
3.7 Định hướng phát triển kinh tế sinh thái đảo Lý Sơn 90
3.7.1 Xây dựng khu bảo tồn biển 90
3.7.2 Định hướng phát triển trong khu bảo tồn biển 97
3.7.3 Định hướng phát triển ngoài khu bảo tồn biển 105
3.7.4 Giải pháp thực hiện 108
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3-1: Diện tích, cơ cấu các loại đất chia theo độ dốc, tầng dày 27
Bảng 3-2: Bảng số liệu nhiệt độ (oC) không khí tháng (1985 - 2009) 29
Bảng 3-3: Bảng số liệu độ ẩm (%) tháng (1985 – 2009) 30
Bảng 3-4: Bảng số liệu mưa (mm) trung bình tháng (1985 – 2009) 30
Bảng 3-5: Tốc độ gió trung bình và mạnh nhất tháng 31
Bảng 3-6: Bảng tần suất gió theo các hướng 31
Bảng 3-7: Tần suất mực nước giờ tại Lý Sơn 32
Bảng 3-8: Bảng tổng hợp hiện trạng gia tăng dân số 49
Bảng 3-9 Cơ cấu lao động qua các thời kỳ 50
Bảng 3-10: Bảng thống kê dân số Lý Sơn đến cuối năm 2010 51
Bảng 3-11: Lao động theo nông nghiệp và phi nông nghiệp 53
Bảng 3-12: Tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp thời kỳ 2005-2010 55
Bảng 3-13: Diện tích và sản lượng của các loại cây trồng thời kỳ 2005-2010 55
Bảng 3-14: Tổng sản lượng ngành thủy sản thời kỳ 2005-2010 56
Bảng 3-15: Giá trị sản xuất nông lâm và thủy sản huyện Lý Sơn năm 2010 57
Bảng 3-16: Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 đảo Lý Sơn 66
Bảng 3-17: Tên và diện tích khu vực chức năng [20] 94
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Mô hình kinh tế sinh thái ven biển ở CHLB Đức [15] 9
Hình 1.2: Khu kinh tế mới tại đảo Ngọc Vừng 11
Hình 1.3: Vườn “âm phủ” và ao thả cá tại làng cát Hải Thủy, Quảng Bình 13
Hình 1.4: Xây dựng cơ sở hạ tầng cho mô hình KTST hộ gia đình 14
Hình 1.5: Vườn thực nghiệm trong mô hình KTST hộ gia đình 15
Hình 1.6: Sơ đồ vị trí huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi 16
Hình 1.7: Đảo Lý Sơn chụp từ vệ tinh và từ trên tàu cao tốc 17
Hình 3.1: Bản đồ đẳng sâu khu vực biển ven bờ Lý Sơn 25
Hình 3.2: Hệ thống dòng chảy biển tháng 2 và tháng 8 34
Hình 3.3: Hồ chứa nước trên đỉnh núi Thới Lới 37
Hình 3.4: Bản đồ hiện trạng nước ngầm đảo Lý Sơn [9] 39
Hình 3.5: Một số loài san hô tại đảo Lý Sơn 45
Hình 3.6: Cỏ biển đảo Lý Sơn 47
Hình 3.7 Tưới nước cho cánh đồng hành của người nông dân 63
Hình 3.8: Giếng khoan và máy bơm là điều hay bắt gặp trên những cánh đồng ở Lý Sơn 63
Hình 3.9: Làm đất 65
Hình 3.10: Cơ cấu sử dụng đất năm 2010 đảo Lý Sơn 67
Hình 3.11: Hiện trạng sử dụng đất đảo Lý Sơn năm 2010 [9] 67
Hình 3.12: Khai thác cát biển 74
Hình 3.13: Một con cá kìm vừa bị chết do thuốc nổ trôi dạt vào bờ 75
Hình 3.14: Vị trí lấy mẫu phân tích chất lượng nước [20] 76
Hình 3.15: Biểu đồ diễn biến giá trị pH 77
Hình 3.16: Biểu đồ giá trị DO trong nước 78
Hình 3.17: Biểu đồ giá trị TSS trong môi trường nước 80
Hình 3.18: Biểu đồ giá trị COD trong môi trường nước 81
Hình 3.19: Rác thải tại cầu cảng trên đảo Lý Sơn 81
Hình 3.20: Người dân vô tư xả rác ra biển 83
Hình 3.21: Bản đồ quy hoạch tổng thể khu BTB Lý Sơn [20] 93
Hình 3.22: Sơ đồ phân khu chức năng trên đảo 98
Hình 3.23: Sơ đồ hệ thống thông tin dự báo ngư trường khai thác xa bờ [4] 103
Hình 3.24: Sơ đồ hệ thống thông tin dự báo ngư trường khai thác xa bờ của JFIC - Trung tâm dịch vụ thông tin nghề cá Nhật Bản 104
Trang 10MỞ ĐẦU
Việt Nam là quốc gia ven biển, có vùng thềm lục địa đặc quyền kinh tế rộng lớn, hơn một triệu kilomet vuông, với hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, hai quần đảo lớn ngoài khơi là Hoàng Sa thuộc Thành phố Đà Nẵng và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa, là tiềm năng to lớn cho phát triển đất nước Ngày nay, thời đại kinh tế hội nhập toàn cầu, Biển Đông Việt Nam là cửa mở lớn giao lưu với các nước khu vực và quốc tế
Hàng trăm năm nay, nhân dân Việt Nam đã gắn bó với biển, khai thác tiềm năng biển Biển, không chỉ nuôi sống cộng đồng dân cư ven biển mà còn cung cấp các sản phẩm của biển cho cả dân tộc Việt Nam Trong thời kỳ kinh tế hội nhập quốc tế, lợi thế về biển là điều kiện, là thời cơ Việt Nam làm giầu từ biển, mạnh lên
từ biển Phát triển kinh tế biển phải có chiến lược Khoa học và công nghệ phải thực
sự là động lực phát triển của lĩnh vực liên quan đến biển
Hệ thống đảo ven bờ có vị trí là tiền đồn của đất nước, là cầu nối để vươn ra biển xa Mỗi đảo là những hệ sinh thái (HST) biển đa dạng học cao, phong phú về nguồn lợi biển, đồng thời là các trung tâm nuôi dưỡng, phát triển nguồn gen sinh vật cho cả vùng biển Khí hậu hải dương trong lành, môi trường sạch và yên tĩnh, không hoặc ít chịu tác động của lục địa là một ưu thế của đảo biển HST đảo biển có nhiều lợi thế cho phát triển du lịch, nghỉ dưỡng, song cũng có những thách thức, diện tích đảo có hạn, nguồn nước ngọt không phong phú, môi trường dễ bị tổn thương, HST kém bền vững, cần nghiên cứu phát triển bền vững và phát triển kinh
tế sinh thái là một hướng đi phù hợp Trong những năm cuối của thế kỷ 20, kinh tế
du lịch sinh thái (DLST) biển đảo nổi lên như một điểm nhấn của kinh tế hội nhập
đã đem lại phồn vinh cho các quốc gia có biển, trong đó có Việt Nam
Lý Sơn hay còn gọi là Cù Lao Ré là đảo ven bờ nằm ở miền Trung Việt Nam, cùng với đảo Cù Lao Chàm là 2 đảo có tầm quan trọng chiến lược của miền Trung Việt Nam, nằm trên con đường biển từ Bắc vào Nam, ngay cửa ngõ khu kinh
tế Dung Quất, khu kinh tế trọng điểm miền Trung Đảo Lý Sơn là một HST nhiệt
Trang 11đới rất đặc trưng, phát triển trên nền đá bazan và có hệ động thực vật biển phong phú, tính đa dạng sinh học cao, cảnh quan hùng vĩ, giàu tài nguyên
Với diện tích khoảng 10km2 nhưng đảo Lý Sơn có tới 21 nghìn dân là đảo có
số dân đông nhất trong các đảo ven bờ của Việt Nam Dân số tập trung đông đúc trên một diện tích đất đang ngày bị thu hẹp là một sức ép lớn đối với môi trường Dân cư đa số có thu thập thấp, trình độ dân trí chưa cao, ý thức bảo vệ môi trường còn kém Rác thải sinh hoạt từ dân cư chưa được thu gom và xử lý Canh tác nông nghiệp trên đảo vẫn là canh tác lạc hậu Tình hình khai thác, đánh bắt nguồn lợi thủy hải sản bằng phương pháp hủy diệt vẫn diễn ra chưa có chiều hướng giảm Sự cân bằng của HST san hô và cỏ biển và tính đa dạng sinh học của các HST này đang
bị đe dọa nghiêm trọng do tình trạng hút cát để trồng tỏi, đánh bắt thủy sẳn bằng thuốc nổ và chất độc Tất cả điều này đi ngược lại với chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội theo hướng mở rộng ra biển đã được Chính phủ xác định (đến 2050, kinh tế biển chiếm 53% GDP) và phát triển theo hướng bền vững với môi trường
Dù điều kiện tự nhiên có ưu thế nhưng tiềm năng là có giới hạn Muốn duy trì sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của huyện đảo Lý Sơn, cần phải có ngay những hành động điều chỉnh phát triển của huyện đảo Cần xem xét mối quan HST của HST trên đảo và HST của vùng nước xung quanh đảo Đồng thời, cần xem xét mối quan hệ kinh tế - xã hội của Lý Sơn với kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi
Để đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững biển, đảo Lý Sơn, kinh tế sinh thái chính
Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu chính của đề tài:
Trang 12Xây dựng cơ sở khoa học cho mô hình phát triển kinh tế sinh thái đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, phát hiện tiềm năng phát triển và những hạn chế trong phát triển của đảo Lý Sơn
Nhiệm vụ 2: Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội trên đảo
Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiện trạng môi trường
Nhiệm vụ 4: Đưa ra được những kết luận sau
- Những thuận lợi và thách thức, chọn con đường hủy diện hay tồn tại và phát triển;
- Xu thế thời đại và con đường phải chọn để vươn lên làm giầu đó chính là kinh tế sinh thái;
- Thành lập khu bảo tồn biển nhằm bảo tồn các HST trên biển và trên đảo; phân khu chức năng trong khu bảo tồn; phát triển kinh tế sinh thái - dịch vụ cao cấp;
- Giải pháp cụ thể
Bố cục của luận văn không kể mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo
và phụ lục gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan;
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Sau đây là chi tiết của luận văn
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Kinh tế sinh thái
1.1.1 Khái niệm
Kinh tế sinh thái học (KTST) là một lĩnh vực nghiên cứu giải quyết mối quan
hệ giữa các HST và các hệ thống kinh tế (Constaza và nnk, 1991) và bước đầu tập trung vào việc đưa kinh tế học và các nguyên lý sinh thái lại gần nhau [9]
KTST có một cái nhìn rộng hơn so với kinh tế cổ điển và nhận ra rằng có nhiều điều mà góp phần vào đời sống con người chẳng hạn như y tế và giáo dục (nguồn vốn con người), bạn bè và gia đình (nguồn vốn xã hội) và hệ thống sinh học
và vật lý của trái đất (nguồn vốn tự nhiên)
Có bốn loại nguồn vốn được xem xét trong KTST [23]:
- Nguồn vốn xây dựng: là một loại nguồn vốn được sử dụng khi nói về kinh
tế cổ điển Nó dùng để chỉ hàng hóa và dịch vụ được tạo ra bởi ngành công nghiệp của con người - các tòa nhà, xe hơi, đồ gia dụng, đường giao thông, đồ chơi, v.v
- Nguồn vốn tự nhiên: là một khái niệm chỉ ra tầm quan trọng và giá trị của hàng hoá và dịch vụ được cung cấp bởi thiên nhiên Nó vượt xa nhận định truyền thống khi xem xét sản phẩm tự nhiên chỉ là nguyên liệu cho việc chuyển đổi thành hàng hoá (cây xây dựng nhà hay làm giấy) để xem xét các chức năng được cung cấp bởi hệ thống hành tinh (khí thở, khí hậu ổn định) hoặc các HST địa phương (phòng chống lũ lụt của vùng đất ngập nước ven biển, giữ nước, lọc nước của những cánh rừng) Đôi khi giá trị tiền tệ của các dịch vụ HST có thể được tính toán, chẳng hạn như chi phí để thay thế chúng so với vốn xây dựng (vùng đất ngập nước ven biển với những con đê) Tuy nhiên, một số dịch vụ tự nhiên là vô giá Chúng rất cần thiết cho cuộc sống, và không thể thay thế (khí thở) Nguồn vốn tự nhiên bao gồm các nguồn vốn tự nhiên có thể tái sinh và nguồn vốn tự nhiên không thể tái sinh Nguồn vốn tự nhiên có thể tái sinh tự duy trì thông qua quá trình quang hợp bằng chất diệp
Trang 14vốn tự nhiên không tái sinh được nhìn nhận như một nguồn thu động, bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản
- Nguồn vốn xã hội đề cập đến những lợi ích tích cực đã đạt được thông qua tương tác giữa con người với con người trong xã hội (bạn bè, gia đình, nhóm xã hội) và các cấu trúc chung của xã hội (ngôn ngữ, các tổ chức, hệ thống giáo dục, pháp luật) Nguồn vốn xã hội đóng góp lớn trong đời sống con người, nhưng rất khó
để định lượng về tiền tệ
- Nguồn vốn con người: là tổng hợp sức khỏe con người, kinh nghiệm cá nhân, giáo dục, tài năng, kỹ năng và lợi ích Nguồn vốn con người (và nguồn vốn xã hội) không thể đạt được tối đa trừ khi có công bằng xã hội, khi sự tiếp cận với những cơ hội mà xã hội mang lại là như nhau
1.1.2 Mục tiêu
- Duy trì đa dạng sinh học;
- Đảm bảo phát triển bền vững các HST tại khu vực và có sức lan tỏa;
- Đảm bảo sự phát triển bền vững hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái
1.1.3 Cách tiếp cận
- Ứng dụng công nghệ cao trong khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm giảm chi phí, đảm bảo lợi ích kinh tế cao và bền vững Đối với đảo biển ven bờ nhiệt đới thì KTST, trong đó phát triển DLST là mục tiêu chủ đạo;
- Tiếp cận sinh thái, tổng hợp: biển là HST dễ bị tổn thương, kém bền vững, phụ thuộc nhiều vào các quá trình tự nhiên và đặc biệt nhạy cảm với các hoạt động nhân sinh Cân bằng sinh thái đảm bảo duy trì các chức năng, giá trị, bảo vệ được tài nguyên – thiên nhiên của biển cũng là nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Để đạt được mục tiêu này, mọi hoạt động về khai thác, sử dụng HST biển phải được tiến hành trong khả năng chịu đựng và phục hồi của các HST biển Việc
Trang 15quản lý bền vững biển phải dựa trên tiếp cận sinh thái học (ecosystem approach) Mặt khác, để đánh giá những mâu thuẫn lợi ích trong phát triển đảo biển cần phải có cái nhìn tổng thể để thấy rõ các mối quan hệ, các mâu thuẫn phát sinh và phương hướng giải quyết, giảm thiểu
1.1.4 Những lưu ý trong phát triển đảo biển
Uỷ ban liên Chính phủ về Hải dương học IOC ( Intergovernmental Oceanographic Commission) đã đưa ra những khuyến cáo trong phát triển đảo biển:
- Nghiêm cấm phát triển công nghiệp sử dụng nhiều nước sạch, gây ô nhiễm môi trường đặc biệt là công nghiệp thực phẩm Nước trên đảo là khan hiếm, do vậy nước sạch chỉ phục vụ dân sinh;
- Bảo vệ và duy trì các HST trên đảo đặc biệt là các HST nông lâm nghiệp, các HST biển (rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, );
- Các tác động động lực đến bờ biển đảo luôn luôn phải có các công trình bảo vệ đảo, chống đỡ các tác động của thiên nhiên như sóng, nước biển dâng, bão
lũ, xói mòn sạt lở;
- Khai thác nước ngầm quá mức sẽ gây ra hiện tượng nhiễm mặn, gây sạt lở
và sụt lún
1.1.5 Ý nghĩa và vai trò của kinh tế sinh thái đối với đảo biển
Đảo biển là một HST kém bền vững vì có những đặc trưng riêng khác với đất liền, chịu tác động trực tiếp từ những điều kiện tự nhiên xung quanh là biển và đại dương, các mối quan hệ giữa các thành phần trong HST đảo không chặt chẽ và
dễ bị tổn thương và khi có tác động tiêu cực từ bên ngoài vào thường làm rối loạn chức năng, cân bằng trong hệ bị phá vỡ và dẫn đến suy thoái
Những hoạt động sản xuất không phù hợp với các quy luật tự nhiên và đặc biệt là các quy luật phát triển của HST thường làm suy thoái HST đó Điều này
Trang 16của dân cư sống trên vùng sinh thái nhạy cảm, kém bền vững đó Nhất là khi diện tích đảo thì có hạn, và khi dân số tăng cao, quỹ đất cho sản xuất ngày một giảm
KTST với quan điểm chủ đạo là phát triển bền vững sẽ là một giải pháp hữu ích và là duy nhất cho phát triển kinh tế xã hội ở đảo biển KTST giúp cải tạo các HST nhạy cảm, kém bền vững ở đảo biển thành các HST bền vững hơn, giảm mức
độ suy thoái môi trường, đồng thời nâng cao được đời sống cho người dân KTST dựa trên những hiểu biết về các quy hoạt động của các HST, những kiến thức bản địa về trồng trọt, chăn nuôi kết hợp với những kiến thức khoa học hiện tại Đối với đảo biển, công tác điều tra nghiên cứu đánh giá nguồn vốn tự nhiên đảo biển phải tuân thủ quy định của Tổ chức Hải dương học liên chính phủ (IOC) đã tổng kết kinh nghiệm phát triển kinh tế của các quốc gia có đảo biển phát triển, đó là: chất lượng môi trường trên đảo và nhất là vùng nước xung quanh đảo, dự đoán tai biến thiên nhiên tiềm ẩn và có kế hoạch phòng tránh, bảo vệ và phát triển các HST, sử dụng hợp lý nguồn lợi sinh vật
Chức năng của HST phải được đánh giá trong những điều kiện tự nhiên cụ thể (ở đây là đảo biển) và ngưỡng suy giảm không phục hồi của các HST phụ thuộc vào nhận thức về chức năng của chúng KTST đảo biển là sự khai thác đồng thời đan xen hỗ trợ lẫn nhau HST rừng, HST dưới biển, DLST và ngư nghiệp, trong đó DLST là động lực phát triển bền vững Đảo biển có nhiều lợi thế về sinh thái cảnh quan và dịch vụ nhưng các HST đảo biển lại kém bền vững Vì vậy phát triển KTST
là con đường duy nhất
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1 Lịch sử phát triển
Lợi ích về sinh thái và kinh tế sớm được nhận ra vào những năm 1960 và được nghiên cứu bởi các nhà khoa học Kenneth Boulding và Herman Daly, nhưng vấn đề này lần đầu tiên được đề cập tại cuộc họp diễn ra vào những năm 1980 Cụ
Trang 17thể là tại một hội nghị được tổ chức vào năm 1982 tại Thụy Điển có sự tham dự của những người sau này sẽ là nòng cốt trong lĩnh vực nghiên cứu về kinh tế sinh thái, bao gồm Robert Costanza, Herman Daly, Charles Hall, Ann-Mari Jansson, Bruce Hannon, HT Odum, và David Pimentel Hầu hết các nhà khoa học tham dự đều là các nhà sinh thái học hay nhà kinh tế môi trường
Năm 1988, một cuốn sách có tựa đề Kinh tế sinh thái, bởi Juan Alier, đã được xuất bản Một năm sau đó, Hiệp hội Quốc tế Kinh tế sinh thái (ISEE) được thành lập bởi Robert Costanza để thúc đẩy kinh tế sinh thái và hỗ trợ các nhà kinh tế sinh thái và các nhà xã hội liên quan Hiệp hội công bố tạp chí Kinh tế sinh thái hàng tháng, sách và các tài liệu khác, và tổ chức các cuộc họp định kỳ và các hội nghị để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh tế sinh thái có tiếng nói của mình
Martinez-Cho đến nay, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu liên quan đến kinh
tế sinh thái trên thế giới và các mô hình kinh tế sinh thái thành công trên thế giới cũng được phát triển ngày càng rộng rãi Điều này chứng tỏ sự cần thiết của phát triển kinh tế sinh thái nhằm mục tiêu duy trì sự đa dạng sinh học và phát triển bền vững cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái
1.2.1.2 Một số mô hình kinh tế sinh thái trên thế giới
a Mô hình kinh tế sinh thái ven biển tại Cộng hòa Liên bang Đức
Ở Cộng hoà Liên bang Đức, người ta đắp đê chống sạt lở bờ biển dài hàng chục kilomet thật kiên cố theo kiểu sinh thái Đê được xây cao hàng chục mét, mái
đê thoải và rộng đến nửa cây số, tạo ra cánh đồng cỏ để nuôi bò, nuôi cừu, dưới chân đê là kè đá làm đường bê tông rộng 5 - l0m, ô tô chở khách du lịch tham quan
có thể chạy từ tỉnh này đến tỉnh khác (hình 1.1) Mùa hè cỏ mọc xanh tốt được cắt phơi khô để dành cho bò ăn trong mùa đông giá lạnh, cỏ non tái mọc người ta thả cừu ăn cỏ và cừu lại bón phân cho đất, đến mùa hè năm sau cỏ lại mọc xanh tốt
Trang 18Hình 1.1: Mô hình kinh tế sinh thái ven biển ở CHLB Đức [15]
Bên trong đê ở các độ cao khác nhau là các khách sạn, du khách có thể phơi nắng trên các thảm cỏ, thưởng thức cái thơm của hương “đồng nội” và cái mát lành của gió biển, quên đi những mệt nhọc của những ngày làm việc căng thẳng Đây là công trình nghiên cứu của Viện Đại học sinh thái Kill chuyên nghiên cứu, phục hồi các HST và phát triển kinh tế-sinh thái vùng ven biển tây bắc nước Đức
b Mô hình du lịch biển đảo tại các quốc gia ven biển
Du lịch biển đảo là một thể thống nhất, nước biển, bờ biển, đáy biển, đảo biển, các HST biển và khí hậu biển Hiện nay, dải ven biển vĩ độ thấp và vừa đều là các điểm nóng du lịch Các quốc gia ven biển rất coi trọng việc khai thác nguồn tài nguyên du lịch biển ven bờ Hoạt động du lịch biển luôn đáp ứng 3 nhu cầu của con người mà các loại hình khác không thể có được: sinh tồn, hưởng thụ và phát triển Các nước phát triển đều là quốc đảo, bán đảo hoặc quốc gia ven biển như Nhật Bản,
Hà Lan, Iceland, Thụy Điển Đảo biển có nhiều ưu thế, khí hậu hải dương trong lành, cảnh quan thiên nhiên đa dạng, phong phú Nhiều đảo trên thế giới đã phát triển thành thánh địa du lịch nổi tiếng như Tahiti, nằm ở khu vực nam Thái Bình Dương, có rặng dừa xanh ngút ngàn, nước biển xanh như ngọc, Bali (Indonexia), Hải Nam (Trung Quốc), Hawai (Mỹ) là những thiên đường của du lịch Nhưng không đâu giống như đảo Malta nằm trong Địa Trung Hải, có diện tích 316km2, chỉ bằng 1/2 đảo Phú Quốc, có đỉnh núi cao 253m, thiếu nước ngọt nghiêm trọng, thực vật kém phát triển, hàng ngày phải vận chuyển nước tới từ Italy và từ Pháp Do
Trang 19nhận thức được vị trí quan trọng của đảo, người ta đã “biến không thành có” xây dựng Malta thành trung tâm du lịch nổi tiếng Địa Trung Hải, là nơi tấp nập các hội nghị quốc tế lớn và nổi tiếng thế giới bởi các hàng thủ công mỹ nghệ bằng vàng và đồng, thu nhập của cộng đồng dân cư vào loại cao trên thế giới
Quần đảo Chu Sơn, một thắng cảnh du lịch nghỉ ngơi dạng quần đảo trên một vùng biển rộng lớn của Trung Quốc có tới 1.339 hòn đảo được mang danh là thành phố nghìn đảo Ở Chu Sơn, khí hậu tốt, phong cảnh hấp dẫn, vừa có cảnh quan thiên nhiên đẹp đầy ánh nắng, nước biển, bãi cát, đảo đá đẹp, lại có cả cảnh quan nhân văn như tôn giáo, nghề chài lưới, nhiều phong tục tập quán độc đáo, du khách có thể du ngoạn, khảo sát, khám phá những điều kỳ lạ [15]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.2.1 Lịch sử phát triển
Những lý luận về phát triển KTST ở Việt Nam còn chưa phát triển [18] Tại Việt Nam, GS Nguyễn Văn Trương là người đầu tiên có những nghiên cứu về kinh
tế sinh thái Ông là người đã sáng lập ra Viện Kinh tế sinh thái (Eco-Eco) vào năm
1990 Mục tiêu của Viện Kinh tế sinh thái là tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế của các hộ nghèo cho các hộ gia đình sống ở trong HST kém bền vững: vùng đất trống, đồi núi trọc, vùng cát hoang hóa ven biển, các vùng đồng bằng úng ngập nước Từ năm 1993 đến năm 2005, Viện KTST đã và đang xây dựng trong 3 HST kém bền vững, mỗi hệ ít nhất 5 làng sinh thái [18] Đến nay, Viện KTST đã hoàn thành xây dựng 13 làng sinh thái Vào thời điểm hiện tại, các mô hình Làng kinh tế sinh thái ở Việt Nam mới ở thời kỳ thử nghiệm Trong quá trình tìm kiếm những phương thức sản suất thích hợp vừa có vai trò tạo ra của cải vật chất, vừa có chức năng bảo vệ môi trường thì việc nghiên cứu điển hình là rất cần thiết, từ đó nhân rộng mô hình
Ngoài những nghiên cứu của Viện Kinh tế sinh thái về các HST trên đất liền,
Trang 20cũng có Đề tài nghiên cứu Luận chứng Khoa học về một số mô hình phát triển KTST trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam bao gồm: đảo Ngọc Vừng (Quảng Ninh), đảo Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và đảo Hòn Khoai (Cà Mau) Kết quả đề tài cung cấp những nhận thức đầy đủ hơn và rõ ràng hơn về giá trị sinh thái của hệ thống đảo ven bờ Việt Nam cũng như ý nghĩa của sự phát triển KTST trong đó phát triển bền vững là xu thế tất yếu của thời đại
1.2.2.2 Một số mô hình kinh tế sinh thái tại Việt Nam
a Mô hình kinh tế mới ở đảo Ngọc Vừng, Quảng Ninh
Trong những năm 80 của thế kỷ trước, nhà nước ta đã có chủ trương di dân ra các đảo để phát triển kinh tế, là chủ trương đúng đắn, song các giải pháp thực hiện không trên cơ sở khoa học sinh thái đảo, đã bê nguyên mô hình xóa đói giảm nghèo trên đất liền ra đảo, để lại những hậu quả nặng nề Mỗi hộ dân di cư ra đào gọi là hộ
“kinh tế mới” được trợ cấp một năm lương thực, một khoản tiền nhỏ nhoi 4 -5 triệu đồng làm vốn và một căn hộ 30m2
trên khuôn viên đất cát rộng khoảng 80 - 100m2 (hình 1.2) Nguồn vốn sản xuất không rõ ràng, nguồn vốn con người lại là đội quân dân trí thấp, không có kỹ thuật, không vốn liếng Sau một vài năm, người dân nơi đây do không có các dịch vụ và điều kiện phát triển kinh tế nên đã trở về đất liền
Hình 1.2: Khu kinh tế mới tại đảo Ngọc Vừng
Dân địa phương sống ở trên đảo đã có thâm niên hàng chục năm thậm chí trăm năm, là những người đầu tiên khai phá đất này nên họ có điều kiện sinh thái thuận lợi hơn, có ruộng có vườn, có nghề thu lượm đặc sản bãi triều kiếm tiền, tuy vậy vẫn là dân nghèo Chúng ta được gì từ thực trạng này, ngoại trừ các đảo nằm
Trang 21trong ngư trường khai thác hải sản truyền thống như Bạch Long Vĩ, Hòn Mê, Phú Qúy, Phú Quốc, nghề khai thác hải sản của người dân sống trên các đảo không đảm bảo cuộc sống tối thiểu, thường phải kết hợp nông nghiệp Dân sống trên đảo phải
Phương án được đề ra là: 1) Xây dựng hệ thống đai rừng phi lao chắn gió, chống cát bay để ổn định đất, ổn định độ ẩm; 2) Xây dựng vườn “âm phủ” 1 để khai thác nguồn ẩm của cát, trồng khoai, đậu, lạc và rau xanh; 3) Đào ao dự trữ nước để tưới cây và kết hợp nuôi cá, thả bèo phát triển chăn nuôi và nối giữa các ao để nước
từ chỗ nhiều chảy xuống chỗ ít nước hơn
Sau 5 năm thực hiện, từ một vùng sinh thái khô hạn trên cồn cát đã trở thành một làng sinh thái được nguồn nước ngầm cồn cát nuôi dưỡng, cây cối phát triển Mỗi gia đình có vườn “âm phủ” từ 100 – 1000m2, rau màu xanh tốt, lại có ao thả cá, đai rừng phi lao phát triển có tác dụng chắn cát, giữ ẩm cho đất (hình 1.3)
1
vườn “âm phủ”: về nguyên lý trên cát lượng mưa dồi dào hàng năm rơi xuống được tích lũy dưới lớp cát
Trang 22Hình 1.3: Vườn “âm phủ” và ao thả cá tại làng cát Hải Thủy, Quảng Bình
c Mô hình phát triển kinh tế sinh thái và du lịch thung lũng Đồng Chùa, đảo Cù Lao Chàm
Mô hình này là mô hình thử nghiệm nằm trong Đề tài của chương trình Khoa học và Công nghệ biển KC 09-12 của GS TS Lê Đức Tố, GS.TSKH Lê Đức An, PGS.TS Đặng Văn Bào
Cù Lao Chàm là cụm đảo gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ, khác nhau về sinh thái Tuy nhiên, có một đặc điểm chung là thảm thực vật ở đây khá nghèo nàn, khô cằn, lớp thổ nhưỡng kém phát triển Nghiên cứu cho thấy, để phát triển kinh tế bền vững trên đảo Cù Lao Chàm, cần thiết phải phát triển KTST, trong đó DLST là chủ đạo
Đảo Cù Lao Chàm với những đặc thù về sự phong phú của các HST biển, HST đồi núi trên đá granit và các HST nông nghiệp dọc trũng nhỏ hẹp giữa núi, chúng cần được quy hoạch, khôi phục lại nhằm mục tiêu bảo tồn và tham quan Một trong những khu mô hình KTST được lựa chọn là khu vực thung lũng Đồng Chùa
Tại đây, các nhà khoa học đã xây dựng một mô hình kinh tế sinh thái quy mô
hộ gia đình với nhà nghỉ và công viên cây cảnh với các loài quý tại đảo Đây sẽ là điểm nhấn về du lịch tại Cù Lao Chàm:
- Diện tích dành cho xây dựng nhà ở thoáng mát rộng 300 m2, trên đó đã xây dựng một nhà nghỉ, một nhà ở của chủ và các công trình phụ (hình1.4)
Trang 23Hình 1.4: Xây dựng cơ sở hạ tầng cho mô hình KTST hộ gia đình
- Trong vườn thực nghiệm, tiến hành thu thập và khôi phục các loài cây đặc trưng trên đảo như cây thiên tuế và các cây làm thuốc; trồng các loại cây ăn quả như cóc, xoài Thái, chuối, chanh miền Nam; các loài cây cảnh như hồng diệp Ngoài ra, trong vườn thực nghiệm còn xây dựng vườn ươm, bể chứa nước để lấy nước tưới cho cây trồng trong vườn (hình 1.5)
Khách du lịch đến với đảo sẽ được nghỉ dưỡng trong chính những ngôi nhà của người dân, người dân sẽ là những hướng dẫn viên du lịch, hướng dẫn du khách tham quan các HST trên đảo và xung quanh đảo, tuyên truyền bảo vệ môi trường sinh thái cho du khách Như vậy, các HST trên đảo và xung quanh đảo được bảo tồn trong khi vẫn phát triển được kinh tế DLST
Trang 24Hình 1.5: Vườn thực nghiệm trong mô hình KTST hộ gia đình
Trang 251.3 Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu
Lý Sơn là một huyện ở phía Đông của tỉnh Quảng Ngãi, cách Cảng Sa Kỳ 18 hải lý về phía Đông Bắc, cách Cảng nước sâu và Khu công nghiệp Dung Quất 25 hải lý về phía Đông Huyện Lý Sơn nối với đất liền Quảng Ngãi bằng đường biển qua cửa biển Sa Kỳ Huyện đảo có tọa độ địa lý như sau:
- Từ 15o32’04’’ đến 15o38’14’’ vĩ độ Bắc
- Từ 109o05’04’’ đến 109o14’12’’ kinh độ Đông
Hình 1.6: Sơ đồ vị trí huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi
Vị thế này của Lý Sơn đưa huyện đảo trở thành đơn vị hành chính cấp tiền tiêu của đất nước án ngữ về phía Đông miền Trung Trung Bộ, nằm trên con đường
ra biển Đông của khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung qua cửa ngõ Dung Quất, bao quát toàn bộ tuyến đường giao thông trên biển Đông từ Bắc vào Nam và ngược lại
Trang 26Hình 1.7: Đảo Lý Sơn chụp từ vệ tinh và từ trên tàu cao tốc
Lý Sơn nằm ở phía bắc bồn trũng2 Phú Khánh và là cầu nối từ đất liền ra bồn trũng dầu khí Hoàng Sa, đây là những bồn trũng có nhiều triển vọng về dầu khí đang được quan tâm thăm dò Do đó, Lý Sơn có thể là cầu nối và đóng một vai trò
2 bồn trũng: là nơi tích tụ trầm tích, do đó có khả năng sinh dầu và khí
Trang 27quan trọng trong dịch vụ dầu khí đối với quá trình khai thác dầu khí ở hai bồn trũng này trong tương lai
Lý Sơn nằm trong vùng đa dạng sinh học Đại Lãnh - Vũng Tàu, được đánh giá là có đa dạng sinh học rất cao trong 6 vùng đa dạng sinh học biển ở Việt Nam,có HST rạn san hô và cỏ biển phát triển, nơi có nhiều nguồn lợi hải sản ven bờ và xa
bờ [9] Đảo Lý Sơn là nơi chuyển tiếp hệ thống hoàn lưu bề mặt biển thời kỳ gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc tạo ra thời gian dừng khi chuyển tiếp từ gió Đông Bắc sang gió Tây Nam tạo nên sự dừng” của vật chất Thành phần vật chất, các chất dinh dưỡng, các chất lơ lửng ”dừng” lại xung quanh đảo tạo ra điều kiện cho các HST phát triển
Lý Sơn có khí hậu mang đặc trưng đảo biển trong lành ôn hòa, nhiệt độ và độ
ẩm không khí phù hợp cho du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh
Lý Sơn có lượng mưa khá lớn (trung bình năm > 2000mm) do đó có điều kiện tích trữ nguồn nước ngọt dồi dào Nguồn nước ngầm trên đảo phong phú
Thiên nhiên ban tặng cho Lý Sơn cảnh quan có những nét đặc trưng riêng, hùng vĩ với những ngọn núi lửa, những hang động Bên cạnh đó, Lý Sơn có một bề dày lịch sử với nhiều di tích gắn liền với chủ quyền Quốc gia, các đình, chùa,
Đảo Lý Sơn có trên 21.000 dân trên tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 10km2 Nghề nghiệp chủ yếu của người dân trên đảo là canh tác nông nghiệp và khai thác thủy sản Về cơ sở vật chất, Lý Sơn có đẩy đủ các trường học từ mẫu giáo đến cấp ba, có bệnh viện, ngân hàng, chợ, đường giao thông
Với ưu thế như trên, Lý Sơn có vị trí chiến lược trong công tác bảo đảm quốc phòng an ninh, có rất nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế - xã hội Tuy nhiên, do các đơn vị hành chính của huyện phân bố thành hai khu vực: đảo Lớn (gồm xã An Hải và xã An Vĩnh), đảo nhỏ là xã An Bình cách nhau hơn 2km trên đường biển nên cũng có những khó khăn nhất định trong quản lý, điều
Trang 28Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Lý Sơn hiện đang đối mặt với mất sự cân bằng sinh thái, và nguy cơ hủy diệt các HST Đảo Lý Sơn có trên 21.000 dân trên tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 10km2 Như vậy, đảo Lý Sơn là nằm trong nhóm có mật độ dân số cao nhất cả nước Hơn 50% dân số của đảo sống bằng nghề nông Điều này gây áp lực không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội cũng như môi trường sinh thái của đảo
Diện tích đất canh tác nông nghiệp chiếm tới 57,88% so với diện tích đất tự nhiên trong khi diện tích rừng bao phủ chỉ chiếm 7% Do quá trình canh tác nông nghiệp lạc hậu, sử dụng quá nhiều nước ngầm cho mục đích tưới tiêu nên nước ngầm trên đảo đang có nguy cơ cạn kiệt và nhiễm mặn Việc canh tác đất theo phương pháp truyền thống sử dụng giá đỡ là lớp đất nâu trên đá bazan và cát san hô khiến tầng thổ nhưỡng bị xáo trộn mất cấu trúc đất, cộng thêm việc sử dụng quá nhiều phân bón dẫn đến tình trạng thoái hóa đất
Khai thác thủy sản trên đảo vẫn tồn tại tình trạng dùng các phương pháp hủy diệt như thuốc nổ, phương tiện đánh bắt còn lạc hậu gây tổn thương đến các HST biển HST rừng hầu như không còn dẫn đến tình trạng đất bị xói mòn và rửa trôi
Vì vậy, cần thiết và nhanh chóng phải định hướng phát triển kinh tế xã hội
Lý Sơn theo hướng bền vững nhằm phục hồi và bảo vệ các HST biển và HST trên đảo, giúp cân bằng được giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Đó chính là kinh tế sinh thái
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Mô hình kinh tế sinh thái Đảo Lý Sơn (nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội, tài nguyên thiên nhiên tác động đến việc hình thành mô hình phát triển kinh tế sinh thái đảo Lý Sơn)
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Xác lập cơ sở khoa học cho mô hình kinh tế sinh thái đảo Lý Sơn
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Khu vực huyện đảo Lý Sơn (đảo Cù lao
Ré gồm 2 xã An Hải và An Vĩnh và đảo Cù lao Bờ Bãi gồm 1 xã An Bình)
2.2 Các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu
2.2.1 Tiếp cận hệ thống
Có thể coi biển Việt Nam, bao gồm cả đới ven bờ và ngoài khơi là một hệ thống tự nhiên – xã hội (hệ thống tài nguyên – môi trường – sinh thái – xã hội) trong đó mọi thành phần của hệ thống này có liên hệ chặt chẽ với nhau, mọi biến động của từng thành phần trong hệ thống đều có tác động đến các thành phần khác Tài nguyên, môi trường biển là sản phẩm của quá trình tương tác lục địa – biển, sông – biển, khí quyển – biển, giữa các địa quyển với Sinh quyển Biển là hệ thống phức tạp, nhạy cảm với các tác động tự nhiên và nhân sinh, biến động nhanh theo cả không gian và thời gian
Theo cách tiếp cận này, đảo Lý Sơn như một hệ tự nhiên biển Việt Nam thu nhỏ Huyện đảo Lý Sơn có lợi thế về mặt tài nguyên thiên nhiên (các HST biển như rạn san hô, thảm cỏ biển) với rất nhiều chức năng và giá trị như nơi cư trú, sinh trưởng và phát triển của sinh vật (habitat), sản xuất sinh khối, tích luỹ chất dinh
Trang 30gia…Điều này có nghĩa là, đảo Lý Sơn cũng có thể coi là một hệ thống thu nhỏ với đầy đủ các thành phần tự nhiên – xã hội trong nó và mọi biến động của một hay nhiều thành phần (tự nhiên và nhân sinh) trong hệ thống cũng sẽ làm thay đổi (tiêu cực hay tích cực) đến các thành phần khác trong hệ
Chính vì vậy, việc nghiên cứu phát triển KTST tại đảo Lý Sơn phải được đặt trong một hệ thống với những mối quan hệ và rằng buộc lẫn nhau nhằm có được cái nhìn toàn diện về những tác động của các yếu tố, thành phần trong hệ thống này từ
đó có những biện pháp quản lý, điều chỉnh các mối quan hệ, giảm thiểu những mâu thuẫn giữa các thành phần, bảo vệ và phát triển các HST, sử dụng hợp lý nguồn lợi sinh vật để đạt được mục đích sau cùng đó là phát triển bền vững, lâu dài
2.2.2 Tiếp cận phát triển bền vững
Theo Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED, phát triển bền
vững là phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm phương
hại tới sự đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai Phát triển bền vững khu vực ven biển, đảo Lý Sơn là sự phát triển, sử dụng hợp lý tiềm năng về tài nguyên, môi trường, điều kiện tự nhiên của biển, đảo trong giới hạn cho phép, trong khả năng chịu đựng, tự phục hồi của biển nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đảm bảo
an ninh, quốc phòng, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư đang sống mà vẫn đảm bảo sự phát triển của các thế hệ tương lai những điều kiện tài nguyên – môi trường cần thiết để họ có thể sống ngày càng tốt hơn
Biển được coi là tài nguyên quan trọng đối với phát triển kinh tế (với tư cách
là nguồn nguyên, nhiên liệu, địa bàn hoạt động…), đối với sự phát triển bền vững
về môi trường (biển là một bộ phận của môi trường sống của con người và thế giới sinh vật, nơi chứa đựng và phân huỷ chất thải, nơi cung cấp tài nguyên phong phú), bền vững về mặt xã hội (biển gắn liền với sự phát triển văn hoá, phong tục, tập quán sinh hoạt và sản xuất; là nơi góp phần xoá đói, giảm nghèo đối với người dân…và cũng là nơi xảy ra các mâu thuẫn lợi ích trong quá trình phát triển kinh tế…) Các hoạt động kinh tế, xã hội phải nằm trong giới hạn cho phép của các HST biển (các
Trang 31chức năng, giá trị và đa dạng sinh học của vũng, vịnh phải được duy trì) Như vậy
phát triển bền vững và bảo tồn, bảo vệ biển có mối quan hệ sống còn
2.2.3 Tiếp cận tổng hợp và liên ngành
Bản chất tài nguyên, môi trường biển vừa phản ánh lại vừa phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên, vào các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hoá, an ninh, quốc phòng Chính vì vậy biển phải được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau về tự nhiên (sinh học, sinh thái, địa lý, hải văn, thuỷ văn, địa chất…), về xã hội (văn hoá, phong tục, tập quán…), kinh tế, và an ninh quốc phòng…Do đó, để nghiên cứu về vấn đề mâu thuẫn lợi ích trong phát triển khu vực đảo Lý Sơn cần phải có cái nhìn tổng thể và liên ngành để thấy rõ các mối quan hệ, các mâu thuẫn phát sinh và phương hướng giải quyết, giảm thiểu
2.2.4 Tiếp cận sinh thái học
Biển là HST kém bền vững, dễ bị tổn thương, suy thoái, có sức chịu đựng giới hạn, phụ thuộc nhiều vào các quá trình tự nhiên và đặc biệt nhạy cảm với các hoạt động nhân sinh Cân bằng sinh thái đảm bảo duy trì các chức năng, giá trị, bảo
vệ được tài nguyên – thiên nhiên của biển cũng là nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Để đạt được mục tiêu này, mọi hoạt động về khai thác, sử dụng HST biển phải được tiến hành trong khả năng chịu đựng và phục hồi của các HST biển Việc quản lý bền vững biển phải dựa trên tiếp cận sinh thái học (ecosystem approach)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc tài liệu
Tổng hợp và kế thừa các kết quả nghiên cứu về đặc điểm khí tượng - hải văn, đặc điểm địa chất, địa mạo, môi trường, các dạng tài nguyên, yếu tố xã hội, kinh tế, các khái niệm cơ bản và liên quan về kinh tế sinh thái,…Các tài liệu này sẽ được phân loại, sắp xếp có trình tự và được định hướng vào nghiên cứu để xác định các
cơ sở thực tiễn và lý luận cho mục tiêu nghiên cứu
Trang 322.3.2 Phương pháp khảo sát thực tế
Đây là phương pháp không thể thiếu trong việc kiểm chứng những tài liệu đa thu thập được và bổ sung những tài liệu, dữ liệu còn thiếu Mục đích của việc tiến hành khảo sát thực địa nhằm nhận biết và đánh giá hiện trạng môi trường, hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên môi trường của các ngành kinh tế chủ yếu ở khu vực đảo đảo Lý Sơn, những mâu thuẫn lợi ích trong phát triển kinh tế xã hội và bảo
vệ môi trường trên đảo
2.3.3 Phương pháp chuyên gia
Có thể nói đây là một phương pháp quan trọng và hiệu quả Phương pháp này huy động được kinh nghiệm và hiểu biết của các chuyên gia về lĩnh vực tài nguyên – môi trường biển, từ đó sẽ cho các kết quả có tính thực tiễn và khoa học cao, tránh những thiếu xót trong quá trình nghiên cứu
2.3.4 Phương pháp phân tích hệ thống
Là một phương pháp khoa học giúp xử lý những vấn đề phức tạp, những vấn
đề tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ, ràng buộc Nó được vận dụng trong những trường hợp khi có nhiều mối quan hệ phải nghiên cứu, nhiều đối tượng phải xem xét, nhiều yếu tố bất định phải tính đến, nhiều phương án cần cân nhắc so sánh lựa chọn trong khi lượng thông tin có thể không đầy đủ như mong muốn Phương pháp phân tích hệ thống thường rất phù hợp với những đối tượng có cấu trúc không chặt chẽ, tức là những đối tượng vừa có yếu tố định tính và vừa có yếu tố định lượng và chỉ có một phần có thể diễn tả được bằng ngôn ngữ toán học Ở đây, bằng cách kết hợp các phương pháp toán học chính xác, kỹ thuật máy tính với các thủ tục phức tạp
và kinh nghiệm thực tiễn của chuyên gia, các hiểu biết toàn diện về đối tượng nghiên cứu có thể được sáng tỏ, trong khi đó, bằng các phương pháp khác thì khó
có thể đạt được
Trang 33Nội dung chính của phương pháp phân tích hệ thống:
- Xem xét đối tượng nghiên cứu là một hệ thống, nó được cấu thành từ nhiều yếu tố mà có quan hệ và tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một cách logic;
- Thừa nhận nhiều đối tượng phức tạp khác nhau có những đặc trưng hệ thống giống nhau Do đó có thể nghiên cứu một cách tổng quát về những tính chất, những quy luật vận động của các hệ thống phức tạp để vận dụng vào từng hệ thống đặc thù ở những lĩnh vực khác nhau;
- Trọng tâm nghiên cứu là sự vận động của đối tượng Toàn bộ hệ thống được xem xét dưới góc độ tăng trưởng và phát triển của nó, nghiên cứu quy luật, xu thế vận động của nó và tìm ra cách thức để tác động trở lại vào hệ thống một cách hiệu quả nhất;
- Thừa nhận tính bất định, tức là tình trạng không đầy đủ thông tin như một tất yếu khó tránh khỏi trong quá trình điều khiển phức tạp Do đó, cần phải có phương pháp nghiên cứu thích hợp để khai thác tốt nhất phần thông tin không đầy đủ;
- Nhấn mạnh sự cần thiết của lựa chọn quyết định trong tập hợp rất nhiều phương án có thể có Cụ thể, cần phân tích, lý giải và tích hợp để có được một tập hợp các nhân tố tạo thành một cách tối ưu
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên
3.1.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Địa hình của Lý Sơn cĩ nhiều các núi lửa cổ và cĩ nhiều các vùng đất đá mấp mơ, khơng cĩ sơng ngịi lớn (chỉ cĩ một số suối nhỏ được hình thành vào mùa mưa) và cĩ độ cao trung bình từ 20 ÷ 30m so với mực nước biển Đồng bằng tích tụ
- mài mịn nghiêng thoải, bị chia cắt bởi các máng trũng với độ sâu khác nhau Điểm sâu nhất trong lãnh thổ huyện là 120m, ở phía Đơng
Hình 3.1: Bản đồ đẳng sâu khu vực biển ven bờ Lý Sơn
Trên địa bàn huyện cĩ 5 hịn núi dạng bát úp được hình thành do hoạt động của núi lửa trong đĩ cao nhất là núi Thới Lới (169m) Xung quanh các chân núi, địa hình cĩ dạng bậc thềm, độ dốc từ 8 đến 15o Dạng địa hình nguồn gốc núi lửa chiếm tới 70% diện tích đảo Theo địa hình thái nguồn gốc được chia thành: sườn vịm núi
5 0
Đường đẳng sâu 10.0m
Đường đẳng sâu 20.0m
Đường đẳng sâu 30.0m
Đường đẳng sâu 50.0m
Đường đẳng sâu 5.0m
BẢN ĐỒ ĐẲNG SÂU KHU VỰC BIỂN VEN BỜ LÝ SƠN
TỶ LỆ: 1/60.000
N
Trang 35lửa, sườn họng núi lửa, đáy họng núi lửa và bề mặt lớp phủ bazan Đây là những đối tượng quan trọng để bố trí các công trình xây dựng, đồng thời là những điểm tham quan thiên nhiên rấn ngoạn mục của các tuyến du lịch biển – đảo Lý Sơn Ngoài Thới Lới còn có 4 ngọn núi lửa đã tắt khác nằm rải rác trên Đảo Lớn và đảo Bé bao gồm Hòn Vung, núi lửa Giếng Tiền, Hòn Sỏi và Hòn Tai
Nhóm dạng địa hình nguồn gốc biển gồm các dạng: vách mái vòm - bóc mòn, vách mái mòn, bãi biển mài mòn, bãi biển mài mòn - tích tụ Bãi biển mài mòn tích
tụ và thềm tích tụ làm thành một đồng bằng bằng phẳng, nghiêng thoải, hơi lượn sóng, độ dốc dưới 8°, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và bố trí dân cư Đây chính là những vùng tập trung dân cư và là địa bàn sản xuất nông nghiệp trọng điểm của huyện
Địa hình bờ biển của huyện phần lớn là các vách và hốc sóng vỗ bờ tạo nên các hốc hang khá đẹp (Hang Câu, Chùa Hang…) Chính những địa hình vách dốc này đã tạo cho đảo những nét hùng vĩ có giá trị về tham quan, du lịch
Địa hình đảo Bé có hình dạng đồi thấp, độ cao 20m và bị chia cắt bởi các máng trũng ở độ cao 10m [20] Điểm nổi bật của địa hình đảo Bé là sự phát triển các dạng địa hình đụn cát sạn sỏi
Như vậy, với đặc điểm của địa hình đáy biển phân bậc rõ ràng, có thể sử dụng làm cầu cảng và tổ chức các hoạt động thể thao mạo hiểm trên biển Cùng với đó là địa hình bờ biển có các hang động đẹp và địa hình núi lửa tạo nên các góc nhìn hùng vĩ giữa biển, đảo và bầu trời, có giá trị về tham quan khám phá thiên nhiên trong phát triển du lịch
3.1.2 Đặc điểm thổ nhƣỡng
Lớp thổ nhưỡng trên đảo rất đặc thù Có 3 loại đất chính
Ở khu vực ven biển là đất cát vàng Vào sâu trong đảo, phần lớn xã An Vĩnh
có lớp thổ nhưỡng là đất cát, đây là khu vực tập trung đông dân cư, đất ở đây được
Trang 36đất thấp và không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây hành, tỏi và ngô Chính vì vậy lượng phân bón cần thiết để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại huyện đảo cần rất lớn Đất nâu đỏ trên đá bazan chiếm phần lớn diện tích đất của đảo 845ha, khoảng trên 80% diện tích đất tự nhiên toàn huyện đảo, đây là nguồn tài nguyên quan trọng của huyện đảo, vì đa số diện tích (khoảng 558ha) đất nâu đỏ trên
đá bazan có tầng dày trên 1m và độ dốc dưới 8o, khá màu mỡ, hàm lượng các chất dinh dưỡng từ trung bình trở lên Đây là nguồn tài nguyên đất rất thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng đặc biệt là cây ăn quả, cây lương thực và cây công nghiệp
Quỹ đất nâu đỏ đã thu hút phần lớn lao động và nuôi sống gần 50% số dân trên đảo Tuy nhiên, việc khai thác không hợp lý bằng việc bóc những lớp đất trên đá bazan, di rời từ trên núi xuống những cánh đồng làm giá đỡ để phát triển nông nghiệp trồng hành tỏi,…và sau đó không hoàn nguyên làm tàn phá thảm thực vật gây nên hiện tượng đất trống, đồi núi trọc, đất không giữ được nước gây nên hiện tượng rửa trôi, xói mòn
Bảng 3-1: Diện tích, cơ cấu các loại đất chia theo độ dốc, tầng dày
Loại đất
Ký hiệu
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Tầng dày
II (3-80)
> 100cm (ha)
(20-250)
> 100cm (ha)
T.số (ha)
>100cm (ha)
Trang 37đã bắt đầu nâng những lớp đá trầm tích nhô khỏi mặt nước biển Đảo được hình
thành vào giai đoạn Holocen, được tạo nên bởi đá phun trào bazan tuổi Neogen - Đệ
tứ (N2 - QI) Bề mặt địa hình để lại nhiều miệng núi lửa điển hình, tạo nên vẻ đẹp tự nhiên, có lợi thế khai thác du lịch
Các lớp trầm tích nền đảo và san hô phát triển trên bề mặt là cơ sở cho việc hình thành nhiều hang động, cổng đá Di tích Chùa Hang là hang động lớn nhất trong hệ thống hang động ở đảo Lý Sơn Hang đá này được tạo thành từ một vách
đá dựng đứng, cao gần 20m ở ngọn núi Thới Lới, do bị nước biển xâm thực trong thời kỳ biển tiến Hang có bề ngang 30m ăn sâu trên 25m vào núi theo kiểu hàm ếch ngoài cửa cao 15m, thấp dần vào phía trong [20]
Ngoài ra, do tác động xâm thực của nước biển trong thời kỳ biển tiến ở khu vực hòn Thới Lới, nơi vận động tạo sơn theo kiểu xếp nếp đã đẩy các lớp trầm tích đáy biển nhô cao hơn cả trong hệ thống đảo Lý Sơn Các vết tích núi lửa là những khối nham thạch nhiều hình dạng chưa kịp phân hủy, cũng như lớp đất đỏ bazan màu mỡ phủ hầu hết khắp đảo, tạo điều kiện cho sự đa dạng và tươi tốt của hệ thực vật che phủ
3.1.4 Điều kiện khí tƣợng thủy văn
3.1.4.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm (1985-2009) của trạm Khí tượng Thủy văn Lý Sơn là 26,5oC; nhiệt độ trung bình giữa các tháng dao động từ 23,1o
C - 29,5oC; nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 23,1oC, (xuất hiện vào tháng 1); nhiệt
độ trung bình tháng cao nhất 29,5oC (xuất hiện vào tháng 6,7,8) Số liệu tổng hợp nhiệt độ bình quân tháng nhiều năm vùng Lý Sơn được cho trong bảng 3-2
- Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 36,8oC trong 10 năm 1990-2000 xảy ra vào ngày 13/8/1997;
Trang 38Bảng 3-2: Bảng số liệu nhiệt độ ( o
C) không khí tháng (1985 - 2009)
T bình 23,1 23,5 24,4 26,3 28,3 29,5 29,5 29,5 28,3 27,0 25,7 23,9 Cao nhất
tuyệt đối 30,4 29,9 31,7 33,7 35,9 36,4 36,2 36,8 35,4 32,4 31,3 31,0 Thấp
nhất
tuyệt đối
17,0 17,3 15,4 19,8 21,8 23,1 23,0 22,9 21,8 21,2 20,0 17,1
(Nguồn: Tài liệu khí tƣợng Quảng Ngãi, 2010)
Như vậy, qua việc phân tích các đặc trưng về nhiệt độ không khí có thể thấy rằng, nhiệt độ không khí trên đảo Lý Sơn là điều kiện lý tưởng cho việc phát triển các dịch vụ nghỉ dưỡng Nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm là 26,5oC, một nhiệt độ lý tưởng Nhiệt độ dao động giữa các tháng không cao Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất so với nhiệt độ trung bình tháng cao nhất chênh nhau không nhiều (23,1oC so với 29,5oC) và quan trọng hơn, dù là mức nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất hay cao nhất thì vẫn nằm trong khoảng nhiệt độ thích hợp, dễ chịu, không tháng nào vượt trên 30o
C Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối cũng không vượt quá mức
40oC Điều này được giải thích do đặc trưng của đảo biển chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu đại dương Như vậy, Lý Sơn có một nền nhiệt độ thuận lợi để phát triển
du lịch quanh năm, các loại cây trồng quanh năm xanh tốt
3.1.4.2 Độ ẩm không khí
Độ ẩm tuyệt đối trung bình từ tháng 4 đến tháng 10 lớn hơn các tháng khác; Khu vực đảo Lý Sơn có chế độ ẩm tương đối cao, trung bình nhiều năm là 85%, trung bình các tháng dao động từ 79 đến 90%;
Độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 46% ngày 5/3/1994;
Độ ẩm không khí thấp nhất các tháng dao động từ 46 ÷ 62%
Trang 39(Nguồn: tài liệu khí tƣợng Quảng Ngãi, 2010)
Độ ẩm không khí trung bình nhiều năm (1985-2009) là 84,7%, là độ ẩm khá cao do ảnh hưởng của nước biển Độ ẩm không khí kết hợp với điều kiện nhiệt độ không khí thuận lợi là điều kiện để phát triển dịch vụ du lịch trên đảo
3.1.4.3 Mưa
Chế độ mưa tại khu vực đảo Lý Sơn biến động khá mạnh từ năm này qua năm khác, lượng mưa trung bình nhiều năm ~ 2270mm, phần lớn các năm có tổng lượng mưa dao động từ 2000 ÷ 3000mm; năm có lượng mưa lớn nhất: 3238mm (năm 2009); vượt trung bình nhiều năm ~ 43 % (đạt~143 % so với TBNN); năm
2004 thấp nhất (1207mm) chỉ đạt ~ 53 % so với TBNN
Bảng 3-4: Bảng số liệu mƣa (mm) trung bình tháng (1985 – 2009)
năm
Tổng 120,9 43,0 84,4 61,6 127,3 64,7 50 122,9 430,8 539,8 398,1 238 2281,5
Số ngày
(Nguồn: Tài liệu khí tƣợng Quảng Ngãi, 2010)
Ngày có lượng mưa lớn nhất đo được tại Lý Sơn 418,4mm (ngày 18/5/1986) Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất: 539,8mm (tháng 10), tháng ít nhất: 43,0mm (tháng 4) Tổng số ngày có mưa (lượng mưa ≥ 0,1mm/ngày) trung bình nhiều năm là 135,5 ngày, năm có số ngày mưa ít nhất là 113 ngày (năm 1997), năm có số ngày mưa nhiều nhất là 160 ngày (năm 1996)
Trang 40mùa mưa tại Lý Sơn bắt đầu từ tháng 8 cho đến tháng 11 Do ảnh hưởng của địa hình ngăn cách giữa miền Bắc và miền Nam bởi đèo Hải Vân, mùa mưa ở Lý Sơn đến chậm hơn Lượng mưa của Lý Sơn đạt cực đại vào tháng 9
Như vậy, đảo Lý Sơn có mưa ẩm cao tạo điều kiện tốt cho thảm thực vật phát triển, tích tụ nước ngầm đáp ứng yêu cầu dân sinh Tuy nhiên, do không gian không
bị che chắn và gió mạnh nên lương mưa tích tụ không nhiều
(Nguồn: Tài liệu khí tượng Quảng Ngãi, 2010)
Với tính chất đặc trưng của đảo, Lý Sơn luôn có gió quanh năm từ 3m/s đến 6,5m/s
Tốc độ gió mạnh nhất đo được: 34m/s hướng NW xảy ra ngày 15/10/1985, thời gian có cơn bão CECILL - 8521 và hướng N xảy ra ngày 12/11/2001, do ảnh hưởng cơn bão LINGGING - 0123 đổ bộ vùng này
Bảng 3-6: Bảng tần suất gió theo các hướng
(Nguồn: Tài liệu khí tượng Quảng Ngãi, 2010)
Từ tháng 3 đến tháng 8 gió thịnh hành hướng Đông Nam (SE), tháng 9 thịnh