Qua những phân tích trên , có thể nói : khai thác biển là khâu quan trọng trong hoạt động kinh tế biển , là mắt xích không thể thiếu trong hệ thống phát triển kinh tế biê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN TUẤN ANH
HỖ TRỢ AN NINH CHO HOA ̣T ĐỘNG CỦA NGƯ DÂN TRÊN BIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN TUẤN ANH
HỖ TRỢ AN NINH CHO HOA ̣T ĐỘNG CỦA NGƯ DÂN TRÊN BIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các hình vẽ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: HỖ TRỢ AN NINH CHO HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN CỦA NGƯ DÂN VIỆT NAM TRÊN BIẺN 9
1.1 Khái luâ ̣n về hỗ trợ an ninh cho ngư dân khai thác hải sản trên biển 9
1.1.1 Hoạt động khai thác hải sản trên biển 9
1.1.2 Hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân trên biển 22 1.2 Kinh nghiê ̣m quốc tế trong viê ̣c hỗ trợ ngư dân hoa ̣t đô ̣ng trên biển 32
1.2.1 Kinh nghiê ̣m của Trung Quốc 32
1.2.2 Kinh nghiê ̣m của mô ̣t số quốc gia trên thế giới 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ AN NINH CHO HOA ̣T ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN CỦA NGƯ DÂN TRÊN BIỂN VIỆT NAM 37
2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoa ̣t đô ̣ng hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam 37
2.1.1 Những nhân tố thuô ̣c về vĩ mô 37
2.1.2 Những nhân tố vi mô 40
2.2 Tình hình hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam 44
2.2.1 Chưa thực sự ta ̣o lâ ̣p được môi trường cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam 44
2.2.2 Hoạt động tuần tra ngư trường, bảo vệ ngư dân chưa đạt hiệu quả cao 58
2.2.3 Năng lực tự vê ̣ của ngư dân còn nhiều ha ̣n chế 61
2.2.4 Giải quyết tranh chấp trong vùng biển còn nhiều hạn chế 63
Trang 42.3 Đánh giá về hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân
trên biển 64
2.3.1 Về thành tựu 65
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 67
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỀM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỖ TRỢ AN NINH CHO HOA ̣T ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN CỦA NGƯ DÂN TRÊN BIỂN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 74
3.1 Những nhân tố mới ảnh hưởng đến an ninh trên biển cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác của ngư dân 74
3.1.1 Chiến lược của các nước lớn 74
3.1.2 Mô ̣t số chính sách hợp tác trong lĩnh vực khai thác thuỷ sản của các nước với Viê ̣t Nam 79
3.1.3 Chính sách của Việt Nam 82
3.2 Mô ̣t số dự báo liên quan đến hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của Viê ̣t Nam 83 3.3 Quan điểm về hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản trên biển Viê ̣t Nam của ngư dân Việt Nam 84
3.3.1 Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế biển , gắn v ới bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước 84
3.3.2 Lấy sức ma ̣nh tổng hợp của các lực lượng đảm bảo an ninh theo hướng hoà bình, hợp tác, cùng phát triển 85
3.3.3 Hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác phải đảm bảo thống nhất, đồng bộ 85
3.4 Mô ̣t số giải pháp 85
3.4.1 Các giải pháp thuô ̣c về vĩ mô 85
3.4.2 Các giải pháp thuộc về vi mô 91
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 ASEAN Association of Southeast
Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa
7 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại
thế giới
8 TPP Trans-Pacific Partnership
Hiê ̣p đi ̣nh đối tác xuyên Thái Bình Dương
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sơ đồ khai thác thủy sản 14 Bảng 1.2: Xuất nhâ ̣p thuỷ sản của Viê ̣t Nam năm 2006 – 2011 16 Bảng 1.3: Tỷ lệ tăng trưởng NK và XK thuỷ sản Việt Nam năm 2006 - 2011 17 Bảng 1.4: Giá trị sản xuất t huỷ sản theo giá hiện hành phân theo ngành hoạt động 20 Bảng 1.5: Các cơ sở chế biến thuỷ sản xuất khẩu 31 Bảng 2.1: Quy hoa ̣ch tàu thuyền khai thác theo vùng đến năm 2020, đi ̣nh hướng 2030 42 Bảng 2.2: Quy hoa ̣ch cảng cá, bến cá đến 2020 57
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Ven bờ 10
Hình 1.2: Khu đă ̣c quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam 11
Hình 1.3: Khu vƣ̣c biển Đông 11
Hình 1.4: Khu vƣ̣c Vi ̣nh Thái Lan 12
Hình 1.5: Hoạt đô ̣ng khai thác hải sản xa bờ 13
Hình 2.1: Cảng khai thác thuỷ, hải sản tại Nha Trang 50
Hình 2.2 Bản đồ phân bố trung bình nhiều năm mâ ̣t đô ̣ nguồn lợi cá đáy trong gió mùa Tây Nam 54
Hình 2.3: Bản tin dự báo ngày 04/10/2013 về cá đáy – vụ cá Bắc 2013-2014 56
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luâ ̣n văn
Trải rộng từ vĩ độ 3 lên đến vĩ độ 26 Bắc và từ kinh độ 100 đến 121 Đông, biển Đông là một biển nửa kín Ngoài Việt Nam, biển Đông được bao bọc bởi 8 nước khác là Trung Quốc, Philippines, In-đô-nê-xi-a, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia Tiềm năng của vùng biển này là nguồn sống phong phú của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới 7, tr.8
Vị trí, địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho vùng biển Đông sự đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế giới, cả về cấu trúc thành phần loài, hệ sinh thái và nguồn gen Khác biệt về điều kiện tự nhiên từ Bắc đến Nam như sự thay đổi nhiệt độ theo vĩ tuyến, mức độ trao đổi môi trường với các vùng xung quanh, hình thái thềm lục địa… đã tạo nên những nét đặc trưng của các hệ sinh thái giữa các vùng biển ở Việt Nam
Cho đến nay, trong vùng biển này đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình Trong đó có khoảng 6.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trên 100 loài cá kinh tế, hơn
300 loài san hô cứng, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển và 5 loài rùa biển
Nguồn tài nguyên sinh vật biển quan trọng đã mang đến những ưu thế cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh Trữ lượng hải sản đánh bắt khoảng 3 – 3,5 triệu tấn, cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế cao có thể khai thác được hàng năm Trong khu vực,
có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, In-đô-nê-xi-a và Philippines
Trang 9Biển Đông còn được coi là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mêkông, sông Hồng, cửa sông Châu Giang Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ
m3 (theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu được kiểm chứng ở biển Đông là 7 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày) Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung Việt Nam
Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo
Qua những phân tích trên , có thể nói : khai thác biển là khâu quan trọng trong hoạt động kinh tế biển , là mắt xích không thể thiếu trong hệ thống phát triển kinh tế biển, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu các chế phẩm từ biển, phát triển kinh tế và gia tăng lợi ích cho người sản xuất (người khai thác) Ở các nước đang phát triển , do trình đô ̣ phát triển của kinh t ế thị trường còn thấp, quan hê ̣ giữa hoa ̣t đô ̣ng khai thác biển và công tác hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác trên biển còn nhiều bất câ ̣p , ảnh hưởng không
Trang 10tốt đến lợi ích của ngư dân biển , hoạt động an ninh biển và của cả nền kinh
tế biển Kinh tế biển là mô ̣t ngành tiềm năng , sự phát triển của ngành này sẽ giữ mô ̣t vai trò đă ̣c biê ̣t quan tro ̣ng trong công cuô ̣c phát triển kinh tế của đất nước, đảm bảo viê ̣c phát triển theo hướng tăng dần tỷ tro ̣ng cho ngành công nghiê ̣p, dịch vụ và tăng công nghiệp hoá , hiê ̣n đa ̣i hoá ngành nông nghiê ̣p
Vì vậy việc đảm bảo hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam là vấn đề mang tính cấp thiết
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã từng bước hội nhập sâu rô ̣ng vào nền kinh tế quốc tế: trở thành thành viên sáng giá của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia tích cực vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), gia nhập diễn đàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
(APEC) và đă ̣c biê ̣t là gia nhập tổ chức th ương mại thế giới WTO năm 2006 và nhiều diễn đàn kinh tế quốc tế khác…Bên cạnh đó , Viê ̣t Nam cũng đã và đang cùng các quốc gia trong khối ASEAN tiến hành đàm phán về Bô ̣ quy tắc ứng xử biển Đông (COC), tiến tới tránh xung đô ̣t trong tranh chấp lãnh hải và khai thác có hiê ̣u quả kinh tế biển nói chung và biển Đông nói riêng Chính trong thời điểm này , Viê ̣t Nam có nhiều cơ hô ̣i trong việc phát triển kinh tế biển, tuy nhiên cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức cho ngư dân hoa ̣t đô ̣ng trong vùng biển Viê ̣t Nam Với bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu ngày càng lan rộng, thì tâ ̣n du ̣ng những nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn
có là một trong những nội lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Viê ̣t Nam phát triển Tuy nhiên, trong thời gian gần đây ngư dân Viê ̣t Nam ngày càng phải đối mă ̣t với nhiều khó khăn, hạn chế trong khai thác biển Nhất là các ngư dân gần khu vực Hoàng Sa , Trường Sa và vùng biển tiếp giáp với khu vực biển Phi-líp-pin và Thái Lan Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản lượng , tâm lý khai thác củ a ngư dân Các ngư dân đang được khuyến khích phát triển, nhưng thực tế chính sách , công tác hô ̣ ngư từ phía chính phủ , địa
Trang 11phương và đă ̣c biê ̣t là hoa ̣t đô ̣ng hỗ trợ an ninh vẫn còn không ít những bất cập Cùng với đó, viê ̣c ứng du ̣ng KHCN, năng lực quản lý hạn chế , quy mô nhỏ đã làm cho sức khai thác của ngư dân bị hạn chế đi nhiều
Với các lý do trên, luâ ̣n văn: “Hỗ trợ an ninh cho hoạt động của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam ” được chọn làm luâ ̣n văn nghiên cứu cho luận văn
thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu
Hiê ̣n nay, chưa có luâ ̣n văn nghiên cứu về hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t
đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam Chủ yếu chỉ có các bài viết về chính sách của Chính phủ ; chính sách hỗ trợ an ninh theo các bình diện: thiết bi ̣ an ninh , bảo hiểm, thân tàu hay bảo hiểm tai na ̣n; hỗ trợ về nhiên liê ̣u và mô ̣t số bình diê ̣n khác như nước ngo ̣t, máy phát điê ̣n cho tàu…Cụ thể là:
- Về chính sách của chính phủ , trong bài viết “Cải hoán, đóng mới tàu công suất lớn: Ngư dân gặp khó” của tác giả Mỹ Hoa đã tâ ̣p trung khai
thác các điểm yếu trong hỗ trợ đón g mới tàu công suất lớn cho ngư dân theo Quyết định 48/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Nhưng trên thực tế tất cả ngư dân chưa tiếp cận được nguồn vốn , chỉ là sự góp sức từ phía Quỹ
hỗ trợ ngư dân tỉnh với 25 tỷ đồng, trong khi nhu cầu của ngư dân quá lớn nên Quỹ này cũng chỉ có thể cho ngư dân mượn vốn trong những trường hợp bị thiệt hại do thiên tai, nhân tai Số còn lại, hoặc chấp nhận gắn bó với vùng biển gần bờ, hoặc với vay nóng bên ngoài
- Về đóng mới tàu và hỗ trợ thiết bi ̣ an ninh, trong nghiên cứu “Hỗ trợ kém hiệu quả, ngư dân chưa thể tiến xa ra biển” của tác giả Phương
Thảo, có đề cập: trong năm 2013, Cơ quan chức năng của các tỉnh thành phố
đã hỗ trợ ngư dân đóng mới 1.365 tàu có công suất 90CV trở lên với số tiền khoảng 1.300 tỷ đồng; đã lắp đặt 7.000 máy thu trực canh cho ngư dân; triển
Trang 12khai việc hỗ trợ gắn thiết bị (chíp) cho 3.000 tàu cá để thu phát tín hiệu từ vệ tinh Tính đến cuối tháng 6/2013, cả nước đã lắp đặt được thiết bị kết nối vệ tinh cho 1.150 tàu cá Tuy nhiên, trên thực tế, so với tổng số 27998 tàu hoạt
đô ̣ng xa bờ trong cả nước (tính đến quý 2 năm 2013 của Tổng cục Thống kê), số 1150 chỉ chiếm 4,1% tổng số tàu được lắp đă ̣t thiết bi ̣ kết nối vê ̣ tinh Con số này khá khiêm tốn so với yêu cầu và đề xuất của nghành [1, tr.60]
- Về cơ sở hâ ̣u cần ngoài khơi , bài viết của tác giả Thu Thuỷ cho rằng: việc tổ chức triển khai xây dựng các khu neo đậu, tránh trú bão chưa đồng bộ; đầu tư dự án còn dàn trải; chưa có các tiêu chuẩn ngành về các khu neo đậu tránh trú bão; chưa nghiên cứu tận dụng tối đa địa hình, điều kiện tự nhiên để xây dựng…
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu trên, tầm quan tro ̣ng thiết yếu của công tác hỗ trợ an ninh cho h oạt động khai thác hải sản , đồng thời để khẳng
đi ̣nh chủ quyền của Viê ̣t Nam trong bối cảnh căng thẳng trên biển hiê ̣n nay
Đề tài : “ Hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác hải sản của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam” được lựa cho ̣n làm vấn đề nghiên cứu Luâ ̣n văn có
kế thừa mô ̣t số khái niê ̣ m về ngư nghiê ̣p , quốc phòng, an ninh biển và sử dụng một số số liệu khai thác từ các bài viết trên nhưng không trùng lặp với những bài viết và chuyên đề đã nghiên cứu về vấn đề hỗ trợ an ninh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu thực tra ̣ng “Hỗ trợ an ninh cho hoạt động
của ngư dân trên biển Việt Nam ”, chỉ ra những thành tựu và bất cập t rong
chính sách hỗ trợ an ninh cho ngư dân các tỉnh ven biển nói riêng và khu vực biển Viê ̣t Nam nói chung Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng thành công chương trình hỗ trợ cho ngư dân biển
Trang 133.2 Nhiê ̣m vụ:
Để đa ̣t được mục đích trên, luâ ̣n văn cần giải quyết các nhiê ̣m vu ̣ sau :
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản và mối quan hệ của nó trong phát triển kinh tế biển
- Phân tích thực trạng năng lực hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác trên biển của Việt Nam
- Đề xuất những giải pháp để tăng cường công tác an ninh cho hoa ̣t
đô ̣ng khai thác hải sản trong điều kiê ̣n ngân sách có ha ̣n
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luâ ̣n văn:
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luâ ̣n văn là quan hê ̣ giữa năng lực hỗ trợ
an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng kinh tế trên biển của ngư dân Viê ̣t Nam
* Phạm vi nghiên cứu:
Luâ ̣n văn tập trung phân tích thực tra ̣ng hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân Viê ̣t Nam trên vùng biển Viê ̣t Nam
Do hạn chế về tài liệu , tính chất đặc thù của ngành và thời gian , nên các phân tích thực trạng chỉ tập trung phân tích những nét tổng quan nhất, đề xuất được thực hiện cho giai đoạn từ nay đến năm 2015
Các giải pháp đề xuất chủ yếu nhằm nâng cao năng lực hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam
5 Phương pháp nghiên cứu của luâ ̣n văn:
Luâ ̣n văn có sử du ̣ng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: phương pháp Tổng quan tài liệu trong đó có tổng hợp những điểm chung giữa các nghiên cứu đã được thực hiện; phương pháp phân tích tổng hợp gồm: lựa chọn những tài liệu phù hợp với tiêu chuẩn đề ra; lưu giữ những tài liệu đã được lựa chọn một cách cẩn thận, sắp xếp những tài liệu này tùy theo mục đích sử dụng (ví dụ sắp xếp theo chủ đề chính, phương pháp,…); đọc phần tóm tắt của các
Trang 14tài liệu thu thập được, đọc lướt qua để nắm được ý chính; đọc chi tiết những tài liệu đã lựa chọn, ghi chép những nội dung liên quan và thêm vào những ý kiến, quan điểm ban đầu của cá nhân dựa vào viê ̣c g hi chú các vấn đề được nhấn mạnh, chỉ rõ các thiếu sót/sai lầm trong nghiên cứu
Bên cạnh đó luâ ̣n văn cũng sử dụng các phương pháp khác như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp mô tả bằng biểu đồ để tạo xu hướng tổng hợp dữ liê ̣u mô ̣t cách số hoá và làm người đọc dễ cảm nhận được vấn đề hơn mô tả
6 Những đóng góp của Luâ ̣n văn
6.1 Kết quả khoa học
- Hê ̣ thống hoá những vấn đề lý luâ ̣n cơ bản về “Hỗ trợ an ninh cho hoạt động đánh bắt, nuôi trồng, chế biến của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam ”
và kinh nghiệm quốc tế
- Đánh giá thực trạng công tác Hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân tr ên biển Viê ̣t Nam; đề cập đến t ình hình hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam
- Đưa ra các quan điểm và giải pháp nâng cao hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t
đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam trong thời gian tới
6.2 Kết quả ứng dụng
Luâ ̣n văn sẽ phân tích những đă ̣c điểm nổi bâ ̣t và yếu kém trong công tác hỗ trợ an ninh và trong chủ trương , chính sách của Việt Nam cho hoạt động của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam để từ đó nêu những kiến nghị để nâng cao chất lượng hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác của ngư dân trên biển; cung cấp những luâ ̣n cứ quan tro ̣ng cho viê ̣c hoàn thiê ̣n quá trình xây dựng công tác này
Trang 157 Kết cấu của luâ ̣n văn:
Luâ ̣n văn ngoài phần mở đầu , kết luận và các phụ lục, được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân trên biển – Cơ sở lý luâ ̣n và kinh nghiê ̣m quốc tế
Chương 2: Thực trạng công tác hô ̣ trợ an ninh cho hoạt động của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t
đô ̣ng khai thác hải sản của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam trong thời gian tới
Trang 16CHƯƠNG 1: HỖ TRỢ AN NINH CHO HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
HẢI SẢN CỦA NGƯ DÂN VIỆT NAM TRÊN BIẺN
1.1 Khái luâ ̣n về hỗ trơ ̣ an ninh cho ngư dân khai thác hải sản trên biển
Hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác của ngư dân trên biển Việt Nam được coi như mô ̣t hình thức quản lý an ninh, trâ ̣t tự về lãnh hãi ta ̣i biển Viê ̣t Nam Do đó, công tác này mang tính chất đă ̣c thù của ngành quản lý an ninh kết hợp với quản lý kinh tế Để khằng đi ̣nh vai trò và tầm quan tro ̣ ng của hoạt động hỗ trợ an ninh cho ngư dân trên biển Viê ̣t Nam , Luâ ̣n văn luôn đi sâu và thiên về viê ̣c phân tích những hoạt động hỗ trợ , quản lý an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hơn là phân tích sâu về khía ca ̣nh kinh tế
1.1.1 Hoạt động khai thác hải sản trên biển
1.1.1.1 Một số quan niê ̣m về biển và khai thác hải sản trên biển
Khi đề câ ̣p tới biển Viê ̣t Nam , cần phân biê ̣t rõ mô ̣t số khái niê ̣m cơ bản sau:
- Ven bờ
Theo hầu hết các tài liê ̣u quản lý tổng hợp ven bờ đều cho rằng : ven bờ là khu vực có diê ̣n tích khá he ̣p giữa biển và đất liền Là nơi quá trình sinh thái phụ thuộc tác động lẫn nhau giữa biển và đất liền , tác động này diễn ra khá phức ta ̣p và nha ̣y cảm Vùng ven bờ thường được hiểu là nơi tương tác giữa biển và đất liền , bao gồm các môi trường ven bờ cũng như các vùng nước kế cận Các thành phần của nó bao gồm: vùng châu thổ, vùng đồng bằng ven biển, các vùng đất ngâ ̣p nước, các bãi biển và cồn cát, các rạn san hô, các vùng rừng ngập mặn , đầm phá và các đă ̣c trưng ven bờ khác KHái niệm ven bờ được xác đi ̣nh mô ̣t cách khác nhau giữa các quốc gia , thường dựa vào giới ha ̣n pháp lý , ranh giới hành chính , sự khác biê ̣t về đi ̣a văn hoá, sinh thái, kinh tế…
Trang 17Hình 1.1: Ven bờ
- Biển Viê ̣t Nam: khu đă ̣c quyền kinh tế 200 hải lý
Trong luật biển quốc tế, vùng đặc quyền kinh tế (tiếng Anh: Exclusive Economic Zone - EEZ; tiếng Pháp: zone économique exclusive- ZEE) là vùng biển mở rộng từ các quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo, nằm bên ngoài và tiếp giáp với lãnh hải Vùng biển này có chiều rộng 200 hải lý (khoảng 370,4 km) tính từ đường cơ sở, ngoại trừ những chỗ mà các điểm tạo ra đó gần với các quốc gia khác Trong khu vực đặc quyền kinh tế, quốc gia có đặc quyền khai thác và sử dụng các tài nguyên biển Nó được đặt dưới chế độ pháp lý riêng được quy định trong phần V - Vùng đặc quyền kinh tế của Công ước Liên hiệp quốc về luật biển 1982, trong đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển (hay quốc gia quần đảo), các quyền cũng như các quyền tự do của các quốc gia khác đều được điều chỉnh bởi các quy định thích hợp của Công ước này
Trang 18Hình 1.2: Khu đă ̣c quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam
- Vùng biển quốc tế mà Việt Nam có tham gia hoa ̣t đô ̣ng khai thác Vùng biển quốc tế là khu vực nằm ngoài khu đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở (ngoại trừ những chỗ mà các điểm tạo ra đó gần với các quốc gia khác), không thuô ̣c bất cứ quốc gia nào Theo đó các nước
có quyền khai thác , thông thương và sử du ̣ng tuân thủ theo Công ước Liên hiệp quốc về luật biển 1982
Hiê ̣n nay, Viê ̣t Nam tham gia vào hai vùng biển quốc tế: biển Đông và vịnh Thái Lan
Hình 1.3: Khu vực biển Đông
Trang 19Hình 1.4: Khu vực Vi ̣nh Thái Lan
- Khai thác hải sản trên biển
Tính tới thời điểm hiê ̣n ta ̣i , chưa có khái niê ̣m cu ̣ thể nào của Viê ̣t Nam về khai thác hải sản trên biển, tuy nhiên, theo quan niê ̣m và mô ̣t số văn bản pháp quy của nước Việt Nam , có thể hiểu : khai thác hải sản là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n ngành khai thác thủy sản nên t heo quy định tại khoản 4, Điều 2 Luật Thủy sản năm 2003 của Việt Nam , khai thác thủy sản được hiểu như sau:
“Khai thác thuỷ sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác.”
Quan điểm khác: đánh bắt thuỷ sản hay khai thác thuỷ sản (KTTS) là một hoạt động của con người (ngư dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên
Trang 20Hình 1.5: Hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Theo quy đi ̣nh 32185 ban hành ngày 18.01.2011 của Văn phòng nghiên cứu (Congressional Research Service), Liên hợp quốc , về sinh vâ ̣t biển (living resources ) và khai thác sinh vật biển (exploitation of living
resources) bản tiếng Anh thì khai thác thuỷ, hải sản được hiểu là : khai thác tài nguyên, sinh vật biển của các quốc gia ven biển là quá trình sử dụng các phương tiê ̣n kỹ thuật nhằm đạt được sản lượng khai thác cho phép và thúc đẩy sử dụng tài nguyên tối ưu [27, tr5]
Dựa trên mô ̣t vài khái niê ̣m , rút ra: khai thác hải sản là quá trình của con người sử dụng các phương tiện, kỹ thuật ở các cấp độ khác nhau nhằm sở hữu, sử dụng, thương mại và bảo tồn các nguồn hải sản ở một khu vực biển theo luật đi ̣nh nhằm đạt được sản lượng khai thác cho phép và thúc đẩy sử dụng tối ưu nguồn lợi hải sản biển
Trên thực tế, tài nguyên hải sản biển mà con người đang hưởng là sản phẩm được hình thành trong tự nhiên từ nhiều triệu năm, song chỉ chưa đầy 1/2 thế kỷ tập trung khai thác, nhiều loại hải sản đã có nguy cơ cạn kiệt và biến mất vĩnh viễn Sự khai thác quá mức làm thay đổi lớn đến môi trường sống và nguồn tài nguyên thủy sinh vật Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng trên Trong những năm vừa qua, sự phát triển loại hình khai thác
Trang 21hải sản còn mang tính chất tự phát, chưa có sự quản lý chặt chẽ về số lượng tàu thuyền, ngư cụ, khu vực hoạt động khai thác Số lượng tàu thuyền khai thác tăng lên không ngừng, tập trung ở nhóm tàu có công suất thấp, hoạt động chủ yếu thuộc vùng nước truyền thống thác
Từ đó, khái niê ̣m khai thác hải sản đã được phát triển lên mô ̣t cấp cao hơn: Khai thác bền vững
Vâ ̣y: khai thác bền vững là cách khai thác sao cho các sản phẩm thu được vừa đáp ứng nhu cầu hiện tại vừa đảm bảo duy trì nguồn lợi ổn định cho thế hệ mai sau Như vậy, khai thác bền vững nguồn lợi hải sản là khai thác một phần nguồn lợi có sẵn, sao cho phần còn lại trong chu trình một năm có thể sinh sản và khôi phục lại đàn như trạng thái ban đầu Nhờ thế, có thể duy trì được nguồn lợi lâu dài
Bảng 1.1: Sơ đồ khai thác thủy sản
Trích: Giáo trình giảng dạy môn Nuôi trồng - thuỷ sản Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh (2011)
Trang 221.1.1.2 Vai trò khai thác hải sản trên biển
Thủy và hải sản là một trong những thế mạnh của Việt Nam, có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhất thế giới đạt 18%/năm giai đoạn 1998-
2008 và 13,5% trong giai đoa ̣n 2008-2011 Năm 2008, tổng sản lượng thủy hải sản của Việt Nam đạt 4,6 triệu tấn, trong đó nuôi trồng đạt gần 2,5 triệu tấn và khai thác đạt trên 2,1 triệu tấn, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy hải sản và đứng thứ 13 về sản lượng khai thác thủy sản trên thế giới Cũng trong năm này, Việt Nam xuất khẩu được trên 4,5 tỷ USD hàng thủy sản, đứng thứ 6 về giá trị xuất khẩu thủy sản
Theo số liệu đã công bố của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ sản giai đoạn 1995 - 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng và
có những bước phát triển vượt bậc cả về giá trị và quy mô trong giai đoạn
2006 – 2011: tăng từ 70.308 tỷ đồng lên 128.457 tỷ đồng [14, tr.9] Trong các hoạt động của ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng Sản lượng khai thác hải sản tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng 7,7% (giai đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai đoạn 1996 - 2003) Tuy nhiên, nuôi trồng thuỷ sản đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất Năm 2007 - năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, sản lượng nuôi trồng thủy sản lần đầu tiên đã vượt sản lượng khai thác, đạt 2,1 triệu tấn Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam đạt 4,6 triệu tấn, trong đó nuôi trồng đạt gần 2,5 triệu tấn và khai thác đạt trên 2,1 triệu tấn Năm 2011, tổng lượng thuỷ sản của Viê ̣t Nam đa ̣t 5,2 triê ̣u tấn và năm 2012 là 5,8 triê ̣u tấn
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt Đến năm 2003, đã sử dụng 612.778 ha nước mặn, lợ và 254.835 ha nước ngọt để
Trang 23nuôi thuỷ sản Trong đó, đối tượng nuôi chủ lực là tôm với diện tích 580.465
ha Gần đây, mô hình nuôi cá tra ao đã đạt đến diện tích trên dưới 6.000 ha, với sản lượng xuất khẩu đạt gần 600.000 tấn trong năm 2008 (gấp 3 lần sản lượng tôm xuất khẩu)
Theo thông kê lao đô ̣ng, viê ̣c làm của tổng cu ̣c thống kê : số lao động của ngành thuỷ sản có chuyển dịch đáng kể trong giai đoạn 1996 – 2012, cụ thể là: tăng từ 3,12 triê ̣u lao đô ̣ng (1996) lên 3,8 triê ̣u lao đô ̣ng (2001) và điều chỉnh giảm, hướng tới chuyên môn hoá còn 6533 lao đô ̣ng (2012) chưa tính hộ gia đình, nghề di ̣ch vu ̣ đi kèm [1, tr.20]
Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng thủy sản chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình nên đã trở thành nguồn thu hút lực lượng lao động, tạo nên nguồn thu nhập quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo Các hoạt động phục vụ như vá lưới, cung cấp thực phẩm, tiêu thụ sản phẩm chủ yếu
do lao động nữ thực hiện đã tạo ra thu nhập đáng kể, cải thiện vị thế kinh tế của người phụ nữ, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền núi Riêng trong các hoạt động bán lẻ thủy sản, nữ giới chiếm tỉ lệ đến 90%
Bảng 1.2: Xuất nhâ ̣p thuỷ sản của Viê ̣t Nam năm 2006 – 2011
Năm Nhập khẩu
(USD)
Tăng trưởng (%) so với năm trước
Xuất khẩu (USD)
Tăng trưởng (%) so với năm trước
Tỷ lệ đóng góp (%) NK/XK
Trang 24Trong bảng 1.2, cho thấy xuất nhâ ̣p khẩu thuỷ, hải sản của Việt Nam ngày càng phát triển vượt bậc ( gần 3,348 tỷ USD năm 2006 lên 6,117 tỷ USD vào năm 2011), tỷ trọng đóng góp hàng năm vào xuất , nhâ ̣p khẩu đa ̣t giá tri ̣ tương đối
Bảng 1.3: Tỷ lệ tăng trưởng NK và XK thuỷ sản Việt Nam năm 2006 - 2011
Từ bảng 1.2, ta có bảng 1.3 là bảng mô hì nh hoá tỷ tro ̣ng đóng góp vào xuất nhập khẩu, trong đó có thể thấy rằng ngành thuỷ sản là ngành xuất siêu tương đối lớn
Khai thác thủy và hải sản giữ một v ai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân vì:
- Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân Việt Nam : 50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ
và 40% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm cho nhu cầu của người dân Việt Nam Nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng khắp, tới tận các vùng sâu vùng xa, góp phần chuyển đổi
cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào Trong thời gian tới, các mặt hàng thủy sản sẽ ngày càng
có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam
Trang 25- Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm: Ngành Thuỷ sản là một
trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tế quốc dân, Ngành Thuỷ sản đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm Có thể nói Ngành Thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển
- Xoá đói giảm nghèo: việc phát triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản
đã góp phần to lớn vào chương trình xóa đói giảm nghèo Từ các hô ̣ dân nghèo hay cận nghèo, sống nhờ vào trợ cấp của nhà nước, chỉ trong một thời gian ngắn, với sự hỗ trợ của các cấp, mô hình nuôi trồng thủy sản đã đưa các
hô ̣ thoát nghèo, vươn lên Tại các vùng duyên hải, từ hơn 10 năm qua, nuôi thuỷ sản nước lợ, nước mă ̣n đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang thâm canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp Các vùng nuôi trồng hải sản rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ sản
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn: thay vì ngăn chặn
những ảnh hưởng của biển với đất đai canh tác, nuôi trồng thuỷ hải sản nước mặn, nước lợ đã tâ ̣n du ̣ng tốt sự xâm lấn của biển để nuôi trồng thuỷ sản cho hiệu quả kinh tế gấp hàng chục lần hoạt động canh tác lúa nước Từ đó, một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản Trong khi giá thuỷ sản trên thị trường thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách Chính phủ
Trang 26đã đưa ra nghị quyết 09 NQ/CP ngày 15/6/2000 về chuyển đổi cơ cấu kinh
tế trong nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và đó cũng là yếu tố giúp cho quá trình chuyển đổi diện tích nuôi trồng thuỷ sản càng diễn ra nhanh, mạnh và rộng khắp hơn
- Tạo nghề nghiệp mới: công nghiê ̣p hóa nông thôn phần nào ảnh
hưởng tới công ăn , viê ̣c làm của người lao đô ̣ng trong lĩnh vực này Nhưng khai thác hải sản la ̣i mở ra mô ̣t chân trời mới cho rất nhiều lao đô ̣ng Không tốn quá nhiều chi phí đào ta ̣o nghề như các chương trình chuyển đổi cơ cấu lao đô ̣ng khác , người lao đô ̣ng trong lĩnh vực khai thác hải sản có thể tiê ̣m
câ ̣n với chương trình nuôi trồng thuỷ hải sản cho năng suất cao
- Nguồn xuất khẩu quan trọng: trong nhiều năm liền, ngành Thuỷ
sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước Ngành Thuỷ sản còn là một trong 10 ngành có kim ngạch xuất khẩu đạt trên một tỷ USD Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt gần 2,7 tỷ USD
Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, năm 2012, tổng sản lượng thủy sản của cả nước đạt 5.876 nghìn tấn, tăng 8,8% so với kế hoạch; trong
đó, sản lượng khai thác biển đạt 2.676 nghìn tấn (chiếm 46%), sản lượng khai thác từ nuôi trồng đạt 3.200 nghìn tấn (chiếm 54%) Đáng chú ý, sản lượng khai thác tăng tới 21% trong khi sản lượng nuôi chỉ tăng 5%
Hội thảo đánh giá giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng sản lượng thủy sản của Việt Nam là 9,8%/năm, trong đó nuôi trồng tăng 17,9% Riêng trong năm 2011, tổng sản lượng thủy sản đạt 5,4 triệu tấn, tăng 5,2% so năm 2010, trong đó nuôi trồng đạt 2,9 triệu tấn; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 6,12 tỷ USD, tăng 1 tỷ USD so năm trước
Riêng 09 tháng đầu năm 2012, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đạt trị giá 4,5 tỷ USD Khai thác hải sản có chuyển biến tích cực Lượng tàu
Trang 27thuyền khai thác tăng mạnh Hệ thống cảng cá, bến cá tại các tỉnh ven biển từng bước được hình thành tạo điều kiện phát triển hậu cần dịch vụ khai thác hải sản Nuôi trồng thủy sản tăng trưởng mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa
Bảng 1.4: Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá hiện hành phân theo ngành hoạt động
Nguồn: Tổng cục thống kê 2012 (trang 454)
- Tạo ra thị trường cho các sản phẩm công nghiệp: Phát triển thủy
sản đã tạo thị trường cho các công nghiệp đóng tàu, dệt lưới, động cơ nổ, kỹ nghệ lạnh…Cung cấp nguyên liệu cho các công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp
- Đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh quốc phòng, nhất
là ở vùng biển và hải đảo: bên ca ̣nh các giá tri ̣ kinh tế to lớn , khai thác hải
sản luôn giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh, chủ quyền trên biển, ổn định xã hội hải đảo, góp phần thực hiện chiến lược quốc phòng toàn dân và
an ninh nhân dân Tính đến nay, rất nhiều cảng cá quan trọng đã được xây dựng theo chương trình Biển đông hải đảo, cụ thể là: Cô Tô (Quảng Ninh),
Trang 28Bạch Long Vĩ và Cát Bà (Hải Phòng), Hòn Mê (Thanh Hoá ), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lý Sơn (Quảng Nam), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), Hòn Khoai (Cà Mau), Nam Du, Thổ Chu và Phú Quốc (Kiên Giang) Hệ thống cảng cá tuyến đảo này sẽ được hoàn thiện đồng bộ để phục vụ sản xuất nghề cá và góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển của tổ quốc
1.1.1.3 Đặc điểm của hoạt động khai thác hải sản trên biển
Việc nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên Việc thời tiết có ổn định hay không ảnh hưởng lớn đến năng suất đánh bắt và nuôi trồng Muốn có được năng suất cao ngoài phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên sẵn có cần tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển của các loài thuỷ sản Các sản phẩm thuỷ sản sau khi thu hoạch đều rất dễ hư hỏng do đó cần có sự đầu tư công nghệ bảo quản để đảm bảo chất lượng sản phẩm Đây là một ngành có tính hỗn hợp, phát triển thành một quy trình gắn kiền từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến Cả quy trình phải phát triển một cách nhịp nhàng thì mới đảm bảo cho sự phát triển của toàn ngành Các hoạt động đánh bắt và nuôi trồng (thuộc lĩnh vực nông nghiệp) là tiền đề cho các hoạt động chế biến phát triển đồ ng thời các hoạt động chế biến phát triển sẽ quay lại thúc đẩy việc đánh bắt và nuôi trồng, chỉ
có sự liên kết chặt chẽ, đồng bộ mới có thể khẳng định vị trí ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn hiện nay của ngành thuỷ sản
Đồng thời, hoạt động khai thác thuỷ, hải sản còn chịu tác động mạnh
mẽ từ môi trường an ninh và công tác h ỗ trợ an ninh Có thể, trong quá trình khai thác, nếu do tranh chấp ngư trường và xâm pha ̣m lãnh hải của các nước láng giềng, số lượng thành phẩm khai thác thuỷ , hải sản của ngư dân Viê ̣t Nam có thể bi ̣ giảm sút đáng kể hoă ̣c bi ̣ mất trắng
Trang 29Do đó, có thể nói, hoạt động khai thác hải sản trên biển phụ thuộc vào một số yếu tố hết sức quan trọng sau : điều kiê ̣n tự nhiên , trình độ - kỹ thuật của ngư dân và ngành khai thác ; công tác quản lý và hỗ trợ an ninh cho các hoạt động khai thác
1.1.2 Hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác hải sản của ng ư dân trên biển
1.1.2.1.Khái niệm về an ninh
An ninh quốc gia là sự cần thiết để duy trì sự tồn tại của quốc gia thông qua việc sử dụng sức mạnh kinh tế, ngoại giao, triển khai sức mạnh và quyền lực chính trị An ninh quốc gia còn là sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của một quốc gia An ninh quốc gia đề cập đến
sự yên ổn của một quốc gia, ở bên trong thì không có rối loạn, không bị chia cắt, ở bên ngoài thì không bị các quốc gia khác quấy nhiễu, xâm phạm, không bị lệ thuộc vào quốc gia khác và các tổ chức quốc tế
Khái niệm này được phát triển chủ yếu ở Mỹ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai Ban đầu tập trung vào sức mạnh quân sự, bây giờ nó bao gồm một loạt các khía cạnh, tất cả đều có tác động đến an ninh quân sự hay kinh
tế không chỉ của dân tộc và các giá trị khác của xã hội quốc gia Theo đó, để sở hữu an ninh quốc gia, một quốc gia cần phải có an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, mối đe dọa an ninh không chỉ kẻ thù truyền thống như các nước khác, mà còn các tổ chức phi chính phủ bạo lực, các tập đoàn ma túy, các tập đoàn đa quốc gia và các tổ chức phi chính phủ, một số đột biến bao gồm thiên tai và các sự kiện gây thiệt hại môi trường nghiêm trọng
- An ninh nhân dân (mô ̣t đă ̣c trưng của An ninh ta ̣i Viê ̣t Nam)
Song hành với khái niê ̣m về an ninh , an ninh nhân dân là mô ̣t đ ặc
trưng rất riêng của Viê ̣t Nam, khái niệm cơ bản là: “sự nghiệp của toàn dân,
Trang 30do nhân dân tiến hành, lực lượng an ninh nhân dân làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước Kết hợp phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng chuyên trách, nhằm đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội , cùng với toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Viê ̣t nam xã hội chủ nghĩa.”
Dựa trên nô ̣i hàm này , có thể thấ y rằng lực lượng ngư dân bám trời , bám biển không nằm ngoài thực tại khách quan Tuy nhiên, phát triển lên
mô ̣t mức cao hơn , cụ thể hơn đó chính là an ninh biển mà thường được gọi là an ninh hàng hải
- An ninh biển (An ninh hàng hải)
Trong tài liê ̣u Maritime Security and the Law of the Sea của tác giả Natalie Klein – học giả danh tiếng của Tạp chí trực tuyến Oxford
Scholarship (xuất bản tháng 05.2011), khái niệm về an ninh biển (freedom
of the seas) đã được hiểu là:
“An ninh hàng hải và luật biển xem xét các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia với một loạt mối đe dọa an ninh hàng hải Nó cung cấp cái hiểu toàn diện, đa chiều để đánh giá mức độ quan tâm về an ninh hàng hải và hình thành luật biển; đưa ra các quy tắc điều chỉnh thông qua hoạt động của các tàu quân sự, hoạt động thực thi pháp luật biển trên các vùng biển khác nhau, chia sẻ thông tin và thu thập tình báo, cũng như các cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh hải quân Như vậy, an ninh không chỉ giải quyết nhưng vấn đề an ninh truyền thống mà còn xem xét các mối đe dọa an ninh hàng hải hiện đại: chủ nghĩa khủng bố, vũ khí hủy diệt hàng loạt, cướp biển, buôn bán ma túy, môi trường và đánh bắt cá bất hợp pháp” [27, tr.30]
Trong khi McDougal và Bourke đưa ra mô ̣t khái niê ̣m khác về an ninh biển và hàng hải: An ninh hàng hải là việc bảo vệ vùng đất của một quốc gia
Trang 31trên biển gồm cơ sở hạ tầng, kinh tế, môi trường và xã hội, tránh hành vi xâm hại nào đó xảy ra trên biển Những hành vi bao gồm: vi phạm chủ quyền, chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu ma túy và vũ khí, buôn người, đánh bắt cá bất hợp pháp, và môi trường, cố ý và bất hợp pháp
An ninh hàng hải phải đă ̣t trong lợi ích bảo vệ an ninh nói chung có thể đạt được thông qua sự cân bằng giữa lợi ích chủ quyền toàn diện và độc quyền
An ninh biển có thể và nên được xem như là sự quan tâm toàn diện cho lợi ích chung trong việc chống lại một loạt các mối đe dọa an ninh hàng hải
Tại Việt Nam , trong các hoa ̣t đô ̣ng tương hỗ cho khai thác thủy , hải sản; an ninh giữ mô ̣t vai trò hết sứ c tro ̣ng yế u: đảm bảo , tạo môi trường thuâ ̣n lợi và hỗ trợ ngư dân bám ngư trường ; trong tác đô ̣ng trở la ̣i , hoạt
đô ̣ng khai thác thủy hải sản chính là thực hiê ̣n tốt chủ quyền an ninh biển và
an ninh quốc gia Từ mối quan hệ trên , suy rô ̣ng ra khái niệm về an ninh trong tương quan với hoa ̣t đô ̣ng kinh tế biển chứa đựng cả khía ca ̣nh khai thác thủy, hải sản được khái quát :là sự ổn định, phát triển bền vững của lĩnh vực kinh tế biển, đă ̣t trong sự đảm bảo về quốc phòng, an ninh và chủ quyền lãnh hải trong quá trình kết hợp theo chiến lược quy hoạch đầu tư phát triển toàn quốc
Tại Đại hội IX (tháng 4-2001), Đảng ta chủ trương: “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển” [17, tr.181-182]
Tới Đại hội X (tháng 4-2006), chủ trương đã được nâng lên : “Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về
Trang 32kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế” [18, tr.225]
Đặc biệt, hơn ngày 09-02-2007, Hội nghị Trung ương 4, khóa X, ra Nghị quyết số 09-NQ/TW về “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh…” [19, tr.76]
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2011-2020), được Đại hội
XI của Đảng (tháng 1/2011) thông qua, nhấn mạnh: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển…” [20, tr.121-122]
Những quyết sách chính trị của Đảng mang tầm chiến lược , giải quyết những vấn đề đặt ra, không ngừng phát triển kinh tế biển, đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh khẳng đi ̣nh vai trò và mối quan hệ mật thiết giữa quốc phòng an ninh với kinh tế biển nói chung và hoa ̣t đô ̣ng khai thác thủy , hải sản nói riêng
1.1.2.2 Tính tất yếu của hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác hải sản của ngư dân trên biển
Đứng trước những đòi hòi ngày càng cao của xã hội, về nhu cầu phát triển của ngành kinh tế mũi nhọn, hoạt động khai thác hải sản đang phát triển mạnh mẽ Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ đó, hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác thuỷ sản được đẩy lên cao độ với một số lý do sau:
- Xuất phát từ xu hướng quốc tế: hầu hết tất cả các quốc gia phát triển trên thế giới khi khai thác hải sản đều hướng tới viê ̣c phát triển mô ̣t ngành
Trang 33khai thác bền vững , vì thế, nhu cầu được hỗ trợ về an ninh cho hoa ̣t đ ộng khai thác như là tất yếu khách quan, mang tính chất sống còn
- Xuất phát từ yêu cầu của Đảng và nhà nước ta : Đứng trước bối cảnh quốc tế, khu vực đang đẩy ma ̣nh kinh tế biển , đi ̣nh hướng phát triển kinh tế biển của Đảng và nhà nước ngày càng trở nên rõ rệt và chặt chẽ hơn bao giờ hết Các yếu tố hỗ trợ cho lĩnh vực này được chú trọng , đă ̣c biê ̣t là công tác
an ninh
- Nhu cầu cấp thiết của ngành: Bên ca ̣nh những đòi hỏi bức thiết của quốc tế, khu vực; nô ̣i ta ̣i ngành khai thác hải sản cũng cần hỗ trợ an ninh như mô ̣t cánh tay đắc lực cho công tác khai thác , đánh bắt xa bờ nhằm ứng phó với sự xuất hiện của một số nhân tố an ninh phi truyền thống như khủng bố, hải tă ̣c…Ví dụ như: sự viê ̣c hai chiếc tàu cá QNg -90847 và QNg 5129 ở
xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (25/05/2011) đều bị bọn cướp biển tấn công, gây thiê ̣t ha ̣i toàn bô ̣ về kinh tế và đe doa ̣ đến tính ma ̣ng
- Các tác nhân khác: Không chỉ xuất phát từ các nhân tố tro ̣ng yếu nêu trên, trong thời gian qua, vi phạm lãnh hải của các nước trong khu vực, khả năng dự báo thời tiết; khả năng trang bị tự vệ cũng đang làm nóng lòng các nhà chức trách , giới an ninh vì những vu ̣ viê ̣c ảnh hưở ng nghiêm tro ̣ng đến tình hình khai thác : Hai tàu cá của ngư dân Lý Sơn bị tàu Trung Quốc tấn công, gây thiê ̣t ha ̣i 400 triê ̣u (11/07/2013), tàu cá Việt Nam bị tàu nước khác
nổ súng tấn công khi đang hoạt động ở vùng biển giáp ranh với Campuchia (13/08/2013), hay như hơn 30 tàu thuyền Việt Nam bị trôi dạt và đắm trong bão Hải Yến (11/11/2013)
1.1.2.3 Một số nội dung trong hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác hải sản của ngư dân trên biển
Như đã đề câ ̣p ở phần trên , hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác thuỷ, hải sản của ngư dân trên biển dành phần nhiều dung lượng cho khai
Trang 34thác các nộ i dung hướng tới quản lý an ninh hơn là nhìn từ khía ca ̣nh kinh tế Do đó, mô ̣t số nô ̣i dung hỗ trợ bao gồm:
- Tạo lập môi trường hoà bình, hữu nghi ̣ với các nước
Biển Đông, một khu vực được đánh giá là tiềm năng không chỉ bởi trữ lượng dầu mỏ mà còn là ngư trường lớn khi được khai thác hết công suất Chính vì thế, trong thập niên gần đây, không ít các quốc gia trong khu vực biển Đông đều có tuyên bố chủ quyền Các tranh chấp, va chạm đã hình thành nên những mâu thuẫn tiềm ẩn mà vô hình chung đã bị đẩy lên cao, đôi lúc tưởng chừng đã trở thành mâu thuẫn quốc gia Do đó, tạo lập một môi trường hoà bình, hữu nghị đã trở thành một đòi hỏi bức thiết, đặc biệt là với Việt Nam – quốc gia nằm ở vị trí then chốt của huyết mạch giao thương tại biển Đông Nội dung này được thể hiện qua một số yếu tố sau: khẳng định quan điểm, chủ trưởng trong hoạt động khai thác biển; xây dựng lòng tin giữa các quốc; củng cố quan hệ hợp tác cùng có lợi, giảm thiểu và hướng tới giải quyết các bất đồng…
- Tuần tra, bảo vệ ngư dân trong các hoạt động đánh bắt, khai thác hải sản Bảo vệ ngư dân, bảo vệ con người hay chính là bảo vệ chủ quyền vùng biển được thể hiện qua: chủ động bảo vệ ngư dân, đẩy mạnh công tác kiểm ngư, huy động thêm các trang thiết bị lớn: thêm tàu lớn, máy bay hiện đại
Theo tài liê ̣u của Bộ Quốc Phòng , để tổ chức thực hiện cứu hộ cứu nạn trên biển, hiện đã có các trung tâm tìm kiếm cứu nạn hàng hải, ứng phó
sự cố tràn dầu ở các khu vực và có sự tham gia của lực lượng hải quân, cảnh sát biển, kiểm ngư Bên ca ̣nh đó, các cơ quan chức năng đang dần xây dựng đội tàu hiện đại, hoạt động dài ngày trên biển trong mọi điều kiện thời tiết Trong đó, tàu DN 2000 trang bị cho cảnh sát biển đã được hạ thủy Đây là tàu có công suất lớn, có sân bay trực thăng và hoạt động được trong mọi
Trang 35điều kiện thời tiết, cơ quan chức năng còn đang đóng chiếc thứ hai và huy động tài chính để đóng 6 chiếc [4]
Trên các vùng biển đều có lực lượng ứng trực và lực lượng cơ động nhiệm vụ Ở các vùng trọng điểm và những thời điểm quan trọng, như khi có bão lớn…, trên cơ sở phân tích nguy cơ, sẽ điều lực lượng ém sẵn để sẵn sàng tham gia ứng cứu Khi ngư dân gặp tai nạn, các lực lượng này được điều đến ứng cứu ngay Ngư dân yên tâm sản xuất trên biển, khi không may
có tai nạn sự cố mà có báo cáo kịp thời, chính xác thì các lực lượng chức năng sẽ trợ giúp tích cực Hầu như tất cả các vụ khi nhận được tín hiệu cấp cứu, lực lượng đều tổ chức cứu nạn thành công
- Nâng cao năng lực tự vệ của ngư dân
Năng lực tự vê ̣ của ngư dân ở đây được hiểu hết sức thấu đáo với 3 phương diê ̣n chính : năng lực tri thức gồm các nhân tố kiến thức , tri thức, khả năng phản ứng với môi trường trên biển của ngư dân Song hành với năng lực tri thức, khả năng tích hợp của trang thiết bi ̣ cho quá trình khai thác hải sản cũng giữ vai trò hết sức quan tro ̣ng, nó quyết định khả năng tự định
vị phương tiện tại khu vực biển , khả năng tìm nguồn, khai thác ngư trường , khả năng chống chọi với các thảm hoạ thiên nhiên Tiếp đó, phối hợp giữa ngư dân và các ngành được đă ̣t ở phương diê ̣n cuối nhưng không thể thiếu trong năng lực tự vê ̣ của ngư dân
- Giải quyết tranh chấp trong quá trình khai thác hải sản
Tranh chấp và giải quyết tranh chấp là mô ̣t vấn đề thường gă ̣p phải đối với các quốc gia có biển Tranh chấp đôi khi là những va cha ̣m nhỏ , không cố ý do các tàu cá nước ngoài và tàu cá của quốc gia sở tại, đôi khi la ̣i là những va chạm có ý đồ do một số quốc gia , hoă ̣c các tàu cá nước khác cố tình gây ra để nhằm mục đích và ý đồ riêng Đối với Việt Nam , quá trình thực hiện, Cảnh sát biển và các lực lượng chuyên trách đã thực hiện đúng
Trang 36chủ trương của Đảng và Nhà nước , làm tốt công tác phối hợp với địa phương và ngư dân đi ̣a bàn : kiên quyết không để các tàu cá nước ngoài lợi dụng, tạo cớ làm phức tạp tình hình vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam thành vùng biển có tranh chấp, theo ý
đồ lâu dài của họ
- Cứu hô ̣, cứu na ̣n
Công tác cứu hô ̣, cứu na ̣n vừa được coi là chính sách nhân đa ̣o , nhân văn của mô ̣t quốc gia, vừa là hành đô ̣ng thiết thực ta ̣o điều kiê ̣n cho ngư dân tham gia hoa ̣t đô ̣ng ta ̣i ngư trường và vùng biển quốc gia Cứu hô ̣ bao gồm các hoạt động nhằm giúp đỡ những người, phương tiê ̣n gặp khó khăn nguy hiểm trong những tình huống bất cập không còn cách để tự lo liệu được Trong khi cứu na ̣n là sự trợ giúp ở mức cao hơn khi sự viê ̣c đã xảy ra trong tình huống nguy cấp hơn (người và phương tiê ̣n đã gă ̣p na ̣n ) Công tác cứu
hô ̣, cứu na ̣n đa ̣t hiê ̣u quả cao vừa làm giảm nhiếu thiệt hại về kinh tế , vừa thúc đẩy ngư dân có động lực phát triển ngành
1.1.2.4 Điều kiê ̣n hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác hải sản của ngư dân trên biển
- Chính sách của Chính phủ Việt Nam : Hoạt động khai thác hải sản vừa là hoa ̣t đô ̣ng nô ng nghiê ̣p nhưng la ̣i liên quan đến an ninh lãnh hải nên điều kiê ̣n cần cho công tác hỗ trợ an ninh là chính sách nông nghiê ̣p đi kèm hỗ trợ an ninh của Chính phủ Việt Nam Chính sách vừa mềm dẻo tạo độ nhún cho các ngư dân bám rễ sâu vào ngư trường như đang ở tr ên đất liền , coi trời biển là nhà; chính sách lại phải vừa kiên quyết để thông qua đó hoạt
đô ̣ng khai thác được hiê ̣u quả (đảm bảo ngư trường phát triển bền vững), giữ vững chủ quyền cho các hoa ̣t đô ̣ng khai thác của ngư dân
- Lực lượng và trang bị trên biển ma ̣nh là điều kiện đủ cho hoạt động hỗ trợ an ninh biển
Trang 37+ Lực lượng : Trong số các ngành kinh tế biển, khai thác thủy sản không chỉ giữ vững là một ngành kinh tế biển truyền thống, mà còn phát triển thành một ngành kinh tế sản xuất hàng hóa lớn và đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế Ngư dân chính là lực lượng chính khai thác hải sản trên biển và cũng là lực lượng không thể thay thế cho một thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân trên Biển Đông Ngư dân khi khai thác trên biển, là một trong những lực lượng quan trọng trong thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, quốc phòng toàn dân trên biển Đông, khẳng định chủ quyền vùng biển của Tổ quốc Họ cũng là chỗ dựa vững chắc của bộ đội biên phòng và các lực lượng chức năng khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên biển Ngư dân là nơi cung cấp thông tin, tin tức về tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội cũng như tình hình tàu thuyền nước ngoài vi phạm vùng biển Việt Nam Đây cũng chính là lực lượng tham gia trực tiếp quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam Hoạt động của ngư dân trên biển sẽ làm tình trạng tội phạm trên biển giảm đáng kể, bởi khi có sự hiện diện của ngư dân, sẽ hạn chế các hoạt động vi phạm pháp luật của các loại tội phạm Cùng với an ninh trật tự trên biển được đảm bảo, ngư dân cũng sẽ đề cao được ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường, môi trường sinh thái biển Hiê ̣n nay , lực lượng ngư dân khai thác đã tăng lên đáng kể (từ 3,12 triê ̣u lao đô ̣ng năm 1996 lên 3,8 triê ̣u năm 2011 và khoảng
4 triệu lao động năm 2013, trong đó lao động trực tiếp đánh bắt hải sản biển tăng từ hơn 300.000 người năm 1996 lên khoảng 850.000 người năm 2013) Bên ca ̣nh đó là lực lượng phòng vệ biển: cảnh sát biển , hải quân , biên phòng, các lực lượng chức năng giữ vai trò trọng yếu trong công tác bảo vùng biển và ngư trường đã được tăng cường bổ sung cho công tác bám và bảo vệ chủ quyền hải biển của Ta
Trang 38Bảng 1.5: Các cơ sở chế biến thuỷ sản xuất khẩu
Những năm gần đây, tình hình thời tiết diễn biến hết sức phức tạp, dẫn tới những thiệt hại nặng nề về người và tài sản đối với ngư dân khi họ hoạt động trên biển Theo Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, trong 6 tháng đầu năm 2013, đã xảy ra 533 vụ, hơn 1.435 người và 206 phương tiện gặp thiên tai, tai nạn, gây thiệt hại rất lớn cho người và tài sản của ngư dân
Thực hiện tốt phương châm quản lý tận gốc, quản lý toàn diện, kiểm tra trọng điểm kết hợp với “4 biết”, như: biết phương tiện, biết chủ phương tiện, biết ngành nghề, nơi cư trú, ngư trường hoạt động và biết số liên lạc của tàu thuyền và số điện thoại của thuyền trưởng Giúp chủ động, kịp thời liên lạc với các phương tiện trên biển để xử lý tình huống, đồng thời, kiên quyết xử lý không cho đi biển đối với các trường hợp vi phạm các quy định về đảm bảo an toàn
Trang bị cho họ các kiến thức về pháp luật, để họ được nâng cao nhận thức về pháp luật Cùng với đó, các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước phải có đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cấp phát tờ rơi, tập huấn cho các ngư dân về các quy định, về ranh giới vùng biển của Việt Nam với các nước trong khu vực Khi hoạt động trên biển, ngư dân sẽ không đi sang những vùng biển của nước khác và không vào gần những đảo đang bị nước ngoài chiếm đóng trái phép trên biển Đông để tránh bị bắt giữ, xử lý
Cùng với đó, cần trang bị tốt những thông tin liên lạc để ngư dân thường xuyên cập nhật, giữ vững thông tin liên lạc khi hoạt động trên biển
Trang 39Cung cấp cho ngư dân những địa chỉ, tần số liên lạc cần thiết để cho họ chủ động liên lạc khi có tình huống cấp thiết trên biển, để kịp thời nhận được sự
hỗ trợ, hướng dẫn và trợ giúp của cơ quan chức năng
+ Trang bi ̣: Ở đây trang bi ̣ được hiểu là tất cả các máy móc : máy
đi ̣nh vi ̣ vê ̣ tinh, máy dò tìm luồng cá… ; thiết bi ̣: thu phát sóng ngắn, thiết bi ̣ cứu hô ̣… , phương tiê ̣n kỹ thuâ ̣t : màn hình , máy kéo lưới , đô ̣ng cơ Các trang thiết bi ̣ này đang được tăng cường và bổ sung cho quá trình đánh bắt gần và xa bờ , tuy nhiên trên thực tế , phương tiê ̣n khai thác vẫn còn thô sơ , truyền thống như: chài lưới, đăng, đó và mới xuất hiê ̣n trong thời gian mấy năm trở la ̣i đây là : kích điện, xung điê ̣n – các phương tiện có tính huỷ diệt cao mà ngư dân có thể đánh bắt ở bất cư đối tượng nào , kích thước nào mà không gă ̣p khó khăn
1.2 Kinh nghiê ̣m quốc tế trong viê ̣c hỗ trơ ̣ ngư dân hoa ̣t đô ̣ng trên biển
1.2.1 Kinh nghiê ̣m của Trung Quốc
Trung Quốc được coi là mô ̣t t rong những quốc gia đi đầu khu vực trong hỗ trợ an ninh cho ngư dân hoa ̣t đô ̣ng trên biển Đặc biệt, trong thời gian gần đây , hoạt động hỗ trợ an ninh cho ngư dân trên biển của quốc gia
có nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới đã không ngừng được gia tăng và hoàn thiê ̣n thông qua:
- Tăng cường xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp lý, ban hành nhiều văn bản pháp quy để khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững biển
- Gia tăng lực lượng ngư chính, hải giám, hải cảnh, tạo thuận lợi cho hoạt động khai thác gần và xa bờ Nếu như năm 2011, số lượng tàu ngư chính, hải giám và hải cảnh chỉ có khoảng 300 tàu và 10 máy bay thì năm 2012, lực lượng đã phát triển lên hơn 340 tàu và 30 máy bay, trong đó các loa ̣i tàu ngư
Trang 40chính, hải giám hiện đại tiếp tu ̣c khẳng đi ̣nh vi ̣ thế trên vùng biển như: Ngư chính 310, 311, 206 (loại mới 5800 tấn); Hải giám 84, 75, 72…
- Phát triển các khu hành chính quân, dân sự ngoài khơi tạo nên thế vững chắc cho các hoa ̣t đô ̣ng kinh tế biển mà tiêu biểu là thành phố Tam Sa (thành lập tháng 7/2012) và đẩy ma ̣nh phát triển quân cảng Tam Á
- Đẩy mạnh xây dựng và phát triển khu bảo tồn dưới biển vừa khẳng
đi ̣nh chủ quyền biển , vừa đă ̣t nền móng cho hoạt động hỗ trợ an ninh cho ngư dân trên biển trong năm 2012 và 2013, Cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc đã đưa ra chính sách phát triển khu bảo tồn tại T am Á , Tam Sa với mục đích vừa nhằm khẳng định chủ quyền biển , vừa là chiến lược an ninh cho các hoa ̣t đô ̣ng khai thác
- Tiến hành cải tổ lực lượng hô ̣ ngư : trong tháng 03.2013, sau khi phương án cải tổ nội các được Quốc vụ viện Trung Quốc thông qua, Bắc Kinh đã tiến hành cải tổ Cục Hải dương Quốc gia, thành lập Cục Cảnh sát biển - thống nhất chỉ huy các lực lượng “tuần tra, chấp pháp ở Biển Đông và Biển Hoa Đông” Theo đó, Cục Cảnh sát biển Trung Quốc - cơ quan hành pháp trên biển mới được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng Hải giám, Hải cảnh, Ngư chính, Hải sự và Hải quan (ngày 23/07) đã chính thức
đi vào hoạt động,
1.2.2 Kinh nghiê ̣m của một số quốc gia trên thế giới
- Kinh nghiê ̣m của Mỹ và Ca-na-đa: Tương tự như Trung Quốc, nhiều quốc gia khác đã xây dựng, hoàn thiện hệ thống, công cụ pháp lý về khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững biển ví
dụ như Mỹ thông qua Luật Biển vào năm 2000, Ca-na- đa đã xây dựng và ban hành Luật Biển từ năm 1997, Ô-xtrây-li-a với Luật Bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường trong đó áp dụng toàn diện đối với biển