Vị trí địa lý của huyện Cô Tô có điều kiện đặc biệt thích hợp cho phát triển ngành thủy sản: Xung quanh huyện đảo được bao quanh bởi biển Đông và cách các ngư trường lớn không xa; Với bờ
Trang 1Hoàng Thị Ngọc Linh i Cao học môi trường khóa 2008 - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Hoàng Thị Ngọc Linh
ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG CỦA HOẠT ĐỘNG
NGÀNH THỦY SẢN HUYỆN ĐẢO CÔ TÔ - TỈNH QUẢNG
NINH VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỢP LÝ
BẢN TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2011
Trang 2Hoàng Thị Ngọc Linh i Cao học khóa 2008 - 2010
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Hoạt động phát triển ngành thủy sản trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.1.1 Trên thế giới 3
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.1.2.1 Trữ tượng khai thác 7
1.1.2.2 Sản lượng và năng suất khai thác 10
1.1.2.3 Lao động nghề khai thác thủy sản 10
1.1.2.4 Chế biến, thương mại thủy sản 11
1.1.2.5 Dịch vụ, hậu cần nghề cá 11
1.2 Cơ sở lý luận của phát triển bền vững ngành thủy sản 12
1.2.1 Quan niệm về phát triển bền vững 12
1.2.2 Phát triển bền vững ngành thủy sản 13
1.2.2.1 Ngành thủy sản và nhu cầu phát triển bền vững 13
1.2.2.2 Tính bền vững trong phát triển ngành thủy sản 14
1.3 Khái quát hóa các công trình khoa học liên quan tới vấn đề nghiên cứu 15 1.4 Khái quát các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và hiện trạng môi trường khu vực nghiên cứu 17
1.4.1 Các điều kiện tự nhiên 17
1.4.1.1 Vị trí địa lý 17
1.4.1.2 Đặc điểm tự nhiên 18
1.4.2 Khái quát các điều kiện kinh tế - xã hội 23
1.4.2.1 Dân cư và nguồn lao động 23
1.4.2.2 Cơ sở hạ tầng 23
1.4.2.3 Hiện trạng phát triển kinh tế 24
1.4.2.4 Văn hóa – Y tế - Giáo dục 25
1.4.2.5 An ninh quốc phòng 25
1.4.3.Sơ lược đánh giá hiện trạng môi trường 25
Trang 3Hoàng Thị Ngọc Linh ii Cao học khóa 2008 - 2010
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp thu thập xử lý số liệu 30
2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 31
2.3.3 Phương pháp đánh giá nhanh môi trường 31
2.3.4 Phương pháp bản đồ và GIS 31
2.3.5 Phương pháp tổng hợp 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Hiện trạng sản xuất thủy sản huyện đảo Cô Tô 33
3.1.1 Khai thác hải sản 33
3.1.2 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản 34
3.1.3 Chế biến thủy sản 35
3.1.5 Cơ hội và thách thức đối với thuỷ sản Cô Tô 38
3.2 Một số mô hình đã được áp dụng tại huyện Cô Tô 39
3.2.1 Mô hình nuôi ngọc trai 39
3.2.2 Mô hình nuôi tôm hùm 43
3.2.3 Mô hình nuôi tu hài 49
3.2.4 Mô hình nuôi ngao 51
3.3 Ảnh hưởng của hoạt động thủy sản tới môi trường tự nhiên của huyện đảo Cô Tô 56
3.3.1 Ảnh hưởng của hoạt động khai thác thủy sản lên môi trường 56
3.3.2 Ảnh hưởng của hoạt động nuôi trồng thủy sản 58
3.3.3 Chế biến thủy sản 60
3.4 Định hướng các giải pháp cho phát triển thủy sản bền vững của huyện đảo Cô Tô 61
3.4.1 Định hướng chủ yếu 61
Trang 4Hoàng Thị Ngọc Linh iii Cao học khóa 2008 - 2010
3.4.2 Định hướng quy hoạch phát triển thủy sản bền vững của
huyện Cô Tô 62
3.4.2.1 Định hướng quy hoạch khai thác hải sản huyện đảo Cô Tô đến năm 2020 62
3.4.2.2 Định hướng quy hoạch nuôi trồng thủy sản huyện đảo Cô Tô đến năm 2020 68
3.4.2.3 Định hướng quy hoạch chế biến và thương mại 73
3.4.2.4 Định hướng quy hoạch hậu cần dịch vụ nghề cá 75
3.4.2.5 Quy hoạch vùng bảo tồn thiên nhiên Cô Tô 76
3.4.3 Các giải pháp cho quy hoạch phát triển thủy sản bền vững tại huyện Cô Tô 76
3.4.3.1 Giải pháp về dự báo nguồn lợi phục vụ phát triển khai thác hải sản 76
3.4.3.2 Giải pháp đào tạo 77
3.4.3.3 Giải pháp về công nghệ 78
3.4.3.4 Giải pháp về giống 79
3.4.3.5 Giải pháp về môi trường 79
3.4.3.6 Giải pháp tổ chức sản xuất 80
3.4.3.7 Giải pháp về thể chế chính sách 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
Kết luận Error! Bookmark not defined Kiến nghị Error! Bookmark not defined.4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 855
Trang 5Hoàng Thị Ngọc Linh iv Cao học khóa 2008 - 2010
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nguồn lợi hải sản Việt Nam 8
Bảng 3.1.Số liệu sản lượng khai thác hải sản ở Cô Tô 34
Bảng 3.2.Lao động nghề khai thác 57
Bảng.3.3.Tàu thuyền khai thác và công suất tàu thuyền huyện Cô Tô 57
Bảng 3.4.Sản lượng khai thác 57
Bảng 3.5.Số lồng bè, diện tích và số hộ nuôi 59
Bảng 3.6 Kết quả phân tích mẫu nước 59
Bảng 3.7 Số lượng lao động tham gia, sản lượng chế biến 60
Bảng 3.8.Kế hoạch phát triển số lượng và cơ cầu tàu thuyền theo địa phương và theo vùng sản xuất năm 2015 64
Bảng 3.9.Kế hoạch phát triển số lượng và cơ cầu tàu thuyền theo địa phương và theo vùng sản xuất năm 2015 65
Bảng 3.10.Kế hoạch phát triển sản lượng đến năm 2015 66
Bảng3.11.Kế hoạch phát triển sản lượng đến năm 2015 68
Bảng 3.12 Kế hoạch phát triển nuôi nước ngọt đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 72 Bảng 3.13 Kế hoạch nuôi biển đến năm 2015, 2020 72
Trang 6Hoàng Thị Ngọc Linh v Cao học khóa 2008 - 2010
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 1.1 Sản lượng thủy hải sản thế giới (triệu tấn) 3
Biểu đồ 1.2 Cơ cấu đánh bắt - nuôi trồng thủy sản thế giới năm 2009 4
Biểu đồ 1.3 Tiêu thụ thủy sản/người/năm tại Nhật 5
Biểu đồ 1.4 Tiêu thụ thủy sản/người/năm tại Mỹ 6
Biểu đồ 1.5 Tiêu thụ thủy sản và mức tăng trưởng dân số tại EU 6
Trang 7Hoàng Thị Ngọc Linh vi Cao học khóa 2008 - 2010
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Nhu cầu tiêu thụ thủy sản thế giới 4
Hình 1.2.Mô hình phát triển bền vững của Anthony Charles [1] 15
Hình 1.3 Huyện đảo Cô Tô nhìn từ vệ tinh 17
Hình 1.4 Bãi tắm Hồng Vàn 22
Hình 1.5 Khu hệ đảo thuộc huyện Cô Tô (nhìn từ Cầu Mỵ) 22
Hình 1.6 Khu hệ thực vật Cô Tô (nhìn từ ngọn Hải Đăng) 22
Hình 1.7 Một góc nhìn của thị trấn Cô Tô 24
Hình 1.8 Một tuyến đường trong thị trấn Cố Tô 24
Hình 2.1 Phỏng vấn người dân đảo Cô Tô 31
Hình 3.1.Tàu khai thác Cô Tô 33
Hình 3.2 Tàu khai thác về cảng Cô Tô sau chuyến đánh bắt 33
Hình 3.3 Phơi cá khô thủ công tại Cô Tô 36
Hình 3.4 Lán sứa tại Đầu Cẩu Cô Tô 36
Hình 3.5 Toàn cảnh khu vực Trung tâm hậu cần dịch vụ nghề cá vịnh Bắc Bộ nhìn từ vệ tinh 37
Hình 3.6 Đê chắn sóng kết hợp Bến cập tầu thuộc Trung tâm hậu cần dịch vụ nghề cá vịnh Bắc Bộ 37
Hình 3.7 Khu vực nuôi ngọc trai tại vùng biển Cô Tô 39
Hình 3.8 Lồng nuôi tôm hùm 44
Hình 3.9 Hình ảnh tu hài 49
Hình 3.10 Nuôi treo tu hài tại Cô Tô 49
Hình 3.11 Bãi nuôi ngao và cọc cắm vây ngao 52
Trang 8Hoàng Thị Ngọc Linh 1 Cao học khóa 2008 - 2010
MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam ngành thủy sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn Ngành thủy sản có vai trò quan trọng không chỉ ở sản lượng khai thác mà còn có nhiều ý nghĩa: Cung cấp lượng lớn chất đạm cho người dân; tạo việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cư ven biển, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh
tế - xã hội; Là nguồn thu ngoại tệ lớn thông qua xuất khẩu các sản phẩm thủy sản; Góp phần bảo vệ an ninh lương thực Nhưng bên cạnh đó cũng gây ra những tác động không nhỏ đến môi trường, nguồn lợi và nguy hại đến phát triển bền vững trong tương lai nếu không được hoạch định, quản lý đúng đắn
Cô Tô là một huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh - nơi được biết đến như một lá chắn bảo đảm an ninh quốc phòng phía Đông Bắc Tổ quốc Việt Nam Huyện đảo Cô Tô gồm một hệ thống đảo nằm ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, cầu nối giữa đất liền và biển khơi Vị trí địa lý của huyện Cô Tô có điều kiện đặc biệt thích hợp cho phát triển ngành thủy sản: Xung quanh huyện đảo được bao quanh bởi biển Đông và cách các ngư trường lớn không xa; Với bờ biển khúc khuỷu tạo thành các vũng vịnh kín là tiềm năng phát triển nghề nuôi trồng thủy sản; Nguồn lợi thủy sản phong phú, vùng này có nhiều đặc sản như: trai ngọc, bào ngư, hải sâm, sá sùng, tu hải, tôm he, Cảng cá Thanh Lân và Cô Tô là cơ
sở hậu cần dịch vụ rất tốt cho nghề cá, đã trở thành nơi hội tụ của các tàu khai thác hải sản của tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh khác; Ngoài ra, chợ cá trên biển tạo điều kiện giao lưu, tiếp cận thị trường Trung Quốc
Với lợi thế trên 300km2 là diện tích ngư trường dành cho đánh bắt, khai thác thuỷ sản, huyện đảo Cô Tô đã xác định phát triển thuỷ sản là ngành kinh
tế mũi nhọn của địa phương Do vậy, trong mấy năm qua, hiệu quả các hoạt động khai thác, nuôi trồng của ngư dân huyện đảo không ngừng tăng cao Tổng sản lượng khai thác và đánh bắt liên tục tăng Nếu như năm 1998, toàn
Trang 9Hoàng Thị Ngọc Linh 2 Cao học khóa 2008 - 2010
huyện mới khai thác được 1.255 tấn thuỷ sản các loại thì đến năm 2010 đã lên tới 14.800tấn
Cùng với khai thác và đánh bắt xa bờ, những năm gần đây nghề nuôi trồng thuỷ sản của huyện đã có bước phát triển đáng kể, nhất là nuôi cá lồng bè
và các loại hải sản quý Toàn huyện có hơn 30 mô hình nuôi cá lồng bè trên biển, với các loại cá có giá trị kinh tế cao như: Song, giò, chấm lang, hồng Nhiều gia đình đầu tư nuôi tôm càng xanh, tôm hùm, ốc hương cho hiệu quả cao và đang mở ra một hướng làm ăn có triển vọng cho ngư dân Cô Tô
Tuy nhiên các hoạt động thủy sản trong quá trình phát triển kinh tế của huyện đảo không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực tới môi trường
Chính vì vậy luận văn “Ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động ngành thủy sản huyện đảo Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh và định hướng phát triển hợp lý” được lựa chọn để đáp ứng tính cấp thiết thực tiễn trên
Mục tiêu của luận văn nhằm xác định, đánh giá các hoạt động phát triển thủy sản tới chất lượng môi trường huyện đảo Cô Tô, định hướng các giải pháp nhằm thực hiện phát triển bền vững ngành thủy sản của Huyện
Chúng tôi hy vọng rằng, những nội dung khoa học của luận văn không chỉ phục vụ cho tiêu chí đào tạo mà còn mong muốn đưa ra một số cơ sở khoa học phục vụ dự án quy hoạch phát triển bền vững ngành thủy sản của Huyện góp phần cho phát triển kinh tế của địa phương
Trang 10Hoàng Thị Ngọc Linh 3 Cao học khóa 2008 - 2010
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Hoạt động phát triển ngành thủy sản trên thế giới và ở Việt Nam 1.1.1 Trên thế giới
Tình hình đánh bắt và nuôi trồng thủy sản thế giới giai đoạn 2000 -
2010 có tốc độ phát triển khá ổn định Tổng sản lượng thủy hải sản trên thế
giới bình quân tăng 1.4%/năm Cơ cấu nguồn cung dịch chuyển theo hướng
tăng sản lượng thủy sản nuôi trồng và giữ ổn định nguồn khai thác tự nhiên
Nguyên nhân do thủy sản đánh bắt ngày càng cạn kiệt và sự cải tiến kỹ thuật cho phép gia tăng năng suất nuôi trồng Năm 2000 sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm 26% tổng sản lượng thủy sản, tới năm 2009 mảng nuôi trồng thủy sản đã đóng góp 37% tổng sản lượng Năm 2010, tổng sản lượng thuỷ sản toàn thế giới đạt khoảng 147 triệu tấn, tăng 1,3% so với năm 2009 Trong đó, sản lượng đánh bắt duy trì xu hướng giảm nhẹ khi giảm từ 90 triệu tấn trong năm 2009 xuống còn 89,8 triệu tấn trong năm 2010 (tương đương mức 0,2%)
Biểu đồ 1.1 Sản lượng thủy hải sản thế giới (triệu tấn)
Sản lượng thủy sản thế giới (triệu tấn)
Trang 11Hoàng Thị Ngọc Linh 4 Cao học khóa 2008 - 2010
Biểu đồ 1.2 Cơ cấu đánh bắt - nuôi trồng thủy sản thế giới năm 2009
(Nguồn: FAO)
Khu vực Châu Á chiếm ưu thế, cung cấp trên 60% lượng thủy sản hàng năm Trong đó, Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, chiếm 35% sản lượng thủy sản toàn cầu và 69%
sản lượng nuôi trồng thế giới năm 2009
* Nhu cầu tiêu thụ
Hình 1.1 Nhu cầu tiêu thụ thủy sản thế giới
Theo nghiên cứu, mức tiêu dùng thủy sản ở các quốc gia rất khác nhau
và không có mối liên hệ chặt chẽ với mức sống và khả năng chi trả của người dân Một số quốc gia có thu nhập trung bình lại có mức tiêu thụ thủy sản/người/năm tương đối cao như Malaysia (55.4kg), Tonga (53.1kg)… trong khi đó, dân cư các khu vực có mức sống cao như EU, Mỹ tiêu dùng thủy sản
Trang 12Hoàng Thị Ngọc Linh 5 Cao học khóa 2008 - 2010
khá thấp Các nước như Iceland (90.5kg), Nhật Bản (63.2kg) lại nằm trong trường hợp mức sống và tiêu thụ đều tốt Vì vậy có thể thấy rằng, khả năng tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố như tập quán ẩm thực, vị trí địa lý (gần biền) và thường ít có sự đột biến
Trong vòng 40 năm trở lại đây, nhu cầu thủy sản tăng cao, khoảng 3%/năm, tăng nhanh so với tốc độ tăng trưởng dân số là 1.7%/năm Các sản phẩm thủy sản cung cấp 16% lượng đạm động vật cho toàn thế giới và 30% - 50% ở châu Á Tiêu dùng thực phẩm thủy sản bình quân đầu người từ năm
2006 ở mức 16.8 kg/người/năm Theo dự phóng của FAO, trong giai đoạn hiện tại đến 2025, tốc độ tăng tiêu dùng thủy sản sẽ tăng khoảng 2%/năm, nhỉnh hơn tốc độ dự phóng tăng trưởng dân số là 1.4%//năm
Biểu đồ 1.3 Tiêu thụ thủy sản /người/năm tại Nhật
Trang 13Hoàng Thị Ngọc Linh 6 Cao học khóa 2008 - 2010
Biểu đồ 1.4 Tiêu thụ thủy sản/người/năm tại Mỹ
Biểu đồ 1.5 Tiêu thụ thủy sản và mức tăng trưởng dân số tại EU
Nguồn: NOAA (Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ)
1.1.2 Ở Việt Nam
Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km; Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế trên biển rộng hơn 1 triệu km2 Việt Nam cũng có vùng mặt nước nội địa lớn rộng hơn 1,4 triệu ha nhờ hệ thống sông ngòi, đầm phá dày đặc Vị trí
Trang 14Hoàng Thị Ngọc Linh 7 Cao học khóa 2008 - 2010
địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp Việt Nam có nhiều thế mạnh nổi trội để phát triển ngành thủy sản ở các lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng và hậu cần dịch vụ Trong đó, có thể phát triển nuôi trồng thủy sản ở tất cả các vùng sinh thái khác nhau, từ vùng núi, trung du, đồng bằng đến các vùng biển đảo Việc khai thác thủy sản ở hầu hết các thuỷ vực từ vùng ven bờ đến vùng khơi, hay sâu trong nội địa; Việc phát triển hệ thống cảng cá, bến cá ở các vũng vịnh, cửa sông và tuyến đảo Vì thế, sản xuất thuỷ sản nước ta được xem
là một nghề truyền thống, gắn bó với các cộng đồng dân cư ở các vùng nông thôn và ven biển Đưa nghề cá trong nước thành nghề cá nhân dân, một ngành kinh tế đi đầu trong hội nhập kinh tế thế giới và đã phát huy mạnh mẽ nhiều
mô hình kinh tế “dân doanh” thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành
Từ năm 1990 đến nay [10] tổng sản lượng thuỷ sản tăng gấp 4,1 lần, với tốc độ tăng trưởng bình quân năm 8,11%/năm; Đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 18,5 lần, tương đương với tốc độ tăng trưởng bình quân năm 17,61
%/năm; Giá trị sản xuất tăng gấp 5,7 lần, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân năm 10,19 %/năm; Giải quyết lao động gấp 2,5 lần và đạt tốc độ tăng bình quân năm 5,26 %/năm Để đạt được những thành tựu trên, được đóng góp từ nuôi trồng với sản lượng luôn tăng 6,7 lần và tốc độ tăng trưởng 11,17 %/năm Trong khi đó sản lượng khai thác chỉ tăng 2,9 lần và tốc độ tăng trưởng 6,12%/năm
1.1.2.1 Trữ tượng khai thác
Với lợi thế về vị trí địa lý đã cung cấp cho vùng biển đặc quyền kinh
tế của nước ta trữ lượng hải sản dao động trong khoảng 3,2 - 4,2 triệu
tấn/năm [16] với khả năng khai thác bền vững 1,4 - 1,8 triệu tấn; không kể trữ
lượng cá đại dương di cư và sinh vật đáy vùng triều Trong đó, cá nổi nhỏ có trữ
Trang 15Hoàng Thị Ngọc Linh 8 Cao học khóa 2008 - 2010
lượng 1,74 triệu tấn, cá đáy 2,14 triệu tấn, cá nổi đại dương 0,3 triệu tấn Nhưng khả năng khai thác đạt tương ứng 0,69 triệu tấn; 0,86 triệu tấn, 0,12 triệu tấn Trữ lượng khai thác tập chung ở các tỉnh: Quảng Ninh (51.380 tấn);
Quảng Nam (đạt 57.610 tấn, tăng 5,06% so với năm trước và đạt 106% kế hoạch); Ninh Thuận (đạt 52.500 tấn, tăng 4% so với năm 2009, đạt 105% so với kế hoạch); Khánh Hòa (đạt 76.391 tăng 5% so với cùng kỳ năm 2009, đạt 103,2% so với kế hoạch); Bình Định (đạt 132.000 tấn); Cà Mau (144.360
tấn); Bến Tre (117.116 tấn); Tiền Giang (76.291 tấn)
Trữ lượng cá có chiều hướng tăng dần theo sự giảm dần của Vĩ độ (tức tăng dần từ Bắc vào Nam) Trong tổng trữ lượng cá ở vùng Vịnh Bắc Bộ đạt 681.166 tấn, vùng biển miền Trung 606.399 tấn, Đông Nam Bộ 2.075.889 tấn, nhưng ở vùng Tây Nam Bộ 506.679 tấn, cá nổi đại dương 300.000 tấn
Bảng 1.1 Nguồn lợi hải sản Việt Nam
Tỷ
lệ (%)
Tấn
Tỷ
lệ (%)
Trang 16Hoàng Thị Ngọc Linh 9 Cao học khóa 2008 - 2010
>50m 87.905 14,5 35.162 14,5 Cộng 106.399 17,5 42.560 17,5
Cộng 1.551.88
9 74,8 620.856 74,8
Trang 17Hoàng Thị Ngọc Linh 10 Cao học khóa 2008 - 2010
1.1.2.2 Sản lượng và năng suất khai thác
Ngành thủy sản Việt Nam phát triển liên tục với tốc độ tăng bình quân 9%/năm Sản lượng thuỷ sản năm 2010 đạt 5127,6 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2009, trong đó cá đạt 3847,7 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm 588,8 nghìn tấn, tăng 7,1% Tính đến chín tháng năm 2011 ước tính đạt 4082,0 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 3072,2 nghìn tấn, tăng 3,5%; tôm đạt 446,8 nghìn tấn, tăng 3,4%; thủy sản khác 563 nghìn tấn, tăng 6% [8]
Việc tăng sản lượng khai thác chủ yếu do tăng tổng công suất tàu thuyền, đưa sản lượng khai thác từ 0,71 triệu tấn năm 1990 lên đến 2,42 triệu tấn năm
2010 Năng suất khai thác theo đơn vị thuyền có chiều hướng ngày càng tăng từ 9,7 tấn/thuyền (1990) lên 23,6 tấn/thuyền (năm 2010) [8],[10]
Sản lượng khai thác của 10 tỉnh ven biển vinh Bắc bộ từ Quảng Ninh đến Quảng Trị chiếm 15,4% tổng sản lượng khai thác hải sản cả nước Các tỉnh miền Trung từ Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận gồm 8 tỉnh chiếm 24,4% sản lượng khai thác hải sản của cả nước Các tỉnh miền Đông Nam Bộ 20,9% sản lượng của cả nước Các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long chiếm 39,3 % sản lượng của nước.[10]
1.1.2.3 Lao động nghề khai thác thủy sản
Trong giai đoạn 2000-2010, số lao động tham gia khai thác thủy hải sản trên toàn quốc ngày càng tăng, từ 1,64 triệu người năm 2000 lên đến 2,11 triệu[10] người năm 2010, đưa tốc độ tăng về lao động 2,31%/năm
Đối với đánh bắt thủ công, sử dụng tàu thuyền công suất nhỏ có số lao động đánh bắt bình quân từ 2 - 5 người/1đơn vị tàu thuyền Tuy không có số liệu chính xác nhưng ước lượng số lao động khai thác hải sản gần bờ khoảng 40% tổng số lao động đánh bắt cá
Trang 18Hoàng Thị Ngọc Linh 11 Cao học khóa 2008 - 2010
Đối với tàu thuyền đánh bắt hoạt động xa bờ bao gồm tàu trên 90 CV trở lên và tàu có công suất 50-90 CV làm các nghề câu, rê, vây, chụp mực, thì
số tàu thuyền hoạt động ở tuyến gần bờ gồm khoảng 11.000 thuyền thủ công
và 70% số tàu thuyền máy thì số lao động dánh cá chiếm tới 60%
Đặc điểm dân cư khu vực nghề cá vùng ven biển thuộc loại trẻ, số trẻ em dưới độ tuổi lao động chiếm khoảng 40% dân số toàn vùng, số lao động trẻ ở nhóm tuổi 16 - 35 chiếm khoảng 65,2% lực lượng lao động toàn vùng Với đặc điểm đó, tạo cho dân số vùng ven biển một lực lượng lao động dồi dào
1.1.2.4 Chế biến, thương mại thủy sản
Chế biến xuất khẩu là lĩnh vực phát triển nhanh và có thể coi là động lực cho tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu trong khai thác và nuôi trồng thủy sản Đến nay, cả nước đã có trên 439 nhà máy với tổng công suất 4.262 tấn/ngày, sản xuất các mặt hàng thuỷ sản cao cấp bằng các dây chuyền tiên tiến Hàng thuỷ sản đã xuất khẩu sang trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, các thị trường chủ yếu là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc Bên cạnh đó, xuất hiện nhiều mặt hàng nội địa trên các chợ đầu mối, các nhà hàng, khách sạn và siêu thị
1.1.2.5 Dịch vụ, hậu cần nghề cá
* Đóng tàu thuyền
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng trên 700 cơ sở đóng, sửa chữa tàu thuyền; có khả năng đóng mới hơn 4000chiếc/năm, sửa chữa 10.000chiếc/năm Chủ yếu là đóng tàu vỏ gỗ, kỹ thuật đóng tàu dựa theo kinh nghiệm của ngư dân và theo mẫu của từng địa phương, quy mô nhỏ, phân tán, công nghệ lạc hậu, thủ công nên chất lượng và tuổi thọ của tàu không cao, chưa đảm bảo an toàn khi gặp sóng to, gió lớn
Trang 19Hoàng Thị Ngọc Linh 12 Cao học khóa 2008 - 2010
Một số cơ sở đóng tàu phục vụ cho ngành thủy sản có đủ năng lực đóng tàu thuyền theo thiết kế không nhiều (khoảng trên dưới 10 đơn vi), chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Bắc và khu vực miền Trung
* Cảng cá, bến cá
Thời gian trước năm 1998, cả nước chỉ có một số cảng nhỏ phục vụ cho tàu cá như: Hạ Long, Cửa Gấm, Cát Bà, Diêm Điền (Thái Bình); Ninh Cơ (Nam Định); Lạch Hới, Lạch Bạng (Thanh Hóa); Cửa Hội (Nghệ An); Sông Gianh (Quảng Bình); Đà Nẵng (Đà Nẵng); Cam Ranh, Cầu Bóng (Khánh Hòa); Phan Thiết (Bình Thuận); Cát Lở (Vũng Tàu); Bến Nghé (tp Hồ Chí Minh); Hòn Chông (Kiên Giang) và một số cảng ghép chung với cảng vận tải của các địa phương
Thời gian qua, do ảnh hưởng lớn của các đợt bão – lũ việc xây dựng cảng mới được chú ý Đến nay, tại các địa phương và tuyến đảo hàng loạt các cảng, bến neo đậu tàu thuyền được củng cố và chú trọng xây dựng Tính tới cuối năm 2002 ngành thủy sản đã có 110 cảng cá tại các tỉnh ven biển và 16 cảng trên các đảo
1.2 Cơ sở lý luận của phát triển bền vững ngành thủy sản
1.2.1 Quan niệm về phát triển bền vững
* Khái niệm:
Khái niệm phát triển bền vững được khẳng định tại Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường và phát triển ở Rio de Janeiro năm 1992, Braxin: “phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại, làm tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu của các thể
hệ mai sau”
Về bản chất, phát triển bền vững trước hết phải là một quá trình phát triển mà trong đó quan hệ không gian giữa ba mảng phúc lợi – kinh tế, xã hội
Trang 20Hoàng Thị Ngọc Linh 13 Cao học khóa 2008 - 2010
và môi trường luôn được điều chỉnh tối ưu, cũng như mối quan hệ theo trục thời gian về nhu cầu và lợi ích giữa các thế hệ được giải quyết hài hòa Có thể nói, phát triển bền vững không dễ dàng đạt được trong thực tế, vì yếu tố phát triển luôn thay đổi, thậm chí thay đổi rất nhanh so với khả năng điều chỉnh Bởi vậy, phát triển bền vững chỉ là mục tiêu mong đợi về mặt xã hội, nhưng lại là nhu cầu và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, của các ngành kinh tế, vùng lãnh thổ và các địa phương
1.2.2 Phát triển bền vững ngành thủy sản
1.2.2.1 Ngành thủy sản và nhu cầu phát triển bền vững
Thời gian qua, ngành thủy sản đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động nông thôn Thủy sản được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta Ngày 11/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
số 10/2006/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Theo đó, ngành thủy sản phải phấn đấu trở thành một ngành sản xuất hàng hoá lớn, sản phẩm thuỷ sản phải
có sức cạnh tranh cao trên các thị trường để tiếp tục phát triển nhanh và bền vững Trong khi xuất phát điểm vốn là một nghề cá quy mô nhỏ với phương thức canh tác truyền thống, với thực trạng sản xuất của ngành còn manh mún,
bị cắt khúc giữa các khâu, dựa vào kinh tế hộ gia đình Tài nguyên thiên nhiên – nền tảng để phát triển thuỷ sản, luôn bị chia sẻ giữa các mục đích phát triển khác nhau Mâu thuẫn giữa các yếu tố phát triển như vậy đã tạo ra thách thức rất lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững và sẽ làm nảy sinh không ít khó khăn trong quá trình phát triển ngành
Trang 21Hoàng Thị Ngọc Linh 14 Cao học khóa 2008 - 2010
1.2.2.2 Tính bền vững trong phát triển ngành thủy sản
Theo tác giả Anthony Charles (1994) sự phát triển bền vững ngành thủy sản được dựa trên 04 thành tố căn bản của tính bền vững: bền vững sinh thái, bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững thể chế [25]
- Bền vững sinh thái: quan tâm dài hạn để đảm bảo rằng sản lượng thu hoạch đạt tới mức bền vững, tránh làm cạn kiết nguồn lợi, quan tâm đến việc duy trì cơ sở nguồn lợi và các loài liên quan ở mức không gây tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu cho thế hệ tương lai, duy trì hoặc tăng cường tính thích ứng và tính ổn định của hệ sinh thái
- Bền vững kinh tế: tập trung ở tầm vĩ mô, nghĩa là duy trì hoặc gia tăng lợi ích kinh tế xã hội tổng thể trong dài hạn Lợi ích kinh tế xã hội được dựa trên sự kết hợp các chỉ số kinh tế và xã hội có liên quan, tập trung chủ yếu vào việc tạo ra các lợi ích ròng bền vững, phân phối hợp lý những lợi ích này giữa các thành viên tham gia vào ngành thủy sản, và duy trì sự tồn tại của toàn bộ hệ thống trong nền kinh tế trong nước và thế giới
- Bền vững xã hội: tập trung ở tầm vi mô, nghĩa là duy trì hoặc nâng cao phúc lợi kinh tế, văn hóa cho nhóm cộng đồng trong hệ thống thủy sản
- Bền vững thể chế: liên quan tới việc duy trì năng lực tài chính, hành chính và tổ chức phù hợp trong dài hạn được xem là điều kiện tiên quyết cho
sự thành công của 03 thành tố trên Tính bền vững về thể chế bao gồm hàng loạt các quy định quản lý ngành thủy sản và các tổ chức để thực hiện những quy định đó: Các cơ quan hữu quan quản lý thủy sản một cách chính thức ở cấp chính phủ, cộng đồng, ngư dân hoặc không chính thức (hiệp hội ngư dân hay tổ chức phi chính phủ) Yêu cầu quan trọng để đạt tính bền vững thể chế
là khả năng quản lý và thực thi các quy định về sử dụng nguồn lợi
Trang 22Hoàng Thị Ngọc Linh 15 Cao học khóa 2008 - 2010
Hình 1.2.Mô hình phát triển bền vững của Anthony Charles
1 3 Khái quát hóa các công trình khoa học liên quan tới vấn đề nghiên cứu
Bài viết “Tổng quan nguồn lợi thủy sản, chiến lược và chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam” (Thuộc dự án DANIDA) của TS Nguyễn Duy Chính cho thấy một cách nhìn tổng quát nhất về ngành thủy sản Việt Nam trong thời gian quan (tính đến năm 2008) Bao gồm các vấn đề: nguồn lợi, hiện trạng khai thác, nuôi trồng, chế biến, thương mại thủy sản và những chính sách ảnh hưởng đến sự phát triển ngành thủy sản Việt Nam
Việc phân tích, đánh giá sự phát triển bền vững ngành thủy sản đã được rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu nước ta thực hiện qua nhiều đề tài, chương trình, đề án như: đề tài “Xây dựng khung phân tích đa chiều và hệ thống chỉ số đánh giá phát triển bền vững của ngành thủy sản – trường hợp ngành thủy sản Khánh Hòa” của nhóm nghiên cứu đại học Đà Nẵng và Đại học Nha Trang: Lê Thế Giới, Nguyễn Trường Sơn, Nguyễn Thị Trâm Anh
Đề tài này đã đăng trên Tạp chí khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng số 5 (40)/2010 Qua việc phân tích, đánh giá các chỉ số cho thấy được việc phát
Trang 23Hoàng Thị Ngọc Linh 16 Cao học khóa 2008 - 2010
triển ngành thủy sản bền vững đòi hỏi thành quả đồng thời của 4 thành tố: sinh thái, kinh tế, xã hội và thể chế
Những đề tài nghiên cứu về ảnh hưởng của hoạt động thủy sản tới môi
trường như: “Đánh giá các tác động ảnh hưởng tới chất lượng nước vùng nuôi
tôm Cân Giờ” của tác giả Lê Mạnh Tân – Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG
– HCM đăng trên tạp chí phát triển KH&VN, tập 9, số 4 – 2006 Bài viết nghiên cứu 02 vấn đề chính là: Đánh giá các hoạt động nội vi và ngoại của hoạt động nuôi tôm ảnh hưởng tới chất lượng môi trường nước trong khu vực Để từ
đó mở ra khả năng trong việc cải thiện môi trường nước trong khu vực
Các chuyên khảo về hệ thống đảo ven bờ Việt Nam; đề tài KT.03.12,
1993 của Lê Đức An về “Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên quần đảo
Cô Tô - Thanh Lam” - đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu huyện đảo Cô Tô trọn
vẹn nhằm hệ thống hoá các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế, đảm
bảo an ninh quốc phòng Đề tài KC.09.20 của Phạm Hoàng Hải về “Đánh giá
tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế xã hội; thiết lập cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho một số huyện đảo”, 2003-
2006 trong đó có nhiều bản đồ được xây dựng và chỉnh sửa như: bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ đất, bản đồ địa hình, bản đồ địa mạo, bản đồ thảm thực vật, bản đồ địa chất thuỷ văn, ảnh viễn thám, bản đồ cảnh quan… tập dữ liệu bản đồ và báo cáo khảo sát thực địa qua nhiều chuyến công tác ra đảo góp phần đánh giá thực trạng của địa phương và đưa ra định hướng phát triển kinh tế – xã hội
Trang 24Hoàng Thị Ngọc Linh 17 Cao học khóa 2008 - 2010
1.4 Khái quát các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và hiện trạng môi trường khu vực nghiên cứu
1.4.1 Các điều kiện tự nhiên
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Cô Tô là một huyện đảo nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, được thành lập vào ngày 29/3/1994 Đây là một huyện đạo tiền tiêu của Việt Nam, gồm hơn 40 đảo lớn nhỏ trên vùng biên giới Đông Bắc của Tổ quốc trong
Trang 25Hoàng Thị Ngọc Linh 18 Cao học khóa 2008 - 2010
- Phía Nam giáp vùng biển đảo Bạch Long Vĩ – Hải Phòng
- Phía Bắc giáp vùng biển Cái Chiên thuộc huyện Hải Hà và đảo Vĩnh Thực thuộc thành phố Móng Cái - Quảng Ninh
Những đảo lớn thuộc huyện đảo Cô Tô: Cô Tô lớn, Thanh Lân, đảo Trần và Cô Tô con Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 4.789 ha, trong đó
Cô Tô lớn – 1.562 ha, Thanh Lân – 1.887 ha, đảo Trần – 512 ha, Cô Tô con –
210 ha, còn lại là những đảo nhỏ
1.4.1.2 Đặc điểm tự nhiên
a) Địa hình
Cô Tô là một huyện đảo bao gồm nhiều đảo lớn nhỏ và hợp thành một vòng cung thoải quay chiều lõm ra khơi vịnh Bắc Bộ, chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam Loại địa hình này phù hợp cho việc hình thành nơi trú đậu của tàu thuyền khi cập bến, tránh bão
Cô Tô thuộc loại địa hình đồi núi thấp, bị chia cắt mạnh, sườn dốc, không đối xứng Đỉnh núi cao nhất không vượt quá 200m Đảo Thanh Lân có
độ cao lớn nhất là 199m, tiếp đến là đảo Trần 187m, đảo Cô Tô lớn 174,5m, đảo Cô Tô con 106,7m Độ dốc sườn chủ yếu trên 20o
, có chỗ tới 50 – 60o Ở những nơi núi lan ra sát biển và đang bị biển phá mòn, rất phổ biến với những vách dốc đứng
b) Đặc điểm khí hậu
Huyện đảo Cô Tô có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa và bị chi phối khí hậu duyên hải, chịu ảnh hưởng và tác động của biển, tạo ra những tiểu vùng sinh thái hỗn hợp miền núi ven biển
* Nhiệt độ và chế độ nắng
Trang 26Hoàng Thị Ngọc Linh 19 Cao học khóa 2008 - 2010
Nhiệt độ trung bình năm 22 - 230C, dao động từ 17 – 280C, nhiệt độ trung bình cao nhất từ 27-300C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 36,20C Về mùa đông, nhiệt
độ trung bình thấp nhất từ 13,5-15,80
C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 4,40C
Lượng nắng ở Cô Tô rất lớn, tổng số giờ nắng trung bình nhiều năm đạt
từ 1700-1800giờ/năm Phần lớn thời gian từ tháng 4 đến tháng 12 có số giờ nắng trên 100 giờ/tháng Tháng 7 là tháng có nhiều nắng nhất tới 230 giờ/tháng, trung bình có 7,4giờ/ngày Vào cuối mùa đông ít nắng, tháng 11 là
ít nắng nhất trong năm, chỉ đạt 41 giờ/tháng
* Độ ẩm
Độ ẩm không khí trung bình năm là 84%, đạt mức trung bình so với các huyện, thị, thành phố trong tỉnh Độ ẩm không khí thường thay đổi theo mùa và các tháng trong năm Tháng 3,4 đạt tới 90%, thấp nhất vào tháng 10,11 là 77-78%
* Mưa
Cô Tô là huyện nằm trong vùng mưa lớn thuộc phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, lượng mưa trung bình năm tương đối cao so với toàn tỉnh, đạt ở mức trung bình là 1.707,8 mm, năm cao nhất là 2.561,8 mm, thấp nhất khoảng 908,5 mm, phân bố không đều trong năm và phân thành 2 mùa rõ rệt:
Mùa mưa nhiều: thường từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm 78-80% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa cao nhất vào tháng 8 đạt 396,1mm
Mùa mưa ít: từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, chiếm 20 – 22% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa ít nhất là tháng 12, 1, 2 đạt 20 -26 mm
Trang 27Hoàng Thị Ngọc Linh 20 Cao học khóa 2008 - 2010
đặc biệt tháng 6 và tháng 8, cơn giông thường xuất hiện kéo dài 15 đến 20 ngày, giông kèm theo mưa to, gió mạnh tạo ra vùng gió xoáy gây nguy hiểm cho các phương tiện hoạt động trên biển
Gió mùa Đông Bắc: xuất hiện vào mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, tốc độ gió trung bình từ 4 - 6 m/s Đặc biệt khi gió mùa Đông Bắc tràn về, các tàu đánh cá phải tìm nơi trú đậu và phải chống rét cho một số giống thủy sản
* Bão: Quần đảo Cô Tô là một trong những nơi chịu ảnh hưởng lớn của bão, bão thường xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 11, nhiều nhất là tháng 6 đến tháng 8, bão thường gây ra gió mạnh từ 40-50 m/s và mưa lớn từ 300 - 400 mm/ngày
c) Điều kiện thủy văn và tài nguyên nước
- Đảo Cô Tô: ngoài suối và dòng chảy nhỏ trên đảo còn có 11 hồ chứa
nhỏ phục vụ chủ yếu cho cấp nước sinh hoạt và sản xuất (nhất là sản xuất nông nghiệp) Hầu hết những hồ và dòng chảy trên đảo vào mùa khô bị cạn nước, rất ít hồ và suối có nước (trừ hồ C4 và suối Hồng Vàn)
- Đảo Thanh Lam: trên đảo có 3 suối lớn, tập trung ở phía Tây Bắc của
đảo Ngoài ra, trên đảo Thanh Lam còn có một số hồ nhỏ chủ yếu dùng để cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
d) Đất và tài nguyên đất
Quá trình feralit và laterit xảy ra mạnh mẽ là đặc trưng trong hình thành lớp phủ thổ nhưỡng trên các đảo Khí hậu nhiệt đới gió mùa khiến cho quá trình khoáng hoá diễn ra nhanh, tầng đất mỏng và độ mùn thấp Mạng lưới thuỷ văn nghèo nên không hình thành các vạt phù sa Đất trên huyện đảo hình thành trong điều kiện địa hình có năng lượng cao, lượng mưa lớn nên rất dễ xảy ra xói lở
Trang 28Hoàng Thị Ngọc Linh 21 Cao học khóa 2008 - 2010
e) Tài nguyên sinh vật
Đối với huyện đảo Cô Tô, tài nguyên sinh vật được nghiên cứu rất đa dạng từ những sinh vật trên đảo (động vật và thực vật), tài nguyên thuỷ sinh vật và các nguồn lợi từ hải sản tại quần đảo này
* Tài nguyên sinh vật trên đảo
Đặc điểm và tài nguyên thực vật đảo: thực vật trên quần đảo Cô Tô hiện nay được ước tính khoảng 472 loài thực vật bậc cao với 339 loài thực vật
tự nhiên và 133 loài thực vật trồng, trong số này có 442 loài có ích Nhóm thực vật này chủ yếu là các loài cây lấy gỗ (trong các khu rừng tự nhiên và rừng trồng) với nhiều tác dụng như tạo nên hệ sinh thái đa dạng, cung cấp các sản phẩm, thực phẩm phụ từ lâm nghiệp như: mật ong, các loài thuốc… và cũng là nguồn sinh thuỷ (nơi tạo và lưu trữ nước rất tốt cho đảo)
* Tài nguyên thuỷ sinh vật và nguồn lợi hải sản thuộc quần đảo Cô Tô
Đây là khu vực được đánh giá cao về sự đa dạng sinh học với nhiều loài quí hiếm của vịnh Bắc bộ Thuỷ sinh vật thuộc quần đảo Cô Tô rất phong phú và đa dạng với nhiều hệ sinh vật khác nhau, theo Nguyễn Huy Yết, sinh vật biển trong vùng biển Cô Tô bao gồm :
- Khu hệ thực vật phù du: xác định được 292 loài vi tảo thuộc 91 chi,
30 họ, 9 bộ và 4 lớp
- Khu hệ động vật phù du: với 112 loài và 10 nhóm khác thuộc 53
giống, 37 họ, 10 bộ, 7 lớp và 5 ngành
- Khu hệ rong biển: với 166 loài thuộc 4 ngành và 37 họ, sự phân bố
phụ thuộc vào vật bám, thành phần chất đáy và độ nghiêng mặt đáy Phần lớn các loài rong biển tập trung ở dải triều thấp (vùng triều) và dải phần trên (vùng triều dưới)
Trang 29Hoàng Thị Ngọc Linh 22 Cao học khóa 2008 - 2010
- Khu hệ động vật đáy: với 67 loài có giá trị kinh tế trong tổng số 207
loài (151 loài thân mềm, 36 loài giáp xác, 15 loài giun, 5 loài da gai) Các loài
có giá trị về thực phẩm được kể đến như: cua, bào ngư, ốc hương
- Khu hệ san hô: là hệ sinh thái thuỷ sinh quan trọng đối với mỗi vùng
biển thuộc 3 họ chính là: họ San hô cành, họ San hô xương rỗng và họ San hô khối Theo tiêu chuẩn của UNESCO thì một số loại rạn san hô thuộc quần đảo
Cô Tô được đánh giá là loại rạn rất tốt so với khu vực quanh vịnh Bắc bộ
- Khu hệ cá: cấu trúc hệ cá bao gồm 4 nhóm: nhóm cá lợ, cá đáy, nhóm
cá nổi và nhóm cá san hô với 408 loài thuộc 214 giống và 92 họ; có rất nhiều loài có giá trị kinh tế cao như: cá thu, cá chim, cá song, cá mú…
Hình 1.4 Bãi tắm Hồng Vàn Hình 1.5 Khu hệ đảo thuộc huyện Cô
Tô (nhìn từ Cầu Mỵ)
Hình 1.6 Khu hệ thực vật Cô Tô (nhìn từ ngọn Hải Đăng)
Trang 30Hoàng Thị Ngọc Linh 23 Cao học khóa 2008 - 2010
1.4.2 Khái quát các điều kiện kinh tế - xã hội
1.4.2.1 Dân cư và nguồn lao động
Biến động dân số: trước năm 1978 dân số trên huyện đảo là 6.740 (với 90% dân số là người Việt gốc Hoa), đến năm 2004 là 5.085 người; trong đó
có 54,27% là nam và 47,73% nữ Năm 2010 tổng dân số là 5.650người, trong
đó 2.885 nam, 2.765 nữ
Số người trong độ tuổi lao động là 3240 người, chiếm 57,37% dân số, lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp (49,1%), ngư nghiệp (43,4%) Số lao động trong các ngành khác chiếm tỷ lệ nhỏ: dịch vụ
là 3,8%, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 3,7%, làm việc trong khu vực Nhà nước chiếm 5,8%
1.4.2.2 Cơ sở hạ tầng
Mạng lưới giao thông: Mạng lưới đường giao thông trên địa bàn huyện
(trên bộ, trên biển) bước đầu đã được đầu tư nâng cấp Đặc biệt, huyện đã tiến hành bê tông hoá tuyến đường xuyên đảo Tiến hành xây mới 26 km đường nhựa, nâng cấp, sửa chữa trên 30 km đường khu vực nội thị và các đường nhánh đến khu dân cư, phần nào đáp ứng nhu cầu của người dân và khách du lịch
Điện năng: Hiện nay, huyện đã được UBND tỉnh phê duyệt dự án xây
dựng nhà máy phát điện với công suất 5MW với tổng kinh phí 300 tỷ đồng Đây là niềm mong ước bao đời nay của người dân huyện đảo
Bưu chính viễn thông: hiện nay huyện đã có một bưu cục trung tâm ở
thị trấn Cô Tô và 2 bưu cục văn hoá xã với trang thiết bị hiện đại, đa dịch vụ…đã đáp ứng nhu cầu liên lạc của người dân và du khách Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn huyện đã được nâng cấp và mở rộng, phủ sóng các mạng điện thoại lớn : Viettel, Vinaphone, Mobifone
Trang 31Hoàng Thị Ngọc Linh 24 Cao học khóa 2008 - 2010
Hệ thống thuỷ lợi: huyện đã đầu tư khôi phục và xây dựng 14 hồ chứa
nước lớn nhỏ và khoảng 6 km kênh mương nội đồng để tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp
Hình 1.7 Một góc nhìn của thị
trấn Cô Tô
Hình 1.8 Một tuyến đường trong thị trấn Cố Tô
1.4.2.3 Hiện trạng phát triển kinh tế
Từ khi triển khai thực hiện bản Quy hoạch năm 2000 đến nay, kinh tế
xã hội của huyện đảo Cô Tô có sự đổi thay nhanh chóng, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt Về phát triển kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2005 tăng 11,5%, năm 2010 đạt mức tăng 14%; thu nhập bình quân đầu người năm 2000 là 450 USD, năm 2010 đạt 820 USD Tổng sản lượng khai thác hải sản năm 2005 đạt 4.500 tấn, năm 2010 đạt 14.150 tấn Năm 2005 có
Trang 32Hoàng Thị Ngọc Linh 25 Cao học khóa 2008 - 2010
1.4.2.4 Văn hóa – Y tế - Giáo dục
* Văn hoá: được thực hiện với các phong trào đời sống văn hoá khu
dân cư, phong trào thể dục thể thao được duy trì đều đặn đã khích lệ được người dân, các cơ quan hành chính sự nghiệp và các đơn vị lực lượng vũ trang tham gia tích cực Ngoài ra, người dân trên huyện đảo Cô Tô theo hai tôn giáo chính là đạo Thiên chúa có một số nhà thờ nhỏ và đạo Phật có đền và các miếu Nhìn chung đối với tôn giáo, do đây là đảo với ít số người và chủ yếu đến sống trên đảo do các chính sách di dân và đóng quân của bộ đội nên rất ít
các lễ hội và phong tục truyền thống của địa phương
* Y tế: là huyện đảo xa bờ nên công tác y tế ở đây được phối hợp với quân đội đóng trên đảo thực hiện khám, chữa và tiêm phòng bệnh cho trẻ em
và người dân Huyện có 3 trạm y tế xã, thị trấn và 1 trung tâm y tế với 10 giường bệnh với tổng số đội ngũ thầy thuốc và nhân viên phục vụ là 12 người
* Giáo dục: hiện tại ở thị trấn và các xã đều có trường mẫu giáo, mầm non, tiểu học và trung học cơ sở, riêng tại thị trấn Cô Tô đã có trường cấp 2-3 Đội ngũ giáo viên hiện có là 127 người Các trường học hiện nay được kiên
cố hoá và chất lượng học tập của học sinh được tăng lên qua từng năm
1.4.3.Sơ lược đánh giá hiện trạng môi trường
a) Hiện trạng môi trường đất
Trang 33Hoàng Thị Ngọc Linh 26 Cao học khóa 2008 - 2010
Do đặc thù về địa hình và sự suy thoái thảm thực vật cùng với những hoạt động khai thác và sử dụng đất không hợp lý của con người, huyện đảo Cô Tô đã
và đang phải đối mặt với những thách thức về môi trường đất như: xói mòn, rửa trôi, mất độ phì và dinh dưỡng, trượt lở, chua hóa Hiện trạng sử dụng đất cũng ảnh hưởng rất lớn tới môi trường đất
b) Hiện trạng môi trường nước
Hiện trạng môi trường nước bao gồm: hiện trạng môi trường nước trên đảo (chất lượng nguồn nước mặt, nguồn nước ngầm) và hiện trạng môi trường nước biển ven đảo
* Hiện trạng môi trường nước mặt
Hiện nay trong quá trình sản xuất và sinh hoạt, hầu hết các chất xả thải
dễ phân huỷ được thấm và ngấm qua đất - và một lượng không nhỏ các chất hữu cơ được đưa vào nguồn nước: kể cả nước mặt và nước ngầm Tại một số nơi gần khu dân cư, hiện tượng ô nhiễm chất hữu cơ đã được thấy qua một số khu vực nước bị tù đọng lâu ngày Đây là môi trường dễ gây một số bệnh thông qua đường tiêu hoá cho người và vật nuôi - cũng là nơi có nguy cơ truyền bệnh dịch như sốt xuất huyết, tiêu chảy
* Hiện trạng môi trường nước ngầm
Nước dưới đất là một yếu tố rất quan trọng đối với đảo Cô Tô Đây là nguồn tài nguyên quí giá nhất để có thể phát triển sản xuất cũng như duy trì đời sống dân cư trên đảo Nước ngầm tại huyện đảo Cô Tô chủ yếu do nước mưa cung cấp, nên nó liên quan chặt chẽ đến mùa mưa trong năm
Về chất lượng nguồn nước ngầm [13]: mẫu nước đã được lấy trong các giếng để đánh giá chất lượng nước dưới đất của huyện đảo Cô Tô Chất lượng nước dưới đất được đánh giá dựa vào tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5944-1995 (giá trị giới hạn cho phép của các thông số và nồng độ các chất ô nhiễm trong
Trang 34Hoàng Thị Ngọc Linh 27 Cao học khóa 2008 - 2010
nước ngầm), có so sánh với tiêu chuẩn chất lượng nước mặt (loại A: 1995) có thể dùng làm nguồn nước sinh hoạt (phải qua xử lý) Chất lượng nguồn nước ngầm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và đời sống người dân Nếu nguồn nước không thực sự đảm bảo vệ sinh sẽ gây ra nhiều bệnh liên quan đến nước như: các bệnh ngoài da, tiêu chảy… đặc biệt là đối với nước không qua tiệt trùng trước khi đưa vào sử dụng
5942-* Hiện trạng môi trường nước biển ven đảo
Đảo Cô Tô là một đảo khá xa đất liền, do vậy nguồn chất thải từ đất liền chuyển ra các vùng biển ven bờ đã được pha loãng và khuếch tán nhiều trong đại dương Nhìn chung chất lượng nước vùng biển quanh đảo Cô Tô có chất lượng tốt (chưa bị ô nhiễm) [13] Tuy nhiên, trong quá trình diễn ra các hoạt động giao thông trên biển và hiện tượng xả thải từ đảo đã xuất hiện những khả năng gây ô nhiễm nguồn nước biển và nếu không có cách xử lý kịp thời về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nước biển Những hiện tượng này chủ yếu là:
- Đã xuất hiện trường hợp dầu tại các tàu, thuyền đánh cá, chở khách rơi vãi xuống biển tạo thành một lớp dầu loang nhẹ tại các bến tàu, cầu tàu…
- Một vài tàu thuyền đánh cá xả thải các chất thải hữu cơ sau khi đánh bắt cá làm ô nhiễm trên một vùng nhỏ và làm nước biển tại vùng đó bị ảnh hưởng bởi các mùi xả thải trên tàu (các loại chất tẩy rửa, mùi cá khi rửa tàu thuyền…)
- Xuất hiện một vài chất thải rắn lơ lửng: túi ni lông, chai lọ, lốp,… (rác thải khó phân huỷ) trong nước biển
Hoạt động nhân sinh của con người đã bắt đầu tác động đến chất lượng nước biển Các hiện tượng ô nhiễm này xảy ra chủ yếu ở vùng nước ven bờ, còn
ở ngoài khơi hiện tượng ô nhiễm này xảy ra rất ít và gần như không có Một số
Trang 35Hoàng Thị Ngọc Linh 28 Cao học khóa 2008 - 2010
các nhân tố có khả năng gây ảnh hưởng đến chất lượng nước ven biển có thể kiểm soát và khắc phục được
c) Hiện trạng môi trường không khí
Môi trường không khí tại huyện đảo được đánh giá là khá tốt, trong lành, thuận lợi cho sức khoẻ Tại khu vực nghiên cứu, hiện trạng về môi trường không khí được đánh giá sơ bộ là rất tốt, ô nhiễm không khí tự nhiên: không có, ô nhiễm nhân tạo: rất ít, chỉ mang tính chất cục bộ
d) Hiện trạng môi trường các hệ sinh thái
Hệ sinh thái tự nhiên, tại khu vực đảo Cô Tô đã chịu tác động rất sâu sắc từ các hoạt động khai thác và sử dụng của con người, một số hệ sinh thái
tự nhiên đã trở thành các hệ sinh thái nhân tác, trong đó chịu tác động mạnh
mẽ nhất là các hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái rạn san hô,
Trên phần đảo nổi của các đảo, hoạt động sản xuất, kinh tế của con người đã làm thay đổi cơ bản bộ mặt thảm thực vật: làm mất đi các kiểu thảm
có cấu trúc nhiều tầng, tính đa dạng sinh học cao thay thế vào đấy là các kiểu thảm thứ sinh như trảng cây bụi, trảng cỏ có cấu trúc đơn giản, ít tầng, che phủ thưa, tầng đất mỏng, sỏi sạn khô hạn và nghèo dinh dưỡng Tình trạng trên còn tồi tệ hơn khi tác động của con người lặp đi lặp lại nhiều lần, ngăn cản quá trình phục hồi trạng thái ban đầu của thảm thực vật
Cũng như hệ sinh thái rừng trên các đảo, các hệ sinh thái biển tại khu vực đảo Cô Tô cũng đang chịu tác động mạnh mẽ từ các hoạt động khai thác của con người Trên vùng biển quanh đảo Cô Tô có sự đa dạng về sinh học,
có giá trị nguồn gen, đặc biệt là về rong biển, động vật đáy và nguồn lợi cá Các loài này do bị khai thác một cách tùy tiện và ồ ạt của người dân đã dẫn đến tình trạng cạn kiệt đặc biệt là tại các khu vực ven đảo Trong các phương thức đánh bắt cá tại khu vực đảo thì phương thức đánh bắt đánh bắt cá bằng
Trang 36Hoàng Thị Ngọc Linh 29 Cao học khóa 2008 - 2010
thuốc viên (xianua), cùng với việc dùng đèn cao áp (làm nổ mắt cá con), đã làm cho cá chết hàng loạt, kể cả các loại cá nhỏ nhất Đây là những phương thức có tác động mạnh mẽ nhất đối với tài nguyên sinh vật biển, không những các loài cá bị tiêu diệt mà cả nơi cư trú và cung cấp thức ăn của khu hệ cá là các rạn san hô cũng bị phá hủy Hiện tại, hầu hết các rạn san hô quanh khu vực đảo đã bị phá hủy hoàn toàn, như vậy trong tương lai nếu không có các giải pháp bảo vệ phục hồi lại các rạn san hô thì nguồn lợi từ nhóm cá tại các rạn san hô sẽ mất đi, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của ngư dân
Đối với các hệ sinh thái nuôi trồng: do là một đảo độc lập, xa bờ do đó các hệ sinh thái nuôi trồng có ý nghĩa rất quan trọng đối với người dân trên đảo Cô Tô Hệ sinh thái nuôi trồng trên đảo bao gồm hệ sinh thái lúa nước, hệ sinh thái cây trồng trong khu dân cư, hệ sinh thái nuôi trồng thủy sản, trong
đó quan trọng nhất là hệ sinh thái lúa nước
Nhìn chung hiện trạng môi trường của các hệ sinh thái này bao gồm cả
hệ sinh thái lúa nước trên đảo là cây sản xuất chính hiện nay trên đảo, hệ sinh thái rừng trồng trên các đảo chủ yếu phục vụ cho chức năng phòng hộ trên các cồn cát hay trên các đồi sau khi rừng bị phá huỷ, bảo vệ rừng đầu nguồn, tạo
nguồn sinh thủy cho đảo Thành phần là các loài phi lao (Casuarina
equisetifolia), bạch đàn (Eucalyptus), thông và keo, nhìn chung diện tích rừng
trồng phát triển tương đối tốt và hệ sinh thái nuôi trồng thủy hải sản ở Cô Tô
đã bắt đầu phát triển bao gồm nuôi trồng thủy sản nước ngọt (cá chép, cá rô phi đơn tính), nuôi trồng thủy hải sản nước lợ trên các bãi triều (tôm xú,tôm càng xanh, ) và nuôi hải sản nước biển (là cá song, cá hồng, tôm hùm, ) đều chưa có dấu hiệu ô nhiễm nặng do quy mô chưa lớn Tuy nhiên đây là các hệ sinh thái có
độ nhạy cảm môi trường rất cao Do đó trong quá trình phát triển cần có sự quan tâm đặc biệt đến chúng
Trang 37Hoàng Thị Ngọc Linh 30 Cao học khóa 2008 - 2010
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động ngành thủy sản tại huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Nội dung nghiên cứu
1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu
2 Điều tra về tình hình hoạt động ngành thủy sản tại địa bàn nghiên cứu
3 Đánh giá hiện trạng ảnh hưởng môi trường do các hoạt động thủy sản gây ra tại huyện đảo
4 Đề xuất các chương trình hành động bảo vệ môi trường tại huyện đảo
Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập xử lý số liệu
Số liệu điều tra chủ yếu được thu thập từ những tài liệu, các bài báo, những báo cáo khoa học, các thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng (internet, đài phát thanh…) và thông qua các đợt khảo sát thực địa tại địa phương (khảo sát thực tế, từ các cơ quan như UBND huyện, phòng Tài nguyên Môi trường và Nông nghiệp huyện, )
Qua đó chọn lọc các số liệu quan trọng, phù hợp để đưa vào sử dụng Những số liệu, tài liệu chủ yêu liên quan đến: điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Cô tô; Số liệu về các hoạt động thủy sản của Huyện Từ đó tiến hành xử lý số liệu điều tra tạo ra một kết quả tổng thể về hiện trạng phát triển của huyện đảo
Trang 38Hoàng Thị Ngọc Linh 31 Cao học khóa 2008 - 2010
2.3.2 Phương pháp điều
tra, khảo sát thực địa
Đây là phương pháp thu
thập thông tin sơ cấp ngay tại thực
địa vùng nghiên cứu Các tuyến
khảo sát được thiết lập dựa trên
bản đồ địa hình và ảnh vệ tinh
LANSAT-TM
Hình 2.1 Phỏng vấn người dân đảo Cô Tô
Các số liệu thu thập được sử lý bằng phương pháp chuyên gia thông qua ảnh chụp ngoài thực địa và bảng thu thập số liệu được thiết lập theo mẫu
có sẵn Các lĩnh vực khảo sát thu thập số liệu là các điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế xã hội đặc biệt là trong lĩnh vực hoạt động thủy sản.Ưu điểm của phương pháp là xác định được quan hệ giữa các chủ thể và đối tượng điều tra nhằm hiểu rõ được hoàn cảnh thực tế của đối tượng cần điều tra Phương pháp này còn giúp cho việc kiểm tra số liệu đã thu thập Những thông tin này sẽ có lợi ích rất nhiều khi đưa ra những khuyến nghị nhằm bảo
vệ chất lượng môi trường của địa phương
2.3.3 Phương pháp đánh giá nhanh môi trường
Là phương pháp thu thập thông tin về hiện trạng môi trường trên cơ sở quan sát, phỏng vấn bán chính thức và tính toán đại lượng trung bình trong trường hợp cần thiết Đây là phương pháp cho phép cùng một lúc thu thập nhiều số liệu về môi trường trong khu vực nghiên cứu
2.3.4 Phương pháp bản đồ và GIS
Được sử dụng trong phân tích các lớp thông tin địa lý của một hệ thống GIS được kế thừa từ các công bố từ trước đây Chúng cho phép tích hợp hoặc
Trang 39Hoàng Thị Ngọc Linh 32 Cao học khóa 2008 - 2010
tách chiết thông tin nhằm phục vụ cho bài toán đánh giá, phát triển các giải pháp mà các thuật toán thông thường không giải quyết được Phần mềm được lựa chọn dùng để tạo các lớp thông tin, định dạng và quản lý khai thác trong
môi trường GIS là Mapinfo 9.5 Những nội dung chính trong qui trình là:
+ Phân tích thông tin theo các tập tin, phân tích và nhập số liệu từ raster
ảnh vệ tinh;
+ Phân tích thông tin theo các lớp đối tượng;
+ Phân tích các thuộc tính trong bảng chú giải;
+ Liên kết thông tin thuộc tính với các đối tượng bản đồ, tạo cơ sở dữ liệu chồng ghép theo tiêu chí nhất định;
+ Các phương pháp xử lý GIS : phân loại, nội suy, tích hợp các lớp thông tin, các thuật toán tạo mô hình thích ứng với mục đích nghiên cứu, trả lời các câu hỏi liên quan tới thảm thực vật và định hướng sử dụng hợp lý;
+ Liên kết chồng xếp các lớp thông tin địa lý để xử lý GIS và tạo bản
đồ tổng hợp cuối cùng
2.3.5 Phương pháp tổng hợp
Những ảnh hưởng của hoạt động dân sinh đến tài nguyên và môi trường là vấn đề có tính liên đới và việc nghiên cứu chúng cần nhìn nhận một cách tổng hợp, phân tích hệ thống, logic từ các số liệu được thu thập Chúng được xem xét toàn diện dựa trên các phân tích từ hệ thống thông tin địa lý thông qua các phần mềm Mapinfo 9.5, Microsoft Office Excel 2003
Trang 40Hoàng Thị Ngọc Linh 33 Cao học khóa 2008 - 2010
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Hiện trạng sản xuất thủy sản huyện đảo Cô Tô
3.1.1 Khai thác hải sản
Huyện đảo Cô Tô với nguồn lợi thủy sản phong phú với các đàn cá như: nục, lầm, cá song, cá mó, cá hồng, cá sạo, mực,…có trữ lượng khá lớn nên nghề khai thác hải sản ở Huyện khá phát triển
* Tàu thuyền khai thác
Năm 1994 khi huyện mới thành lập, nghề khai thác trên đảo còn ở quy
mô nhỏ, phương tiện đánh bắt nghèo nàn với 67 chiếc tầu công suất nhỏ dưới
33 CV, tổng công suất 1.314 CV Đến năm 2003 đã có 200 tàu thuyền máy, trong đó 10 chiếc có công suất từ 90 – 140 CV, 141 chiếc công suất dưới 20
CV, 49 chiếc công suất 20 – 45 CV với tổng công suất 5.878 CV Sau hơn 10 năm tổng số tàu thuyền đã tăng gần 3 lần và tổng công suất đã tăng hơn 4 lần Đến năm 2010 tổng số tàu thuyền là 239, trong đó có 41 chiếc với công suất
từ 90 – 140CV
Hình 3.1.Tàu khai thác Cô Tô Hình 3.2 Tàu khai thác về
cảng Cô Tô sau chuyến đánh bắt