Ngoài những yếu tố khách quan: sự phân biệt đối xử giữa khu vực tư - công; mối quan hệ giữa DNNVV và các định chế tài chính, sự bất cân xứng trong quá trình trao đổi thông tin…những yếu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
ĐÀO THỊ HỒNG NGỌC
GIẢI PHÁP THÔNG TIN TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà nội, năm 2010
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iv
PHẦN MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 13
1.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV) 13
1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường 13
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt nam 18
1.2 THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV) 26
1.2.1 Đặc điểm thông tin tài chính trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa 26 1.2.2 Các lý thuyết cơ sở cho việc xây dựng hệ thống thông tin tài chính trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa 32
1.3 VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 33
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÔNG TIN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 34
1.5 THÔNG TIN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV) VÀ VIỆC TIẾP CẬN NGUỒN VỐN BÊN NGOÀI DOANH NGHIỆP 41
1.5.1 Các báo cáo tài chính 41
1.5.2 Kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp 44
Trang 3CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ THÔNG TIN TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP CẬN NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 45
2.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 45
2.1.1 Thực trạng hoạt động của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa 45
2.1.2 Tình hình hoạt động DNNVV trên địa bàn Thành phố Hà Nội 50
2.1.3 Nhận định về thực trạng DNNVV trên địa bàn Thủ đô Hà Nội 54
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KHẢO SÁT SỐ LIỆU 56
2.2.1 Phương pháp luận 56
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 57
2.2.3 Chọn mẫu và khảo sát số liệu 58
2.2.4 Quá trình tiến hành thực hiện điều tra khảo sát 62
2.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65
2.3.1 Thực trạng DNNVV trên địa bàn Hà Nội qua kết quả khảo sát 65
2.3.2 Khả năng tiếp cận các nguồn tài chính của Doanh nghiệp nhỏ và vừa qua điều tra khảo sát 70
2.3.3 Về vấn đề cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu vay vốn của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa 77
2.3.4 Đánh giá về thông tin nhằm tiếp cận nguồn vốn của DNNNV 79
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÔNG TIN TÀI CHÍNH NHẰM THÚC ĐẨY KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CÁC NGUỒN VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 83
3.1 NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 83
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÔNG TIN NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CÁC NGUỒN VỐN TÀI TRỢ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV) 84
Trang 43.2.1.Hoàn thiện chuẩn mực kế toán về thông tin tài chính 84
3.2.2 Giải pháp về nâng cao chất lượng hệ thống thông tin tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) 86
3.2.3 Nâng cao chất lượng hệ thống kiểm toán và đội ngũ phân tích, đánh giá và xử lý nhu cầu thông tin tài chính 88
3.2.4 Đa dạng hoá các hình thức tiếp xúc nhằm tăng khả năng khai thác hệ thống thông tin tài chính của DNNVV 90
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CÁC NGUỒN VỐN TÀI TRỢ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 91
3.3.1 Giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng giữa ngân hàng và doanh nghiệp nhỏ và vừa 91
3.3.2 Phát triển hoạt động, năng lực hiệu quả các đơn vị cho thuê tài chính, các quỹ tài chính nhằm tạo điều kiện cho DNNVV được tiếp cận nguồn vốn 92
3.3.3 Đa dạng hoá kênh tài chính nhằm tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn cho DNNVV 94
3.4 CÁC ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 96
3.4.1 Về cơ sở vật chất phục vụ việc cung cấp và sử dụng thông tin 96
3.4.2 Về đảm bảo tính công khai của thông tin 97
3.4.3 Điều kiện về con người 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
01 BCTC Báo cáo tài chính
02 BCKT Báo cáo kế toán
03 CMKT Chuẩn mực kế toán
04 CTTNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
07 DNDD Doanh nghiệp dân doanh
08 DN FDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
09 DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
10 DNTN Doanh nghiệp tư nhân
11 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
13 ĐKKD Đăng ký kinh doanh
14 FASB Uỷ ban Chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ
15 GDP Tổng sản phẩm quốc nội
16 IASB Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế
17 KHKD Kế hoạch kinh doanh
18 KTTT Kinh tế thị trường
19 KT-XH Kinh tế - xã hội
21 OECD Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế
22 ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Trang 623 S.KH&ĐT Sở Kế hoạch và Đầu tư
24 SX-KD Sản xuất – kinh doanh
25 TTTC Thông tin tài chính
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Qui mô vốn SX-KD tính bình quân/ DN giai
Bảng 2.2
Sự phân bố DNNVV trên địa bàn Hà Nội theo quy mô lao động, quy mô vốn tính đến ngày 31/12/2008
46
Bảng 2.11 Mối quan hệ giữa DNNVV với cán bộ tín dụng
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Biểu đồ 1.1 Sự tăng trưởng về số lượng và ngành nghề của
Biểu đồ 2.2 Số lượng DNNVV hoạt động Hà Nội tính đến
Biểu đồ 2.5 Phân bố ngành nghề của DNNVV trên địa bàn
Biểu đồ 2.12 Mối quan hệ của giữa tổ chức tín dụng ngân
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam cũng như các nước trên Thế giới, doanh nghiêp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước Cùng với việc đóng góp cho xã hội khối lượng hàng hóa lớn, giải quyết nhiều nhu cầu việc làm cho người lao động, các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khai thác các nguồn lực, tiềm năng tại chỗ của mỗi địa phương tạo nên nguồn thu nhập ổn định cho phần lớn bộ phận dân cư Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn giữ vai trò trong việc hỗ trợ, bổ sung cho các doanh nghiệp lớn tạo thành mối liên kết chặt chẽ cùng hợp tác, cùng cạnh tranh và cùng nhau phát triển bền vững
Hiện nay tại các nước có nền kinh tế phát triển xu hướng doanh nghiêp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ lệ áp đảo so với doanh nghiệp có quy mô lớn Tính đến cuối năm 2007, số lượng DNNVV ở Hàn Quốc chiếm 99,8% trong tổng số gần 3 triệu DNNVV, tại Nhật Bản số lượng DNNVV chiếm tới 99,7% so với
5 triệu DNNVV Tại Việt Nam theo thống kê gần đây cho thấy các DNNVV chiếm gần 96% tổng số doanh nghiệp trong cả nước, đóng góp gần 45% GDP
và thu hút một lượng lớn lao động, tạo 12 triệu việc làm cho toàn xã hội, trong đó phải kể đến Thành phố Hà Nội, trung tâm văn hoá - du lịch của cả nước, nơi có số lượng DNNVV chiếm thị phần lớn đứng thứ hai trong cả nước [15, tr 25]
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của khu vực DNNVV đối với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế, trong thời gian vừa qua nhiều chính sách của
Trang 10Nhà nước được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ đối với khu vực doanh nghiệp này Thực tiễn hai năm qua cho thấy kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thời kỳ mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp được hoà nhập và phát triển đặc biệt là đối với khu vực DNNVV Tuy nhiên trong quá trình hình thành và phát triển, để đạt được những thành tựu, các DNNVV gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức đã và đang ngày một tác động mạnh đến toàn bộ nền kinh tế nói chung cũng như là đến từng doanh nghiệp nói riêng Ngoài những yếu tố khách quan: sự phân biệt đối xử giữa khu vực tư - công; mối quan hệ giữa DNNVV và các định chế tài chính, sự bất cân xứng trong quá trình trao đổi thông tin…những yếu
tố chủ quan xuất phát từ chính bản thân DN: năng lực tài chính thấp, không
có tài sản thế chấp, thông tin tài chính của doanh nghiệp chưa công khai, trung thực….đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tiếp cận, huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp
Theo kết quả nghiên cứu của Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có tới 74,47% các DNNVV dựa vào kênh huy động vốn là các ngân hàng thương mại Tuy nhiên trên thực tế cho thấy khả năng tiếp cận được vốn của DNNVV là rất khó, chỉ có 19,2% đáp ứng được yêu cầu của tổ chức tín
dụng và 80,8% không đáp ứng được tiêu chí của tổ chức tín dụng [16, tr.35]
Nguyên nhân là do DNNVV không có khả năng về tài chính, sức cạnh tranh kém, tỉ lệ vốn tham gia dự án thấp… và đặc biệt DNNVV chưa thực sự quan tâm và đưa ra được lượng thông tin cần thiết, điều đó đã ảnh hưởng đến mức
độ tín nhiệm của tổ chức tín dụng đối với DNNVV Với một hệ thống thông tin tài chính vừa thiếu tính minh bạch và chính xác thì doanh nghiệp rất khó thuyết phục được các tổ chức, định chế cho vay đánh giá được thực lực chính
Trang 11của doanh nghiệp mình từ đó khó huy động được vốn Thông tin thiếu tính trung thực và công khai làm giảm đi sự tin tưởng của các tổ chức tín dung đối với nhà đầu tư đồng thời làm tăng độ rủi ro tín dụng khi các định chế tài chính quyết định đầu tư hay cho DNNVV vay vốn
Xuất phát từ những nhận thức nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “GIẢI PHÁP THÔNG TIN TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI” làm đề tài nghiên cứu Quá trình nghiên cứu đặt trọng tâm vào việc
nghiên cứu những bằng chứng thực tế từ đó đưa ra các giải pháp thông tin tài chính của DNNVV nhằm tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn cho khu vực DNNVV
“Các khái niệm về báo cáo tài chính”, Uỷ ban chuẩn mực kế toán tài chính
Mỹ (FASB); “Khuôn mẫu cho việc soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính”, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB)… đã nghiên cứu khá sâu sắc về đặc điểm, vai trò, tính chất của thông tin tài chính, mối quan hệ của thông tin
Trang 12tài chính với những chính sách kế toán… [27,28] Tuy nhiên mỗi công trình nghiên cứu lại có những quan điểm khác nhau về yếu tố cấu thành, đặc điểm
và vai trò của thông tin tài chính; tầm quan trọng của thông tin tài chính trong việc tiếp cận vốn chưa được đề cập đến
Các công trình nghiên cứu trong nước cụ thể của Đề tài “Khả năng tiếp cận tài chính của các DNNVV ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thị Cành (2008) , “Một
số giải pháp nhằm phát triển DNNVV trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng”, Viện Nghiên cứu Phát triển KT-XH Đà Nẵng (2008)… đã chỉ ra ra một số hạn chế của hệ thống tài chính và đưa ra kiến nghị giải pháp nâng cao năng lực tài chính cho các DNNVV Việt Nam ở mức độ vĩ mô còn giải pháp thông tin tài chính mới đề cập một khía cạnh nhỏ [11,15, 24]
Một số tham luận, bài báo khác ở trong nước cũng như nước ngoài đã nêu lên những ảnh hưởng quan trọng của thông tin tài chính minh bạch đối với việc tiếp cận vốn bên ngoài doanh nghiệp Tuy nhiên những gợi ý trên chủ yếu chỉ dừng lại ở dạng các kiến nghị cấp vĩ mô, riêng lẻ mà chưa xây dựng thành một hệ thống cơ chế, chính sách, giải pháp cụ thể cho khối doanh nghiệp nhỏ
và vừa
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Xuất phát từ tầm quan trọng của các DNNVV trong nền kinh tế và cụ thể là vai trò của hệ thống thông tin tài chính DNNVV đối với việc huy động vốn bên ngoài doanh nghiệp, luận văn tiến hành khảo sát, tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống thông tin các đối tượng được đưa ra và xử lý phục vụ cho mục đích tiếp cận vốn Từ đó, tác giả đi sâu tìm hiểu nguyên
Trang 13nhân, vướng mắc trong quá trình thông tin tài chính của các doanh nghiệp, đưa ra giải pháp về thông tin tài chính nhằm trợ giúp các DNNVV nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn từ nhà đầu tư và các tổ chức tín dụng trong giai đoạn hiện nay
Bên cạnh những vấn đề trên, luận văn cũng đưa ra một số giải pháp liên quan đến quá trình kế toán và thông tin tài chính giúp cho các DNNVV nâng cao năng lực quản lý từ đó thúc đẩy sự phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ đề tài nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình cung cấp thông tin tài chính trong các DNNVV
Về nội dung: Trong phạm vi khuôn khổ đề tài, luận văn tìm hiểu thành tựu khu vực DNNVV đóng góp vào nền kinh tế quốc dân, những khó khăn, thách thức mà khu vực doanh nghiệp này đã, đang và sẽ đối mặt đặc biệt là vai trò
hệ thống thông tin tài chính của doanh nghiệp nhằm trong việc tiếp cận vốn của các tổ chức tín dụng Luận văn đi sâu nghiên cứu và phân tích quá trình
hệ thống thông tin tài chính của DNNVV tới các đối tượng sử dụng thông tin (nhà đầu tư, ngân hàng, đối tác kinh doanh) từ đó có cơ sở tìm ra giải pháp mang tính thực tiễn nhằm giúp DNNVV tăng khả năng tiếp cận được nguồn vốn
Về mặt thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung khảo sát nghiên cứu quá trình thông tin tài chính của DNNVV ở Hà Nội và vai trò của thông tin tài chính đối với việc tiếp cận các nguồn vốn tại thời điểm khảo sát
Trang 14Về không gian: Quá trình nghiên cứu tiến hành với các DNNVV trên địa bàn
Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng Trong luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp khảo sát, so sánh đối chiếu từ đó áp dụng các kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu Cụ thể:
- Luận văn đi sâu phân tích cơ sở lý thuyết cho mối quan hệ thông tin tài chính giữa các DNNVV và các nhà đầu tư và cho vay Từ đó luận văn tập trung phân tích đặc điểm, vai trò của thông tin tài chính trong việc nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài phục vụ cho sự phát triển doanh nghiệp
- Luận văn trình bày số liệu khảo sát thực tế về tình hình cung cấp thông tin tài chính trong các DNNVV làm cơ sở cho việc đưa ra các dẫn chứng và kết luận Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách sử dụng bảng câu hỏi đối với các doanh nghiệp và phương pháp lựa chọn mẫu nghiên cứu Bên cạnh đó luận văn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá, so sánh, thống kê và hệ thống hoá các quan điểm, ý kiến
về thực trạng quá trình thông tin tài chính của doanh nghiệ nhỏ và vừa đối với các tổ chức tín dụng bên ngoài để từ đó có nhóm giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho DNNVV
Trang 15- Luận văn đưa ra các kết luận về nội dung nghiên cứu và các giải pháp
về thông tin tài chính nhằm gia tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài của doanh nghiệp
6 Những đóng góp của luận văn
Những đóng góp của luận văn xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
và những bằng chứng thu thập được trong quá trình khảo sát thu thập số liệu
và những giải pháp mà tác giả đề xuất Cụ thể:
- Luận văn làm rõ về lý luận cơ sở lý thuyết của thông tin tài chính trong các DNNVV, vai trò của thông tin tài chính đối với người sử dụng thông tin
- Luận văn cung cấp những bằng chứng thực tiễn về việc sử dụng thông tin tài chính phục vụ cho việc huy động vốn của các DNNVV đối với các nguồn huy động khác nhau (ngân hàng, các quỹ đầu tư, đối tác kinh doanh…)
- Luận văn đưa ra những giải pháp cho việc nâng cao chất lượng thông tin tài chính phục vụ cho việc khai thác nguồn vốn bên ngoài của các DNNVV
7 Kết cấu nghiên cứu đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành 3 chương Cụ thể:
Trang 16Chương I: Cơ sở lý luận về vai trò của thông tin tài chính nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương II: Thực trạng vai trò thông tin tài chính đối với việc tiếp cận nguồn vốn doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp thông tin tài chính nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố
Hà Nội
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV)
1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường
Ở nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp chính vào trong chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch vụ (supply chain) và mạng sản xuất toàn cầu (chuỗi giá trị toàn cầu) Các DNNVV có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, góp phần thu hẹp khoảng cách
về thu nhập trong xã hội, tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư của dân cư địa phương, cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên năng động và hiệu quả hơn…
Trên địa bàn Hà Nội, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp tích cực vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần làm tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) làm cho nền kinh tế đa dạng và linh hoạt Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ khai thác các tiềm lực sẵn có trong dân cư về ngành nghề, về lao động, về vốn Ngoài ra cũng như DNNVV ở tất cả các nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hóa đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn đầu tư là một yếu tố thiết yếu và quan trọng Vốn là yếu tố cơ bản để khai thác và phối hợp với các yếu tố như
Trang 18lao động, đất đai, công nghệ và quản lý để tạo ra lợi nhuận Vốn có vai trò to lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân cũng như cũng như trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp Tuy nhiên, một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều doanh nghiệp đang thiếu vốn trầm trọng thì nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư còn chưa được huy động Trong khi chính sách tài chính tín dụng của Chính phủ
và các ngân hàng chưa thực sự gây được niềm tin đối với nguồn vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư thì nhiều DNNVV đã tiếp xúc trực tiếp với nguồn vốn này, hoặc bản thân chính những nhà đầu tư có vốn đứng ra đầu tư kinh doanh, thành lập doanh nghiệp Dưới khía cạnh đó, DNNVV có vai trò to lớn trong việc huy động vốn để phát triển kinh tế
Doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả được thể hiện ở chỗ trong quá trình kinh doanh, nhiều DNNVV có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn kinh doanh một cách hiệu quả, với tư cách là đại lý
và vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, DNNVV cung cấp những bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp lớn (công nghiệp hỗ trợ) hoặc thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường mà doanh nghiệp lớn khó có thể với tới để phân phối các sản phẩm Cùng với đó có một sự tương đồng tỷ
lệ thuận đó là khi số DNNVV tăng lên sẽ kéo theo sự gia tăng nhanh chóng số lượng các sản phẩm và dịch vụ mới trong nền kinh tế và cũng chính nhờ hoạt động với quy mô nhỏ và vừa, các DNNVV thường có ưu thế chuyển hướng kinh doanh từ những ngành nghề kém hiệu quả sang các ngành khác hiệu quả hơn, thỏa mãn nhu cầu linh hoạt của dân cư Chính sự phát triển đó của các DNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính linh hoạt và giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế
Trang 19Doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việc phát triển các DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất
cả các khía cạnh: vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế Trước tiên, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng nhờ sự phát triển của các khu vực nông thôn thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ ở nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh Các doanh nghiệp được phân bố đều hơn cả ở lãnh thổ lẫn ở vùng nông thôn, đô thị, miền núi, đồng bằng Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh các DNNVV còn
có tác dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng mạnh của các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước Sự phát triển các DNNVV cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo Việc phát triển các DNNVV còn có tác dụng duy trì và thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc, khai thác thế mạnh của đất nước và từng địa phương Doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế Như trên vừa đề cập, không chỉ có mối quan hệ thân thiết giữa các DNNVV và doanh nghiệp lớn mà trong quá trình hình thành và phát triển với những ngành nghề khác nhau luôn có mối quan hệ mật thiết giữa các DNNVV Ví dụ như tại Nhật Bản, trong nhiều thập kỷ qua, mối quan hệ giữa những DNNVV với các doanh nghiệp lớn tạo nên sự thành công của doanh nghiệp Bởi vậy, khi các DNNVV Việt Nam phát triển sẽ góp phần tăng cường sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các DNNVV và giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn, nhờ đó mà các rủi ro kinh doanh sẽ được chia sẻ tạo nên hiệu quả cao trong nền kinh tế
Trang 20Doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo cơ sở để hình thành các doanh nghiệp lớn Kinh nghiệm phát triển kinh tế ở nhiều nước cho thấy hiện nay phần lớn các công
ty và tập đoàn kinh tế đa quốc gia đều trưởng thành từ các DNNVV Với cách
xem xét đó, DNNVV chính là nguồn tích lũy ban đầu và là “lồng ấp” cho các
doanh nghiệp lớn Hầu hết các cơ sở kinh tế dân doanh ở nước ta và Hà Nội khi mới ra đời do thiếu kinh nghiệm và chưa thật hiểu biết về thị trường nên thường lựa chọn quy mô kinh doanh vừa và nhỏ để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh Sau một thời gian tích lũy thêm vốn, kinh nghiệm và khẳng định được
vị thế của mình trên thị trường, DNNVV mới tiến hành mở rộng kinh doanh
và phát triển với quy mô lớn hơn
Ngoài ra, DNNVV còn là nơi đào tạo nghề và trau dồi kinh nghiệm cho các cán bộ quản lý của các doanh nghiệp lớn vì người lao động thường có xu hướng chỉ làm trong các DNNVV một thời gian, sau khi có đủ kinh nghiệm
và khả năng họ sẽ chuyển sang các doanh nghiệp lớn để làm việc, hưởng thu nhập cao hơn Nhờ thế, doanh nghiệp lớn tiết kiệm được nhiều chi phí đào tạo khi tuyển được các nhân viên có tay nghề từ các DNNVV chuyển sang Như vậy có thể DNNVV còn là nơi đào tạo lao động cho các doanh nghiệp lớn
Về mặt xã hội, các DNNVV giúp tạo việc làm cho người lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nhất là ở khu vực đô thị Một đặc điểm chung của các DNNVV là ít vốn và hoạt động chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động Do đó, khu vực DNNVV ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên Thế giới tạo ra nhiều việc làm nhất cho nền kinh tế Với tính chất sản xuất nhỏ, chi phí để tạo ra một chỗ làm việc thấp, các DNNVV có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra nhiều cơ hội tăng thêm việc làm cho nền kinh tế, giảm
tỷ lệ thất nghiệp và ổn định xã hội bằng cách thu hút nhiều lao động với chi
Trang 21phí thấp, qua đó giải quyết nhiều vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của người lao động Việt Nam là một nước nông nghiệp, năng suất của nền sản xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp, việc phát triển các DNNVV ở thành thị cũng như ở nông thôn là một trong các biện pháp cơ bản góp phần tăng nhanh thu nhập của các tầng lớp dân cư Thông qua việc phát triển các DNNVV, lao động ở nông thôn sẽ được thu hút vào các doanh nghiệp nhờ đó mà thu nhập của dân cư được cải thiện và nâng cao.Cuộc sống của người dân nông thôn sẽ ổn định , giảm nghèo, giảm khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng mức độ công bằng trong nền kinh tế Hơn nữa, do có tính năng động và linh hoạt, khi các DNNVV phát triển sẽ tạo điều kiện phát huy lợi thế của mỗi vùng, phát triển các ngành nghề, các khu công nghiệp, tạo điều kiện giảm bớt khoảng cách giữa các vùng trên toàn quốc, xóa bỏ mức chênh lệch về thu nhập rất lớn giữa các vùng dân cư
Sự tham gia của các DNNVV làm tăng tính cạnh tranh trong cung ứng các dịch vụ công cộng, góp phần vào quá trình xã hội hoá các dịch vụ công ích ở
đô thị, qua đó thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá các lĩnh vực, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước, tăng hiệu quả xã hội
Ngoài các vai trò như đã đề cập ở trên, các DNNVV ở Việt Nam và Hà Nội còn có vai trò trong việc phát triển các tài năng kinh doanh Trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ kinh doanh đã gắn nhiều với cơ chế bao cấp, chưa có kinh nghiệm làm việc trong nền kinh tế thị trường Sự phát triển của các DNNVV
có tác dụng đào tạo, chọn lọc và thử thách đội ngũ doanh nhân Sự ra đời của
Trang 22các DNNVV làm xuất hiện rất nhiều tài năng trong kinh doanh, đó là các doanh nhân thành đạt biết cách làm giàu cho bản thân mình và xã hội Bằng
sự tôn vinh những doanh nhân giỏi, kinh nghiệm quản lý của họ sẽ được nhân
ra và truyền bá tới nhiều cá nhân trong xã hội dưới nhiều kênh thông tin khác nhau, qua đó sẽ tạo ra nhiều tài năng mới cho đất nước Với ý nghĩa như vậy, DNNVV có vai trò không nhỏ trong việc đào tạo lớp doanh nhân mới ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt nam 1.1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)
Cũng như ở hầu hết các nước đang phát triển, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm
đa số trong tổng số lượng các các doanh nghiệp ở Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước có nhiều khác biệt
Theo định nghĩa tại Luật Doanh nghiệp 2005, “doanh nghiệp là tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Hiện nay, khái niệm “doanh nghiệp” thường được dùng để chỉ các loại hình: công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty hợp danh thuộc thành phần các thành phần kinh tế Số lượng doanh nghiệp đăng ký ở nước ta tính đến cuối năm 2007 khoảng 300.000 đơn vị Tuy vậy, nếu nói doanh nghiệp theo nghĩa rộng thì ngoài doanh nghiệp đăng ký theo Luật doanh nghiệp nói trên cần phải kể đến hơn 3 triệu hộ kinh doanh phi nông nghiệp như những doanh nghiệp siêu nhỏ cùng với 15.000 hợp tác xã và gần 12 vạn trang trại hoạt động như loại hình doanh nghiệp Đáng chú ý là trong các hộ kinh doanh, có những hộ có quy mô doanh số và lao động khá lớn song vẫn chưa đăng ký hoạt động như một doanh nghiệp, mặc dù theo quy tại Khoản 4, Điều 170 Luật Doanh nghiệp thì “Hộ kinh doanh sử dụng
Trang 23thường xuyên từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này”
Đối với mọi nền kinh tế, doanh nghiệp luôn được coi là lực lượng chủ công, do vậy, việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp phải được coi là nhiệm vụ hàng đầu Đối với Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và phát triển và là thành viên gia nhập của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhiệm vụ này lại càng có ý nghĩa quyết định thành công trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thực tiễn cho thấy số lượng doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thường tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế Trong phạm vi cả nước cũng như trong từng địa phương; nơi nào có nhiều doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, kinh tế nơi đó chắc chắn phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Nhà Nước đã đề ra Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp, với mục tiêu đến năm 2010 cả nước có 50 vạn doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có nhiều doanh nghiệp tầm
cỡ thế giới, đồng thời cũng đã có Kế hoạch phát triển DNNVV 5 năm 2006-2010 nhằm theo hướng đó
20,000
Biểu đồ 1.1 Sự tăng trưởng về số lượng và ngành nghề của DNNVV
Nguồn: Tổng cục Thống kê 2007
Trang 24Việc xác định quy mô DNNVV chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố: trình độ phát triển của một nước, tính chất ngành nghề
và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định Nhìn chung, trên thế giới việc xác định một doanh nghiệp là DNNVV chủ yếu căn cứ vào hai nhóm tiêu chí phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng
Tiêu chí định tính được xây dựng dựa trên các đặc trưng cơ bản của các DNNVV như trình độ chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp Các tiêu chí này có ưu thế là phản ứng đúng bản chất của vấn đề nhưng trên thực tế thường khó xác định Do đó, chúng chỉ được sử dụng để tham khảo, kiểm chứng mà ít ai được sử dụng để xác định quy mô doanh nghiệp
Tiêu chí định lượng được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu như số lượng lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp Số lao động có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc số lao động thường xuyên thực tế của doanh nghiệp Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá tài sản (hay vốn) còn lại của doanh nghiệp
Các tiêu chí định lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định quy mô doanh nghiệp Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác nhau giữa các ngành nghề mặc dù chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định
Các nước trên Thế giới, xác định DNNVV theo các tiêu chí không giống nhau Các tiêu chí đó cũng thường không cố định mà thay đổi tuỳ theo ngành nghề và trình độ phát triển trong từng thời kỳ Ví dụ như Đài Loan, các doanh
Trang 25nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo có từ 1 tới 200 lao động được coi là DNNVV, trong khi các doanh nghiệp trong ngành thương mại - dịch vụ được coi là DNNVV khi có từ 1-50 lao động Ở Nhật Bản, các DNNVV trong ngành sản xuất, chế tạo có từ 1 đến 300 lao động và số vốn kinh doanh không vượt quá 300 triệu Yên, còn các DNNVV trong ngành thương mại dịch vụ có
số lao động không quá 100 người với số vốn kinh doanh không quá 100 triệu Yên Ngược lại, ở Mỹ chỉ có một tiêu chí xác định chung duy nhất cho các DNNVV là số lao động không quá 500 người [15, tr.20]
Ở Việt Nam, trước năm 1998 chưa có một văn bản pháp luật chính thức nào quy định tiêu chuẩn cụ thể của DNNVV Do đó, các tổ chức có các hoạt động
hỗ trợ hoặc nghiên cứu về DNNVV đưa ra các tiêu chuẩn xác định DNNVV khác nhau, tùy thuộc quan niệm hoặc định hướng mục tiêu và đối tượng doanh nghiệp hỗ trợ của tổ chức mình Chẳng hạn, Ngân hàng Công thương Việt Nam đưa ra tiêu chuẩn DNNVV là những doanh nghiệp có giá trị tài sản dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, tổng doanh thu dưới 8 tỷ đồng
và số lao động thường xuyên dưới 500 người, tồn tại dưới bất kỳ hình thức sở hữu nào Thành phố Hồ Chí Minh thì xác định những doanh nghiệp có vốn pháp định dưới 1 tỷ đồng, doanh thu hàng năm dưới 10 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 100 người là các doanh nghiệp nhỏ Những doanh nghiệp trên mức tiêu chuẩn đó là các doanh nghiệp vừa và lớn (tuy nhiên không đưa
ra tiêu chí cụ thể về doanh nghiệp vừa) Tổ chức UNIDO tại Việt Nam lại đưa
ra tiêu thức xác định doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu đều dưới 1 tỷ đồng Doanh nghiệp vừa là các doanh nghiệp có số lao động từ 51-200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 đến 5
tỷ đồng [15, tr 45]
Trang 26Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của các DNNVV, đồng thời để định hướng các chính sách hỗ trợ đối tượng này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa Theo Nghị định này thì "DNNVV là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc
lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người"
Như vậy, đối tượng được xác định là DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (đây đều là các chủ thể đăng ký hoạt sản xuất kinh doanh theo pháp luật) Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của Đề tài này sẽ chỉ xem xét các DNNVV là các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp bởi đây là bộ phận cốt lõi và quan trọng nhất trong các DNNVV Trong hầu hết các nghiên cứu về DNNVV ở nước ta hiện nay cũng chủ yếu tập trung vào các đối tượng này Trong khuôn khổ thời gian và mục tiêu đặt ra của Đề tài cũng chỉ cho phép giới hạn việc nghiên cứu về DNNVV là các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
Theo định nghĩa và trong phạm vi nghiên cứu nêu trên, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu thức số lao động hoặc số vốn đưa ra trong Nghị định 90 đều được coi là DNNVV Theo cách phân loại này thì số DNNNV chiếm trên 95% trong tổng số các doanh nghiệp hiện có ở nước ta (theo tiêu chí lao động)
và chiếm 88% (theo tiêu chí vốn đăng ký kinh doanh) [9, tr 15]
Trang 271.1.2.2 Đặc điểm hoạt động của các DNNVV
DNNVV là các doanh nghiệp có quy mô vốn hoặc lao động nhỏ Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, DNNVV có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình thành và phát triển Có thể chia những đặc điểm của DNNVV thành hai nhóm cơ bản sau:
a) Ưu thế hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa:
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ khởi sự Hầu hết các DNNVV chỉ cần
một lượng vốn ít, số lao động không nhiều, diện tích mặt bằng nhỏ với các điều kiện làm việc đơn giản đã có thể bắt đầu sản xuất kinh doanh ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh Loại hình doanh nghiệp này gần như không đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn ngay trong giai đoạn đầu Việc tạo nguồn vốn kinh doanh thường là một khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp, nhưng do tốc độ quay vòng vốn nhanh nên DNNVV có thể huy động vốn từ nhiều nguồn không chính thức khác nhau như bạn bè, người thân để nhanh chóng biến ý tưởng kinh doanh thành hiện thực
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa có tính linh hoạt cao Vì hoạt động với quy
mô nhỏ cho nên hầu hết các DNNVV đều rất năng động và dễ thích ứng với
sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh Trong một số trường hợp các DNNVV còn năng động trong việc đón đầu những biến động đột ngột của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội, hay các dao động đột biến trên thị trường Từ góc độ thương mại, nhờ tính năng động này mà các DNNVV dễ dàng tìm kiếm những thị trường ngách và gia nhập thị trường này khi thấy việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi nhuận hoặc rút khỏi các thị trường này khi công việc kinh doanh trở nên khó khăn và kém hiệu quả Điều
Trang 28này đặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi hoặc các nền
kinh tế đang phát triển như nước ta
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống So với các doanh nghiệp lớn thì DNNVV có lợi
thế hơn trong việc khai thác, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống Đó là khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực đầu vào như lao động, tài nguyên hay vốn tại chỗ của từng địa phương Có rất nhiều DNNVV của Việt Nam và thế giới đã từng bước trưởng thành và lớn mạnh khi khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ còn có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp lớn trong việc nắm bắt kịp thời nhu cầu và thị hiếu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng, qua đó tạo ra nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mới đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng Ở khía cạnh này, các DNNVV có lợi thế trong việc định hướng và làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới từ phía người tiêu dùng Nhờ sự phát triển của các DNNVV mà nhiều loại sản phẩm và dịch vụ mới đã ra đời
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có lợi thế về sử dụng lao động Quan
hệ lao động trong các DNNVV thường có tính chất thân thiện, gần gũi hơn so với các doanh nghiệp lớn Do đó, người lao động trong DNNVV thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích hơn trong công việc Đặc biệt, mối quan hệ gần gũi, thân thiện đó giữa người lao động trong DNNVV rất phù hợp với văn hóa của người Châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng
Ngoài ra, với lợi thế trong việc khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương, đặc biệt là các ngành sử dụng nhiều lao động, DNNVV có những tác
Trang 29động tích cực trong việc tạo ra việc làm cũng như nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho dân cư tại địa phương hoặc duy trì và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống Bên cạnh đó, việc phát triển các DNNVV còn có lợi ích như giảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giảm sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, qua đó cũng góp phần làm giảm tệ nạn xã hội và giúp Chính phủ giải quyết tốt hơn những vấn đề xã hội khác
b) Những nhược điểm trong hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Bên cạnh các điểm mạnh được chỉ ra ở trên thì các Doanh nghiệp nhỏ và vừa
(DNNVV) còn có các điểm yếu nhất định như:
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu các nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn, hoặc các dự án đầu tư lớn, các dự án đầu tư công cộng
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có các lợi thế kinh tế theo quy
mô và ở một số nước thì loại hình doanh nghiệp này thường bị yếu thế trong các mối quan hệ với ngân hàng, với chính phủ và giới báo chí cũng như thiếu
sự ủng hộ của đông đảo công chúng Nhiều DNNVV bị phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp lớn trong quá trình phát triển như về thương hiệu hàng hóa, thị trường, công nghệ, tài chính
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa do rất dễ khởi nghiệp nên cũng phải chịu nhiều loại rủi ro trong kinh doanh Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy, càng nhiều DNNVV ra đời thì cũng có càng nhiều DNNVV bị phá sản Có những doanh nghiệp bị phá sản sau một thời gian hoạt động rất ngắn Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thì các DNNVV có tỷ lệ phá sản và thất bại cao trong năm hoạt động thứ tư
Và các doanh nghiệp do nam giới quản lý thường có tỷ lệ thất bại cao hơn so
Trang 30với các doanh nghiệp được điều hành và quản lý bởi các chủ doanh nghiệp
nữ
Bên cạnh các tác động ngoại lai tích cực thì DNNVV cũng gây ra không ít những ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực trong nền kinh tế như do ít vốn, thông tin tài chính không minh bạch, hầu hết các doanh nghiệp không quan tâm đầy đủ đến việc công khai thông tin hoặc khi nhiều DNNVV bị phá sản do hoạt động không hiệu quả gây ra sự thiếu tin tưởng của nhà đầu tư, định chế tài chính đối với loại hình doanh nghiệp này làm giảm uy tín của loại hình DNNVV, gây khó khăn cho hoạt động phát triển DNNVV
1.2 THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA (DNNVV)
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam không chỉ chịu sức ép cạnh tranh với các công ty trong nước mà còn chịu sức ép cạnh tranh quyết liệt hơn từ các tập đoàn đa quốc gia, những công ty hùng mạnh cả về vốn, thương hiệu và trình độ quản lý
Do vậy, để cạnh tranh được, các DNNVV phải tìm được cho mình một hướng đi hợp lý để tồn tại và phát triển Một trong số các giải pháp cần phải làm là tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý…trong đó công khai thông tin tài chính là một trong những cơ sở quan trọng trong việc thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng trưởng và phát triển bền vững
1.2.1 Đặc điểm thông tin tài chính trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thông tin tài chính là những sự kiện kinh tế phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp Thông tin tài chính được thể hiện trên các báo cáo tài chính, với những ghi chú, giải trình trong quá trình lập báo cáo tài chính và những
Trang 31thông tin khác của doanh nghiệp đã được thẩm định một cách trung thực về tình hình và kết quả của doanh nghiệp với sự phù hợp của nguyên tắc kế toán Nói cách khác thông tin tài chính đó là quá trình thu thập, đo lường, xử
lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính hữu ích của một tổ chức đến các đối tượng sử dụng để trên cơ sở đó đế ra các quyết định hợp lý Thông tin tài chính là một ngôn ngữ kinh doanh, đó thực sự là cầu nối truyền đạt thông tin cơ bản và quan trọng về một doanh nghiệp tới người sử dụng thông tin Nhận thức được thông tin tài chính là một ngôn ngữ kinh doanh vì thông tin có rất nhiều thứ phù hợp với ngôn ngữ Các hoạt động kinh doanh khác nhau của một doanh nghiệp được báo cáo trên các báo cáo tài chính bằng những ngôn ngữ của tài chính nhằm cung cấp lượng thông tin cần thiết tới người sử dụng thông tin
Nhận thức thông tin tài chính là một ngôn ngữ đã được hội nghề nghiệp và tổ chức tài chính của nhiều nước thừa nhận Bởi vì giữa ngôn ngữ và thông tin tài chính có nhiều điểm tương đồng tiềm ẩn Ngôn ngữ của thông tin tài chính được chuyển thể từ ngôn ngữ chung, thành những ký hiệu của tài chính, sắp xếp một cách hệ thống có căn cứ và mô phỏng theo một nguyên tắc nhất định Sự sắp xếp này của các ký hiệu được gọi là ngôn ngữ và các nguyên tắc tác động đến kiểu mẫu và công dụng các ký hiệu đó hình thành văn phạm của ngôn ngữ đó
Thông tin tài chính là quá trình kết nối một nguồn thông tin, một kênh thông tin với tập hợp những nguồn nhận thông tin Theo quan điểm của kế toán, hệ thống thông tin được hiểu là quá trình mã hoá các quan sát theo ngôn ngữ của tài chính thành các ký hiệu qua các báo cáo của hệ thống đó và giải mã chúng
để truyền đạt các kết quả Quan điểm này nhấn mạnh đến việc nhận thức và
Trang 32truyền đạt thông tin tài chính Trước hết, giả thuyết thông tin tài chính là một
hệ thống đo lường chính thức duy nhất trong một tổ chức Sau đó nâng cao khả năng cung cấp các thông tin hữu ích cho nguồn cần sử dụng thông tin
Thông tin tài chính là một hồ sơ, quá trình lịch sử: Nhìn chung thông tin tài chính được xem là phương tiện cung cấp thông tin lịch sử của một tổ chức và các giao dịch của nó với các môi trường xung quanh Đối với người chủ sở hữu hay đối với các cổ đông của một doanh nghiệp, các hồ sơ tài chính cung cấp lịch sử về trách nhiệm quản lý các nguồn lực của chủ sở hữu Đề có được thông tin tài chính chuẩn xác phải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn thu thập và ghi nhận; Giai đoạn đánh giá kết quả và hiệu quả; Giai đoạn cung cấp thông tin cho hoạch định
Thông tin tài chính là một hàng hoá sinh ra từ hoạt động kinh tế Bởi vì người nhận thông tin tài chính có thể đưa ra quyết định sáng suốt và hiệu quả hơn thay vì nếu không có thông tin, muốn có được các thông tin cần có chi phí bỏ
ra người sử dụng thông tin này phải nhận diện được kết quả của thông tin làm thay đổi các quyết định so với chi phí để có được thông tin
Sự lựa chọn thông tin tài chính có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các nhóm người khác nhau trong xã hội Kết quả là có một thị trường với thông tin tài chính với cung và cầu xác định có thể không hề giống nhau Thông tin tài chính cũng được xem xét như là một phương tiện phản ánh thực trạng kinh tế hiện hành theo quan điểm này thì bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đều phản ảnh nhiều nhất thực trạng kinh tế thay vì chi phí lịch sử
Đặc điểm nổi bật của thông tin tài chính đó là tính minh bạch và công khai Tính chất này được thể hiện ở chỗ thông tin tài chính là cơ sở giúp thị trường có
Trang 33thể đưa ra những quyết định phù hợp hơn dựa vào những nguồn thông tin chính xác Sự minh bạch về những thông tin tài chính của doanh nghiệp là điều kiện cần
để có thể tiếp cận, huy động vốn, tìm đối tác kinh doanh và bên cạnh đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường Nói khác đi thiếu minh bạch trong tài chính là trở ngại lớn nhất trong việc tiếp cận vốn ngân hàng Minh bạch thông tin là quyền lợi để tạo các mối quan hệ hợp tác, là điều kiện để tiếp cận rộng rãi với thị trường dịch vụ tài chính Minh bạch của thông tin là cơ
sở quan trọng để tăng trưởng và phát triển bền vững, làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp Hệ thống kế toán - kiểm toán là công cụ không thể thiếu để thực hiện việc minh bạch trong hoạt động quản trị của công ty Báo cáo tài chính với chức năng là cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp nhằm
hỗ trợ các đối tượng sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tối ưu nhất, việc cung cấp thông tin tài chính minh bạch cho các nhà đầu tư góp phần giảm thiểu đi những rủi ro “thông tin bất cân xứng” Các báo cáo tài chính được kiểm toán hoặc soát xét thường có tính minh bạch cao hơn so với các báo cáo tài chính chưa được kiểm toán hoặc chưa được soát xét Người sử dụng thông tin buộc phải tìm hiểu kỹ các nghiệp vụ quan trọng và thực hiện một
số điều chỉnh cần thiết để đưa các thông tin tài chính từ số liệu kế toán thuần túy sang một "hình thái mới" để có được bức tranh phù hợp hơn về kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của DN cho phù hợp với việc sử dụng thông tin như thế nào Thật vậy, minh bạch thông tin để đảm bảo người cho vay và người cần vay có những quyết định đúng đắn, tính minh bạch làm gắn kết các mối quan hệ kinh tế trên thị trường Việc cung cấp thông tin tài chính một cách công khai, minh bạch nhằm góp phần giảm thiểu rủi ro mà thông tin bất cân xứng, bất hợp lý mang lại
Trang 34Bên cạnh tính trung thực và khách quan, tính chính xác và đầy đủ là một tiêu chuẩn quan trọng của thông tin tài chính Thiếu thông tin về doanh nghiệp, chất lượng của thông tin không rõ ràng, đầy đủ, một thị trường với quá nhiều thông tin ảo khiến cho con người buộc phải tối ưu hoá trong điều kiện nhiều rủi ro Thông tin càng ít tính rủi ro thì càng thuận tiện cho con người thực hiện bài toán tối ưu lợi ích của mình Các quyết định càng ít bị méo hơn tức là luôn có nhu cầu đối với thông tin sạch, thông tin chắc chắn Xã hội càng có nhiều cá thể nắm thông tin xác thực thì động lực phát triển lành mạnh càng lớn Thông tin của doanh nghiệp bị “bóp méo” sẽ ảnh hưởng thế nào trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Điều này khẳng định vai trò của thông tin một cách đầy đủ và chuẩn xác của thông tin Người sử dụng thông tin sẽ quyết định đầu tư như thế nào nếu thông tin họ muốn tìm hiểu lại
bị sai lệch Thông tin đầy đủ và chính xác chính là điều kiện để xây dựng nên một thương hiệu mạnh đối với mỗi doanh nghiệp và cũng chính vì vậy nếu một khi thông tin trở nên không đầy đủ và thiếu chính xác, niềm tin doanh nghiệp có hoạt động tốt nhưng thế đứng trên thương trường không vững Căn
cứ quan trọng nhất để có thể tiếp cận được vốn bên ngoài doanh nghiệp là thông tin đầy đủ về hoạt động, tình hình của doanh nghiệp mình Thực tế cho thấy nhiều nhà đầu đã rất thành công với những thông tin rõ ràng và chuẩn xác của doanh nghiệp mình Thông tin chính xác hình thành nên một thị trường phát triển lành mạnh, bền vững
Trang 35
Biểu đồ 1.2 Cỏc tớnh chất của thụng tin tài chớnh
Thông tin có ích cho ng-ời sử dụng?
Khả năng đánh giá sự t-ơng đồng và khác biệt
Khả năng nhận biết tầm quan trọng của thông tin
Giá trị
dự báo
Giá trị kiểm
định
Trình bày trung thực
Tính thực chất
Tính toàn diện
Tính thận trọng
Nguyên tắc nhất quán
Trình bày thông tin
Khả năng của ng-ời
sử dụng thông tin
Quá trình tổng hợp và phân loại
Trang 361.2.2 Các lý thuyết cơ sở cho việc xây dựng hệ thống thông tin tài chính trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thông tin tài chính là yêu cầu cơ bản của hệ thống kế toán tài chính trong các doanh nghiệp, minh bạch thông tin tài chính liên quan đến khả năng cung cấp thông tin một cách trung thực và khách quan về tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trên phương diện lý thuyết, những yêu cầu về minh bạch thông tin tài chính xuất phát lý thuyết hữu ích và
lý thuyết quan hệ quản lý
Theo lý thuyết thông tin hữu ích, thông tin tài chính được thiết lập trên các giả thuyết: Luôn tồn tại sự mất cân đối về mặt thông tin giữa những người lập báo cáo kế toán và người sử dụng thông tin kế toán; Nhu cầu của người sử dụng thông tin kế toán không được ấn định trước và cần được xác định thông qua các dẫn chứng cụ thể Do đặc điểm mất cân đối về mặt thông tin giữa các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, những đối tượng bên ngoài có xu hướng dựa vào thông tin kế toán như một tài liệu quan trọng cho việc ra các quyết định kinh tế
Thông tin tài chính được xây dựng trên nền tảng tính hữu ích của thông tin tài chính đối với người sử dụng thông tin của doanh nghiệp, trong đó có tổ chức tín dụng, nhà đầu tư là những đối tượng chính Yêu cầu về tính hữu ích của thông tin đượ c thể hiện khi các thông tin tài chính đáp ứng được yêu cầu: (1)
Có độ tin cậy cao, (2) Phù hợp với các quyết định đầu tư; (3) Dễ hiểu và (4) Kịp thời cho việc ra quyết định
Mặc dù lý thuyết thông tin hữu ích đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết sự bất cân xứngvề thông tin giữa doanh nghiệp và đối tượng sử dụng
Trang 37thông tin, mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhà đầu tư còn được giải thích bằng
lý thuyết quan hệ quản lý
Theo lý thuyết quan hệ quản lý, dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận quản lý và các nhà đầu tư trong đó bộ phận quản lý cần cung cấp các thông tin trung thực
và khách quan đến các nhà đầu tư nhằm trợ giúp các nhà đầu tư tránh được những vấn đề trái chiều nhau Việc không có thông tin đầy đủ và đáng tin cậy
về doanh nghiệp vó thể dẫn tới sự không đúng đắn của các quyết định đầu tư
1.3 VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
Các thông tin tài chính của doanh nghiệp được tạo ra nhằm giúp những đối tượng sử dụng thông tin khác nhau cụ thể:
- Những người trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh ở các cấp độ quản trị khác nhau Họ sử dụng thông tin về kế toán để xác định mục tiêu kinh doanh, đề ra quyết định để thực hiện, đánh giá thực hiện mục tiêu và điều chỉnh, nếu thấy cần thiết để hoạt động kinh doanh của hộ đạt hiệu quả hơn
- Những người có quyền sở hữu với vốn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (như cổ đông, người góp vốn liên doanh, Nhà nước trong các doanh nghiệp quốc doanh và công ty cổ phần…), họ quan tâm đến lợi tức sinh
ra từ vốn kinh doanh, vì đây là căn cứ để họ đưa ra các quyết định cần thiết, bao gồm cả quyết định phân chia lợi tức cho họ Đồng thời, qua việc xem xét thông tin trên báo cáo kế toán họ có thể đánh giá năng lực trách nhiệm của các bộ phận quản lý ở doanh nghiệp là tốt hay xấu
+ Các nhà cho vay và cung cấp hàng hoá dịch vụ: Các ngân hàng, các
tổ chức tài chính cũng như các nhà cung cấp hành hoá, dịch vụ, trước khi cho
Trang 38vay hoặc cung cấp đều có nhu cầu thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào Nghĩa là, doanh nghiệp đã có đủ khả năng chi trả hay không ? Để có được thông tin này họ phải sử dụng thông tin của kế toán
+ Các nhà đầu tư là người cung cấp vốn cho tổ chức hoạt động kinh doanh với hy vọng thu được lợi tức trên vốn đầu tư Họ luôn luôn muốn đầu
tư vào nơi nào có tỷ lệ hoàn vốn cao nhất và thời gian ngắn nhất Do vậy, trước khi đầu tư, họ cần thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp để qua đó nghiên cứu, phân tích, đánh giá rồi đi đến quyết định
+ Các cơ quan thuế địa phương và Trung Ương dựa vào tài liệu của kế toán, những thông tin tài chính được thể hiện trên báo cáo tài cính để tính thuế, đặc biệt thuế thu nhập
+ Các cơ quan Nhà nước cần số liệu kế toán, những thông tin tài chính của doanh nghiệp để tổng hợp cho ngành, địa phương và trên cơ sở đó phân tích, đánh giá nhằm định ra các chính sách kinh tế thích hợp để thúc đẩy sản xuất kinh doanh và điều hành kinh tế vĩ mô
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÔNG TIN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Quá trình cung cấp thông tin tài chính là đối tượng quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức nghề nghiệp, nhà nghiên cứu, tổ chức kế toán trên thế giới Trong nhiều năm qua, với nhiều góc độ khác nhau thông tin tài chính được thể hiện trong nhiều sách, tài liệu như việc ban hành “Statement of Financial Accounting Concepts No.2 – CON2, Qualitative Characteristics of Accounting Information - Các khái niệm về báo cáo tài chính” của Uỷ ban chuẩn mực Kế toán Tài chính Mỹ (FASB); “Framework for the Preparation and Presentation of Financial Statements - Khuôn mẫu cho việc soạn thảo và
Trang 39trình bày báo cáo tài chính” của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) [27,28]
Nhóm tác giả Collins, Maydaw và Weiss trên cơ sở đánh giá hồi quy giai đoạn 1953-1993 đã đưa ra rằng : “sự kết hợp giữa giá trị phù hợp của lợi nhuận và giá trị ghi sổ của tài sản không bị suy giảm trong bốn mươi năm qua, thậm chí còn tăng lên một ít”, hơn nữa các tác giả … đều đồng tình cho rằng mối liên hệ giữa các biến số của thị trường vốn và các dữ liệu tài chính cũng nhận được sự quan tâm đáng kể, và họ đã đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau – dựa trên sự am hiểu sâu sắc về lợi nhuận – đã không cho thấy một sự giảm sút nào về tính hữu ích” [26]
Nhóm tác giả Baruch Lev và Paul Zarowin của Đại học NewYork thì có quan điểm ngược lại Theo những phát hiện của họ thì “liên kết chéo giữa cổ tức và lợi nhuận báo cáo, và liên quan đến sự hữu ích của thông tin về lợi nhuận đối với các nhà đầu tư, đã suy giảm trong hơn hai mươi năm qua”, và “tính nhất quán giữa thông tin được chuyển tải trong lợi nhuận báo cáo và thông tin phù hợp với các nhà đầu tư đã sút giảm, bất chấp chất lượng của các dự báo của các nhà phân tích” Thậm chí, cho dù theo Collins thì sự liên kết giữa giá trị thị trường và lợi nhuận cùng giá trị ghi sổ có thể ổn định trong bốn mươi năm qua, nhưng “những bằng chứng thu thập được cho thấy sự liên kết ấy bị giảm sút trong nửa giai đoạn sau” Lý giải về sự việc trên, Lev và Zarowin cho rằng hệ thống đo lường và báo cáo kế toán không đối phó tốt với sự thay đổi đang tác động sâu sắc đến hoạt động kinh doanh và giá trị thị trường của doanh nghiệp; và “chính tốc độ thay đổi quá nhanh của doanh nghiệp cùng với sự kém hiệu quả của hệ thống kế toán trong xử lý các hậu quả của sự thay đổi là những nguyên nhân chính được viện dẫn cho sự suy giảm về tính hữu
Trang 40ích của thông tin tài chính Điều đáng ghi nhận ở đây là từ kết quả khảo sát, thống kê trong giai đoạn gần hai mươi năm (tính đến 1998) và kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác, Lev và Zarowin đặt ra vấn đề là làm sao để ngăn chặn sự suy giảm về tính hữu ích của thông tin tài chính, và từ đó đưa ra hai
đề xuất để nâng cao tính hữu ích của thông tin tài chính gồm “vốn hóa các khoản đầu tư vô hình” và “trình bày lại một cách có hệ thống các BCTC hiện hành” Ở một giác độ khác liên quan đến tính hữu ích của thông tin là sự cần thiết của hoạt động kiểm toán độc lập đối với BCTC, bởi lẽ có quá nhiều vấn
đề nảy sinh trong quá trình soạn lập, cung cấp thông tin kế toán cho người sử dụng (như mâu thuẫn về lợi ích, khác biệt về nhu cầu sử dụng thông tin, quy trình thông tin - kế toán phức tạp, khả năng kiểm tra thấp) khiến cho thông tin
kế toán trở nên thiếu độ tin cậy, không khách quan, chứa đựng nhiều rủi ro về sai sót, gian lận và do vậy cần phải có sự kiểm tra độc lập, đủ trình độ chuyên môn của bên thứ ba Tuy nhiên, việc xem xét vai trò của kiểm toán độc lập đối với BCTC được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau [25, tr 85-87]
Trên quan điểm lợi ích của người sử dụng thông tin, các nhà nghiên cứu như Campbell (1985), Shaw (1980),…cho rằng kiểm toán là phương thức mang lại sự tin cậy cho BCTC, “luận điểm này dựa trên giả thiết là BCTC sẽ hữu ích hơn cho những nhóm người sử dụng khác nhau khi chúng được kiểm toán viên độc lập kiểm tra và báo cáo, và sự hữu ích tăng thêm này xuất phát từ việc hạn chế bớt rủi ro do việc BCTC chứa đựng những gian lận trọng yếu” Hơn nữa những lợi ích mang lại, theo Campbell, sẽ vượt quá chi phí cho cuộc kiểm toán” Một điều nữa, việc báo cáo (tài chính) là một trách nhiệm phải thực hiện của người quản lý đối với chủ doanh nghiệp và cũng là trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với các bên liên quan trong xã hội Do vậy, lợi ích của xã hội sẽ được đảm bảo hợp lý từ việc kiểm toán – được xem như là một