Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam trước đây là Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam là đơn vị chủ lực của ngành Bưu chính viễn thông Việt Nam, với vai trò vừa là tổ chức k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ THUÝ VÂN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ TẠI
BƯU ĐIỆN TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ THUÝ VÂN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ TẠI
BƯU ĐIỆN TỈNH YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60-34-05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : TS PHẠM THUÝ HỒNG
Hà Nội - 2007
Trang 3MỤC LỤC
Mở đầu
Chương 1: Lý luận chung về công tác kế hoạch hoá
trong doanh nghiệp 6
1.1 Khái niệm và vai trò của công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm chung 6
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa công tác kế hoạch hoá trong quản lý của doanh nghiệp 8
1.1.2.1 Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung 8
1.1.2.2 Trong nền kinh tế thị trường 9
1.1.3 Hệ thống kế hoạch trong doanh nghiệp 11
1.1.3.1 Theo góc độ thời gian thực hiện kế hoạch 11
1.1.3.2 Theo góc độ nội dung kế hoạch……… 11
1.1.3.3 Theo phạm vi kế hoạch 12
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp 13
1.2.1 Những nhân tố chủ quan .13
1.2.1.1 Đặc điểm về sản phẩm – dịch vụ doanh nghiệp cung cấp 13
1.2.1.2 Đặc điểm về công nghệ doanh nghiệp áp dụng 13
1.2.1.3 Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp 13
1.2.1.4 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp 14
1.2.2 Những nhân tố khách quan 14
1.2.2.1 Khách hàng của doanh nghiệp 15
1.2.2.2 Nhà cung cấp của doanh nghiệp 15
1.2.2.3 Các đối thủ cạnh tranh 16
Trang 41.2.2.4 Môi trường chính trị và pháp luật 16
1.2.2.5 Môi trường kinh tế 17
1.2.2.6 Môi trường khoa học – công nghệ .18
1.3 Qui trình kế hoạch hoá trong doanh nghiệp 18
1.3.1 Lập kế hoạch 19
1.3.1.1 Các căn cứ lập kế hoạch trong doanh nghiệp 19
1.3.1.2 Một số phương pháp được sử dụng để lập kế hoạch trong doanh nghiệp .21
1.3.1.3 Hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch trong doanh nghiệp 25
1.3.1.4 Trình tự lập kế hoạch của doanh nghiệp 27
1.3.2 Triển khai thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp 30
1.3.2.1 Tuyên truyền kế hoạch tới người thực hiện .30
1.3.2.2 Chỉ đạo và kiểm soát phân bổ nguồn lực 31
1.3.2.3 Xây dựng chế độ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch .35
1.3.3 Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch .36
Chương 2 Phân tích Thực trạng công tác kế hoạch hoá của Bưu điện tỉnh Yên bái 38
2.1 Tổng quan về Bưu điện tỉnh Yên bái .38
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 38
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Bưu điện tỉnh Yên Bái 39
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 39
2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Kế hoạch - Đầu tư 41
Trang 52.2 Phân tích thực trạng công tác kế hoạch hoá
tại Bưu điện tỉnh Yên bái .43
2.2.1 Hệ thống kế hoạch của Bưu điện tỉnh Yên Bái 43
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác kế hoạch hoá tại Bưu điện tỉnh Yên Bái 44
2.2.2.1 Những nhân tố chủ quan 44
2.2.2.2 Những nhân tố khách quan 49
2.2.3 Thực trạng xây dựng kế hoạch của Bưu điện tỉnh Yên bái .53
2.2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch hàng năm của Tập đoàn giao cho Bưu điện tỉnh Yên bái 53
2.2.3.2.Các căn cứ để lập kế hoạch của Bưu điện tỉnh Yên bái 56
2.2.3.3 Trình tự lập kế hoạch của Bưu điện tỉnh Yên bái 59
2.2.4 Thực trạng về việc triển khai thực hiện kế hoạch của Bưu điện tỉnh Yên Bái .63
2.2.4.1 Quá trình thông tin kế hoạch .63
2.2.4.2 Triển khai thực hiện kế hoạch 64
2.2.4.3 Chế độ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch 66
2.2.4.4 Một số công tác hỗ trợ thực hiện tốt kế hoạch 67
2.2.5 Thực trạng công tác kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch 67
2.3 Đánh giá chung công tác kế hoạch của Bưu điện tỉnh Yên bái 69
2.3.1 Đóng góp của công tác kế hoạch hoá tới sự phát triển của Bưu điện tỉnh Yên Bái .70
Trang 62.3.1.1 Góp phần khai thác mạng lưới viễn thông
ngày càng hiệu quả
70
2.3.1.2 Góp phần hoàn thiện mạng lưới bưu chính .73
2.3.1.3 Góp phần tạo nên một đội ngũ cán bộ kế cận có trình độ 75
2.3.2 Những hạn chế của công tác kế hoạch hoá ảnh hưởng đến sự phát triển của Bưu điện tỉnh Yên bái .76
2.3.2.1 Hạn chế trong công tác Lập kế hoạch 77
2.3.2.2 Hạn chế trong công tác triển khai thực hiện kế hoạch 78
2.3.3 Hạn chế trong công tác kiểm tra, đánh giá 80
Chương 3 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế hoạch tại Bưu điện tỉnh Yên bái 82
3.1 Phương hướng hoàn thiện công tác kế hoạch hoá tại Bưu điện tỉnh Yên bái 82
3.1.1 Hoàn thiện công tác kế hoạch theo định hướng phát triển của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam 82
3.1.2 Phù hợp với quy mô và trình độ phát triển của Bưu điện tỉnh Yên Bái .83
3.1.3 Quán triệt tinh thần hoàn thiện công tác kế hoạch phải đảm bảo các yêu cầu 84
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế hoạch hoá tại Bưu điện tỉnh Yên Bái 84
Trang 73.2.1 Tăng cường nghiên cứu và phân tích môi trường kinh doanh 84
3.2.2 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác dự báo 85 3.2.3 Tách phòng Kế hoạch - Đầu tư thành hai bộ phận mới là
Phòng Kế hoạch – Kinh doanh và Phòng Đầu tư - Phát triển 88
3.2.4 Phân cấp cụ thể về công tác quản lý trong phát hành báo chí 91 3.2.5 Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
làm công tác kế hoạch hoá 93 3.2.6 Tăng cường cơ sở vật chất, máy móc thiết bị
và công nghệ hiện đại phục vụ cho công tác kế hoạch 96
3.3 Kiến nghị 98
3.3.1 Đối với các cơ quan chính quyến tỉnh Yên Bái 98 3.3.2 Đối với Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam 99
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 9DANH SÁCH SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quy trình kế hoạch hoá trong doanh nghiệp
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Bưu điện tỉnh Yên Bái
DANH SÁCH BIỂU SỐ LIỆU
Bảng số liệu 2.1: Phân tích trình độ của cán bộ làm công tác kế hoạch
Bảng số liệu 2.2: Phân tích tình hình phát triển thuê bao điện thoại của BĐT
Yên Bái trong giai đoạn 2002-2006 Bảng số liệu 2.3 : Phân tích tình hình phát triển thuê bao internet của BĐT
Yên Bái trong giai đoạn 2002-2006 Bảng số liệu 2.4: Phân tích tình hình xây dựng các điểm nút bưu chính của
BĐT Yên Bái trong giai đoạn 2002-2006 Bảng số liệu 2.5 : Phân tích trình độ lao động của BĐT Yên Bái trong
giai đoạn 2002-2006 Bảng số liệu 3.1: Số liệu về mật độ điện thoại, giá cước, thu nhập bình quân
đầu người trong 10 năm 1997-2006
DANH SÁCH ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1: Biểu diễn mối quan hệ MDSD, CLD và GDP
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Với sự chuyển biến mạnh mẽ của cơ chế quản lý thì công tác kế hoạch hoá là một công cụ quản lý đắc lực của các doanh nghiệp và các tổ chức khác đem lại hiệu quả cao trong quản lý, đồng thời nó cũng góp phần vào sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước
Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (trước đây là Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam) là đơn vị chủ lực của ngành Bưu chính viễn thông Việt Nam, với vai trò vừa là tổ chức kinh doanh, vừa là một công
cụ của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền và hệ thống chính trị của Nhà nước, hoạt động của Tập đoàn vừa nhằm bảo đảm các mục tiêu kinh tế trong kinh doanh đồng thời thực hiện không điều kiện các yêu cầu đảm bảo cho an ninh chính trị, quốc phòng và các mục tiêu kinh tế xã hội khác
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế thị trường, Tập đoàn Bưu chính- Viễn thông giảm dần vị trí độc quyền và đang phải đứng trước sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước Kế hoạch hoá vừa là một lĩnh vực chiến lược quan trọng, vừa là công
cụ để quản lý sự không chắc chắn hữu hiệu của Tập đoàn
Là một đơn vị thành viên vủa Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam có nhiệm vụ phục vụ, kinh doanh các dịch vụ BC-VT trên địa bàn tỉnh Yên Bái, Bưu điện tỉnh Yên Bái không chỉ đóng góp về mặt kinh tế mà còn mạng lại hiệu quả xã hội và là công cụ chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Trong điều kiện kinh doanh mới đã tạo ra những cơ hội và thách thức lớn, đòi hỏi Bưu điện tỉnh Yên Bái phải nghiên cứu hoàn thiện công tác kế hoạch hoá nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đang đặt ra, đảm bảo cho sự phát triển của Bưu điện thỉnh Yên Bái trong thời kì cạnh tranh và hội nhập
Trang 11Căn cứ vào các chỉ tiêu kế hoạch chiến lược của tập đoàn giao cho và tình hình cụ thể của địa bàn kinh doanh, Bưu điện tỉnh Yên Bái xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện của đơn vị Thành công của công tác kế hoạch hoá ở Bưu điện tỉnh Yên Bái góp phần thành công của việc thực hiện chiến lược của tập đoàn và đảm bảo các chỉ tiêu kinh tế – chính trị – xã hội của Đảng, Nhà nước giao, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thể hiện ở các bản báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch và các bản báo cáo đó là một trong những căn cứ giúp cho Tập đoàn điều chỉnh, xác định các chiến lược kinh doanh trong tương lai
Trong điều kiện kinh doanh mới, Bưu điện tỉnh Yên Bái cần phải chủ động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và vì thế cần phải có sự đổi mới trong công tác kế hoạch hoá Những năm qua, công tác kế hoạch hoá tại bưu điện tỉnh Yên Bái đã có nhiều đổi mới xong vẫn còn nhiều bất cập
Xuất phát từ thực tế đó đề tài nghiên cứu "Hoàn thiện công tác kế
hoạch hoá tại Bưu điện tỉnh Yên Bái" được chọn làm luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ quản trị kinh doanh
2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trước năm 1945, nhìn chung nền kinh tế hàng hoá ở nước ta chưa phát triển Chưa có hệ thống lý thuyết về quản lý nói chung và công tác kế hoạch hoá nói riêng
Từ năm 1945 đến 1986, trong điều kiện nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, công tác kế hoạch hoá được thực hiện trong toàn bộ nền kinh tế và các doanh nghiệp quốc doanh và hợp tác xã là những đơn vị thực hiện các kế hoạch do Nhà nước đề ra phù hợp với hệ thống kế hoạch của đất nước Trong giai đoạn này, quản lý nền kinh tế đất nước dựa trên quan điểm triết học của Mác – Lênin
Trang 12Từ năm 1987 đến nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã làm thay đổi nhận thức về quản trị doanh nghiệp nói chung và công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp nói riêng Trong giai đoạn này có rất nhiều tác giả đề cập đến vấn đề kế hoạch hoá trong tác phẩm của mình ở nhiều góc độ khác nhau Trong khuân khổ luận văn có thể kể đến một số tác phẩm điển hình sau:
- Các tác phẩm có nhan đề “Quản trị doanh nghiệp”, trong những tác phẩm này công tác kế hoạch được đề cập đến như một công cụ quan trọng trong tiến trình quản lý theo mục tiêu trong mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Giáo trình Kế hoạch kinh doanh, TH.s Bùi Đức Tuân (2006), Nhà
xuất bản Lao động – Xã hội Tác phẩm này đề cập đến công tác kế hoạch trong doanh nghiệp một cách tổng quan và phân tích kỹ công tác kế hoạch hoá theo từng lĩnh vực chuyên môn trong doanh nghiệp
- Bộ sách: “Phương pháp quản lý hiệu quả kế hoạch doanh nghiệp” của
Vương Dương (2004), nhà xuất bản Lao động – Xã hội Bộ sách này giới thiệu các phương pháp và đặc điểm chủ yếu của quản lý hiệu quả kế hoạch trong doanh nghiệp
- Cuốn sách: “Đổi mới công tác kế hoạch của bưu điện tỉnh thông tin
khoa học kỹ thuật và kinh tế bưu điện” của Bùi Thị Sao Cuốn sách này đề cập
đến vấn đề đổi mới công tác kế hoạch của các Bưu điện tỉnh trong điều kiện kinh doanh mới, xoá bỏ độc quyền trong kinh doanh bưu chính viễn thông Đây là cuốn sách mà các bưu điện tỉnh nói chung thuộc Tập đoàn BC-VT Việt Nam coi đó là cơ sở khoa học để tiến hành đổi mới công tác kế hoạch hoá trong đơn vị
Tại Bưu điện tỉnh Yên Bái chưa có tác giả nào nghiên cứu về công tác
kế hoạch hoá Như vậy, đề tài nghiên cứu "Hoàn thiện công tác kế hoạch hoá
Trang 13tại Bưu điện tỉnh Yên Bái" sẽ bổ sung cơ sở khoa học về công tác kế hoạch
hóa và cách áp dụng nó vào điều kiện hoạt động kinh doanh cụ thể của Bưu điện tỉnh Yên Bái
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận về công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác kế hoạch hoá của Bưu điện tỉnh Yên Bái trong giai đoạn từ năm 2002-2006
- Căn cứ vào cơ sở lý luận và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng công tác kế hoạch hoá để đề xuất giải pháp hữu hiệu nhằm không ngừng đổi mới và hoàn thiện công tác kế hoạch hoá tại Bưu điện tỉnh Yên Bái
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
- Công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp
- Công tác kế hoạch hoá của Bưu điện tỉnh Yên Bái
Phạm vi nghiên cứu:
Công tác kế hoạch hoá của Bưu điện tỉnh Yên Bái trong 8 năm từ 2002 đến 2010
5 Phương pháp nghiên cứu
Để chứng minh các giả thuyết của đề tài này, cần sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp;
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
- Phương pháp phỏng vấn;
- Phương pháp trắc nghiệm;
- Các phương pháp xử lý thông tin định tính và định lượng
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Trang 14Luận văn có những đóng góp chính như sau:
- Hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về công tác kế hoạch hoá của doanh nghiệp Những lý luận này được xây dựng xuất phát từ quan điểm đổi mới của Đảng trong công tác kế hoạch hoá Hiện nay đây là lý luận được áp dụng phổ biến ở nước ta và đang được tiếp tục đổi mới hoàn thiện để phù hợp
với sự phong phú đa dạng và biến đổi nhanh chóng của thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu về đặc điểm của quá trình lập, thực hiện các kế hoạch và đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Bưu điện tỉnh Yên Bái để đưa ra cơ sở khoa học cho các giải pháp hoàn thiện công tác kế hoạch hoá tại Bưu điện tỉnh Yên Bái
- Kết quả phân tích thực trạng của công tác kế hoạch hoá ở Bưu điện tỉnh Yên Bái trong những năm vừa qua, làm rõ một số vấn đề: Nguyên nhân hạn chế của công tác kế hoạch hóa hiện nay tại Bưu điện tỉnh Yên Bái
- Đưa ra các giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác kế hoạch hoá ở Bưu điện tỉnh Yên Bái và những điều kiện chủ yếu để thực hiện các giải pháp đó
7 Bố cục của luận văn
Nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 Lý luận chung về công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp Chương 2 Thực trạng công tác kế hoạch hoá của Bưu điện tỉnh Yên Bái
Chương 3 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế hoạch hoá tại Bưu điện tỉnh Yên Bái
Trang 15CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm chung
Công tác kế hoạch hoá từ lâu đã được coi như là một công cụ để thiết lập cũng như thực hiện các quyết định chiến lược Tuy nhiên vai trò này không phải lúc nào cũng được thừa nhận một cách nhất quán, nó có thể là công cụ quản lý không thể thiếu được trong điều kiện này, nhưng lại là thủ phạm của sự cứng nhắc trong điều kiện khác Kế hoạch hoá có nhiều nghĩa khác nhau và đã từng là chủ đề của nhiều ý kiến trái ngược, cho dù nó liên quan đến doanh nghiệp hay nền kinh tế quốc dân
“Kế hoạch hoá là hoạt động của con người dựa trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật xã hội tự nhiên, đặc biệt là các quy luật kinh tế để tổ chức quản lý các đơn vị kinh tế kỹ thuật, các ngành, các lĩnh vực hoặc toàn bộ nền sản xuất xã hội theo những mục tiêu thống nhất”.1
Kế hoạch hoá được thực hiện ở nhiều quy mô và phạm vi khác nhau như: kế hoạch hoá kinh tế quốc dân, kế hoạch hoá theo vùng, địa phương, kế hoạch hoá ngành, lĩnh vực, kế hoạch hoá doanh nghiệp Kế hoạch hoá trong doanh nghiệp được xác định là một phương thức quản lý theo mục tiêu, nó bao gồm toàn bộ các hành vi can thiệp một cách có chủ đích của các nhà quản trị doanh nghiệp vào các lĩnh vực của đơn vị mình nhằm đạt mục tiêu đã đề
ra Do đó, kế hoạch hoá doanh nghiệp là quy trình ra các quyết định để phép xây dựng một hình ảnh mong muốn về trạng thái tương lai của doanh nghiệp
và quá trình tổ chức triển khai thực hiện quyết định đó
Như vậy, kế hoạch hoá trong doanh nghiệp là thể hiện kỹ năng hoạch
1
{14, TR.10}
Trang 16định mục tiêu phát triển và tổ chức quá trình thực hiện mục tiêu đặt ra, do đó công tác này bao gồm các nội dung sau:
- Lập kế hoạch là khâu giữ đầu tiên và có vị trí quan trọng trong công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp, đó là quá trình xác định các mục tiêu, chỉ tiêu
kế hoạch và đề xuất chính sách giải pháp áp dụng thực hiện mục tiêu đó Kết quả của lập kế hoạch là một bản kế hoạch của doanh nghiệp được hình thành
và nó là cơ sở cho việc thực hiện và kiểm tra quá trình thực hiện kế hoạch Bản kế hoạch doanh nghiệp là hệ thống các phương hướng, nhiệm vụ và các chỉ tiêu nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu phát triển doanh nghiệp đặt ra trong thời kỳ kế hoạch nhất định Kế hoạch doanh nghiệp chính là thể hiện ý đồ phát triển của các nhà quản trị đối với hoạt động của doanh nghiệp và các giải pháp thực thi
Bản kế hoạch doanh nghiệp được hình thành thông qua những câu hỏi mang tính bản chất như sau: (1) Trạng thái của doanh nghiệp hiện tại, kết quả
và những điều kiện hoạt động kinh doanh? (2) Doanh nghiệp muốn phát triển như thế nào? (3) Làm thế nào để sử dụng có hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra?
- Tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá kế hoạch
là những hoạt động tiếp sau của công tác kế hoạch hoá nhằm đưa kế hoạch vào thực tế hoạt động của doanh nghiệp Đây là quá trình tổ chức, phối hợp hoạt động của các bộ phận, các yếu tố nguồn lực của doanh nghiệp, triển khai các hoạt động khác nhau theo các mục tiêu kế hoạch không chỉ đơn giản là xem xét những hoạt động cần thiết của doanh nghiệp mà còn thể hiện khả năng dự kiến, phát hiện những điều bất ngờ có thể xuất hiện trong quá trình hoạt động và khả năng ứng phó những điều bất ngờ đó Quá trình kiểm tra, theo dõi, điều chỉnh kế hoạch giúp doanh nghiệp không chỉ xác định được tất
cả những rủi ro trong quá trình hoạt động của mình mà còn có khả năng quản
Trang 17lý rủi ro với sự hỗ trợ của việc tiên đoán có hiệu quả và xử lý những rủi ro đó trong quá trình thực hiện mục tiêu đặt ra Công tác đánh giá kế hoạch sẽ là cơ
sở giúp cho doanh nghiệp xây dựng những phương án kế hoạch tiếp sau một cách chính xác và xác thực hơn
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa công tác kế hoạch hoá trong quản lý của doanh nghiệp
1.1.2.1 Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung
Kế hoạch hoá tập trung là mô hình sử dụng ở Việt Nam đến giữa thập niên 1980 Điều kiện tiền đề của sự tồn tại cơ chế này là nền kinh tế dựa trên
cơ sở chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sự thống trị của nhà nước chuyên chính vô sản Kế hoạch hoá được thể hiện là bản kế hoạch mang tính chất mệnh lệnh phát ra từ trung ương Sự vận dụng mô hình này đòi hỏi phải thiết lập khu vực công nghiệp Nhà nước vận hành theo một hệ thống phân phối mệnh lệnh hành chính các đầu vào và đầu ra, các chỉ tiêu kế hoạch hiện vật ở cấp xí nghiệp cùng tồn tại với hệ thống bảng cân đối
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước thực hiện kế hoạch hoá toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh là cơ sở điều tiết mọi hoạt động tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhờ có cơ chế kế hoạch hoá tập trung mà Nhà nước có thể hướng các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu và các lĩnh vực cần ưu tiên trong từng thời kỳ nhất định Các doanh nghiệp được xem như là những tế bào trong tổng thể nền kinh tế, thực hiện nhiệm vụ kế hoạch theo những mục tiêu thống nhất từ trên xuống
Có thể nói cơ chế kế hoạch hoá tập trung áp dụng ở nước ta trong một thời kỳ dài, nó đem lại những kết quả đáng kể, nhất là trong thờ kỳ Việt Nam thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ Với cơ chế này, nhiều doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ ở nước ta đã ra đời và cung cấp một khối lượng của cải
Trang 18vật chất đáng kể, đảm đương được những nhiệm vụ nặng nề trong công cuộc phục vụ kháng chiến và quốc kế dân sinh
1.1.2.2 Trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với các qui luật của thị trường, vì vậy những dấu hiệu thị trường là cơ sở
để các doanh nghiệp thực hiện hành vi sản xuất, kinh doanh của mình Với khái niệm về công tác kế hoạch hoá như trên, trong quản lý doanh nghiệp công tác kế hoạch hoá có những vai trò chính như sau:
- Tập trung nỗ lực của các hoạt động trong doanh nghiệp vào các mục tiêu Kế hoạch hoá là nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp, cho nên chính các hoạt động của công tác kế hoạch hoá là tập trung nỗ lực vào những mục tiêu nay Lập kế hoạch – khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong quy trình kế hoạch hoá là công việc duy nhất có liên quan tới việc thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tập thể Thị trường bản thân nó rất linh hoạt và thường xuyên biến động, kế hoạch và quản lý bằng kế hoạch giúp các doanh nghiệp dự kiến được những cơ hội, thách thức có thể xảy ra để quyết định nên làm cái gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm trong một thời kỳ nhất định Mặc dù chúng ta ít khi tiên đoán chính xác được tương lai và mặc
dù các yếu tố nằm ngoài kiểm soát của doanh nghiệp có thể phá vỡ những kế hoạch tốt nhất đã có, nhưng nếu không có kế hoạch và tổ chức quá trình hoạt động thông qua các mục tiêu định lập trước thì có nghĩa là chúng ta đã để cho các sự kiện có liên quan đến sinh mệnh sống của doanh nghiệp mình diễn ra một cách ngẫu nhiên và tính rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp sẽ tăng lên
- Công tác kế hoạch hoá với việc ứng phó những bất định và đổi thay của thị trường Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề của tương lai, mà tương lai rất ít khi chắc chắn, tương lai càng dài thì kết quả của các quyết định càng
Trang 19ít chắc chắn Thậm chí ngay cả khi tương lai có độ chắc chắn cao thì các nhà quản trị vẫn cần phải tìm cách tốt nhất để đặt mục tiêu đặt ra, phân công, phối hợp hoạt động của các bộ phận trong hệ thống tổ chức trong quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch và tháo gỡ, ứng phó với những bất ổn trong diễn biến sản xuất kinh doanh Sự bất ổn và đổi thay của môi trường đòi hỏi các nhà quản trị, ngoài việc soạn thảo lập kế hoạch, phải tiến hành các nội dung khác của công tác kế hoạch hoá là triển khai thực hiện, kiểm tra công việc của các cấp tổ chức, điều chỉnh các hoạt động cần thiết để đảm bảo thực thi các mục tiêu kế hoạch đặt ra
Kế hoạch hoá là chức năng cơ bản của tất cả các nhà quản trị ở mọi cấp trong doanh nghiệp, vì dựa vào nó mà các nhà quản trị xác định được các mục tiêu đã đặt ra Thiếu kế hoạch, quĩ đạo đi tới mục tiêu của doanh nghiệp sẽ là đường zic zăc phi hiệu quả
- Công tác kế hoạch hoá giúp huy động và sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp Các nguồn lực trong doanh nghiệp là hạn chế, công tác kế hoạch hoá đề ra mục tiêu, đưa ra phương án kế hoạch tối ưu và tổ chức thực hiện phương án đó để thực hiện các mục tiêu với nguồn lực tối ưu nhất
- Công tác kế hoạch hoá với việc tạo khả năng tác nghiệp kinh tế trong doanh nghiệp Công tác kế hoạch hoá thường hướng tới cực tiểu hoá chi phí
vì nó chú trọng vào các hoạt động hiệu quả và bảo đảm tính phù hợp Kế hoạch thay thế sự hoạt động manh mún, không được phối hợp bằng sự nỗ lực
có định hướng chung, thay thế luồng hoạt động thất thường bởi một luồng đều đặn, và thay thế những phán xét vội vàng bằng những quyết định có cân nhắc
kỹ lưỡng Ở phạm vi doanh nghiệp, tác dụng của kế hoạch hoá với các tác nghiệp kinh tế càng rõ nét hơn Quá trình sản xuất sản phẩm được chia thành nhiều công đoạn, nhiều chi tiết có liên quan chặt chẽ, mang tính dây chuyền với nhau Quá trình đó cần phải được phân chia thành các tác nghiệp kinh tế,
Trang 20kỹ thuật chi tiết theo thời gian và không gian Công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp tạo cơ sở cho việc nhìn nhận lôgic các nội dung hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tiến tới mục tiêu sản xuất sản phẩm và dịch
vụ cuối cùng Trên nền tảng đó, các nhà quản trị thực hành các phân công điều độ, tổ chức các hành động cụ thể, chi tiết theo đúng trình tự, bảo đảm cho sản
xuất sẽ không bị rối loạn và ít bị tốn kém
1.1.3 Hệ thống kế hoạch trong doanh nghiệp
Đứng trên mỗi góc độ khác nhau, hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp được chia thành những bộ phận khác nhau
1.1.3.1 Theo góc độ thời gian thực hiện kế hoạch
Phân chia theo thời gian thực hiện kế hoạch, kế hoạch doanh nghiệp bao gồm 3 bộ phận:
- Kế hoạch dài hạn thường có độ dài thời gian từ 5-10 năm Kế hoạch dài nhằm xác định các lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp sẽ tham gia, đa dạng hoá và cải thiện hoạt động trên các lĩnh vực hiện tại; xác định các mục tiêu, chính sách và giải pháp dài hạn về tài chính, đầu tư, nghiên cứu phát triển, con người…
- Kế hoạch trung hạn thường có độ dài thời gian là 1 – 5 năm nhằm phác họa các chương trình trung hạn để thực hiện hoá các lĩnh vực mục tiêu, chính sách, giải pháp được hoạch định trong chiến lược lựa chon
- Kế hoạch ngắn hạn có độ dài thời gian dưới 1 năm, là cụ thể hoá nhiệm vụ sản xuất kinh doanh căn cứ vào định hướng mục tiêu chiến lược và
kế hoạch trung hạn, vào kết quả nghiên cứu, điều chỉnh các căn cứ xây dựng
kế hoạch cho phù hợp với điều kiện của năm kế hoạch
1.1.3.2 Theo góc độ nội dung kế hoạch
Trang 21Phân chia theo nội dung bản kế hoạch, kế hoạch doanh nghiệp chia thành 2 bộ phận:
- Kế hoạch chiến lược: Được lập để hướng tới các mục tiêu tổng thể của doanh nghiệp, thực hiện sứ mệnh của doanh nghiệp
- Kế hoạch tác nghiệp: là kế hoạch trình bày rõ chi tiết cần phải làm như thế nào để đạt được những mục tiêu đã được đặt ra trong kế hoạch chiến lược Kế hoạch tác nghiệp đưa ra những chiến thuật hay những bước cụ thể
mà doanh nghiệp sẽ tiến hành để thực hiện kế hoạch chiến lược Những kế hoạch tác nghiệp đôi khi còn được gọi là kế hoạch hành động vì chúng đề ra những hành động cụ thể cho những con người cụ thể thực hiện, tương ứng với những ngân sách và khoảng thời gian xác định Có hai loại kế hoạch tác nghiệp là kế hoạch sử dụng một lần và kế hoạch cố định
+ Kế hoạch sử dụng một lần là những kế hoạch cho những hành động không lặp lại Loại kế hoạch này được lập để đạt tới những kết quả nhất định
và sẽ chấm dứt khi các kết quả đó đã đạt được
+ Kế hoạch cố định: Loại này được quy chuẩn hoá cho việc tiếp cận và giải quyết các tình huống thường xuyên gặp và dự đoán sẽ còn tiếp tục diễn
ra Kế hoạch cố định được thể hiện:
Các chính sách cho biết những hướng dẫn chung cho việc ra quyết định Chính sách đưa ra những phạm vi hay những giới hạn cho phép, mà các quyết định có thể dao động trong đó Chính sách có tác dụng làm giảm sự chặt chẽ
Các thủ tục là những kế hoạch thiết lập phương pháp điều hành các hoạt động cụ thể, trong những tình huống cụ thể, ở những bộ phận của doanh nghiệp Các thủ tục bao gồm một chuỗi những hoạt động cần thiết theo thứ tự thời gian
Trang 22Các quy tắc giải thích rõ những hành động được phép hoặc không được phép Các quy tắc gắn liền với các thủ tục theo nghĩa chúng hướng dẫn hành động mà không ấn định trình tự thời gian
Chính sách, thủ tục, quy tắc là những công cụ hỗ trợ cho việc phối hợp
và chỉ đạo các hoạt động của các thành viên trong doanh nghiệp
- Kế hoạch bộ phận: Được lập trong phạm vi một bộ phận của doanh nghiệp, đề ra mục tiêu và phương án hoạt động cụ thể của những bộ phận trong doanh nghiệp, nó là một phần của bản kế hoạch tổng hợp Kế hoạch này
do các bộ phận của doanh nghiệp lập và thực hiện
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Những nhân tố chủ quan
1.2.1.1 Đặc điểm về sản phẩm – dịch vụ doanh nghiệp cung cấp
Sản phẩm dịch vụ là công cụ để doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của khách hàng và qua đó doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu của mình Dựa vào đặc tính của sản phẩm – dịch vụ cho phép doanh nghiệp có cơ sở để xây dựng các kế hoạch marketing Các kế hoạch marketing là trung tâm của các
kế hoạch chức năng
1.2.1.2 Đặc điểm về công nghệ doanh nghiệp áp dụng
Đặc điểm của công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến công tác kế hoạch hoá Khi lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, đòi hỏi nhà quản trị phải hiểu rõ đặc
Trang 23điểm công nghệ đang áp dụng của đối tượng, từ đó có thể đưa ra được kế hoạch hợp lý để phát huy tối đa các nguồn lực của doanh nghiệp Trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch, đặc điểm của công nghệ chính là một trong những yếu tố quyết định đến cách thức, phương pháp thực hiện
1.2.1.3 Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp
Quản lý nguồn lực tài chính doanh nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh
Để các kế hoạch của doanh nghiệp có thể thực hiện được cần phải có các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính Khi lập kế hoạch, doanh nghiệp luôn phải quan tâm đến yếu tố này, nó là một trong những yếu tố để lựa chọn và đánh giá tính khả thi của các bản kế hoạch Kế hoạch tài chính là
cơ sở quan trọng để soạn thảo và điều chỉnh kế hoạch của doanh nghiệp
1.2.1.4 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, con người là yếu tố mang tính chủ động trong tất
cả các hoạt động, từ việc đề ra các mục tiêu đến quá trình thực hiện các mục tiêu đó
Người làm kế hoạch là cái vốn của công tác kế hoạch trong doanh nghiệp, sự bồi dưỡng và quan niệm kế hoạch của nhân viên quyết định trực tiếp tới thành tích và hiệu quả của công tác kế hoạch Không có người làm kế hoạch cũng tức là DN hoạt động không có hướng đích Người làm kế hoạch chính là người chủ động truy tìm lợi nhuận kinh tế, không vừa lòng với hiện trạng, tiến thủ không ngừng trong sự nghiệp
Ý tưởng sáng tạo là hoạt động tư duy có tính sáng tạo, các kế hoạch doanh nghiệp là một loại hành động cụ thể thực hiện các mục tiêu Các kế hoạch doanh nghiệp cần phải có ý tưởng sáng tạo có đề xuất điểm, đề xuất chủ ý Do vậy, người làm kế hoạch luôn phải có những ý tưởng sáng tạo
Trang 24nhưng không dừng ở mức ảo tưởng, mục đích của sáng tạo là vì thu được lợi nhuận kinh tế, thực hiện mục tiêu kế hoạch
Sự thất bại của kế hoạch có thể lý giải là nhân viên thao tác không chuẩn, không có năng lực chấp hành Do vậy, quá trình khiển khai thực hiện
kế hoạch, nhà quản lý kế hoạch luôn phải tạo ra sự phối hợp giữa “năng lực chấp hành” và “năng lực kế hoạch”
Trong doanh nghiệp chỉ có một bộ phận kế hoạch chưa đủ mà các bộ phận chuyên môn khác nhau đều cần có nhân viên kế hoạch làm công tác kế hoạch tương ứng Nhà lãnh đạo cần xây dựng một cơ chế hoạt động để hiệp tác công việc của những người làm công tác kế hoạch, từ đó có thể ngày càng nâng cao chất lượng của công tác kế hoạch hoá
1.2.2 Những nhân tố khách quan
1.2.2.1 Khách hàng của doanh nghiệp
Khách hàng là yếu tố quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp, quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp chính là quá trình đáp các nhu cầu của khách hàng Chính vì vậy, với vai trò của mình thì công tác kế hoạch hoá của doanh nghiệp cũng phải xuất phát từ việc nghiên cứu các nhu cầu và tìm cách đáp ứng các nhu cầu của khách hàng
Kết quả nghiên cứu yếu tố khách hàng như : khả năng cầu thị trường; các dự báo về cầu sản phẩm – dịch vụ trong tương lai; dự báo xu hướng nhu cầu của khách hàng; dự kiến về khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp, từ
đó doanh nghiệp cần phải có hành động ứng phó, thể hiện ở việc soạn lập và triển khai hành loạt các kế hoạch
Hiệu quả của công tác kế hoạch phụ thuộc rất lớn vào kết quả của việc nghiên cứu yếu tố khách hàng Nếu đưa ra những đánh giá xác thực, dự báo chính xác thì doanh nghiệp có thể đưa ra hành động ứng phó thích hợp và ngược lại
Trang 251.2.2.2 Nhà cung cấp của doanh nghiệp
Đứng từ phía nhà cung cấp xem xét thì doanh nghiệp lại là khách hàng Nhà cung cấp là những cá nhân hay tổ chức cung cấp các loại nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm hay dịch vụ cho doanh nghiệp
Giữa nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng Khả năng thương lượng về giá cả của các nhà cung cấp phụ thuộc vào chất lượng hàng hoá (hay dịch vụ)
và ưu thế về sự khác biệt của hàng hoá (dịch vụ) tương tự cung cấp cho doanh nghiệp
Vậy nhà cung cấp sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến doanh nghiệp
Để chủ động ứng phó với những tác động bất lợi và tận dụng những cơ hội từ phía nhà cung cấp, thì trong công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp cần phải có phân tích kỹ yếu tố này Doanh nghiệp cần đưa ra những chiến lược ứng phó
để đảm bảo nguồn cung ứng vật tư, nguyên vật liệu, dịch vụ với giá cả thấp,
chất lượng cao góp phần thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
1.2.2.3 Các đối thủ cạnh tranh
Trong xu thế hiện nay, khi kinh tế thị trường phát triển mạnh, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày càng tăng thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt Để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải có
ý thức được sự đe dọa của các đối thủ cạnh tranh và đưa ra các chính sách thích hợp nhằm giảm được các rủi ro trong hoạt động Các nguy cơ cạnh tranh trên thực tế có thể chia thành 3 dạng sau đây:
Cạnh tranh với các doanh nghiệp hiện hữu trong ngành: hình thức này xảy ra giữa các doanh nghiệp đã có tên tuổi trong ngành Phương thức cạnh tranh có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như: cạnh tranh bằng giá, bằng chất lượng của sản phẩm – dịch vụ, Mức độ cạnh tranh tuỳ thuộc từng ngành
Trang 26Nguy cơ xâm nhập mới: thị phần và mức lời của các doanh nghiệp trong ngành có thể chia sẻ vì sự xâm nhập mới Nguy cơ này có thể khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng ngành Một cách tốt nhất để đối phó với nguy cơ này là làm cho sản phẩm- dịch vụ rẻ hơn, chất lượng cao và tạo ra được sự trung thành của khách hàng đối nhãn hiệu của doanh nghiệp
Các sản phẩm thay thế, trong xu hướng hiện nay, ngoài việc phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong ngành, các doanh nghiệp còn phải đối phó với những hãng ở ngoài ngành với sản phẩm và dịch vụ có khả năng thay thế các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp
Để đối phó với các áp lực mà các đối thủ cạnh tranh tạo ra cho doanh nghiệp, cần phải bỏ ra nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu đối thủ cạnh
tranh từ đó lập và thực hiện hàng loạt các kế hoạch cạnh tranh để ứng phó
1.2.2.4 Môi trường chính trị và pháp luật
Môi trường chính trị và pháp luật bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống pháp luật hiện hành, các xu hướng chính trị ngoại giao đối với các nước khác, và những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới Sự tác động tới các doanh nghiệp như sau:
- Luật pháp: đưa ra những quy định cho phép hoặc không cho phép, hoặc đưa ra những những ràng buộc đòi hỏi các doanh nghiệp phải hiểu rõ tinh thần của pháp luật và chấp hành tốt những quy định của pháp luật
- Chính trị: là cơ quan giám sát, duy trì, thực hiện pháp luật và bảo vệ lợi ích chung của quốc gia Chính phủ cũng có một vai trò lớn trong điều tiết
vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ, thuế khoá và các chương trình chi tiêu của mình
Những biến động phức tạp trong môi trường chính trị và pháp luật sẽ tạo ra những rủi ro lớn đối với các doanh nghiệp
Trang 271.2.2.5 Môi trường kinh tế
Sự tác động của yếu tố môi trường này có tính chất trực tiếp và rất năng động Những diễn biến của môi trường này hàm chứa những cơ hội và đe doạ khác nhau đối với các doanh nghiệp khác nhau, và ảnh hưởng tiềm tàng đến
kế hoạch chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Một số yếu tố cơ bản của môi trường này là:
- Xu hướng của tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân: dựa vào yếu tố này doanh nghiệp có thể dự báo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người qua đây cho phép
dự đoán dung lượng thị trường của từng ngành và thị phần của doanh nghiệp;
- Lãi suất và xu hướng lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt đối với các doanh nghiệp có nguồn vốn hoạt động chủ yếu là phải vay ngân hàng;
- Cán cân mậu dịch do quan hệ xuất nhập khẩu quyết định, sự thay đổi của yếu tố này có thể ảnh hưởng tới môi trường kinh tế nói chung;
- Xu hướng tăng giảm của thu nhập thực tế tính bình quân đầu người tác
động trực tiếp đến quy mô và tính chất của thị trường tương lai;
- Mức độ lạm phát của nền kinh tế;
- Hệ thống biểu thuế và mức thuế;
- Các biến động của thị trường chứng khoán: sự biến động của thị trường chứng khoán có thể làm thay đổi giá trị của các cổ phiếu qua đó làm ảnh hưởng chung đến nền kinh tế cũng như tạo ra những cơ hội hoặc rủi ro đối với các hoạt động tài chính của doanh nghiệp
1.2.2.6 Môi trường khoa học – công nghệ
Trang 28Đây là một trong những yếu tố rất năng động, chứa đựng nhiều cơ hội
và đe doạ đối với các doanh nghiệp Những áp lực và đe doạ từ môi trường công nghệ có thể là:
- Sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế đe doạ đến các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu
- Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện hữu bị lỗi thời
và tạo ra áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ tăng khả năng cạnh tranh
- Sự ra đời của công nghệ mới càng tạo điều kiện thuận lợi cho những người xâm nhập mới và làm tăng thêm áp lực đe dọa các doanh nghiệp hiện hữu trong nghành
- Sự bùng nổ của công nghệ mới càng làm cho vòng đời công nghệ có
xu hướng rút ngắn thời gian khấu hao nhanh hơn so với trước
Bên cạnh những đe dọa này, những cơ hội có thể đến từ môi trường công nghệ đối với các doanh nghiệp có thể là:
- Công nghệ mới có thể tạo điều kiện để sản xuất sản phẩm rẻ hơn Thường thì các doanh nghiệp đến sau có nhiều ưu thế để tận dụng được cơ hội này hơn là các doanh nghiệp hiện hữu trong ngành
- Sự ra đời của công nghệ mới và khả năng chuyển giao công nghệ mới vào các ngành khác có thể tạo ra những cơ hội rất quan trọng để phát triển sản phẩm và hoàn thiện sản phẩm ở các ngành
- Sự ra đời của công nghệ mới có thể làm cho sản phẩm rẻ hơn, chất lượng tốt hơn và có nhiều tính năng hơn và qua đó có thể tạo ra những thị trường mới cho các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp
1.3 QUI TRÌNH KẾ HOẠCH HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP
Điều chỉnh (ACT)
Sơ đồ 1.1 Quy trình kế hoạch hoá trong doanh nghiệp
Lập kế hoạch (PLANT)
Trang 29Qui trình kế hoạch hoá bao gồm các bước tuần tự, cho phép vạch ra các mục tiêu tại những thời điểm khác nhau trong tương lai, dự tính các phương tiện cần thiết và tổ chức triển khai sử dụng các phương tiện nhằm đạt mục tiêu Một qui trình kế hoạch hoá được chia làm 4 giai đoạn cơ bản thể hiện qua sơ đồ 1.1
Theo sơ đồ 1.1, quy trình kế hoạch hoá trong doanh nghiệp được diễn
ra liên tục và theo các bước: lập kế hoạch (PLAN), thực hiện kế hoạch (DO), kiểm tra kế hoạch (CHECK), điều chỉnh kế hoạch (nếu cần) (ACT) Kết thúc một quy trình lại thực hiện quy trình tiếp theo, quy trình sau sẽ hoàn thiện hơn quy trình trước Cụ thể các bước của quy trình kế hoạch hoá như sau:
1.3.1 Lập kế hoạch
1.3.1.1 Các căn cứ lập kế hoạch trong doanh nghiệp
- Sứ mệnh của doanh nghiệp: là lý do để nó tồn tại Bản công bố sứ mệnh của doanh nghiệp thường trả lời những câu hỏi quan trọng như: “Tại sao doanh nghiệp tồn tại?”; “Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nào?”;
“Doanh nghiệp sẽ đi đâu?” Do đó, bản công bố sứ mệnh của doanh nghiệp
Trang 30mô tả những hàng hoá hay dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng, những thị trường mà hiện nay doanh nghiệp đang hoạt động hay những kế hoạch sẽ theo đuổi trong tương lai
- Mục tiêu của doanh nghiệp: là kết quả mong muốn đạt được trong một khoảng thời gian nhất định Mục đích chỉ ra phương hướng cho tất cả các quyết định quản trị và hình thành nên tiêu chuẩn đo lường cho việc thực hiện trong thực tế Vì vậy, mục tiêu là xuất phát điểm, đồng thời là nền tảng của việc lập kế hoạch
Trong doanh nghiệp có hệ thống các mục tiêu, các mục tiêu không bài trừ lẫn nhau mà có tính bổ sung cho nhau, khi thực hiện tốt mục tiêu này thì làm cơ sở cho việc thực hiện các mục tiêu khác Ứng với mỗi thời kỳ nhất định và điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì các mục tiêu có tầm quan trọng khác nhau Vì vậy, khi lập kế hoạch cần phải xác định thứ tự ưu tiên thực hiện các mục tiêu
- Các định hướng phát triển, các chế độ chính sách của Nhà nước, ngành: trong công tác kế hoạch hoá về nguyên tắc các doanh nghiệp được quyền tự chủ, song giới hạn và phạm vi của việc phát huy quyền tự chủ là pháp luật, chính sách về quản lý của nhà nước và ngành Căn cứ này góp phần làm cho các phương án kinh doanh của doanh nghiệp hợp pháp, đúng hướng
- Kết quả điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị trường và các hợp đồng kinh tế: yêu cầu của công tác lập kế hoạch là phải xác định được quy mô, cơ cấu nhu cầu đối với từng loại sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, có tính đến
sự tác động của các nhân tố làm tăng hoặc giảm nhu cầu Kết quả nghiên cứu nhu cầu có thể tập hợp theo mức giá để định hướng mục tiêu kinh doanh và phù hợp với phân đoạn thị trường hoặc theo đối tượng khách hàng để đảm bảo sự gắn bó giữa yếu tố sản xuất với yếu tố hỗ trợ
Trang 31- Kết quả phân tích và dự báo về tình hình sản xuất kinh doanh, về các khả năng và nguồn lực có thể khai thác: kết quả phân tích hoạt động kinh tế trong quá khứ và dự báo khả năng tương lai ứng với các nguồn lực có thể góp phần làm tăng tính khả thi của các phương án kế hoạch Trọng tâm phân tích cần tập trung vào các chỉ tiêu chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh
- Hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật: hệ thống định mức, tiêu chuẩn luôn là căn cứ quan trọng của công tác lập kế hoạch, là cơ sở để xác định năng lực sản xuất Do sự biến đổi thường xuyên của môi trường kinh doanh đòi hỏi hệ thống này cần được rà soát và hoàn thiện lại cho phù hợp sau mỗi
kỳ kinh doanh Hệ thống định mức của doanh nghiệp phải gắn bó, phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn và định mức của ngành và nền kinh tế quốc dân
- Kết quả nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu của tiến bộ kỹ thuật – công nghệ, hợp lý sản xuất: là căn cứ đầu tiên cho việc lập kế hoạch nghiên cứu triển khai, xác định phương án sản phẩm, dự trữ và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Các kết quả nghiên cứu ứng dụng có liên quan đến đổi mới công nghệ thường gắn với phương án đầu tư phát triển sản xuất trong thời kỳ dài Mặt khác đổi mới cũng có những tác động khác nhau đối với sự biến động của nhu cầu thị trường, điều đó cần được tính đến trong việc lập kế hoạch sản xuất về mặt hiện vật
1.3.1.2 Một số phương pháp được sử dụng để lập kế hoạch trong doanh nghiệp
* Phương pháp cân đối
- Khái niệm
Phương pháp cân đối là việc nghiên cứu mối quan hệ nhu cầu về một đối tượng kinh tế với tư cách là chỉ tiêu kế hoạch và khả năng đáp ứng nhu cầu đó nhằm đề xuất các biện pháp thiết lập và duy trì quan hệ cân băng cần phải có giữa chúng
Trang 32Khi sử dụng phương pháp cân đối, phải tiến hành lập các bảng cân đối
để qua đó phát hiện tình trạng mất cân đối giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng
về một đối tượng kế hoạch cụ thể Có thể gặp các trường hợp nhu cầu lớn hơn hoặc nhỏ hơn khả năng và ngược lại Trong những trường hợp như thế, các biện pháp tác động vào nhu cầu và khả năng làm cho chúng trở thành tương xứng với nhau
- Nội dung:
Phương pháp cân đối được tiến hành qua 3 bước:
Bước 1: Xác định nhu cầu các yếu tố sản xuất để thực hiện các mục tiêu kinh doanh dự kiến
Bước 2: Xác định khả năng cung ứng đã có và chắc chắn sẽ có của doanh nghiệp về các yếu tố sản xuất
Bước 3: Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về các yếu tố sản xuất
- Yêu cầu khi sử dụng phương pháp cân đối:
+ Cân đối được thực hiện là cân đối động, cân đối để lựa chọn phương
án sản lượng tối ưu chứ không phải cân đối theo phương án sản lượng được chỉ định Phương án cân đối dựa trên cơ sở hai yếu tố biến động đó là nhu cầu thị trường và các nguồn khả năng có thể khai thác
+ Thực hiện cân đối liên hoàn, tức là tiến hành nhiều cân đối kế tiếp nhau để liên tục bổ sung và điều chỉnh phương án cho phù hợp với thay đổi
của môi trường kinh doanh
Quá trình cân đối được tiến hành liên tục theo chu trình “Cân đối – mất cân đối – cân đối mới” Sự biến động nhanh chóng của nhu cầu thị trường và điều kiện kinh doanh là cho các mối quan hệ cân đối hôm qua đến hôm nay đã trở thành bất cân đối Tính chất mất cân đối có cơ sở từ sự biến động của nhu
Trang 33cầu thị trường và các nguồn cung ứng Vì vậy, việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch là việc làm tất yếu
+ Thực hiện cân đối trong từng yếu tố trước khi tiến hành cân đối giữa
các yếu tố Kết quả cân đối tổng hợp phải là căn cứ xác định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để xác định hoặc điều chỉnh phương án kinh doanh của doanh nghiệp
Đặc điểm sử dụng của phương pháp cân đối là trong một tính toán cân đối chỉ có thể đề cập một và chỉ một đối tượng kế hoạch thuộc một chủng loại
cụ thể Vì đặc điểm sử dụng này, để xây dựng một kế hoạch cần phải lập một
số lượng lớn các bảng cân đối Số lượng các bảng cân đối phụ thuộc vào quy
mô và mức độ phức tạp của mối quan hệ kinh tế mà doanh nghiệp tham gia trong quá trình hoạt động của mình Để thuận lợi cho việc quản lý, người ta phân biệt các bảng cân đối thành ba loại tương ứng với ba yếu tố nguồn lực chủ yếu của doanh nghiệp: cân đối vật tư, cân đối lao động và cân đối tài chính
* Phương pháp phân tích các nhân tố tác động
- Khái niệm:
Là phương pháp lập kế hoạch có tính chất truyền thống được sử dụng rộng rãi Khi áp dụng phương pháp này đòi hỏi các nhà quản trị phải có cách xem xét, phân tích hệ thống và tổng thể nhiều vấn đề, có sự hiểu biết sâu sắc
về bản chất của đối tượng kế hoạch, về các đặc điểm định tính và định lượng của nó, biết đặt tình trạng của các yếu tố nội tại của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế của các yếu tố ngoại lai
Phương pháp này có hai phạm vi sử dụng: để xác định các chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp và xây dựng kế hoạch tổng thể
Trang 34Phương pháp phân tích dùng để xác định các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp:
- Nội dung:
Nội dung của phương pháp này là dựa trên việc nghiên cứu cơ chế tác động và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đối với một hiện tượng kinh tế trong tư cách là chỉ tiêu kế hoạch để lựa chọn các biện pháp tác động vào các nhân tố nhằm đạt được sự vận động của hiện tượng kinh tế theo dự tính
Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp như năng suất lao động, giá thành sản phẩm, tỷ suất lợi nhuận trong kế hoạch kinh doanh được tính bằng phương
Trang 35thị trường, chu kỳ vận động của thị trường, sự trung thành của khách hàng, sức mua ); sự biến động của các nguồn công nghệ, kỹ thuật, khai khoáng, nguyên liệu; sự thay đổi cấu trúc ngành nghề; sự biến động về ngành nghề cạnh tranh; các đặc điểm về ngành nghề cạnh trạnh của doanh nghiệp (phần thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, chất lượng của lao động, chi phí tiền lương, tình hình doanh thu, chất lượng sản phẩm )
* Phương pháp tỷ lệ cố định
Nội dung của phương pháp này là dựa trên giả định rằng xu hướng vận động của một số nhân tố có liên quan đến chỉ tiêu kế hoạch cần tình toán là ổn định để áp dụng các số liệu đó vào việc tính toán chỉ tiêu kế hoạch có thể đạt được trong kỳ
* Phương pháp quan hệ động
Dựa trên việc nghiên cứu, khảo sát xu hướng vận động của đối tượng kinh tế với tư cách là chỉ tiêu kế hoạch đã định hình và ổn định trong một khoảng thời gian tương đối dài để xác định trị số gần đúng của nó trong tương lai
* Phương pháp định mức
Dựa trên việc sử dụng các định mức kinh tế kỹ thuật về tiêu hao các yếu tố nguồn lực cho một đơn vị sản phẩm đầu ra hoặc một đơn vị kết quả trung gian quá trình để tính toán tổng nhu cầu về từng yếu tố kinh tế cần phải đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh đã dự định
Ngoài những phương pháp trên, khi lập kế hoạch cần sử dụng những kỹ thuật, công cụ khác như:
- Những kỹ thuật đánh giá môi trường bao gồm: kỹ thuật nghiên cứu môi trường và dự báo;
- Các mô hình kế hoạch chiến lược;
- Lập và kiểm soát tiến độ thực hiện kế hoạch
Trang 361.3.1.3 Hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch trong doanh nghiệp
Hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch trong doanh nghiệp có thể được phân chia theo các tiêu thức sau:
- Căn cứ vào tính chất phản ánh của chỉ tiêu, các chỉ tiêu kế hoạch có
thể phân chia thành:
+ Các chỉ tiêu số lượng: Thể hiện quy mô và cơ cấu của các đối tượng
kế hoạch, bao gồm các chỉ tiêu phản ánh về mặt quy mô, số lượng Các hoạt động của doanh nghiệp, ví như giá trị tổng sản lượng, số lượng lao động, giá trị tài sản cố định,
+ Các chỉ tiêu chất lượng: Bao gồm các chỉ tiêu phản ánh chất lượng từng mặt công tác hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chúng được chia thành hai nhóm nhỏ: chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật và chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
- Căn cứ vào đơn vị tính toán các chỉ tiêu kế hoạch bao gồm:
+ Các chỉ tiêu hiện vật: Phản ánh đặc tính hữu dụng của đối tượng kế hoạch, thường áp dụng cho các đối tượng là thành phẩm hoặc bán thành phẩm Chỉ tiêu hiện vật thường được tính bằng các đơn vị thuộc hệ đếm và một số đơn vị đo lường phổ thông như: cái, chiếc, tấn, kg, km, hoặc đơn vị hiện vật quy ước
+ Các chỉ tiêu giá trị: Phản ánh đại lượng giá trị của đối tượng kế hoạch, hay nói cách khác các chỉ tiêu giá trị là chỉ tiêu được đo lường bằng các đơn vị tiền tệ, ví dụ: doanh thu, năng suất lao động tính bằng tiền, giá thành sản phẩm,
- Căn cứ vào đại lượng đo lường các chỉ tiêu kế hoạch bao gồm:
+ Các chỉ tiêu tuyệt đối: Phản ánh thuần tuý quy mô, độ lớn của các đối tượng kế hoạch Chúng được diễn đạt bằng các đơn vị đo lường có giá trị
Trang 37tuyệt đối, với nhiều loại đơn vị khác nhau như: hiện vật, giá trị, chất lượng, số lượng,
+ Các chỉ tiêu tương đối: phản ánh sự vận động của đối tượng kế hoạch Chúng được diễn đạt bằng các đại lượng tương đối như: % tăng giảm, chỉ số lần tăng giảm, sự chuyển dịch cơ cấu tỷ trọng,
- Căn cứ vào việc phân cấp quản lý chỉ tiêu kế hoạch bao gồm:
+ Các chỉ tiêu pháp lệnh: là các chỉ tiêu nhà nước, cấp trên giao kế hoạch cho các doanh nghiệp nhà nước Đó là các chỉ tiêu được quy định thống nhất về nội dung, phương pháp tính toán bắt buộc phải thực hiện
+ Các chỉ tiêu hướng dẫn: đó là các chỉ tiêu không có ý nghĩa bắt buộc trong thực hiện, song lại bắt buộc trong nội dung và phương pháp tính toán Trong điều kiện kinh tế thị trường, các chỉ tiêu này sẽ được áp dụng rộng rãi nhằm phục vụ hoạt động thông tin kinh tế và phân tích các chỉ tiêu kinh tế quốc dân
+ Các chỉ tiêu tính toán: là các chỉ tiêu do các doanh nghiệp quy định
và
tính toán phục vụ cho công tác quản lý và kế hoạch hoá trong phạm vi doanh nghiệp Đây là lượng chỉ tiêu chiếm số lượng tuyệt đại đa số trong các văn bản kế hoạch, với số lượng không hạn chế
1.3.1.4 Trình tự lập kế hoạch của doanh nghiệp
Lập kế hoạch là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong quy trình kế hoạch hoá Nó đòi hỏi nhà quản trị phải xác định các mục tiêu một cách có ý thức, có căn cứ và đưa ra các quyết định trên cơ sở mục tiêu, sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng Lập kế hoạch phải tuân thủ theo một quy trình với các bước đi cụ thể
- Bước 1: Nhận thức cơ hội trên cơ sở xem xét đánh giá môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, xác định thành phần cơ bản của môi trường
Trang 38doanh nghiệp, đưa ra các thành phần có ý nghĩa thực tế đối với doanh nghiệp, thu thập và phân tích thông tin về thành phần này; tìm hiểu các cơ hội có thể
có trong tương lai và xem xét một cách toàn diện, rõ ràng, biết được doanh nghiệp đang đứng ở đâu trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu của mình Hiểu rõ tại sao doanh nghiệp phải giải quyết những điều không chắc chắn và biết hy vọng thu được gì Việc đưa ra các mục tiêu thực hiện của doanh nghiệp trong thời kỳ kế hoạch phụ thuộc vào những phân tích này
- Bước 2: Thiết lập nhiệm vụ, mục tiêu cho toàn doanh nghiệp và cho các đơn vị cấp dưới Các mục tiêu sẽ xác định kết quả cần thu được và chỉ ra các điểm kết thúc trong các việc cần làm, nơi nào cần phải được chú trọng ưu tiên và cái gì cần hoàn thành bằng một hệ thống các chiến lược, các chính sách, các thủ tục, các ngân quỹ, các chương trình
- Bước 3: Xây dựng kế hoạch tổng thể
Doanh nghiệp so sánh các nhiệm vụ, mục tiêu với kết quả nghiên cứu
về môi trường bên trong và bên ngoài Xác định sự khác biệt giữa chúng và bằng việc sử dụng những phương pháp phân tích đưa ra các phương án kế hoạch khác nhau Lập kế hoạch tổng thể phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và các năng lực có thể khai thác Bước này gồm những khâu cụ thể:
+ Xác định các phương án kế hoạch: Xác định các phương án hợp lý, tìm ra phương án có nhiều triển vọng nhất
+ Đánh giá các phương án lựa chọn: Sau khi tìm được các phương án
có triển vọng nhất cần tiến hành đánh giá và xem xét điểm mạnh và điểm yếu của từng phương án dựa trên cơ sở định lượng các chỉ tiêu của từng phương án; có phương án mang lợi nhuận ít hơn những cũng ít rủi ro hơn; một phương án khác lại có thể thích hợp với các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp …
Trang 39+ Lựa chọn phương án cho kế hoạch: Đây là khâu mang tính quyết định đến việc cho ra đời bản kế hoạch Việc quyết định một trong số các phương
án kế hoạch phụ thuộc vào những ưu tiên về mục tiêu cần thực hiện trong thời
kỳ kế hoạch Trong quá trình lựa chọn phương án cũng cần phải lưu ý đến những phương án dự phòng và những phương án phụ để sử dụng trong những trường hợp cần thiết
- Bước 4: Xác định các chương trình, dự án Đây là các phân hệ của kế hoạch tổng thể Các chương trình thường xác định sự phát triển của một trong các mặt hoạt động quan trọng của đơn vị kinh tế như: chương trình hoàn thiện công nghệ, chương trình kiểm tra chất lượng sản phẩm, chương trình tính toán
dự trữ… còn các dự án thường định hướng đến một mặt hoạt động cụ thể hơn như dự án phát triển thị trường, đổi mới sản phẩm… Thông thường một chương trình ít đứng riêng một mình, nó thường là bộ phận của hệ thống phức tạp các chương trình, phụ thuộc vào một số chương trình và ảnh hưởng tới một số chương trình khác Dù là chương trình lớn hay chương trình bộ phận thì nội dung của việc xây dựng các chương trình đều bao gồm: xác định các mục tiêu, nhiệm vụ; các bước tiến hành; các nguồn lực cần sử dụng và các yếu tố khác cần thiết để tiến hành chường trình hành động cho trước; những yêu cầu về ngân sách cần thiết Các dự án thường được xác định một cách chi tiết hơn chương trình, nó bao gồm các thong số về tài chính và kỹ thuật, các tiến độ thực hiện, tổ chức huy động và sử dụng nguồn lực, hiệu quả kinh tế tài chính
- Bước 5: Lập hệ thống các kế hoạch chức năng (kế hoạch bộ phận) và ngân sách
Mục tiêu của các kế hoạch kinh doanh thường hướng tới là: Đáp ứng đòi hỏi của thị trường; nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh, quản lý một cách có hiệu quả hơn các nguồn lực; Đảm bảo thực hiện chiến lược kinh
Trang 40doanh đã chọn, cụ thể là: thực hiện các mục tiêu chiến lược, kiểm soát quá trình triển khai chiến lược Để thực hiện được những mục tiêu đó, kế hoạch tổng thể cần phải được cụ thể hoá bằng hệ thống các kế hoạch chức năng, xem như đó là các kế hoạch bộ phận để chỉ đạo và điều hành sản xuất kinh doanh Hệ thống các kế hoạch chức năng bao gồm: kế hoạch sản xuất sản phẩm, phát triển nhân sự, triển sản phẩm mới; kế hoạch mua sắm thiết bị; nguyên vật liệu; kế hoạch kế hoạch tài chính, kế hoạch marketing;
Sau khi các kế hoạch bộ phận được xây dựng xong cần lượng hoá chúng dưới dạng tiền tệ các dự đoán về mua sắm các yếu tố sản xuất, phục vụ bán hàng, nhu cầu vốn, gọi là lập ngân sách Ngân sách nói chung của DN biểu thị tổng toàn bộ thu nhập và chi phí, lợi nhuận hay số dư tổng hợp và các khoản mục cân đối chính như chi tiêu tiền mặt hay chi phí đầu tư Ngoài ngân sách chung mỗi bộ phận hay chương trình của doanh nghiệp cũng cần soạn lập
ngân sách riêng của mình
Các kế hoạch chức năng và ngân sách trên thực tế có mối quan hệ mật thiết với nhau và cần phải thống nhất trong quá trình xây dựng nhằm đảm bảo
sự phối hợp đồng bộ và có hiệu quả giữa các chức năng trong doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, khả năng nắm bắt nhu cầu sẽ là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành công của các kế hoạch doanh nghiệp cũng như việc thực hiện mục tiêu chiến lược, do vậy, kế hoạch marketing sẽ là trung tâm và
cơ sở của mọi kế hoạch tác nghiệp khác Ngân sách sẽ trở thành một phương tiện để kết hợp các kế hoạch chức năng với nhau, đồng thời là tiêu chuẩn quan trọng để đo lường sự tăng tiến của kế hoạch
- Bước 6: Đánh giá, hiệu chỉnh các pha của kế hoạch Đây có thể coi là bước thẩm định cuối cùng trước khi cho ra một văn bản kế hoạch Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cùng với các nhà chuyên môn kế hoạch cũng như chức